Nhưng đặc điểm về mặt cấu trúc của các cộng đồng Phật giáo hệ phái Khất sĩ – bao gồm những tương quan của tu sĩ và cư sĩ, đồng thời cũng là nơi thể hiện cụ thể nhất những phản ứng của hệ
Trang 1TỔ CHỨC PHẬT GIÁO HỆ PHÁI KHẤT SĨ QUA GÓC NHÌN DIỄN NGÔN VÀ QUYỀN LỰC (Trường hợp tu sĩ và Phật tử của tịnh xá Ngọc Vân, tỉnh Trà Vinh)
TRẦN KHÁNH HƯNG
(Trích luận văn thạc sĩ năm 2015, gồm phần mở đầu và phần kết luận)
MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phật giáo là tôn giáo có lượng tín đồ đông nhất so với các tôn giáo khác ở Nam Bộ Năm 2009,
số tín đồ Phật giáo tại đây chiếm khoảng 50,3%1 Phật giáo ở Nam Bộ bao gồm nhiều hệ phái, điển hình nhất là ba hệ phái Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ với đường lối hành đạo tương đối khác nhau Trong đó, Khất sĩ được xem là hệ phái Phật giáo đặc thù của Việt Nam, được thành lập ở Nam Bộ vào những năm 40 của thế kỷ XX – giai đoạn sôi động với sự xuất hiện của nhiều tôn giáo mới tại vùng đất này
Từ khi Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam được tổ chức vào tháng 11-1981 tại chùa Quán Sứ-Hà Nội, cùng với những hướng dẫn từ các văn bản hành chính, việc hành đạo của Phật giáo cả nước nói chung được cho là ngày càng thuận lợi hơn2 Một mặt, số lượng tăng ni cũng như số tự viện của các hệ phái Phật giáo, bao gồm cả hệ phái Khất sĩ tăng dần qua các nhiệm kỳ3 Mặt khác, bên cạnh đời sống tôn giáo, các tự viện cũng như các tổ chức Phật giáo tham gia ngày càng nhiều vào các lĩnh vực hoạt động xã hội khác, như phát triển kinh
tế, hoạt động từ thiện, giữ gìn ổn định xã hội và góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa (Trần Hồng Liên 2010; Vương Hoàng Trù 2009) Như thế, Phật giáo Nam Bộ đã có nhiều biến đổi tương thích với những sự thay đổi của bối cảnh xã hội và đây được xem là sự thể hiện xu hướng nhập thế của tôn giáo này (Trần Hồng Liên 2004: 403-410), xu hướng được cho là tất yếu để Phật giáo hoặc một tôn giáo nào đó phát triển (Ngô Văn Lệ 2013: 502-505) Những sự điều chỉnh của Phật giáo nói trên cũng gợi ý về tính đa dạng và sinh động trong sinh hoạt tôn
1 Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê năm 2009, dân số 19 tỉnh thành ở Nam Bộ (tính từ Tây Ninh, Bình Phước và
Bà Rịa-Vũng Tàu trở xuống, không bao gồm hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận) vào khoảng 31.258.831 người Số lượng người có theo một tôn giáo là 9.980.099 người, trong đó số tín đồ Phật giáo là 5.019.003 người Tín đồ Phật giáo ở đây chưa bao gồm Phật giáo Hòa Hảo, Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo, Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương Câu hỏi khảo sát của Tổng Cục Thống kê về lĩnh vực này bao gồm hai ý là: (1)
“[TÊN] có theo đạo, tôn giáo nào không?” với lựa chọn có/không và (2) “NẾU CÓ: Đó là đạo, tôn giáo gì?” với để mở cho thông tín viên tự trả lời
2 Năm 2011, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho
ấn hành bản Báo cáo tổng kết 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong đó có viết: “Qua 30 năm thành
lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bằng những thuận lợi khách quan và chủ quan, qua các Nghị định 267, 26 của Chính phủ, nhất là Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo đã được Thường vụ Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước ký sắc lệnh công bố ngày 29.6.2004, Nghị định số 22/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01.3.2005 đã làm cơ sở cho hoạt động tôn giáo nói chung thêm thuận lợi và đạt kết quả hữu hiệu”
3 Theo thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, kể từ nhiệm kỳ III (1992-1997) đến cuối nhiệm kỳ VI (2007-2012),
số lượng tăng ni trên cả nước tăng gần gấp đôi, từ 28.787 người lên 46.495 người; tổng số tự viện cũng tăng từ 14.048 ngôi lên 14.778 ngôi Riêng hệ phái Khất sĩ, số lượng tăng ni tăng từ 1.897 người lên 3.054 người; số tịnh xá tăng từ 516 ngôi lên 541 ngôi
Trang 2giáo của tín đồ Phật giáo cả nước nói chung, Nam Bộ nói riêng Tính đa dạng và sinh động này thể hiện ở hai khía cạnh: Một mặt, cư sĩ cùng tham gia, đóng góp vào những hoạt động của các
tự viện bằng nhiều hình thức Mặt khác, cư sĩ có thể thực hành niềm tôn giáo ở nhiều tự viện khác nhau mà họ cho là ở đó có thể giúp họ thỏa mãn những động cơ của mình, bất kể những giới hạn về khoảng cách địa lý Điều này đã tạo ra những cộng đồng Phật giáo với những đặc trưng xác định nhưng lại khá linh động về mặt không gian Theo cách tính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và có thể cao hơn trên thực tế, mỗi tự viện quy tụ và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho một cộng đồng từ 200 đến 500 người4
