Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở trình bày toát yếu về hệ phái Khất sĩ nói chung và quá trình hình thành và phát triển của Ni giới Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, luận án phân
Trang 1VI ỆN HÀN LÂM KHOA H ỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
T Ạ THỊ LÊ
Ngành : Tôn giáo h ọc
Mã số : 9 22 90 09
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội, năm 2020
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Hồng Liên
2: PGS.TS Nguy ễn Thị Minh Ngọc
Phản biện 1: PGS.TS Ngô Hữu Thảo
Phản biện 2: GS.TS Đỗ Quang Hưng
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Hồng Dương
Lu ận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
h ọp tại vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2020
Có th ể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
phát tri ển của Giáo
đoàn Ni thuộc hệ phái
Kh ất sĩ tại Thành phố
H ồ Chí Minh
T ạ Thị Lê T ạp chí
Nghiên c ứu Tôn giáo
S ố: 09, 2017, Tr.72
S ố: 03, 2018, Tr.92
1859 -
0403
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình hình thành và phát triển của Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ tại Thành
phố Hồ Chí Minh theo thời gian đã có những bước tiến dài trong tiến trình chấn hưng Phật giáo ở Nam bộ nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Đời sống tu hành, cơ sở thờ tự, hoạt động hoằng pháp, hoạt động giáo dục đào tạo tăng tài, hoạt động hướng đến
xã hội của giáo đoàn có vai trò hết sức quan trọng đến sự phát triển của Ni giới Hệ phái
Khất sĩ nói chung và Ni giới Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Bên cạnh đó, hoạt động của Ni giới Hệ phái Khất sĩ ngày càng khẳng định ảnh hưởng trong cộng đồng tín đồ, góp phần định hướng nhận thức và hành vi tín đồ đến những giáo trị chân, thiện, mỹ, đặc biệt là lối sống từ bi, trí tuệ của Phật giáo Những hoạt động hướng đến xã hội của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang đóng góp một phần chia sẻ gánh nặng cho xã hội Nhưng hơn hết, những hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh trên hai phương diện “đạo” và “đời” đã lan tỏa những giá trị nhân văn cao cả của Phật giáo Việt Nam nói chung và Hệ phái Khất sĩ nói riêng
Trong thời kỳ mới của đất nước cũng như của Phật giáo Việt nam, Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục phát huy thành tựu đạt được trong quá khứ, vững bước vào tương lai cả “đạo” và “đời” để thực hiện tốt phương châm hành đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay còn ít được đầu tư nghiên cứu Các công trình nghiên cứu thường nhỏ lẻ, tiếp cận một hoặc một vài nội dung hoạt động của Giáo đoàn mà chưa có được một công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về hoạt động của Giáo đoàn Với tầm quan trọng và ý
nghĩa như trên, Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ
phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án Tiến sĩ Tôn giáo học Luận
án mô tả và phân tích một số hoạt động thuần túy tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội
của Giáo đoàn, qua đó có những nhận định, đánh giá, đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy tính tích cực của Giáo đoàn
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở trình bày toát yếu về hệ phái Khất sĩ nói chung và quá trình hình thành
và phát triển của Ni giới Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, luận án phân tích một
số hoạt động chủ yếu của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh rút ra những đặc điểm mang tính đặc thù
Từ đó, đưa ra quan điểm và một số khuyến nghị chủ yếu nhằm phát huy mặt lợi thế của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của Ni giới Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
