70Chương 3: VAI TRÒ CỦA GIÁO ĐOÀN NI THUỘC HỆ PHÁI KHẤT SĨ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG ĐẾN XÃ HỘI .... Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở trình
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Tr ần Hồng Liên
2 PGS.TS Nguy ễn Thị Minh Ngọc
Hà Nội – 2020
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Kết quả trình bày của luận án
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà N ội, ngày 12 tháng 16 năm 2020
Nghiên c ứu sinh
T ạ Thị Lê
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Phòng
Quản lý Đào tạo, Khoa Tôn giáo học cùng quý thầy cô của Học viện Khoa học xã
hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo, cán bộ Học viện Chính trị khu vực II đã tạo điều
kiện thuận lợi để tôi học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai cô hướng dẫn đề tài luận
án là: PGS.TS Trần Hồng Liên và PGS.TS Nguyễn Thị Minh Ngọc đã hết lòng dìu dắt, tận tình chỉ bảo; xin cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm tuyển Nghiên
cứu sinh đầu vào, Hội đồng chấm các chuyên đề luận án, Hội đồng chấm luận án
cấp cơ sở và hai phản biện độc lập đã cho tôi những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận án này
Xin cảm ơn quý thầy cô, các bạn ở Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo; các bạn trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh, các Sư, Ni, đặc biệt là các Ni tại Tịnh xá Ngọc Phương, Ngọc Chơn, Ngọc Phú, Ngọc Văn… mà tôi có cơ hội được gặp gỡ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian sưu tầm tài liệu và nghiên cứu
Xin cảm ơn gia đình, các bạn hữu và đồng nghiệp đã khích lệ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn./
Hà N ội, ngày tháng năm 2020
Nghiên c ứu sinh
Tạ Thị Lê
Trang 5M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Nguồn tài liệu 7
1.1.1 Nguồn tài liệu gốc của Hệ phái Khất sĩ 7
1.1.2 Nguồn tài liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam 9
1.2 Các công trình nghiên cứu 10
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam 10
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về Hệ phái Khất sĩ và Ni giới Hệ phái Khất sĩ 19
1.2.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu 25
1.2.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu: 26
1.3 Khung lý thuyết và một số khái niệm 26
1.3.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 26
1.3.2 Mô hình khung phân tích 30
1.3.3 Một số khái niệm công cụ sử dụng trong luận án 31
C hương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ, NI GIỚI KHẤT SĨ VÀ GIÁO ĐOÀN NI THUỘC HỆ KHẤT SĨ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36
2.1 Khát quát về quá trình hình thành và phát triển của hệ phái Khất Sĩ 36
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời 36
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 38
2.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của của tổ chức Ni giới thuộc Hệ phái Khất sĩ 47
2.2.1 Khái quát về quá trình hình thành Ni giới Hệ phái Khất sĩ 47
2.2.2 Khái quát về các phân đoàn Ni 54
2.2.3 Khái quát về Giáo Đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh 58
2.3 Một số đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ, Ni giới Hệ phái khất sĩ và Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh 61
2.3.1 Một số đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ 61 2.3.2 Một số đặc điểm của Ni giới Hệ phái Khất sĩ và Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái
Trang 6Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh 70
Chương 3: VAI TRÒ CỦA GIÁO ĐOÀN NI THUỘC HỆ PHÁI KHẤT SĨ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG ĐẾN XÃ HỘI 76
3.1 Một số điều lệ quy định hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ 76
3.2 Vai trò của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hoạt động thuần túy tôn giáo 82
3.2.1 Hoạt động hoằng pháp 82
3.2.2 Khất thực và tụng niệm 87
3.2.3 Giảng kinh, thuyết pháp và tập trung Tự tứ 101
3.2.4 Hoạt động giáo dục 110
3.3 Vai trò của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hoạt động hướng đến xã hội 115
3.3.1 Hoạt động bảo vệ và xây dựng đất nước 115
3.3.2 Hoạt động từ thiện xã hội 121
Chương 4: XU HƯỚNG, MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RACỦAGIÁO ĐOÀN NI THUỘC HỆ PHÁI KHẤT SĨ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 126 4.1 Một số xu hướng chuyển biến 126
4.1.3 Xu hướng trở thành một nguồn lực xã hội 130
4.2 Những vấn đề đặt ra 132
4.2.1 Vấn đề đặt ra về hoạt động thuần túy tôn giáo 133
4.2.2 Vấn đề đặt ra trong hoạt động xã hội của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ 137
4.2.3 Những vấn dề đặt ra đối với việc quản lý của chính quyền đối với Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ 143
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 7DANH M ỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích nghiên cứu hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh 31
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong ngôi nhà của Phật giáo Việt Nam có một số hệ phái Phật giáo mang tính đặc thù trong đó có Hệ phái Khất sĩ Người sáng lập ra Hệ phái Khất sĩ là Tổ
sư Minh Đăng Quang Ngay từ thời kỳ đầu thành lập trong hàng ngũ xuất gia của
Hệ phái ngoài Tăng còn có Ni giới Theo thời gian, Ni giới của Hệ phái thấy cần thiết phải thành lập một tổ chức riêng, người có công đầu là Ni trưởng Huỳnh Liên Tổ chức Ni giới của Hệ phái có tên gọi: Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam Trụ sở của Giáo hội đặt tại tịnh xá Ngọc Phương (nay tạisố 491/1 đường Lê Quang Định, phường 1, Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh)
Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ, ngoài những hoạt động mang tính chất chung của Hệ phái Khất sĩ, trong đó có Ni đoàn còn có những biểu hiện riêng bởi tính độc lập tương đối của tổ chức này Kể từ khi thành lập, đặc biệt là
từ thời điểm tháng 11 năm 1981, Hệ phái Khất sĩ trong đó có Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ gia nhập ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ có những điều kiện mới để hình thành và phát triển