Nằm trong dòng chảy này, Phật giáo hệ phái Khất sĩ cũng trải qua những thay đổi tương tự, dù rằng sự ra đời của hệ phái này nằm trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo (1920-1970) với phương châm hành đạo vào buổi đầu là “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp”, mong muốn tái hiện cuộc sống tu trì như thời của Đức Phật Nhiều công trình đã cho thấy hiện trạng và lý giải nguyên nhân sự biến đổi trong cách hành đạo của hệ phái Khất sĩ (Trần Hồng Liên 2008a:
37-66, 2010: 32, 46; Bùi Trần Ca Dao 2014) Nhưng đặc điểm về mặt cấu trúc của các cộng đồng Phật giáo hệ phái Khất sĩ – bao gồm những tương quan của tu sĩ và cư sĩ, đồng thời cũng là nơi thể hiện cụ thể nhất những phản ứng của hệ phái với sự vận động của bối cảnh xã hội – lại chưa được chú ý đủ Trong khi điều này lại có ý nghĩa đặc biệt với hệ phái Khất sĩ vì sau năm
1975, các đoàn du tăng của hệ phái được chính quyền đề nghị dừng việc du hành giáo hóa để thường trú và hành đạo tại những ngôi tịnh xá được thành lập trước đây5 Điều này đồng nghĩa với việc các tu sĩ giờ đây được đặt vào trong mối tương quan trực tiếp với cộng đồng các cư sĩ nhất định, mà điểm kết nối và cũng là điểm trung tâm trong đời sống tôn giáo (hoặc có thể hơn nữa) của cả hai chính là ngôi tịnh xá Do đó, việc khảo sát đặc điểm cấu trúc của các cộng đồng tịnh xá thuộc Phật giáo hệ phái Khất sĩ là điều cần thiết để hiểu rõ hơn về tổ chức và hoạt động của hệ phái trong bối cảnh đương đại
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HỆ PHÁI KHẤT SĨ TRONG BỐI CẢNH PHẬT GIÁO NAM BỘ Trong hơn hai thập kỷ qua, việc nghiên cứu Phật giáo hệ phái Khất sĩ nói riêng và Phật giáo Nam Bộ nói chung được thực hiện với nhiều hướng phân tích Điều cần được nói trước tiên là
có rất nhiều công trình nghiên cứu hệ phái Khất sĩ dưới góc độ tôn giáo học, bao gồm khảo sát
về lịch sử hình thành, giáo lý tư tưởng, pháp môn tu tập, cơ cấu tổ chức hệ phái, lễ nghi và các đặc thù truyền thống (Hà Phước Thảo 1975; Hàn Ôn 1961; Hironori Tanaka 2011: 35-42; Mark
4 Số liệu dẫn theo Báo cáo tổng kết hoạt động Phật sự các nhiệm kỳ III, IV và V của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Không giống với sự gia tăng số lượng của tăng ni, số lượng tín đồ Phật giáo tương đối ổn định qua các năm Với mỗi
tự viện quy tụ từ khoảng 200 đến 500 tín đồ, tức trung bình khoảng 350 tín đồ/tự viện thì gần 1.500 tự viện trên cả nước có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho khoảng trên dưới năm triệu tín đồ Trong khi đó, theo số liệu của Tổng Cục Thống kê năm 1999 và năm 2009, chỉ tính riêng số tín đồ Phật giáo ở Nam Bộ đã dao động quanh mức năm triệu người Sự chênh lệch đáng lưu ý này có thể xuất phát từ sự khác biệt về quan niệm tín đồ Phật giáo của hai bên Thông thường, Giáo hội Phật giáo ở các địa phương quản lý tín đồ là những người đã quy y thọ giới, còn câu hỏi khảo sát của Tổng Cục Thống kê về vấn đề này lại để ngỏ cho sự tự xác nhận của thông tín viên Điều này phù hợp với một thực tế là có nhiều hộ gia đình ở Nam Bộ dù không quy y thọ giới nhưng vẫn thờ Phật trong nhà và tự nhận là theo Phật giáo
5 Kể từ lúc thành lập hệ phái năm 1944 cho đến khi vắng bóng năm 1954, Tổ sư Minh Đăng Quang đã thành lập khoảng 20 ngôi tịnh xá trên khắp các tỉnh thành ở Nam Bộ Sau đó, các đệ tử của ông tiếp tục truyền đạo và thành lập thêm nhiều tịnh xá Tính đến trước ngày Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam (1981), số lượng tịnh xá của hệ phái Khất sĩ ở Nam Bộ là 135 ngôi (Trần Hồng Liên 1996: 77) Một vị sư Khất sĩ giải thích với tôi rằng, tịnh xá nghĩa là “nơi ở thanh tịnh” để tu sĩ tu học Trước đây khi còn các đoàn du tăng, tịnh xá được dùng để các vị này tạm trú khi đến một địa phương nào đó hành đạo Ngoài ra, tịnh xá cũng là nơi để các vị ở lại trong ba tháng An cư kiết
hạ theo giới luật Các tu sĩ dù có đi du hành hay trụ xứ đều không được ở một tịnh xá quá lâu, chỉ tối đa khoảng vài tháng để không phụ thuộc vào một nhóm cư sĩ nào đó
Trang 3W McLeod 2009: 69-116; Nguyễn Hồng Dương 2014; Thích Giác Duyên 2011; Thích Giác Pháp 2013; Thích Giác Toàn 2002: 42-48; Thích Giác Trí 2001; Thích Hạnh Thành 2007; Trần Hồng Liên 1996: 76-77, 2004: 164-172, 2007: 116-117, 145-147) Nhìn chung, các công trình này đặt trên giả định hệ phái Khất sĩ là một chỉnh thể độc lập với những hoàn cảnh ra đời, giáo pháp và lối hành đạo riêng biệt so với các hệ phái khác, nhất là Bắc tông và Nam tông Những công trình là nguồn tư liệu phong phú cho việc tìm hiểu Khất sĩ xét với tư cách là một hệ phái tôn giáo
Một dòng phân tích quan trọng khi nghiên cứu về hệ phái Khất sĩ cũng như Phật giáo Nam Bộ
là quan điểm chức năng Các công trình theo hướng phân tích này đã khảo sát những đóng góp của Phật giáo trên các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa trong khung tham chiếu là khái niệm về sự phát triển bền vững Các công trình này đã chỉ ra những chức năng của Phật giáo đối với xã hội Nam Bộ nói riêng, cả nước nói chung bao gồm: sự định hướng cho một nền kinh