Phân tích các loại hình hoạt động tôn giáo của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất
sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh Từ những phân tích và mô tả đó có thể thấy được những hoạt
Trang 5động cụ thể, đồng thời chỉ ra những biểu hiện đặc thù hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc
Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy những lợi thế của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh đối với đời sống tinh thần người dân thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Đề tài giới hạn khoảng từ năm 1944 (từ khi Hệ phái Khất sĩ thành lập) đến nay (cuối năm 2018)
Phạm vi không gian: tại Thành phố Hồ Chí Minh, có những nghiên cứu điển hình tại
Tổ đình Ni giới Khất sĩ là Tịnh xá Ngọc Phương và một số tịnh xá khác thuộc Ni giới Khất sĩ
Phạm vi các vấn đề nghiên cứu: Ni giới Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung và hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là những vấn đề chưa được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những mức độ
và khía cạnh ở từng chuyên ngành nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, trong luận án này, nghiên cứu sinh tập trung khảo sát một số hoạt động điển hình của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như:
Những hoạt động thuần túy tôn giáo như hoạt động hoằng pháp, hoạt động khất thực, tụng niệm và hoạt động giảng kinh, thuyết pháp và tập trung tự tứ
Những hoạt động hướng đến xã hội như: Hoạt động giáo dục, hoạt động từ thiện xã hội
và hoạt động trong các Ban, Ngành Giáo hội Phật giáo của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất
sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
Từ những hoạt động nêu trên nghiên cứu sinh sẽ đưa ra một số những đề xuất, khuyến nghị để phát huy một số những hoạt động tích cực của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là quan điểm tôn giáo là một nguồn lực phát triển đất nước Chú trọng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của tôn giáo
học, nghiên cứu liên ngành, cụ thể như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, Phương pháp phân tích, tổng hợp, Phương pháp lịch sử, Phương pháp so sánh, Phương pháp chuyên gia…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành, trong đó chủ yếu là cách tiếp cận tôn giáo
học, sử học, xã hội học để thực hiện các vấn đề đặt ra trong mục đích nghiên cứu Từ cách tiếp cận đó, luận án sử dụng lý thuyết nghiên cứu thực thể tôn giáo
Trang 6Do tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu nên luận án sử dụng phương pháp phân tích
tư liệu gốc và tư liệu thứ cấp việc thu thập, phân tích đánh giá về giá trị của các loại tư liệu gốc được coi là nhiệm vụ rất quan trọng của đề tài luận án vì tư liệu gốc giúp cho nghiên
cứu sinh tiếp cận với gốc rễ của vấn đề nghiên cứu Tư liệu thứ cấp là tư liệu thu thập trong Hệ phái và nguồn tư liệu từ các cơ quan quản lý tôn giáo tại địa phương
Phương pháp tham vấn chuyên gia: nghiên cứu sinh đưa ra các vấn đề nghiên cứu liên quan đến luận án nhằm trao đổi với các chuyên gia nghiên cứu có nhiều kinh nghiệm đối với vấn đề thuộc Ni giới Khất sĩ, từ đó có được cái nhìn hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn đối với vấn đề nghiên cứu
Phương pháp khảo sát điền dã: Nghiên cứu sinh tiến hành quan sát thực tế, sử dụng các công cụ như phỏng vấn sâu, đối tượng phỏng vấn sâu đa dạng gồm những Ni cô có uy tín trong các tịnh xá trong đó tác giả lồng ghép các công tác thu thập tư liệu Bên cạnh
đó, tác giả luận án sử dụng phương pháp quan sát tham dự
5 Đóng góp mới của luận án
Chí Minh;
Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh;
nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy ảnh hưởng tích cực của Ni giới Khất sĩ đến đời sống người dân thành phố Hồ Chí Minh
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy, các môn học có liên quan đến tư tưởng Triết học (Phật giáo) tại các trường Cao đẳng, Đại học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận:
Làm rõ được lịch sử hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ và Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Xác định và mô tả được những hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất
sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Ý nghĩa Thực tiễn
Cung cấp luận chứng khoa học cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách đối
với các vấn đề của Hệ phái Khất sĩ nói chung và Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Là tài liệu tham khảo có tính hệ thống đối với công tác giảng dạy và nghiên cứu
về Tôn giáo học
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Quá trình hình thành phát triển, đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ, Ni giới Khất
sĩ và Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3:Vai trò của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
trong các hoạt động tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội
Trang 7Chương 4:Xu hướng, một số vấn đề đặt ra của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất
sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Ngu ồn tài liệu
1.1.1 Nguồn tài liệu gốc của Hệ phái Khất sĩ
Đó là bộ sách “Chơn lý”, tập hợp 69 bài giảng cũng là 69 đề tài do Tổ sư Minh Đăng Quang viết trong khoảng 3 năm (1951 - 1953) Nội dung được sắp xếp theo thứ tự Chơn lý 1, Chơn lý 2… Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam kết tập thành một bộ với tựa
đề Chơn lý Năm 1993, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành: “Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý Năm 2009, Nhà xuất bản Tôn giáo tái bản bộ Chơn lý 950 trang Đầu thập niên 1970 bộ Chơn lý được chia làm hai với hai tựa đề: 1 Chơn lý gồm 60 bài vè, 2 Luật nghi Khất sĩ gồm 9 bài, in thành hai bộ riêng Ngoài ra bộ Chơn lý còn được tách in thành 3 tập: Chơn lý, tập I; Chơn lý, tập II; Chơn lý, tập III đều do Nhà xuất bản Tôn giáo in ấn và phát hành năm 2009, theo đó mỗi tập tập hợp một số chủ đề như: Có
và Không (tập I); tôn giáo… (tập II); Đạo Phật (tập III) trong lời cẩn bạch (lần in lại nhân
lễ tưởng niêm 55 năm ngày Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng (01/02 Âl 1954 - 01/02
Âl 2009), Sa môn Giác Toàn cho biết: “Những lời giảng dạy của Tổ sư được chư đệ tử đúc kết lại thành bộ Chơn lý có 69 chủ đề Từ ngày Tổ sư vắng bóng đến nay, bộ Chơn lý được in và ấn tống nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau Có khi là trọng bộ toàn tập;
có khi là từng quyển rời với từng chủ đề Lần tái bản lần thứ nhất là vào dịp lễ tưởng niệm
50 năm ngày Tổ sư vắng bóng (1954 - 2004); lần đó chúng tôi xin phép chư tôn đức Giáo hội Hệ phái in ra thành hai phần:
1.1.2 Nguồn tài liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nguồn tư liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngoài Hiến chương là văn kiện các kỳ đại hội Theo đó là ba tập: Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Văn phòng Hội đồng Trị sự: Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 - 2012) Nhà xuất bản Tôn giáo 2012 Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII (nhiệm kỳ 2012 - 2017) Nhà xuất bản Hải Phòng 2012 Giáo hội Phật giáo
Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII nhiệm kỳ 2017 -
2022