Quá trình hình thành và phát triển của Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh theo thời gian đã có những bước tiến dài trong tiến trình
chấn hưng Phật giáo ở Nam bộ nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Đời sống tu hành, cơ sở thờ tự, hoạt động hoằng pháp, hoạt động giáo dục đào
tạo tăng tài, hoạt động hướng đến xã hội của giáo đoàn có vai trò hết sức quan
trọng đến sự phát triển của Ni giới Hệ phái Khất sĩ nói chung và Ni giới Hệ phái
Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Bên cạnh đó, hoạt động của Ni giới Hệ phái Khất sĩ ngày càng khẳng định ảnh hưởng trong cộng đồng tín đồ, góp phần định hướng nhận thức và hành vi tín đồ đến những giá trị chân, thiện, mỹ, đặc biệt là lối sống từ bi, trí tuệ của Phật giáo Những hoạt động hướng đến xã hội của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất
sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh đã và đang đóng góp một phần chia sẻ gánh nặng cho xã hội Nhưng hơn hết, những hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái
Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh trên hai phương diện “đạo” và “đời” đã lan
Trang 9tỏa những giá trị nhân văn cao cả của Phật giáo Việt Nam nói chung và Hệ phái
Khất sĩ nói riêng
Trong thời kỳ mới của đất nước cũng như của Phật giáo Việt nam, Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục phát huy thành tựu đạt được trong quá khứ, vững bước vào tương lai cả “đạo” và “đời” để
thực hiện tốt phương châm hành đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc
Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay còn ít được đầu tư nghiên cứu Các công trình nghiên cứu thường nhỏ lẻ, tiếp cận một hoặc một vài nội dung hoạt động của Giáo đoàn mà chưa có được một công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về hoạt động của Giáo đoàn Với tầm quan trọng và ý nghĩa
như trên, Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ
học Luận án mô tả và phân tích một số hoạt động thuần túy tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội của Giáo đoàn, qua đó có những nhận định, đánh giá, đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy tính tích cực của Giáo đoàn
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở trình bày toát yếu về Hệ phái Khất sĩ nói chung và quá trình hình thành và phát triển của Ni giới Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng,
luận án phân tích một số hoạt động chủ yếu của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái
Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh rút ra những đặc điểm mang tính đặc thù
Từ đó, đưa ra quan điểm và một số khuyến nghị chủ yếu nhằm phát huy
mặt lợi thế của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của Ni giới Khất sĩ tại thành phố
Hồ Chí Minh
Phân tích các loại hình hoạt động tôn giáo của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh Từ những phân tích và mô tả đó có thể
Trang 10thấy được những hoạt động cụ thể, đồng thời chỉ ra những biểu hiện đặc thù hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy những lợi thế của Giáo đoàn
Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh đối với đời sống tinh thần người dân thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Phạm vi các vấn đề nghiên cứu: Ni giới Khất sĩ ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung và hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay là những vấn đề chưa được nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu ở những mức độ và khía cạnh ở từng chuyên ngành nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, trong luận án này, nghiên cứu sinh tập trung khảo sát một số hoạt động điển hình của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay như:
Những hoạt động thuần túy tôn giáo như hoạt động hoằng pháp, hoạt động khất
thực, tụng niệm và hoạt động giảng kinh, thuyết pháp và tập trung tự tứ
Những hoạt động hướng đến xã hội như: Hoạt động giáo dục, hoạt động từ thiện xã hội và hoạt động trong các Ban, Ngành Giáo hội Phật giáo của Giáo đoàn
Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
Từ những hoạt động nêu trên nghiên cứu sinh sẽ đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị để phát huy những hoạt động tích cực của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ
tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 114 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là quan điểm tôn giáo, là một nguồn lực phát triển đất nước Chú trọng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học, nghiên cứu liên ngành, cụ thể như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, Phương pháp phân tích, tổng hợp, Phương pháp lịch sử, Phương pháp so sánh, Phương pháp chuyên gia…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành, trong đó chủ yếu là cách tiếp cận tôn giáo học, sử học, xã hội học để thực hiện các vấn đề đặt ra trong mục đích nghiên cứu Từ cách tiếp cận đó, luận án sử dụng lý thuyết nghiên cứu thực thể tôn giáo
Do tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu nên luận án sử dụng phương pháp phân tích tư liệu gốc và tư liệu thứ cấp việc thu thập, phân tích, đánh giá về giá
trị của các loại tư liệu gốc được coi là nhiệm vụ rất quan trọng của đề tài luận án
vì tư liệu gốc giúp cho nghiên cứu sinh tiếp cận với gốc rễ của vấn đề nghiên
cứu Tư liệu thứ cấp là tư liệu thu thập trong Hệ phái và nguồn tư liệu từ các cơ quan quản lý tôn giáo tại địa phương
Phương pháp tham vấn chuyên gia: nghiên cứu sinh đưa ra các vấn đề nghiên cứu liên quan đến luận án nhằm trao đổi với các chuyên gia nghiên cứu
có nhiều kinh nghiệm đối với vấn đề thuộc Ni giới Khất sĩ, từ đó có được cái nhìn hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn đối với vấn đề nghiên cứu
Phương pháp khảo sát điền dã: Nghiên cứu sinh tiến hành quan sát thực tế,
sử dụng các công cụ như phỏng vấn sâu, đối tượng phỏng vấn sâu đa dạng gồm những Ni cô có uy tín trong các tịnh xá trong đó tác giả lồng ghép các công tác thu thập tư liệu Bên cạnh đó, tác giả luận án sử dụng phương pháp quan sát tham dự
Trang 125 Đóng góp mới của luận án
thành phố Hồ Chí Minh;
hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh;
khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy ảnh hưởng tích cực của Ni
giới Khất sĩ đến đời sống người dân thành phố Hồ Chí Minh
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng
dạy, các môn học có liên quan đến tư tưởng Triết học (Phật giáo) tại các trường Cao đẳng, Đại học trên cả nước và những ai quan tâm tìm hiểu về Phật giáo nói chung, và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Nghiên cứu này cho
thấy Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ là một cộng đồng tôn giáo rất đáng chú ý về hoạt động tôn giáo và đóng góp cho xã hội, thể hiện vị trí và vai trò đáng quan tâm khi nghiên cứu về hệ thống tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận:
Làm rõ được lịch sử hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ và Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Xác định và mô tả được những hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp luận chứng khoa học cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách đối với các vấn đề của Hệ phái Khất sĩ nói chung và Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Là tài liệu tham khảo có tính hệ thống đối với công tác giảng dạy và nghiên cứu về Tôn giáo học
Trang 137 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Quá trình hình thành phát triển, đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ, Ni
giới Khất sĩ và Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Vai trò của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ
Chí Minh trong các hoạt động tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội
Chương 4: Xu hướng, một số vấn đề đặt ra của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ
phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 14Chương 1
T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Ngu ồn tài liệu
1.1.1 Nguồn tài liệu gốc của Hệ phái Khất sĩ
Đó là bộ sách “Chơn lý”, tập hợp 69 bài giảng cũng là 69 đề tài do Tổ sư Minh Đăng Quang viết trong khoảng 3 năm (1951 - 1953) Nội dung được sắp xếp theo thứ tự Chơn lý 1, Chơn lý 2… Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam kết tập thành một bộ với tựa đề Chơn lý Năm 1993, Thành hội Phật giáo thành phố
Hồ Chí Minh ấn hành: “Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý Năm 2009, Nhà xuất bản Tôn giáo tái bản bộ Chơn lý 950 trang Đầu thập niên 1970 bộ Chơn lý được chia làm hai với hai tựa đề: 1 Chơn lý gồm 60 bài vè, 2 Luật nghi Khất sĩ gồm
9 bài, in thành hai bộ riêng Ngoài ra bộ Chơn lý còn được tách in thành 3 tập: Chơn lý, tập I; Chơn lý, tập II; Chơn lý, tập III đều do Nhà xuất bản Tôn giáo in
ấn và phát hành năm 2009, theo đó mỗi tập tập hợp một số chủ đề như: Có và Không (tập I); tôn giáo… (tập II); Đạo Phật (tập III) Trong lời cẩn bạch (lần in
lại nhân lễ tưởng niêm 55 năm ngày Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng (01/02
Âl 1954 - 01/02 Âl 2009), Sa môn Giác Toàn cho biết: “Những lời giảng dạy của
Tổ sư được chư đệ tử đúc kết lại thành bộ Chơn lý có 69 chủ đề Từ ngày Tổ sư
vắng bóng đến nay, bộ Chơn lý được in và ấn tống nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau Có khi là trọn bộ toàn tập; có khi là từng quyển rời với từng chủ đề Lần tái bản lần thứ nhất là vào dịp lễ tưởng niệm 50 năm ngày Tổ sư vắng bóng (1954 - 2004); lần đó chúng tôi xin phép chư tôn đức Giáo hội Hệ phái in ra thành hai phần:
Phần liên hệ đến giới Luật, dành riêng cho chư Tăng Ni xuất gia có 9 chủ đề,
in thành một tập “Luật nghi Khất sĩ” Phần còn lại 60 chủ đề liên hệ Kinh, Luận do
Tổ sư luận giảng in chung thành bộ Chơn lý (3 tập 1,2 và 3) đóng bìa cứng
Nay nhân lễ tưởng niệm 55 ngày Tổ sư vắng bóng, Hệ phái xin phép in lại
Bộ Chơn lý (3 tập, 1,2 và 3) Ngoài ấn phẩm toàn tập, lần này thể theo tâm nguyện của chư tôn đức giám phẩm, đại chúng Tăng Ni và nam nữ Phật tử… chúng tôi có chọn ra 16 chủ đề in từng tập rời… với số lượng nhiều, để có thể
giới thiệu rộng ra các miền, tịnh xá giúp bá tánh, cư gia có dịp tiếp cận những lời
Trang 15luận giảng quý báu, cùng những nhận thức, những phương pháp hướng dẫn tu
tập của Tổ sư về Chánh pháp trước thời đại văn minh”
Mười sáu (16) tập được in rời lần này gồm ba chủ đề chính
A Luận giảng liên hệ về ý pháp Giáo lý có 6 tập:
1 Bát Chánh đạo (Chơn lý 5), 2 Ăn chay (Chơn lý 13), 3 Tâm (Chơn lý 17), 4 Tánh thủy (Chơn lý 18), 5 Trên mặt nước (Chơn lý 20), 6 Chánh kiến (Chơn lý 22)
B Luận giải về thiền định và tư tưởng Đại thừa có 5 tập:
1 Nhập định (Chơn lý 14), 2 Thần mật (Chơn lý 25), 3 Số tức quan (Chơn lý 53), 4 Quán Thế Âm (Chơn lý 47), 5 Đại Thái Thức (Chơn lý 48)
C Luận giảng về Hệ phái và quan điểm tu tập có 5 tập:
1 Bài học Cư sĩ (Chơn lý 16), 2 Học Chơn lý (Chơn lý 19), 3 Thờ phượng (Chơn lý 51), 4 Chơn như (Chơn lý 55), 5 Đạo Phật Khất sĩ (Chơn lý 58) [79]
Như vậy, những trước tác của Tổ sư Minh Đăng Quang có thể in thành
trọn bộ (69 bài) hoặc thành hai bộ (Chơn lý - 60 bài; Luật nghi Khất sĩ - 9 bài) hay in thành 3 tập, hoặc in thành các tập rời Tuy nhiên, nghiên cứu sinh chủ yếu
tiếp cận nguồn tư liệu ở hai tác phầm: 1 Chơn lý (60 bài); 2 Luật nghi Khất sĩ (9 bài) [78]
Bộ Chơn lý gồm 60 bài được trước tác trên nền tảng Kinh - Luận của Phật giáo Tổ sư Minh Đăng Quang khẳng định: “Khất sĩ chúng tôi nối truyền chánh pháp của Phật Thích ca - Mâu ni xuất hiện nơi xứ Việt Nam này, với mục đích
cố gắng noi y gương Phật, thay Phật đền ơn và để đáp nghĩa chúng sanh trong môn một” Tông chỉ của Hệ phái là “Nối truyền Thích - ca Chánh pháp” Chơn lý đề
cập đến tu Giới, Định Tuệ, hành đúng Tứ y pháp là đúng với chánh pháp của Chư
Phật mười phương ba đời, là giáo lý y bát chơn truyền Cuốn Luật nghi Khất sĩ (riêng giới xuất gia), Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2012 (291 trang) Cuốn sách ngoài phần lời nói đầu gồm 15 nội dung trong đó đáng chú ý là các nội dung: Luật Khất sĩ; Giáo hội Tăng già Khất sĩ; Giới bổn Tăng, Giới bổn Ni, Giới Phật
tử, Luật nghi Các nội dung trên cung cấp cho nghiên cứu sinh những quy định về y, bát, tứ Pháp (Luật Khất sĩ); về thủ tục xuất gia, thụ giới, về sự đi khất thực, phép đi