tế công bằng và tiết độ, sự liên kết xã hội thông qua những tư tưởng khuyến khích việc sống chung hài hòa cũng như thông qua những hoạt động tương trợ-từ thiện, và cuối cùng là sự đóng góp xây dựng một nền đạo đức Phật giáo, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam thông qua các tập quán, lễ nghi cùng những công trình kiến trúc, tác phẩm nghệ thuật (Trần Hồng Liên 2010; Vương Hoàng Trù 2009) Khi nghiên cứu về chức năng liên kết xã hội của Phật giáo, các tác giả cũng đã tiến hành khảo sát cấu trúc cộng đồng (Trần Hồng Liên 2008b; Vương Hoàng Trù 2009) Các công trình này chủ yếu quan tâm mối quan hệ giữa nhóm tu sĩ với cư sĩ trong cộng đồng Phật giáo Nam tông của người Khmer ở Nam Bộ, trong khi cộng đồng Khất sĩ
ít được chú ý Hướng phân tích này khá gần với quan điểm chức năng luận cấu trúc:
“Có thể xem, những nhà sư Khmer ở Nam Bộ là những trí thức của dân tộc Khmer Nông dân Khmer kính trọng và quý mến các vị sư sãi, không chỉ vì họ sùng bái Phật giáo và chức sắc của các nhà tu hành, mà còn vì sự hiểu biết và đức độ của các nhà sư Bà con Khmer đến chùa để được nghe các vị sư thuyết giảng về Phật giáo, giải thích kinh Phật, Phật thoại, đạo đức, văn hóa Phật giáo… Một số nông dân Khmer đến chùa để tham vấn ý kiến của các vị trụ trì và các
vị có tuổi về công việc gia đình, chuyện học hành của trẻ em, chuyện cư xử giữa các thành viên… Đôi khi nông dân Khmer còn nhờ các vị sư thu xếp chuyện bất hòa giữa các gia đình, hoặc cá nhân trong phum sóc Đó là những lời khuyên giải, bảo ban của các nhà sư với các bên để giữ tình hòa hiếu và cố kết cộng đồng Khmer” (Trần Hồng Liên 2008b: 77-78)
Một hướng phân tích khác đáng chú ý là khảo sát động thái của Phật giáo hệ phái Khất sĩ trong bối cảnh có những biến đổi về kinh tế-xã hội (Trần Hồng Liên 2004: 403-410; 2010: 37-66) Các công trình đã miêu tả những thay đổi trong thực hành tôn giáo của các tu sĩ như việc củng cố
bộ máy tổ chức, việc xây dựng và tu sửa các tự viện, việc nhu cầu đi học và du học của tu sĩ ngày càng tăng, những thay đổi về giờ giấc tu học, hoặc việc áp dụng công nghệ trong hoằng pháp Qua đó, các công trình này cho rằng Phật giáo Việt Nam, trong đó có hệ phái Khất sĩ thể hiện ngày càng nhiều xu hướng nhập thế trong bối cảnh hiện đại Cũng có một số công trình đã khảo sát chuyên biệt những thay đổi trong pháp môn khất thực của hệ phái Khất sĩ (Trần Hồng Liên 2004: 164-172; Bùi Trần Ca Dao 2014) Trong đó, thông qua cách tiếp cận phân tích biểu tượng, luận văn của Bùi Trần Ca Dao cho rằng sự thay đổi này không đồng nhất giữa các cộng đồng tịnh xá mà tùy thuộc vào sự tương tác giữa bối cảnh của cộng đồng tôn giáo với chính sách quản lý tôn giáo và uy quyền của người đứng đầu cơ sở tôn giáo (2014: 122-123)
Như thế, các công trình được điểm qua ở trên dù chưa thật đầy đủ nhưng cũng cung cấp cái nhìn ban đầu về sự chuyển dịch các cách tiếp cận lý thuyết trong những công trình nghiên cứu
Trang 4Phật giáo hệ phái Khất sĩ cũng như Phật giáo ở Nam Bộ Đây không phải là dòng chuyển dịch thực tế theo lịch đại mà được vẽ ra theo nội dung phân tích Ở đó, việc nghiên cứu xuất phát đi
từ mục tiêu miêu tả đặc điểm, đến phân tích chức năng (bao gồm chức năng luận cấu trúc), và sau đó là lý giải về ý nghĩa của các thực hành tôn giáo cũng như sự thích ứng với những biến đổi xã hội; từ việc tiếp cận Phật giáo hệ phái Khất sĩ như một chỉnh thể độc lập, đến một cộng đồng tương đối đồng nhất, và sau cùng là các cộng đồng tịnh xá với những mối quan hệ xã hội thực tế giữa người với người và tùy thuộc vào bối cảnh xã hội Có thể nhận thấy khi tiếp cận Phật giáo hệ phái Khất sĩ như là một cộng đồng, một số công trình kể trên dù ít nhiều có đề cập nhưng chưa đi sâu vào phân tích các mối quan hệ quyền lực tồn tại bên trong các cộng đồng
đó, nhất là mối tương quan giữa yếu tố quyền lực và diễn ngôn trong sự cấu thành nên cấu trúc cộng đồng Chẳng hạn câu chuyện về uy thế của các vị sư sãi có được với cộng đồng người Khmer không hẳn vì là chức sắc mà chủ yếu vì hiểu biết và đức độ của họ Hay câu chuyện về
sự biến đổi của pháp môn khất thực, cũng như sự thay đổi cách thức tổ chức của các cộng đồng tịnh xá có một phần nguyên nhân từ những diễn giải của cộng đồng về ý nghĩa của pháp môn này cũng như uy quyền của vị sư trụ trì của tịnh xá đó Do đó, việc khảo sát mối tương quan giữa yếu tố diễn ngôn và quyền lực khi nghiên cứu cấu trúc cộng đồng tịnh xá có thể được xem là hướng phân tích bổ sung cho những cách tiếp cận đã được vận dụng trước đây
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Từ những luận giải về tính cần thiết ở trên, trong sự xem xét những giới hạn về khả năng nghiên cứu, đề tài hướng đến mục tiêu tìm hiểu đặc điểm tổ chức Phật giáo hệ phái Khất sĩ thông qua khảo sát cấu trúc của một cộng đồng tịnh xá điển hình