Ba tập sách tập hợp các Văn kiện của tám kỳ đại hội Trong các Văn kiện đáng chú ý là: Chương trình hoạt động của từng nhiệm kỳ, Nghị quyết của Hội đồng trị sự Riêng Đại hội lần thứ nhất có thêm Văn kiện “Báo cáo về quá trình vận động thống nhất” Báo cáo tổng kết của các kỳ từ Đại hội II đến Đại hội VIII đều có những phần nội dung về
Hệ phái Khất sĩ như nội dung về công tác Tăng sự, về Tu viện, Tịnh xá, Tịnh thất, niệm
Phật đường và một số hoạt đông Phật sự của Hệ phái
1.2 Các công trình nghiên c ứu
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam
Cuốn Đức Phật và Phật pháp, tác giả Nãrada Mahã There - Phạm Kim Khánh
dịch, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013; đúng như tựa đề, cuốn sách gồm 2 phần: Đức Phật, Phật Pháp
Trang 8Bộ Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang về cơ bản có cả hai nội dung trên Đây
là một trong những công trình giúp nghiên cứu sinh hiểu một cách căn bản về Đức Phật và Phật pháp
Bộ sách hai tập: sắc tu Bách Trương Thanh quy, viện nghiên cứu Phật học, Thiền
sư Đức Huy trùng biên, Thích Phước Sơn và Lý Việt Dũng dịch, nhà xuất bản Phương Đông, 2010 Một trong những công trình nghiên cứu về Phật giáo theo nghiên cứu sinh cần thiết phải kể đến đó là cuốn của Hòa thượng tôn sư - Pháp sư Tịnh Không: “Nhận thức Phật giáo, cẩn dịch: Vọng Tây Cư sĩ, nhà xuất bản Hồng Đức, 2017
Cuốn Tăng già Việt Nam, Trí Quang biên tập, in lần thứ nhất tại nhà in Đuốc Tuệ, 1952 Một số nội dung về các Thiền sư, các công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể kể đến như sau:
Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1: Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1999 Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2: Từ Lý Nam Đế đến Lý Thái Tông, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3: từ Lý Thái Tông (1054) đến
Trần Nhân Tông (1278), nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2007
Nguyễn Duy Hinh, “Lịch sử đạo Phật Việt Nam”, nhà xuất bản tôn giáo và nhà xuất bản Từ điển bách khoa, 2005 là một trong những chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam Cách tiếp cận cũng như lý giải và bình luận của Phó giáo sư Nguyễn Duy Hinh về lịch sử đạo Phật Việt Nam theo hướng phân kỳ dựa vào chính sự truyền nhập
và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
Nguyễn Đại Đồng, Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1981 (in lần thứ hai có sửa chữa bổ sung) Nhà xuất bản Tôn giáo, 2018 Cuốn sách mở đầu bằng việc trình bày toát yếu về Phật giáo ở Ấn Độ (chương 1), Phật giáo ở Trung Hoa (chương 2) như là “tiếp dẫn” để rồi đi vào phần trình bày lịch sử Phật giáo Việt Nam với 10 chương (từ chương 3 đến chương 12) đề cập đến tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam
từ buổi đầu đến khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981
Cuốn Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Trị sự: Kỷ yếu hội thảo kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2011), nhà xuất bản Tôn giáo 2012
Kỷ yếu tập hợp 99 bài viết chia thành 5 cụm chủ đề, trong đó có cụm chủ đề thứ tư: Đặc thù hệ phái Phật giáo Việt Nam Ở cụm chủ đền này có bài: Ni giới Hệ phái Khất sĩ trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo xưa và nay của Ni trưởng Thích Nữ Ngoạt Liên, Ủy viên Hội đồng Trị sự
Cuốn thứ hai: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 35 năm hình thành và phát triển, nhà xuất bản Hồng Đức, 2011
Nhiều tác giả: Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, 2016 Cuốn sách tập hợp các bài tham luận của một hội thảo khoa học: Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, tổ
chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 08 và ngày 09 tháng 4 năm 2016, cuốn sách gồm
ba phần