Trang 16đến nhà Cư sĩ, cùng các quy tắc về mặc, đi, đứng… (Giáo hội Tăng già Khất sĩ); 250
giới (Giới bổn Tăng), 348 giới (Giới bổn Ni)
Nguồn tài liệu trên cung cấp cho nghiên cứu sinh tìm hiểu về tông chỉ, về giáo lý (Kinh, Luận) cũng như về giới Luật, hình thức tu tập của Hệ phái Khất sĩ
Năm 1981, Hệ phái Khất sĩ gia nhập ngôi nhà chung của Phật giáo Việt Nam
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam Ngoài một số truyền thống của Hệ phái cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành chính pháp được tôn trọng, duy trì (lời nói đầu, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam 1981) Hệ phái Khất sĩ còn phải tuân thủ những quy định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thể hiện qua Hiến chương, nội quy Ban Tăng sự và các nguyên tắc khác của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Vì vậy, tiếp cận nguồn tư liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một phần không thể thiếu khi nghiên cứu về Hệ phái Khất sĩ trong đó có Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ
Trước hết là Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Cho đến thời điểm 2017, Giáo hội Phật giáo Việt Nam trải qua tám kỳ Đại hội với 7 lần ban hành Hiến chương, bản đầu tiên ban hành tại Đại hội lần thứ nhất (11/1981), tiếp theo là sáu lần tu chỉnh Lần tu chỉnh thứ VI tại Đại hội lần thứ VIII (2017) Hiến chương cung cấp cho nghiên cứu sinh những vấn đề cơ bản của Giáo hội Phật giáo Việt Nam về tông chỉ, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động, hàng giáo
phẩm… để từ đó nghiên cứu sinh quán chiếu vào Hệ phái Khất sĩ trong đó có Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ, chỉ ra tính đặc thù của Hệ phái Khất sĩ cũng như Giáo đoàn Ni
Nguồn tư liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngoài Hiến chương là văn
kiện các kỳ đại hội Theo đó là ba tập:
Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Văn phòng Hội đồng Trị sự: Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 - 2012) Nhà xuất bản Tôn giáo 2012
Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu Phật giáo toàn
quốc lần thứ VII (nhiệm kỳ 2012 - 2017) Nhà xuất bản Hải Phòng 2012
Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII nhiệm kỳ 2017 - 2022
Ba tập sách tập hợp các Văn kiện của tám kỳ đại hội Trong các Văn kiện đáng chú ý là: Chương trình hoạt động của từng nhiệm kỳ, Nghị quyết của Hội
Trang 17đồng trị sự Riêng Đại hội lần thứ nhất có thêm Văn kiện “Báo cáo về quá trình
vận động thống nhất” Báo cáo tổng kết của các kỳ từ Đại hội II đến Đại hội VIII đều có những phần nội dung về Hệ phái Khất sĩ như nội dung về công tác Tăng
sự, về Tu viện, Tịnh xá, Tịnh thất, niệm Phật đường và một số hoạt động Phật sự
của Hệ phái Đặc biệt trong Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ đại
hội I đến Đại hội VIII đều thấy ghi danh một số Ni sư, Ni trưởng Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ thành phố Hồ Chí Minh Đại hội I có Ủy viên kiểm soát là
Ni sư Thích Nữ Huỳnh Liên (Ban Thường trực) và là thành viên Hội đồng Trị
sự Đại hội II, Ni sư Thích Nữ Ngoạt Liên, Ủy viên phó thủ quỹ (Ban thường
trực) và cũng là thành viên Hội đồng Trị sự Nhiệm kỳ II, Ni sư Thích nữ Ngoạt Liên là Ủy viên Thủ quỹ (Ban thường trực) và là thành viên Hội đồng Trị sự Đại hội IV, Ni trưởng Thích nữ Ngoạt Liên là Ủy viên thủ quỹ (Ban thường trực) và
là thành viên Hội đồng trị sự Đại hội V, Ni trưởng Thích nữ Ngoạt Liên tiếp tục trong Ban thường trực với chức Ủy viên thủ quỹ và là thành viên Hội đồng Trị
sự, Đại hội V còn ghi nhận Ni trưởng Thích nữ Tràng Liên là thành viên Hội đồng Trị sự Đại hội VI, Ni trưởng Thích Nữ Ngoạt Liên là Ủy viên thường trực
và cũng là Ủy viên Hội đồng Trị sự Ni trưởng thích nữ Tràng Liên là thành viên Hội đồng Trị sự Tại Đại hội VI, sư cô Thích Nữ Tín Liên được bầu làm Ủy viên
dự khuyết Hội đồng Trị sự Đáng tiếc, Văn kiện Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn
quốc nhiệm kỳ VI (2012 - 2017) và nhiệm kỳ VIII (2017 - 2022) không có phần
nội dung nhân sự nên không rõ Ni giới thuộc Giáo đoàn Ni tại thành phố Hồ Chí Minh có nhân sự nào tham gia và giữ cương vị gì Song ở nhiệm kỳ VII và nhiệm kỳ VIII trong phần báo cáo tham luận có báo cáo tham luận của Ni giới
Với Đại hội VII là tham luận của Ni trưởng Thích Đàm Nghiêm với bài: “Ni giới
Việt Nam đóng góp trang nghiêm Giáo hội” Tại phân ban Ni giới phía Bắc, cả hai bài tham luận ở hai kỳ Đại hội (VII và VIII) nội dung đề cập toát yếu hoạt động của Ni giới của các hệ phái nói chung mà không thấy đề cập đến hoạt động
Ni giới Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Các công trình nghiên c ứu
1.2.1.1 Các công trình nghiên c ứu về Phật giáo
Trang 18Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo, Phật học, về tam tạng kinh điển Phật giáo Tuy nhiên, nghiên cứu sinh chỉ điểm một số công trình nghiên cứu về Phật giáo mà các công trình ấy ít nhiều có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu của luận án
Cuốn Đức Phật và Phật pháp, tác giả Nãrada Mahã There - Phạm Kim Khánh dịch, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2013; đúng như
là gì (chương 19); sự báo ứng của nghiệp (chương 20); tính chất của nghiệp (chương 21); thập nhị nhân duyên (chương 25); những cảnh giới (chương 27)…
phần hai đề cập một cách cơ bản giáo pháp của Phật đà
Bộ Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang về cơ bản có cả hai nội dung trên Đây là một trong những công trình giúp nghiên cứu sinh hiểu một cách căn
bản về Đức Phật và Phật pháp
Một số cuốn sách đề cập đến một số lĩnh vực của Phật giáo như Thích Chơn Thiện, Tăng già thời Đức Phật, nhà xuất bản Tôn giáo, 2000, cung cấp tri thức về sự thành lập Tăng già (chương II), sự hình thành các Tịnh xá (chương III); một thành viên của Tăng già (chương IV); sinh hoạt của Tăng già (chương V); Tam học: Giới học, Định học, Tuệ học (chương VI)… từ những tri thức này, nghiên cứu sinh nhận biết về Tăng đoàn và Ni đoàn Hệ phái Khất sĩ
Bộ sách hai tập: sắc tu Bách Trương Thanh quy, viện nghiên cứu Phật
học, Thiền sư Đức Huy trùng biên, Thích Phước Sơn và Lý Việt Dũng dịch, nhà