Việc khảo sát cấu trúc cộng đồng không chỉ gồm việc xem xét hệ thống chức sắc của cộng đồng tịnh xá mà quan trọng hơn là:
- Khảo sát hệ thống các vai trò cũng như quan hệ giữa các vai trò ấy, trong đó quan hệ quyền lực giữa các vai trò được đặc biệt nhấn mạnh;
- Khảo sát các diễn ngôn trong cộng đồng tịnh xá được tạo ra từ các quan hệ quyền lực và củng cố cho các quan hệ đó
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để giải quyết những mục tiêu được đặt ra, đề tài chọn địa bàn khảo sát ở cộng đồng tịnh xá Ngọc Vân, tỉnh Trà Vinh, thuộc Giáo đoàn I hệ phái Khất sĩ như là trường hợp nghiên cứu điển hình Trong số các tỉnh thành ở Nam Bộ, tỉnh Trà Vinh là địa phương có tỉ lệ người dân theo Phật giáo đông nhất xét trong cơ cấu những người có theo một tôn giáo nói chung, chiếm 87,5%6 Ở Trà Vinh cũng có đầy đủ ba hệ phái Phật giáo điển hình của Nam Bộ là Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ, tạo nên sự đa dạng trong sinh hoạt tôn giáo của người dân nơi đây7
Riêng về hệ phái Khất sĩ, tịnh xá Ngọc Vân thuộc tỉnh Trà Vinh được cho là tự viện cuối cùng
do chính Tổ sư Minh Đăng Quang thành lập ở Nam Bộ Mặt khác, theo lời một vị sư Khất sĩ,
6 Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê năm 2009, dân số ở tỉnh Trà Vinh là 1.003.012 người Tổng số tín đồ có theo một tôn giáo là 569.999 người, trong đó số tín đồ Phật giáo là 498.930 người Nếu xét về số lượng thì An Giang mới
là tỉnh có đông tín đồ Phật giáo nhất ở Tây Nam Bộ, 894.335 người Tuy nhiên, nếu so về tỉ lệ tín đồ Phật giáo với những tôn giáo khác thì con số này ở An Giang chỉ ở mức 44,2% Tương tự như vậy, số tín đồ Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh là 745.283 người, nhưng chiếm tỉ lệ 64% trong cơ cấu tín đồ có theo một tôn giáo nói chung
7 Ngoài ra, về khía cạnh tộc người, Trà Vinh cũng là nơi cư trú của người Khmer, Hoa và Kinh Điều này cũng gợi ý
về một quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa lâu dài giữa các tộc người Tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài, khía cạnh này sẽ được lưu ý một cách giới hạn trong lĩnh vực đời sống tôn giáo của cộng đồng tịnh xá
Trang 5tịnh xá Ngọc Vân nói riêng và Giáo đoàn I nói chung – bao gồm những tịnh xá do chính Tổ sư Minh Đăng Quang thành lập trong thời gian ông hành đạo – là những cộng đồng giữ gìn giới luật nghiêm và đầy đủ nhất tính cho tới thời điểm hiện tại Điều này cũng gợi ý việc các thành viên cộng đồng sẽ có những phản ứng rất đa dạng trong việc đảm bảo vừa thực hành những niềm tin tôn giáo vốn dĩ mang tính truyền thống, lại vừa thích ứng với những thay đổi của bối cảnh xã hội
Với cộng đồng điển hình này, việc khảo sát của đề tài được giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh Trà Vinh, mà thực chất là tập trung vào các cư sĩ ở thành phố Trà Vinh, nơi tọa lạc của tịnh xá Việc giới hạn này giúp bảo đảm tính khả thi của đề tài dù rằng cư sĩ của tịnh xá còn đến từ nhiều nơi khác của tỉnh Trà Vinh, những tỉnh thành khác ở Nam Bộ, thậm chí là ở nước ngoài (như Mỹ và Canada) Thời gian nghiên cứu cũng được giới hạn tại thời điểm Thượng tọa Thích Giác Khang giữ cương vị trụ trì của tịnh xá, năm 1983 cho tới nay Nguyên do là vì khoảng thời gian trước đó gắn liền với nhiều biến động không chỉ trong cộng đồng tịnh xá Ngọc Vân mà còn trong hệ phái Khất sĩ nói riêng, Phật giáo cả nước nói chung Do đó, để hiểu rõ ràng giai đoạn này cần có một nghiên cứu chuyên sâu hơn với quy mô tương đối lớn hơn
Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu cũng được giới hạn như thể hiện trong mục tiêu nghiên cứu của
đề tài, đó là khảo sát các đặc điểm của cấu trúc tôn giáo của cộng đồng tịnh xá Việc giới hạn này xuất phát từ một thực tế rằng cấu trúc tôn giáo là yếu tố cốt lõi nối kết thành viên của cộng đồng tịnh xá vốn đến từ những nơi khác nhau Ngoài cấu trúc này ra, họ có thể cùng tham gia vào nhiều loại tổ chức xã hội khác như gia đình-dòng họ, hàng xóm láng giềng, trao đổi mua bán,… nhưng cũng có thể không cùng là thành viên của bất cứ tổ chức xã hội nào ngoài cộng đồng tịnh xá Do đó, các cấu trúc xã hội khác dù có liên hệ thực tế và được đề cập ít nhiều trong đề tài nhưng được xem là nằm ngoài phạm vi nghiên cứu Việc giới hạn này hẳn nhiên sẽ dẫn đến những hạn chế trong kết luận của đề tài, điều này sẽ được nói thêm ở phần hạn chế của đề tài
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ nhận thức phương pháp nghiên cứu là tổng thể các kỹ thuật và tư duy nhằm giải quyết các vấn đề nghiên cứu, đề tài được thực hiện dựa trên ba phương pháp chính là phương pháp điền
dã, phương pháp so sánh và phương pháp phân tích nội dung