Trang 9Cuốn sách thứ hai: Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Tưởng niệm Đức thành Tổ Ni Kiều - Đàm - Di (Mahap rajàpati Gautamì), nhà xuất bản Hồng Đức, 2018 Cuốn sách là tập hợp các bài viết về Tổ Ni Kiều Đàm Di, về hoạt động của Ni giới một số tỉnh thành
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về Hệ phái Khất sĩ và Ni giới Hệ phái Khất sĩ
Tác phẩm “Tìm hiểu về Hệ phái Khất sĩ” của Thích Giác Duyên, năm 2014 tái bản
có sửa chữa, bổ sung với tên gọi “Hệ phái Khất sĩ – 70 năm hình thành và phát triển” là tác phẩm nghiên cứu tổng quan khá đầy đủ về Hệ phái Khất sĩ Tác giả đã tổng hợp nhiều tài liệu, văn bản của Hệ phái và các giáo đoàn, tập hợp nhiều tư liệu nghiên cứu lịch sử qua lời kể và nghiên cứu thực địa để khái quát về mọi khía cạnh của Hệ phái Khất sĩ một cách có hệ thống
Tháng 2/2014, Viện nghiên cứu Tôn giáo, Viện nghiên cứu Phật học cùng với Hệ phái Khất sĩ đã tổ chức hội thảo khoa học đầu tiên về hệ phái Phật giáo này, với chủ đề
“Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập”
Bài tham luận “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam với truyền thống khất thực” của tác giả Phương Liên, Bài tham luận “Phục hoạt hạnh khất sĩ tại Việt Nam” của tác giả Nguyên
Cẩn, Bài tham luận: “Hệ phái Khất sĩ góp phần xây dựng đất nước và Giáo hội Phật giáo
Việt Nam” của Bùi Hữu Dược, Tác phẩm “Bút tích Ni trưởng Huỳnh Liên” của Giáo hội Phât giáo Việt Nam, Ni giới Khất sĩ là một tác phẩm sau rất nhiều sự cố gắng sưu tập, tổng hợp rất nhiều hình ảnh và bút tích của Ni trưởng Huỳnh Liên Tác phẩm “Biên niên
sử Hệ phái Khất sĩ Việt Nam” của Sa môn Thích Minh Cang, xuất bản năm 2017
Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu như: “Tìm hiểu Phật giáo Khất sĩ ở Nam bộ Việt Nam trong thế kỷ XX của Thích Hạnh Thành, xuất bản 2007; “Sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ” của Thích Giác Trí, xuất bản 2001; “Minh Đăng Quang pháp giáo của Hàn Ôn, xuất bản năm 1960; “Sinh hoạt giới luật của Phật giáo
Việt Nam trong ba hệ phái (Nam tông, Bắc tông, Khất sĩ)” của Thích Nữ Liên Chương, xuất bản 2001 Về pháp môn khất thực, từ năm 1989, Trần Hồng Liên đã viết bài “„Khất thực thật và khất thực giả, khía cạnh tôn giáo, khía cạnh xã hội” đăng trên tạp chí Khoa học xã hội, số 1/1989, tác giả Trần Hồng Liên cũng có một số bài viết khác liên quan đến
chủ đề này như “Chuyển đổi sinh hoạt tu sĩ Phật giáo Nam bộ Việt Nam thời hội nhập” (2008), “Phật giáo trong người Khmer Sóc Trăng – Hiện trạng và giải pháp” (2002), v.v
Luận văn thạc sĩ “Sự hình thành và phát triển của hệ phái Khất sĩ” năm 2001 của Thích Giác Trí, luận văn thạc sĩ “Pháp môn khất thực của Hệ phái Khất sĩ tại Nam bộ trong bối cảnh xã hội đương đại” của Bùi Trần Ca Dao năm 2014 Luận văn thạc sĩ “Tổ chức Phật giáo Hệ phái Khất sĩ qua góc nhìn diễn ngôn và quyền lực” của Trần Khánh Hưng năm 2015 Luận văn: “Khất thực, Thọ trai của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam tại Thành
phố Hồ Chí Minh” từ góc nhìn văn hóa của tác giả Nguyễn Công Hoài Lương năm 2016
1.2.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu thường rời rạc, mỗi công trình thường đề cập đến một mảng của hoạt động tôn giáo hoặc họa động hướng đến xã hội Hoặc các công trình nghiên cứu đề cập đến một số hoạt động nhưng thường là chưa thực sự nổi bật Chưa có một công trình nào đê cập một cách hệ thống những hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất
sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và đó chính là nhiệm vụ của luận án
1.2.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu:
Trang 10Luận án tập trung làm rõ những vấn đề nghiên cứu chính sau đây:
Một là, làm rõ quá trình hình thành, phát triển, nêu bật tính đặc thù của Hệ phái Khất sĩ và Ni giới thuộc Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Hai là, nêu bật những hoạt động của Giáo đoàn Ni giới Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh với tư cách là nghiên cứu trường hợp (case study) trên hai lĩnh vực: hoạt động tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội
Về hoạt động tôn giáo, luận án tập trung vào một số lĩnh vực chủ chốt như: hoạt động hoằng pháp, tu tập, tu học
Về hoạt động hướng đến xã hội, luận án tập trung vào một số lĩnh vực như: tham gia các tổ chức và đoàn thể chính trị xã hội (Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp, Hội liên hiệp phụ nữ ); hoạt động tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát triển lĩnh vực từ thiện xã hội
Ba là, tìm ra những nét đặc thù của Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh; đưa ra một số khuyến nghị đối với Hệ phái và chính quyền để Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy những thành tựu tốt đẹp, khắc phục
những hạn chế về hoạt động trên cả hai lĩnh vực Tôn giáo và hướng đến xã hội
1.3 Khung lý thuy ết và một số khái niệm
1.3.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở nêu và phân tích câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, các lý thuyết nghiên cứu mà lý thuyết thực thể tôn giáo là cốt lõi để nghiên cứu hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở 02 trụ cột: hoạt động thuần túy tôn giáo và Hoạt động hướng đến xã hội, luận án đưa ra mô hình khung phân tích như sau:
1.3.3 Một số khái niệm công cụ sử dụng trong luận án
Hệ phái Khất sĩ, Bộ Chơn lý, Ni giới Khất sĩ, Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ, Khất Sĩ, Tập sự, Sadi, Tỳ kheo (tỳ khưu, tỷ kheo), Tăng già, Sư, Bố thí, Chúng sinh (còn gọi
là chúng hữu tình), Chư Phật ba đời (Chư Phật mười phương ba đời), Độ ngọ, Du tăng,
du phương, Giáo hóa (khuyến hóa), Hóa duyên, Hoằng pháp, Phật sự, Thụ thực, thụ trai, Tịnh xá, Trung đạo, Tứ sự, Tự tứ, Tứ ý pháp
Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ, NI GIỚI KHẤT SĨ VÀ GIÁO ĐOÀN NI THUỘC HỆ KHẤT SĨ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Khát quát v ề quá trình hình thành và phát triển của hệ phái Khất Sĩ
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời
Nguyên nhân khách quan:
Nam bộ Việt Nam được khai phá vào thời Chúa Nguyễn (thế kỷ XVII) Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nơi này còn hoang vu, rậm rạp, nhiều thú dữ, thiên tai, lụt lội khiến cuộc sống người dân nhiều khó khăn Ngược lại, nơi này đất đai màu mỡ do hai con sông Tiền và sông Hậu bồi đắp phù sa Vùng đồng bằng Nam bộ ít đồi núi cản trở, giao thông đường thủy thuận lợi vì hệ thống sông ngòi dày đặc Bởi thế, từ khoảng thế kỷ XVII
trở đi, nhiều thành phần cư dân từ các nơi khác đến Nam bộ sinh sống đã mang theo các phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo góp phần cho sự hình thành và xuất hiện nhiều hiện tượng tôn giáo mới
Trang 11Nguyên nhân chủ quan:
Với mong muốn được độc lập, tự chủ về tư tưởng, không lệ thuộc văn tự Hán truyền, cũng không muốn sử dụng ngôn ngữ Pali hoặc bị ảnh hưởng bởi tiếng Pháp, Hệ phái Khất sĩ đã sáng tạo rất đúng đắn nhằm mục đích giữ lại tiếng Việt của dân tộc, diễn đạt
bằng ngôn ngữ của dân tộc để phổ biến giáo lý, giới luật căn bản của Phật giáo vào cộng đồng người dân Miền Nam Việt Nam đang có xu thế phản kháng lại những nền văn hóa ngoại lai làm lu mờ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Hầu hết giáo lý căn bản của Hệ phái nằm trong bộ kinh Chơn Lý do Tổ sư Minh Đăng Quang soạn, ngắn gọn và dễ hiểu