Trang 19xuất bản Phương Đông, 2010 Lời nói đầu của cuốn sách cho biết: “Sách Bách Trương Thanh quy do Tổ Bách Trương - Hoài Hải (720 - 784) biên soạn vào thế
kỷ thứ VIII đời Đường để làm cương lĩnh sinh hoạt cho Tăng, Ni tại các Tòng lâm ở Trung Hoa, sau khi Phật giáo đã du nhập và phát triển nơi đất nước rộng
lớn này gần bảy thế kỷ Bách Trượng Thanh Quy đã được lưu hành rộng khắp nơi, có giá trị như một kim chỉ nam hướng dẫn mọi sinh hoạt trong đời sống của người xuất gia” Song do thời gian, một số nội dung bị thất lạc và được sưu tầm, biên tập lại Sách gồm hai phần, tám quyển, chín chương, khoảng 200 tiêu đề:
“Bộ sách này cung cấp cho chúng ta hầu như gần hết các thuật ngữ chuyên dụng trong thiền môn, về mọi phương diện như chức vụ, danh xưng, cơ sở, lễ nghi, phép khí công cụ hành đạo v.v… Có thể nói, từ hơn 600 năm qua bộ sắc tu có ảnh hưởng khá sâu rộng đối với Thiền tông Việt Nam nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung”(lời nói đầu, trang 8,9)
Một trong những công trình nghiên cứu về Phật giáo theo nghiên cứu sinh cần thiết phải kể đến đó là cuốn của Hòa thượng tôn sư - Pháp sư Tịnh Không:
“Nhận thức Phật giáo, cẩn dịch: Vọng Tây Cư sĩ, nhà xuất bản Hồng Đức, 2017
Cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản của Phật giáo như: Duyên khởi, Lục hòa, Lục độ Bala mật, Tam hoa Giới - Định - Tuệ, mười đại nguyện vọng của
Phổ Hiền Bồ tát, Thế nào là Phật giáo những nội dung trên được Hòa thượng
Tịnh không phân tích ngắn gọn, súc tích, hàm nghĩa Qua đó có thể hiểu một cách căn cơ những tư tưởng cốt lõi của Phật giáo
Ngoài ra còn phải kể đến một số tác phẩm Đoàn Trung Còn với “Pháp giáo nhà Phật”, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội, 2011 Viết về Pháp theo Phật,
bàn về vũ trụ với vạn vật trong Phật giáo Ba nền tảng của đạo Phật, Tứ diệu đế, Niết bàn; Lưu vô tâm với “Phật học khái lược”, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội,
2010 Bàn về nhân quả, luân hồi, ngũ uẩn, vô ngã, tứ diệu đế Đặc biệt cuốn sách còn đề cập đôi nét về vũ trụ quan và nhân sinh quan Phật giáo; Minh Giác với
“Đạo Phật và Khoa học”, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2005 Chủ đích cuốn sách bàn về những điều đức Phật và chư vị Bồ Tát đã nói cách đây trên 25 thế
kỷ mà hiện tại khoa học mới dần khám phá ra; Trần Minh Hùng với “Trí tuệ
Phật”, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2012; Minh Chi với “Quan niệm của Phật
Trang 20giáo đối với sống chết”, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 2002; Thích Phước Sơn với “Phật học khái yếu”, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2010 “Tìm
hiểu giáo lý Phật giáo nguyên thủy”, Nhà xuất bản Phương Đông,thành phố Hồ Chí Minh, 2007; Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Ban Hoằng pháp Trung ương)
xuất bản 4 tập “Phật học cơ bản”, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2006, cung cấp những
kiến thức cơ bản về Phật học làm tư liệu giảng dạy, học tập, hàm thụ cho các chương trình Phật học và đông đảo bạn đọc có nhu cầu
1.2.1.2 Các công trình nghiên c ứu về Phật giáo Việt Nam
Cũng như các công trình nghiên cứu về Phật giáo nói chung, các công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam hết sức đa dạng về nội dung cũng như các cấp độ các công trình nghiên cứu Do vậy, nghiên cứu sinh chỉ chọn một số công trình mà theo đó các công trình cung cấp một số lĩnh vực cơ bản của Phật giáo Việt Nam để nghiên cứu sinh lấy đó làm nền tảng nghiên cứu về Hệ phái Khất sĩ, đặc biệt là về Ni giới Hệ phái Khất sĩ nói chung và Giáo đoàn Ni nói riêng tại thành phố Hồ Chí Minh
Cuốn Tăng già Việt Nam, Trí Quang biên tập, in lần thứ nhất tại nhà in Đuốc Tuệ, 1952 Nội dung cuốn sách cung cấp những tri thức cơ bản về Tăng già Phật giáo, đặc biệt là hành trạng một số Tăng già tại Bắc Việt như: Tì ni đa lưu chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, hành trạng một số tăng già Trung và Nam Việt như: Nguyên Thiều, Liễu Quán Ngoài ra còn là một số nội dung về các Thiền sư, các công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể kể đến như sau:
Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1: Từ khởi nguyên đến
thời Lý Nam Đế, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1999
Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2: Từ Lý Nam Đế đến Lý Thái Tông, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 2001
Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3: từ Lý Thái Tông (1054) đến Trần Nhân Tông (1278), nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 2007
Tuy bộ sách mới dừng lại ở nhà Trần - Trần Nhân Tông - Vua Phật (1278)
một trong Tam tổ của Phật giáo Trúc Lâm nhưng đã là một bộ được biên tập đồ
sộ với những tư liệu phong phú với nhiều tư liệu mới, theo đó là những nhận
Trang 21định mang tính đột phá của tác giả Trong lời giới thiệu viết cho tập 1, tác giả
viết: “Chúng tôi khởi sự biên soạn bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ đầu năm
1972 Theo chúng tôi, lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể chia làm ba thời kỳ lớn;
thời kỳ thứ nhất từ khởi nguyên cho đến khi Lý Bôn xưng đế để lập nên nhà nước Vạn Xuân Thời kỳ thứ hai, bắt đầu từ lúc dòng Thiền Pháp Vân ra đời cho đến cuối nhà Trần Thời kỳ thứ ba, từ đầu thời Lê cho đến cận đại
Thời kỳ đầu này đánh dấu sự xuất hiện Phật giáo trên đất nước ta, cách
thức tiếp thu, tư tưởng và nhận thức Phật giáo của nhân dân ta Nó sẽ cho chúng ta thấy Phật giáo đối với dân tộc ta là gì, đã có những đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và duy trì bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam như thế nào Những vấn đề nào chưa được những người nghiên cứu chú ý, tra, khảo đúng mức [79, tr 4, 5]
Về nội dung của tập 2, thay lời tựa cho biết: “tập 2 này chúng tôi chủ yếu trình bày tình trạng Phật giáo của thời kỳ Phật giáo vận động yêu nước, tức từ Lý Bôn xưng đế năm 544 cho đến thời vua Lý Thái Tông mất năm 1054 Chúng tôi
mô tả sự ra đời của dòng Thiền Pháp Vân và dòng Thiền Kiến Sơ cùng sự hợp
sức của những trí thức Phật giáo trong hai dòng thiền này để thực hiện cho được
giấc mơ một nước Việt Nam có chủ” [80; tr 27, 28]