Điền dã là phương pháp truyền thống của nhân học, thường được áp dụng cho giai đoạn thu thập dữ liệu Phương pháp điền dã đòi hỏi người nghiên cứu phải hiện diện và cùng sinh hoạt
ở cộng đồng được khảo sát một thời gian đủ lâu để thông hiểu hệ thống các quan niệm cũng như tập quán hành xử của họ Trong đề tài này, dữ liệu phân tích được thu thập từ nhiều đợt điền dã Chuyến đi đầu tiên tiếp cận địa bàn và cũng là chuyến đi tạo nên cảm hứng nghiên cứu cho tác giả là vào tháng 2-2009, dịp tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu Sau đó, tác giả quay trở lại địa bàn vào tháng 7-2010 để tìm hiểu thêm giáo pháp Trong hai dịp này tác giả đi cùng với một người bạn chuyên ngành nhân học và cũng là đệ tử của vị trụ trì ở tịnh xá Ngọc Vân Chuyến điền dã chính diễn ra vào tháng 01-2013, khi đó tác giả đi cùng với một cộng tác viên nam ngành nhân học, hầu hết các dữ liệu được thu thập trong đợt này Ngoài ra, tác giả cũng quay lại địa bàn thêm hai đợt nữa với thời gian tương đối ngắn là dịp lễ tang của vị trụ trì tịnh xá Ngọc Vân vào tháng 4-2013 (tác giả đi cùng ba cộng tác viên ngành nhân học, gồm hai nữ và một nam đã đi cùng trước đó) và dịp gần đây nhất vào tháng 10-2014 (tác giả đi một mình) để
bổ sung thêm thông tin Các kỹ thuật được sử dụng trong quá trình điền dã là quan sát-tham dự
Trang 6và phỏng vấn sâu Hai kỹ thuật này được kỳ vọng sẽ mang lại những thông tin mang tính miêu
tả lẫn lý giải về những thực hành niềm tin tôn giáo ở cộng đồng tịnh xá Việc quan sát-tham dự diễn ra chủ yếu trong khuôn viên tịnh xá Ngọc Vân Nội dung quan sát-tham dự bao gồm các sinh hoạt thường nhật của tu sĩ và cư sĩ cũng như những tương tác giữa họ với nhau Việc phỏng vấn sâu diễn ra với không gian mở hơn, cả trong và ngoài tịnh xá Nội dung các cuộc phỏng vấn sâu ngoài về nội dung giáo pháp còn là về đời sống tu học của từng cá nhân cũng như hoàn cảnh gia đình của họ Các thông tín viên được lựa chọn để có thể cân đối giữa các tiêu chí giới tính (nam/nữ), độ tuổi (thanh niên/trung niên/lớn tuổi) và cấp bậc trong cộng đồng (tu sĩ/cư sĩ) Tổng số cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện là 20 cuộc, trong đó có hai thông tín viên chủ chốt (một tu sĩ và một cư sĩ) đã tham gia xuyên suốt kể từ khi tác giả chính thức thực hiện đề tài Họ đã đóng góp nhiều thông tin quý giá cho đề tài qua các cuộc trò chuyện phi chính thức vốn khó có được từ những cuộc phỏng vấn chính thức
Bảng 1 Số lượng và đặc điểm mẫu khảo sát
Chức sắc
Nhóm tuổi
Tổng
Thanh niên (dưới 35 tuổi)
Trung niên (từ 35 đến dưới 60 tuổi)
Lớn tuổi (từ 60 tuổi trở lên)
Nguồn: Tổng hợp từ các đợt điền dã
Dữ liệu từ các cuộc điền dã trên được xử lý theo hai phương pháp là so sánh và phân tích nội dung So sánh là phương pháp cơ bản để tiến tới phân loại các nội dung thu thập được Phương pháp này đặc biệt quan trọng trong việc xác định các vai trò cũng như quan hệ giữa các vai trò trong cộng đồng tịnh xá Còn việc áp dụng phương pháp phân tích nội dung nhằm mục đích bốc tách các lớp ý nghĩa từ kinh điển cũng như những hành xử của các thành viên trong cộng đồng tịnh xá, từ đó nhận diện được những đặc điểm về cấu trúc của cộng đồng tịnh
xá Các lớp ý nghĩa chủ yếu được thu thập từ ba nguồn: những ý nghĩa chính thức của giới tu
sĩ và các thầy giảng là những người đại diện cho giáo pháp; sự giải thích của các cư sĩ; và những trải nghiệm cá nhân của người nghiên cứu Hai phương pháp không chỉ là giai đoạn đến sau của việc thu thập dữ liệu, mà chúng được thực hiện xuyên suốt, ngay cả khi quá trình điền
dã đang diễn ra
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Về phương diện lý thuyết, đề tài được thực hiện với mong muốn vận dụng các lý thuyết nhân học vào việc giải thích các hiện tượng xã hội xảy ra ở cộng đồng mà đề tài khảo sát Việc vận dụng này cũng hàm ý sự đánh giá mức độ tương thích cũng như khả năng của một số lý thuyết trong trường hợp nghiên cứu mà đề tài đã lựa chọn
Về phương diện thực tiễn, đề tài mong muốn cung cấp những hiểu biết mang tính miêu tả lẫn lý giải về đặc điểm tổ chức Phật giáo hệ phái Khất sĩ thông qua trường hợp một cộng đồng tịnh xá trong bối cảnh xã hội cụ thể Những tri thức này dù khó có thể suy rộng ra cho hệ phái Khất sĩ nói riêng, Phật giáo Nam Bộ nói chung; nhưng chí ít chúng cũng cung cấp cái nhìn vi mô về
Trang 7hiện trạng sinh hoạt tôn giáo của một cộng đồng Nam Bộ, cũng như có thể làm cơ sở cho những cuộc nghiên cứu tiếp theo mang tính chuyên sâu hơn với quy mô lớn hơn
7 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Vì là nghiên cứu bước đầu với một phạm vi nghiên cứu hạn hẹp nên đề tài vẫn còn một vài hạn chế có thể chỉ ra như dưới đây Những hạn chế này cùng những thiếu sót khác chưa được nhận ra rất cần sự góp ý từ người đọc để công trình hoàn thiện hơn