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Tổ sư Minh Đăng Quang tên thật là Nguyễn Thành Đạt Lúc nhỏ, Ngài đi học mượn giấy khai sinh của một người tên Lý Hườn, nên được gọi bằng cái tên đó Ngài sinh ngày 26 tháng 9 năm 1923 trong một gia đình Nho giáo, tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Năm 1947, Ngài thu nhận đệ tử và thành lập đoàn du tăng khất thực Ngài chia Giáo hội ra thành hai đoàn; một đoàn hành xứ, trực tiếp theo Tổ sư đi hành đạo; một đoàn
trụ xứ, ở các tịnh xá của Giáo hội và quy định ba tháng phải luân chuyển qua tịnh xá khác Năm 1948, đoàn du tăng đến Sài Gòn, sau đó đi khắp các vùng Tây và Đông Nam bộ cho đến ngày thụ nạn vắng bóng (Mùng 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ (1954) Tính đến ngày vắng bóng, Ngài mới hành đạo được mười năm, nhưng đã lập được 27 tịnh xá, thu nhận 52 đệ
tử tăng, 53 đệ tử ni và được hàng vạn cư sĩ quy y theo [11]
2.1.2.2 Các giai đoạn phát triển của Hệ phái Khất sĩ
Giai đoạn 1944 – 1954
Trong giai đoạn này, Tổ sư Minh Đăng Quang chứng đạt vô thường, khổ, vô ngã,
ngộ đạo với pháp lý “Thuyền bát nhã”, đắc đạo vào năm 1944, tổ sư Minh Đăng Quang bắt đầu xuất gia truyền đạo Một trong những công việc đầu tiên của ngài là thu nhận đệ
tử, lập nên tổ chức giáo đoàn Năm 1947,thầy Từ Huệ là người được quyền thu nhận làm
đệ tử đầu tiên, sau đó là một học trò nhỏ là Giác Chơn Chùa Linh Biểu (Nay thuộc ấp 1,
xã Tân Hòa Thành, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) là nơi khai mở đạo
Do hoạt động của hệ phái là khất thực, hóa duyên, những người hành đạo thời kỳ này đều sống đời sống du tăng “Không nhà cửa, chẳng vợ con, gia đình quyền lợi, không ở
một nơi nào cố định, không bao giờ cất giữ tiền bạc ở trong người nên tổ chức giáo đoàn theo quy định của Tổ sư hình thành một đoàn Du tăng Khất sĩ Cấp tổ chức định tính theo con số du tăng Một tiểu giáo hội là 20 vị; một trung giáo hội là 100 vị; một đại giáo hội là
500 vị
Về giáo phái và đời sống tụ tập
Giai đoạn Hệ phái Khất sĩ thời kỳ đầu, Tăng Ni Khất sĩ tu học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của đức Tổ sư Minh Đăng Quang Suốt sáu thời trong ngày, chư Tăng Ni giữ giới, hành pháp nghiêm nhặt Lúc bấy giờ, Tăng đoàn Khất sĩ hình thành được 20 tịnh xá ở miền Nam Việt Nam,
có khoảng 100 Tăng Ni và hàng ngàn Phật tử quy y Tam Bảo
Giai đoạn 1954 – 1964
Năm 1954, Tổ sư Minh Đăng Quang thụ nạn Thượng tọa Giác Táng với cương vị chưởng quản giáo hội tiếp tục dẫn đoàn Du tăng đi hành đạo Mỗi chuyển đi du học là mỗi
Trang 12lần số tín đồ khất sĩ, đặc biệt là các đại đệ tử của Tổ sư có dịp chiêu mộ đệ tử, lập nên các giáo đoàn
Mỗi giáo đoàn đều có một Trưởng lão đứng đầu, hoằng pháp ở một số tỉnh nhất định Nếu như thời kỳ đầu hành đạo là du hỏi, về sau, bao gồm hai thành phần là Hành xứ
và Trụ xứ Đoàn hành sứ thực hiện hạnh nguyên du phương hóa nguyện Đoàn Trụ xứ tại các tỉnh lẻ để tu tập và điều hành Phật sự của giáo đoàn
Giai đoạn 1964 – 1975
Sau một thời gian vận động và chỗ đồng mãi đến ngày 22 tháng 4 năm 1966, Bộ
Nội vụ, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mới cho phép thành lập Giáo hội với bản Điều lệ
32 điều theo Nghị định số 405/BNV/KS cấp tại Sài Gòn Bản Điều lệ 32 điều được làm tại Gia Định, ngày 18 tháng 12 năm 1960 Phần Danh hiệu – Hội sở, mục đích ghi số
Hồ Chí Minh Trong tinh thần hòa hợp, Giáo phái Khất sĩ cử 6 đại biểu tham dự Hội nghị đại biểu thành lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam tháng 11-1981 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội
và trở thành một trong 9 tổ chức Phật giáo, thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay
Giai đoạn 1981 đến nay (2018)