Thay lời tựa tập 3 viết: “Lịch sử Phật giáo tập 3 viết về giai đoạn những người Phật giáo ở Việt Nam tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước sau khi đã thu hồi được độc lập Giai đoạn này có những đặc trưng: Thứ
nhất là sự xuất hiện của dòng thiền, mà trong đó hơn một nửa số Thiền sư đắc Pháp và các Phật tử tại gia đang gánh vác công việc đất nước Thứ hai, cũng chính giai đoạn này ta cũng sẽ tìm hiểu thái độ của người theo Phật giáo trong khi đất nước đang rơi vào khủng hoảng, nhà Lý đang mất dần quyền hành để cuối cùng nhường ngôi lại cho nhà Trần và vai trò của Phật giáo lúc nhà Trần xuất hiện.” [81; tr 9]
Nguyễn Long, “Việt Nam Phật giáo sử luận”, nhà xuất bản Phương Đông,
2012 Bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận của tác giả Nguyễn Long (tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh), không chỉ tìm thấy ở đây những tư liệu phong phú, đa diện, có căn cứ khoa học về tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khởi thủy cho đến năm
Trang 221970 mà còn tìm thấy ở đây những tư liệu quý, hiếm liên quan đến lịch sử Việt Nam nói chung từ đầu thế kỷ cho đến thời kỳ cận đại (lời nhà xuất bản)
Nguyễn Duy Hinh, “Lịch sử đạo Phật Việt Nam”, nhà xuất bản tôn giáo
và nhà xuất bản Từ điển bách khoa, 2005 là một trong những chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam Cách tiếp cận cũng như lý giải và bình
luận của Phó giáo sư Nguyễn Duy Hinh về lịch sử đạo Phật Việt Nam theo hướng phân kỳ dựa vào chính sự truyền nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam Tác giả phân làm 4 thời kỳ cũng là 4 chương:
Chương I: Thời kỳ truyền nhập (thế kỷ II đến thế kỷ V)
Chương II: Thời kỳ phát triển (thế kỷ VI - X)
Chương III: Thời kỳ cực thịnh (thế kỷ XI - XIV)
Chương IV: Phật giáo chấn hưng và canh tân
Ở mỗi chương, thông các sự kiện lịch sử Phật giáo Việt Nam có chọn lọc, tác giả làm nổi bật đặc điểm của mỗi chương
Nguyễn Đại Đồng, Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1981 (in
lần thứ hai có sửa chữa bổ sung) Nhà xuất bản Tôn giáo, 2018 Cuốn sách mở đầu bằng việc trình bày toát yếu về Phật giáo ở Ấn Độ (chương 1), Phật giáo
ở Trung Hoa (chương 2) như là “tiếp dẫn” để rồi đi vào phần trình bày lịch sử
Phật giáo Việt Nam với 10 chương (từ chương 3 đến chương 12) đề cập đến
tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam từ buổi đầu đến khi thành lập Giáo hội
Phật giáo Việt Nam năm 1981
Trên đây là những tác phẩm của những tác giả tiêu biểu viết về lịch sử
phật giáo Việt Nam Có tác phẩm chỉ dừng lại ở thời đại nhà Trần (Lê Mạnh Thát); có tác phẩm mới đề cập đến Phật giáo Việt Nam thời điểm 1970 (Nguyễn Long); hoặc đến đầu cận đại (Nguyễn Duy Hinh) hay đến khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam - 1981 (Nguyễn Đại Đồng) song các tác phẩm trên cung cấp cho nghiên cứu sinh về những chặng đường lịch sử Phật giáo Việt Nam, về những nhận định, đánh giá nổi bật của từng thời kỳ, hoặc là những nét đặc thù của Phật giáo Việt Nam Song đáng tiếc ở các tác phẩm trên chưa thấy đề cập đến Hệ phái Khất sĩ trong đó có Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ của thành
phố Hồ Chí Minh Đó là khoảng trống mà luận án phải tìm hiểu
Trang 23Trên đây là một số tác phẩm tiêu biểu đề cập đến lịch sử Phật giáo Việt Nam Về Phật giáo Việt Nam cần phải kể đến mảng đề tài thứ hai đó là mảng nghiên cứu về triết học Phật giáo ở Việt Nam Theo đó, theo nghiên cứu sinh có hai công trình đáng được quan tâm đó là:
Cuốn “Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Hùng Hậu
(Minh Không), nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 Đây là một công trình khoa học trình bày một cách hệ thống, toàn diện về triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV theo lát cắt thế giới quan Phật giáo, nhân sinh quan Phật giáo dựa trên những vấn đề cơ bản của triết học, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử của Phật giáo, làm sáng tỏ hơn những tư tưởng Phật giáo Việt Nam Chương 1, tác giả đã lược sử Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV qua sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam cho đến Phật giáo thời Trần với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; chương 2, khảo cứu một vài nét thế giới quan Phật giáo theo lịch sử phát triển, từ Phật giáo Nguyên thủy đến Bắc Tông và Nam Tông sau đó khảo sát thế giới quan Phật giáo Việt Nam; chương 3, tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo trên các mặt về con người, về cuộc đời con người Tác giả khẳng định, tuy Phật giáo phát triển qua các giai đoạn, thời kỳ, tông phái khác nhau nhưng nhân sinh quan Phật giáo ít có thay đổi, về cơ bản
vẫn đi theo trục của chính nó, đó là quan niệm của Đức Phật đã chỉ ra Trên cơ
sở đó, tác giả khảo cứu nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam
Nguyễn Duy Hinh viết cuốn “Triết học Phật giáo Việt Nam”, nhà xuất bản Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội, 2006 Phần triết học Phật giáo tác
giả trình bày những nội dung bản thể luận Phật giáo, khẳng định Duyên khởi
luận là của Phật giáo Tác giả kết luận bản thể luận Phật giáo phát triển qua hai bước; bước thứ nhất là trước Đại thừa đưa ra thuyết Vô ngã và thuyết Duyên khởi; bước thứ hai là Đại thừa tiếp thu một số tư tưởng Tân Bàlamôn giáo đưa ra
A lại da thức, Chân như, Như Lai tạng, Không v.v làm bản thể của vạn hữu Nhận thức luận Phật giáo, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu nhận thức luận của Phật giáo Nguyên thủy, nói một cách khác là của thời kỳ trước Đại thừa Mục đích nghiên cứu nhận thức luận Phật giáo của tác giả là chỉ nhằm tìm hiểu phương pháp nhận thức của Thích Ca Mầu Ni để quan sát Sinh - Lão - Bệnh - Tử
Trang 24của con người từ đó đưa ra Tứ Diệu Đế Đối với vấn đề giải thoát luận Phật giáo, tác giả phân tích các luận giải về giải thoát luận của các nhà nghiên cứu trước đó Theo tác giả, khái quát vấn đề Giải thoát trước Đại thừa dựa trên lý
luận về Vô dư Niết Bàn, còn Giải thoát luận Đại thừa dựa trên lý luận Hữu dư