- Về phạm vi nghiên cứu: mẫu được chọn chủ yếu là những người sinh sống ở thành phố Trà Vinh và thời gian nghiên cứu được giới hạn trong một đời trụ trì của tịnh xá Điều này giúp khắc họa những đặc điểm của cộng đồng nghiên cứu sâu sắc hơn nhưng đồng thời cũng làm giảm ý nghĩa của công trình trong việc nhìn rộng ra Phật giáo hệ phái Khất sĩ nói riêng và Phật giáo Nam Bộ nói chung Bởi vì cộng đồng được chọn ít nhiều có những đặc thù không tương hợp với những cộng đồng Phật giáo khác ở Nam Bộ, và khoảng thời gian được chọn để khảo sát chỉ là một giai đoạn trong nhiều giai đoạn phát triển của cộng đồng này
- Về cách tiếp cận: việc tìm kiếm cấu trúc cộng đồng tịnh xá chỉ được đặt gần như trong đời sống tôn giáo của cộng đồng đó mà chưa liên hệ nhiều với các định chế xã hội khác, dù chúng
có thể có nhiều mối tương quan với nhau Điều này làm cho cấu trúc của cộng đồng tịnh xá mà công trình mô tả trở nên một “mô hình lý tưởng” và gần như bị cô lập với những định chế khác trong xã hội Ngoài ra, góc độ giới trong phân tích diễn ngôn và quyền lực là một vấn đề quan trọng Nhưng trong giới hạn của mình, đề tài chưa xem vấn đề này như là trọng điểm phân tích
Do đó vấn đề này cần được nghiên cứu có hệ thống hơn trong tương lai
- Về luận giải: trong quá trình tìm kiếm và nhận định về các đặc điểm của cấu trúc cộng đồng tịnh xá, công trình bị đặt vào thế lưỡng nan về tính quyết định giữa cấu trúc và các chủ thể hành động Dù đã cố gắng cân bằng trong lập luận nhưng những tâm tư, tính toán của thành viên cộng đồng chưa được khai thác sâu; do đó, tiếng nói của các chủ thể vẫn còn nhỏ nhoi so với những áp lực từ cấu trúc cộng đồng trên họ
8 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài được chia làm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung của đề tài được chia thành ba chương, trong đó:
Chương 1 trình bày những cơ sở lý thuyết bao gồm khái niệm cấu trúc xã hội và một số cách
tiếp cận lý thuyết được vận dụng trong đề tài Phần này cũng trình bày tổng quan về Phật giáo
hệ phái Khất sĩ bao gồm quá trình hình thành và bối cảnh ra đời của hệ phái; cũng như cung cấp cái nhìn ban đầu về cộng đồng tịnh xá Ngọc Vân, tỉnh Trà Vinh
Chương 2 được dành để trình bày khái lược bài Kinh Sáu Sáu, một bài kinh được thành viên
cộng đồng tịnh xá Ngọc Vân chia sẻ và có thể được xem là diễn ngôn chính ở đây Bài kinh được các tu sĩ diễn giải thành nhiều lớp nghĩa, thể hiện những nội dung “nhân sinh quan” và
“vũ trụ quan”, từ đó là những con đường tu học tương ứng Chương này cũng thuật lại những sinh hoạt chính ở cộng đồng tịnh xá vốn được xây dựng hoặc lý giải dựa trên những con đường tu học của bài kinh, cũng như việc pha trộn các con đường tu học của họ
Cuối cùng, Chương 3 đi vào phân tích ba kiểu quan hệ quyền lực vốn định hình nên cấu trúc cộng đồng tịnh xá Chương này cho thấy cách thức các quan hệ quyền lực được gắn kết với diễn ngôn ở đây ra sao; cũng như thuật lại việc các thành viên cộng đồng tịnh xá duy trì cấu
Trang 8trúc ấy thông qua việc giữ gìn chánh pháp – cách mà người ta gọi bài Kinh Sáu Sáu Ba mối quan hệ quyền lực được phân tích bao gồm: quan hệ quyền lực kỷ luật, quan hệ quyền lực từ lực ngôn hành và quan hệ quyền lực tri thức Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày một cách cơ bản những giới hạn trong các mối quan hệ quyền lực của tịnh xá Ngọc Vân
KẾT LUẬN
Phật giáo là tôn giáo có lượng tín đồ đông nhất so với các tôn giáo khác ở Nam Bộ, bao gồm nhiều hệ phái Trong đó, Khất sĩ được xem là hệ phái Phật giáo đặc thù của Việt Nam, được thành lập ở Nam Bộ vào những năm 40 của thế kỷ XX với chủ trương “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp – Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam” Hoàn cảnh ra đời của hệ phái này hết sức đặc biệt Trước hết, đó là giai đoạn diễn ra phong trào chấn hưng Phật giáo trên cả nước vốn được gây cảm hứng từ làn sóng chấn hưng Phật giáo của nhiều nước trên thế giới Đồng thời, Nam Bộ cũng đang trong thời kỳ là thuộc địa của Pháp (1858-1945) mà các chính sách thuộc địa của chính quyền thực dân ở Nam Bộ nói riêng và ba nước Đông Dương nói chung đã góp phần dẫn đến sự hình thành của hệ phái Từ khi thành lập, hệ phái Khất sĩ phát triển nhanh chóng ở Nam
Bộ và lan ra một số tỉnh ở Trung Bộ nhờ vào việc hoằng hóa độ sinh của các đoàn du tăng Từ sau năm 1975, các đoàn du tăng của hệ phái Khất sĩ được đề nghị dừng việc du hành giáo hóa
để thường trú và hành đạo tại những ngôi tịnh xá được thành lập trước đây Các cộng đồng tịnh xá từ đó được định hình rõ ràng hơn Từ thời điểm đó đến nay, nhất là khi tham gia vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hệ phái Khất sĩ đã có những chuyển biến tương thích với sự thay đổi của bối cảnh xã hội Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về những động thái biến đổi hệ phái Khất sĩ nhưng những đặc điểm về mặt cấu trúc của các cộng đồng Phật giáo hệ phái Khất