Năm 1981, Hệ phái Khất sĩ gia nhập vào ngôi nhà giáo hội Phật giáo Việt Nam Từ đây, Hệ phái Khất sĩ có những điều kiện mới để phát triển về mọi mặt
Đến năm 2018, 6 giáo đoàn Tăng, 1 Giáo đoàn Ni giới vẫn giữ nguyên, phân đoàn
Ni giới có sự thay đổi Hai phân đoàn Ni giới thuộc giáo đoàn IV hợp làm một, phân đoàn
Ni giới thuộc giáo đoàn III vẫn giữ nguyên Lâp thêm 2 phân đoàn Ni , một phụ thuộc vào giáo đoàn I và môt phụ thuộc vào giáo đoàn VI Cộng là 4 phân đoàn
Đến thời điểm năm 2017, Giáo đoàn Tăng, trải qua 6 kỳ Đại hội Mỗi kỳ Đại hội,
mô hình tổ chức, cơ cấu nhân sự được cũng cố, kiện toàn
2.2 Khái quát quá trình hình thành và phát tri ển của của tổ chức Ni giới thuộc Hệ phái Khất sĩ
Trong khi đó, tổ chức Ni giới hình thành nên hai loại hình: Giáo đoàn Ni giới và phân đoàn Ni giới Giáo đoàn Ni giới là một tổ chức Ni chúng độc lập với hệ thống tổ chức, cơ cấu nhân sự riêng Phân đoàn Ni giới là tổ chức Ni chúng phụ thuộc vào một số Giáo đoàn Tăng Các phân đoàn Ni y chỉ vào một Giáo đoàn Tăng, mặt khác, theo thời gian mỗi phân đoàn lập ra tổ chức gồm một số chức vụ để điều hành Ni chúng của phân đoàn
Như vậy, về tổ chức Ni giới thuộc Hệ phái Khất sĩ, luận án trình bày với các nội dung sau:
Trang 13Khái quát về quá trình hình thành Giáo hội Khất sĩ Ni Giới Việt Nam, Ni giới Hệ phái Khất sĩ Khái quát về các phân đoàn Ni.Khái quát về Giáo đoàn Ni tại Thành Phố Hồ Chi Minh
2.2.1 Khái quát về quá trình hình thành Ni giới Hệ phái Khất sĩ
Nhận thấy cần phải thành lập một tổ chức riêng, một ban vận động được thành lập Ban soạn thảo điều lệ gồm 30 điều, làm tại Sài Gòn ngày 18/10/1957 Bản điều lệ được Bộ Nội vụ, chính quyền Sài Gòn duyệt theo Nghị định số 7/BNV/NA/P5 Trên cơ sở của nghị định trên, ngày 11/1/1958 Ni trưởng Huỳnh Liên đứng ra thành lập Giáo hội Ni giới Khất
sĩ Việt Nam Đây là giáo hội độc lập về mặt tổ chức và phát triển, có pháp nhân, pháp lý Trụ sở đặt tại Tịnh xá Ngọc Phương (Nay là số 491/1, đường Lê Quang Định, Phường 1, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Minh
Giáo đoàn IV do Hòa thượng Giác Nhiên, đệ tử của Tổ sư Minh Đăng Quang làm Trưởng Giáo đoàn Giáo đoàn IV chủ yếu hoạt động ở các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ như Bà Rịa Vũng Tàu, An Giang, Kiên Giang, Tây Ninh, Cần Thơ, Sóc Trăng,… Đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo đoàn có nhiều cơ sở tịnh xá ở các quận như Quận 2, Thủ Đức, Bình Chánh, Hóc Môn, Bình Thạnh…
Phân đoàn II Ni giới Khất sĩ do cố Ni trưởng Trí Liên, là vị Ni trưởng thứ 9 trong hàng Ni giới đệ tử của Đức Tổ sư, thành lập và dẫn dắt Cố Ni trưởng Trí Liên, thế danh Nguyễn Ngọc Mai, tự Phạm Ngọc Lâm, sinh năm 1901 tại Mỹ Lạc Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An
2.3 Một số đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ, Ni giới Hệ phái khất sĩ và Giáo đoàn
Ni thu ộc Hệ phái Khất sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1 Một số đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ
Về kinh điển: Kinh luật của Khất sĩ dung hợp tinh hoa giáo pháp của hai truyền thống chính là Phật giáo Bắc Truyền và Nam Truyền Một số phần trong kinh tụng Khất sĩ giống với kinh tụng Bắc truyền như Nghi thức Sám hối, Nghi thức Cầu an, Nghi thức Cầu siêu Tuy nhiên các bài kinh tụng đều được dịch sang tiếng Việt thuần túy và phổ theo thể văn vần, hay thể thơ lục bát, song thất lục bát, thơ năm chữ Kinh Phổ Môn, Kinh Di Đà hay các bài kinh ngắn như Kinh Bát - nhã, Tán thán Phật, Sám Mười phương, Mười nguyện, Phúng kinh, Nguyện tiêu, Nguyện sanh, Hồi hướng, Tự quy y đều được dịch từ kinh điển Bắc truyền sang tiếng Việt và diễn thơ Chủ trương Việt hóa của Đức Tổ sư rất phù hợp với văn hóa người Việt cũng như phù hợp với trình độ dân trí quần chúng lúc bấy