Niết Bàn, Đại Niết Bàn, Tịnh Thổ, Cực Lạc Quốc; Giải thoát luận trước Đại thừa hướng đến chủ nghĩa cứu thế tâm cực xuất thế, còn Giải thoát luận Đại thừa hướng đến chủ nghĩa cứu thế tích cực nhập thế
Hai công trình nghiên cứu về triết học Phật giáo Việt Nam nêu trên sẽ là những tri thức cơ bản để nghiên cứu sinh nghiên cứu tư tưởng triết học của Hệ phái Khất sĩ thể hiện qua bộ Chơn Lý
Mảng công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam thứ ba là những mảng viết về hoạt động và những thành tựu của Hệ phái Khất sĩ từ khi gia nhập ngôi nhà Phật giáo Việt Nam (1981) được in trong hai cuốn kỷ yếu nhân 30 năm và
35 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Đó là:
Cuốn Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Trị sự: Kỷ yếu hội thảo kỷ
niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2011), nhà xuất bản Tôn giáo 2012 Kỷ yếu tập hợp 99 bài viết chia thành 5 cụm chủ đề, trong đó có
cụm chủ đề thứ tư: Đặc thù hệ phái Phật giáo Việt Nam Ở cụm chủ đền này có bài: Ni giới Hệ phái Khất sĩ trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo xưa và nay
của Ni trưởng Thích Nữ Ngoạt Liên, Ủy viên Hội đồng Trị sự Bài viết gồm hai
phần: (1) Sơ lược bước trưởng thành của Ni giới của Hệ phái Khất sĩ từ ngày thành lập đến năm 1981; (2) Ni giới Hệ phái Khất sĩ từ 1981 - 2011 Ở phần thứ
nhất, bài viết trình bày toát yếu quá trình hình thành và phát triển của Ni giới Hệ phái Khất sĩ Phần nội dung thứ hai, bài viết đề cập đến một số lĩnh vực hoạt động của Ni giới Khất sĩ như: về tổ chức; về giáo dục; về hoằng pháp; về từ thiện nhân đạo; về đạo pháp; về dân tộc Bài viết tuy ngắn gọn nhưng bước đầu cung cấp cho luận án những tư liệu quý giá để nghiên cứu về Giáo đoàn Ni thuộc
Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
Cuốn thứ hai: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện nghiên cứu Phật học
Việt Nam, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 35 năm hình thành và phát
Trang 25triển, nhà xuất bản Hồng Đức, 2011 Các bài tham luận được tập hợp theo 4 chủ
đề được gọi là bốn tiểu ban Chủ đề 2 cũng là ban 2: Giáo hội Phật giáo Việt Nam: các hệ phái trực thuộc và các hoạt động tiêu biểu Ở chủ đề 2 đáng chú ý là các bài tham lận liên quan đến Hệ phái Khất sĩ như: “Sự góp phần phát triển Phật giáo Việt Nam của Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam quá khứ, và hiện tại” của Hòa thượng Thích Thiện Nhơn; bài: “Hệ phái Khất sĩ sau 35 năm tham gia Giáo
hội Phật giáo Việt Nam” của Đại đức Thích Giác Hoàng; bài “Hệ phái Khất sĩ -
60 năm sau thời Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng” của Hòa thượng Thích Giác Toàn - Ban thư ký Hệ phái Báo cáo tổng kết Hệ phái Khất sĩ sau 35 năm tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam Các bài tham luận tập trung làm rõ vai trò của Hệ phái Khất sĩ trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam;
và những thành tựu đạt được của Hệ phái Khất sĩ trên các lĩnh vực: giáo dục, hoằng pháp, tu tập, kiến thức hoạt động từ thiện xã hội Những bài tham luận trên cung cấp cho luận án những tư liệu quý giá khi viết về Hệ phái Khất sĩ
Mảng nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam thứ tư nghiên cứu về Ni giới Có
thể kể đến hai cuốn sách sau:
Nhiều tác giả: Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, nhà
xuất bản Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh, 2016 Cuốn sách tập hợp các bài tham luận của một hội thảo khoa học: Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 08 và ngày
09 tháng 4 năm 2016, cuốn sách gồm ba phần:
Phần một; vấn đề nữ giới trong giáo lý tư tưởng, trong giới luật và trong
tổ chức Giáo hội Phật giáo từ nguyên thủy đến hiện đại
Phần hai; vấn đề vai trò, vị thế và cống hiến của Ni giới Phật giáo trong lịch sử Việt Nam
Phần ba; Ni giới Phật giáo Việt Nam trong đời sống và trong công tác xã hội hiện nay Ở phần nội dung thứ ba có hai bài tham luận liên quan đến Ni giới
Hệ phái Khất sĩ Bài: “Ni trưởng Huỳnh Liên - công dân xuất sắc của thế giới cực lạc”, của Thích Nữ Khiêm Liên, và bài: “Sự hình thành, phát triển và những đóng góp của Ni giới Hệ phái Khất sĩ” của Thích Giác Duyên Nếu như bài tham
luận của Thích Nữ Khiêm Liên tập trung viết về một nhân vật - Ni trưởng Huỳnh
Trang 26Liên thì bài thứ hai của Thượng tọa Tiến sĩ Thích Giác Duyên đề cập một cách
tổng thể quá trình hình thành Ni giới Hệ phái Khất sĩ thời Tổ sư Minh Đăng Quang, sự hình thành và phát triển các đoàn Ni giới Hệ phái Khất sĩ; một số hoạt động và thành tựu của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ đạt được trên một số lĩnh vực như tu học; tham gia tổ chức đại lễ tổ chức đại giới đàn; các khóa tu truyền thống
Cuốn sách thứ hai: Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Tưởng niệm Đức thành
Tổ Ni Kiều - Đàm - Di (Mahap rajàpati Gautamì), nhà xuất bản Hồng Đức,
2018 Cuốn sách là tập hợp các bài viết về Tổ Ni Kiều Đàm Di, về hoạt động của
Ni giới một số tỉnh thành Trong đó đáng chú ý là bài: Cúng dường cao thượng của Tỳ kheo Ni Xuân Liên - Tịnh xá Ngọc Tuệ, Long Thành, Đồng Nai có phần nội dung viết về cố Ni trưởng Huỳnh Liên “Chư Ni tiền bối Phật giáo Việt Nam hiến công) Đó còn là bài viết mang tựa đề: Công hạnh và đạo nghiệp Ni trưởng Siêu Liên (1937 - 2008), ký tên: Ni chúng Tịnh xá Ngọc Long, Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai Hai bài viết tuy ngắn nhưng qua đó nghiên cứu sinh nhận biết toát yếu về vai trò của hai cố Ni trưởng, trong đó có cố Ni trưởng Huỳnh Liên
Mặc dù là Hệ phái “sinh sau đẻ muộn” nhưng cho đến nay nghiên cứu về
Hệ phái Khất sĩ cũng như Ni giới Khất sĩ là tương đối phong phú Như phong phú về thể loại có thể là các công trình nghiên cứu, bài viết cũng có khi là các
học giả ngoài Hệ phái (giáo sĩ hoặc các nhà nghiên cứu) Đặc biệt là sự phong phú về nội dung đề tài như viết vịch sử Hệ phái, lịch sử Ni đoàn, về các hoạt động tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội của Hệ phái; về giáo dục, luật nghi
về đời sống tu tập Do vậy, nghiên cứu sinh chỉ đề cập đến một số công trình, bài viết cơ bản sau đây
Tác phẩm “Tìm hiểu về Hệ phái Khất sĩ” của Thích Giác Duyên, năm 2014 tái bản có sửa chữa, bổ sung với tên gọi “Hệ phái Khất sĩ – 70 năm hình thành và phát triển” là tác phẩm nghiên cứu tổng quan khá đầy đủ về Hệ phái Khất sĩ Tác