sĩ chưa được chú ý đủ Do đó, việc khảo sát đặc điểm cấu trúc của các cộng đồng tịnh xá thuộc Phật giáo hệ phái Khất sĩ là điều cần thiết để hiểu rõ hơn về tổ chức và hoạt động của hệ phái trong bối cảnh đương đại
Thông qua khảo sát trường hợp cộng đồng tịnh xá Ngọc Vân, Trà Vinh, thuộc Giáo đoàn I hệ phái Khất sĩ – tự viện cuối cùng do Tổ sư Minh Đăng Quang lập ở Nam Bộ và cũng được xem
là một trong những cộng đồng giữ gìn giới luật nghiêm và đầy đủ nhất cho tới thời điểm hiện tại, đề tài nhận thấy rằng:
(i) Toàn bộ quan điểm và thực hành tu học của tịnh xá Ngọc Vân được xây dựng dựa trên diễn ngôn chính thức ở đây là bài Kinh Sáu Sáu
Bài kinh gồm nhiều lớp ý nghĩa Đầu tiên là những quan niệm về bản thân con người, được gọi
là “nhân sinh quan”, chủ yếu bàn về các vấn đề tâm thức Kế đến bài kinh trình bày cái nhìn về thế giới, tức là “vũ trụ quan”, qua diễn giải về Mười lăm hạng chúng sanh dựa trên sự khác biệt
về trình độ nhận biết của tâm thức Từ đó, bài kinh đề ra những con đường tu học với sự đánh giá cao dần là tu phước của Tư tưởng, Tịnh độ cầu vãng sanh về cõi Phật và thấy rõ, nhận lại chân tướng mọi hiện tượng của Bát Nhã Bởi vì con đường Bát Nhã được cho là đưa đến sự giải thoát Còn lối tu học theo Tư tưởng chỉ đưa đến phước báu sanh về cõi Người và các cõi Trời và có hưởng thì có hết Nhưng con đường Bát Nhã không hề dễ dàng nên pháp môn niệm Phật được xem là một lựa chọn trung gian, cầu vãng sanh về cõi Phật A-Di-Đà để tu học tiếp Những diễn giải bài kinh này được sư Giác Khang và các môn sinh (bao gồm cả tu sĩ và cư sĩ) xem là “Chánh pháp”, nghĩa là được hợp thức thông qua những biện luận rằng đây là bài kinh
Trang 9nguyên thủy do Phật thuyết, những ý nghĩa của bài kinh được tích hợp từ những truyền thống Phật giáo phổ biến và đưa đến sự giải thoát, cũng như những thực hành tu học do bài kinh định hướng là tái lập lại những gì đã được thực hiện từ thời Đức Phật Những lớp nghĩa này cho thấy ba đặc tính nổi bật của bài Kinh Sáu Sáu là tính đa tầng nghĩa, tính cô đọng và tính chỉ dẫn
Còn về sinh hoạt thường nhật của cộng đồng tịnh xá, các hoạt động tu học ở đây được sư Giác Khang và các môn sinh tin là triển khai dựa trên nội dung bài Kinh Sáu Sáu và là biểu hiện của
ba con đường tu học Đối với tu sĩ đó là việc “trú dạ lục thời” Còn các hoạt động tu học của các
cư sĩ bao gồm học giáo pháp, hành thiền, tụng kinh và các hoạt động phước thiện như sớt bát, cúng dường, làm công quả, từ thiện
(ii) Việc các thành viên cộng đồng tịnh xá thực hành bài Kinh Sáu Sáu không chỉ là hiện thức hóa bài kinh vào đời sống tu học của mình, mà còn là tạo ra và duy trì các quan hệ quyền lực trong cộng đồng, bao gồm: quan hệ quyền lực kỷ luật trong việc giữ giới luật, quan hệ quyền lực từ lực ngôn hành trong thiền định và quan hệ quyền lực tri thức trong việc dạy-học giáo pháp Về mặt lý thuyết, điều này có nghĩa rằng cấu trúc của một cộng đồng, bao gồm các quan
hệ quyền lực không tồn tại hiển nhiên nhưng được biện luận bởi một hệ thống tri thức Trong khi đó, các quan hệ quyền lực lại là điều kiện để những tri thức này được thừa nhận
Ở tịnh xá, dù theo phương cách nào thì người tu học cũng cần phải (hoặc được khuyến khích) thực hành ba điều là giữ giới luật, hành thiền, và dạy-học giáo pháp Mỗi lĩnh vực có tiêu chí phân cấp bậc riêng Theo đó, những người giữ nhiều giới luật, những người hành thiền chuyên cần và thâm sâu, và những người am hiểu và có thể giảng giải giáo pháp dựa trên hiểu biết của mình và phù hợp với định hướng của bài Kinh Sáu Sáu được tin là có khả năng đạt được sự chứng đắc về mặt nhận thức Do đó, họ có vị thế cao trong cộng đồng tịnh xá, cũng như có thể xác định điều gì là hợp lý-bất hợp lý cho các thành viên khác trong cộng đồng tịnh xá
Đầu tiên, việc tuân giữ giới luật được xem là tiền đề tạo tâm thiện cho những thực hành tu học tiếp theo Tính kỷ luật trong tu học được xem là yếu tố sống còn đối với đạo Phật Có thể nói, việc giữ giới luật là một quá trình mà các cá nhân trong cộng đồng, từ hàng tu sĩ đến cư sĩ, trở thành những chủ thể bởi chúng cửa ngõ để một ai đó bước vào tham gia cộng đồng tịnh xá, ở
đó diễn ra quá trình nội tâm hóa các lớp ý nghĩa của bài Kinh Sáu Sáu của những thành viên cộng đồng tịnh xá Việc giữ giới luật giữa các thành viên trong cộng đồng tịnh xá không đồng nhất nên tính chủ thể của họ cũng đa dạng Càng chịu sự kiểm soát của kỷ luật, các tu sĩ càng trở nên đồng hóa với kỷ luật và cuối cùng trở thành đại diện cho quyền lực kỷ luật Bởi việc giữ giới luật thường đi cùng với nó là những phân loại về đức hạnh, tuổi đạo, cấp bậc phẩm trật trong cộng đồng tịnh xá Những người giữ nhiều giới luật cũng đồng thời là người có tuổi đạo lâu năm, được xem là có nhiều đức hạnh và thường có cấp bậc cao trong hệ thống phẩm trật của cộng đồng tịnh xá, đó là nhóm các tu sĩ Trong khi đó, nhóm các cư sĩ với việc giữ giới ít hơn (dù có thể có nhiều tuổi đạo), đức hạnh được xem là ít hơn nên được xếp vào cấp bậc phẩm trật thấp hơn và được gọi là những người “hộ pháp”, cụ thể là coi sóc tứ sự cho nhóm tu
sĩ Mối quan hệ quyền lực giữa nhóm tu sĩ và cư sĩ như thế không phải là một sự cai trị, mà là
sự tương hỗ dựa trên cơ sở của kỷ luật Họ coi sóc cho nhau nhưng cũng đồng thời giám sát nhau dựa trên yếu tố kỷ luật là giới luật Mục tiêu của sự kiểm soát này không chỉ để điều chỉnh việc các cá nhân phải hành động như thế nào, mà còn là nhằm đạt được những lợi ích hoặc hiệu quả trong quá trình tu học, bảo vệ hiệu lực của giáo pháp
Trang 10Kế đến, hành thiền cũng là cách thức mà thông qua đó thành viên cộng đồng tịnh xá đạt được tính chủ thể của mình Bởi trong thiền, họ được khuyến khích tìm hiểu, suy tư về chính bản thân con người mình theo định hướng “nhân sinh quan” và “vũ trụ quan” của bài Kinh Sáu Sáu Hoạt động này có thể được xem là điển hình nhất cho quá trình nội tâm hóa nội dung bài Kinh Sáu Sáu Bên cạnh giới luật, diễn ngôn hành thiền cũng tạo ra một hệ thống phân cấp Những người có thể đắc mức thiền định cao hơn, có thể hiểu sâu và diễn giải tốt giáo pháp sẽ được những người xung quanh kính trọng, bởi sự chứng đắc là biểu hiện cho một quá trình tu tập bền bỉ và nghiêm túc, cũng như minh chứng cho tính hiệu lực của các con đường tu học Theo
đó, những người được tin đắc mức thiền cao – nghĩa là chứng minh được các chỉ dẫn thiền có một lực ngôn hành nào đó – có thể giảng giải giáo pháp hoặc ấn chứng cho những người đắc mức thiền thấp hơn So với cấu trúc cấp bậc được tạo ra bởi việc tuân giữ giới luật, quan hệ quyền lực dựa trên tính hiệu nghiệm của chỉ dẫn thiền không phải là một mô hình quyền lực giữa nhóm này cố định trên nhóm khác Thay vào đó, các quan hệ quyền lực vốn dựa trên hiệu lực của diễn ngôn hành thiền mang tính rời rạc và tùy thuộc vào việc cá nhân đó chứng minh tính hiệu nghiệm của giáo pháp thông qua những biểu hiện bên ngoài của mình đến mức nào Cuối cùng, do cấu trúc cộng đồng tịnh xá được thiết lập dựa trên nội dung bài Kinh Sáu Sáu nên việc dạy-học bài kinh có liên quan chặt chẽ đến sự vận hành và duy trì cấu trúc này Quá trình áp dụng các ý nghĩa của bài kinh vào đời sống tu học đã làm cho một số trật tự trở nên quan trọng trong cấu trúc tổ chức của cộng đồng, như đã dẫn ra gồm hệ thống cấp bậc theo giới luật, theo mức thiền định và theo trình độ giáo pháp; nói cách khác là sự kiến tạo các trật
tự cấp bậc cho cộng đồng tịnh xá Trong ba trật tự được khảo sát, hệ thống cấp bậc dựa trên trình độ giáo pháp là trật tự cơ bản nhất Theo đó, những người am hiểu và có khả năng diễn giải giáo pháp có vị thế cao hơn và có tiếng nói quan trọng hơn trong những công việc chung của tịnh xá Tức là, những người có thể kiến tạo hoặc diễn giải lại – tức là nội tâm hóa giáo pháp sâu hơn sẽ trở thành người kiểm soát trong mối quan hệ quyền lực với những người còn lại Và khi muốn bảo vệ cấu trúc cộng đồng của mình trước những biến cố, các thành viên cộng đồng tịnh xá hướng đến việc giữ gìn các ý nghĩa bài Kinh Sáu Sáu cùng những thực hành dựa trên nền tàng bài kinh Và để giữ gìn hệ thống triết lý đó thì họ nhắm đến việc duy trì cấu trúc của chính cộng đồng mình Cấu trúc cộng đồng mà họ muốn duy trì không phải là tổ chức hữu hình của tịnh xá, mà là một trật tự các mối quan hệ và khuôn mẫu hành xử - điều mà họ có thể tái lập ở bất cứ đâu – dựa trên nền tảng là nội dung bài Kinh Sáu Sáu
(iii) Dù vậy các quan hệ quyền lực có những giới hạn nhất định Một số chiều kích được khảo sát cho thấy giới hạn của các quan hệ quyền lực như sau:
Thứ nhất, người tu học không tiếp nhận và thực hành những diễn giải từ bài Kinh Sáu Sáu một cách vô tư Tùy hoàn cảnh mà họ có thể kết hợp động cơ cá nhân của mình với những điều được dạy, hoặc che giấu những động cơ đó, hoặc chấp nhận có mâu thuẫn về ý nghĩa trong hành động của mình Điều này có nghĩa dù họ đã tham gia vào các quan hệ quyền lực thông qua việc thừa nhận những diễn giải bài kinh, quan hệ quyền lực này không kiểm soát hoàn toàn những động cơ mà họ tìm đến tịnh xá Thứ hai, bản thân sự lồng ghép các pháp môn tu học cũng tạo ra những giới hạn cho các quan hệ quyền lực: hoặc các quan hệ quyền lực không thể can thiệp vào việc người ta lấy pháp môn nào làm trọng tâm tu học, hoặc tùy vào bối cảnh mà
ở đó hoạt động tu học nào trở thành trọng tâm mà quan hệ quyền lực tương ứng với hoạt động
đó được thể hiện ra Thứ ba, trong mối quan hệ quyền lực xét về giới, sự chi phối của nam giới với nữ giới không phải đơn thuần một chiều, mà là của số ít nam giới với một nhóm cư sĩ (gồm