giả đã tổng hợp nhiều tài liệu, văn bản của Hệ phái và các giáo đoàn, tập hợp nhiều tư liệu nghiên cứu lịch sử qua lời kể và nghiên cứu thực địa để khái quát
Trang 27về mọi khía cạnh của Hệ phái Khất sĩ một cách có hệ thống, bao gồm: sự hình thành Hệ phái Khất sĩ, sự hình thành và phát triển của các Giáo đoàn và Hệ phái
Khất sĩ, giáo lý tư tưởng, những nét đặc thù, những hoạt động tiêu biểu của Hệ phái Khất sĩ trong giai đoạn hiện nay, định hướng trong tương lai Không chỉ nghiên cứu về lịch sử hệ phái, giáo lý tư tưởng, nét đặc trưng, tác giả còn tìm
hiểu chi tiết về các hoạt động hiện tại của hệ phái, các công trình xây dựng lớn,
tổ chức các khóa tu, giới đàn, đại lễ, các phương tiện truyền đạo hiện đại bằng báo chí hay internet Nhìn chung, đây là một công trình nghiên cứu chi tiết, khá đầy đủ về mặt số liệu Tuy nhiên, do chỉ là một công trình nghiên cứu tổng quan nên chưa thể đi sâu vào từng khía cạnh Bên cạnh đó, tác giả là một tu sĩ, do đó những cách lý giải, nhận xét mang tính tôn giáo hơn là lý giải xã hội
Tháng 2/2014, Viện nghiên cứu Tôn giáo, Viện nghiên cứu Phật học cùng với Hệ phái Khất sĩ đã tổ chức hội thảo khoa học đầu tiên về hệ phái Phật giáo này, với chủ đề “Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập” Hội thảo đã tập hợp những bài viết, bài nghiên cứu của Tăng, Ni, Phật tử, các nhà nghiên cứu tôn giáo trong và ngoài nước Nội dung được chia thành bốn chủ
đề chính: Tổ sư Minh Đăng Quang: cuộc đời và đạo nghiệp; Tư tưởng Phật học
của Tổ sư Minh Đăng Quang trong bộ Chơn Lý; Hệ phái Khất sĩ và sự nghiệp xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay Trong đó, nhiều bài viết liên quan đến chủ đề luận án như các bài viết về bối cảnh ra đời của Hệ phái Khất sĩ,
tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang, những nét độc đáo của Hệ phái Khất sĩ, giới
luật và phương pháp hành trì của Hệ phái Khất sĩ Đặc biệt, đáng chú ý là những bài viết về pháp môn khất thực như “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam với truyền
thống khất thực” của tác giả Phương Liên; “Phục hoạt hạnh khất sĩ tại Việt Nam” của tác giả Nguyên Cẩn
Bài tham luận “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam với truyền thống khất thực” của tác giả Phương Liên, cũng tương tự như các bài viết đã nêu ở trên, trình bày ý nghĩa của pháp môn khất thực trong truyền thống Phật giáo nói chung và Hệ phái Khất sĩ nói riêng, dẫn giải bằng các luận cứ từ kinh điển của Bắc tông và
Khất sĩ Vì thế đây chỉ đơn thuần là một bài viết về pháp môn khất thực dưới góc
độ tôn giáo
Trang 28Bài tham luận “Phục hoạt hạnh khất sĩ tại Việt Nam” của tác giả Nguyên
Cẩn lại nêu ra các lý do nên phục hoạt lại pháp môn khất thực của Hệ phái Khất
sĩ ở Việt Nam như lời dạy của Tổ sư Minh Đăng Quang Từ trải nghiệm về pháp môn khất thực ở Myanmar, một đất nước mà Phật giáo là quốc giáo, tác giả nêu lên ý kiến cá nhân về việc phục hoạt hạnh khất thực dựa trên các phương diện
quản lý của nhà nước (không thể cấm chỉ vì có người giả danh sư đi khất thực), phương diện lịch sử (hiện tượng sư giả đã có từ thời Đức Phật chứ không phải bây giờ mới có, khất thực là bản sắc riêng của Hệ phái Khất sĩ, phương tiện giáo hóa của đoàn du tăng trong giai đoạn khởi thủy) và phương diện tăng hạnh (khất thực là pháp môn tu tập quan trọng để thực hành hạnh giải thoát, an định nội tâm, phương tiện nuôi thân chánh mạng của tu sĩ) Tác giả cũng đề xuất những biện pháp để đẩy mạnh việc thực hành khất thực và ngăn chặn nạn sư giả như tổ chức các đoàn Tăng, Ni khất thực nhiều hơn, vào ngày rằm hay mùng một, cho hướng đạo sinh Phật tử đi kèm với sư khất thực Tất nhiên, vì những ý kiến và quan điểm nêu trong bài chỉ đơn thuần mang tính chất cá nhân nên chưa đạt được độ khách quan nhất định của một tác phẩm nghiên cứu
Bài tham luận: “Hệ phái Khất sĩ góp phần xây dựng đất nước và Giáo hội
Phật giáo Việt Nam” của Bùi Hữu Dược đã nêu được một số vấn đề trong hoạt động của Hệ phái Khất sĩ nhấn mạnh những hoạt động tích cực hướng đến xã hội
nhằm mục đích củng cố vững chắc chỗ đứng trong xã hội cũng như khẳng định ảnh hưởng của Hệ phái Khất sĩ ngày càng mạnh mẽ đến với cộng đồng thông qua những con đường giáo dục hoặc từ thiện xã hội của Hệ phái Khất sĩ nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Tăng, Ni Trong phạm vi một bài tham luận, bên cạnh việc nêu những hoạt động xã hội nhằm xây dựng và phát triển Giáo hội Phật giáo cũng như đất nước, bài viết chưa đề cập đến những hoạt động thuần túy tôn giáo của Hệ phái cũng như của Ni giới Hệ phái Khất sĩ
Tác phẩm “Bút tích Ni trưởng Huỳnh Liên” của Giáo hội Phât giáo Việt Nam, Ni giới Khất sĩ là một tác phẩm sau rất nhiều sự cố gắng sưu tập, tổng hợp rất nhiều hình ảnh và bút tích của Ni trưởng Huỳnh Liên Tác phẩm này đã minh
chứng cho chư Ni và toàn thể tín đồ của Ni giới Hệ phái Khất sĩ một cái nhìn tương đối toàn diện về khởi sự của Ni trưởng từ khi bắt đầu xây dựng Tịnh xá
Trang 29Ngọc Phương, quan điểm và đạo hạnh của Ni trưởng qua từng nét bút tích, từng hình ảnh Đây là một trong những tác phẩm thể hiện tâm huyết của những thế hệ
tu sĩ về sau này nêu gương và học tập theo chân dung bi - trí - dũng của Ni trưởng Huỳnh Liên
Tác phẩm “Biên niên sử Hệ phái Khất sĩ Việt Nam” của Sa môn Thích Minh Cang, xuất bản năm 2017 đã dành công sức và tâm huyết sưu tầm tài liệu, qua đó chọn lọc, hệ thống hóa, sắp xếp theo thời gian các sự kiện, hoạt động liên quan đến Hệ phái Khất sĩ, từ ngày khai đạo cho đến gần đây, phân theo các chủ đề: Hoằng pháp, Sáng lập, Tăng sự, Phật sự Giáo hội, Kiến thiết, sự kiện, tu học, Lễ hội, Ấn phẩm… Trong tác phẩm này, tác giả đã nêu ra được nhiều mốc thời gian đồng thời các sự kiện được liệt kê theo thứ tự thời gian một cách nghiêm túc và cẩn thận Tuy nhiên, đây là một tác phẩm mang tính thống kê theo lối sử học
Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu như: “Tìm hiểu Phật giáo Khất sĩ ở Nam bộ Việt Nam trong thế kỷ XX của Thích Hạnh Thành, xuất bản 2007; “Sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ” của Thích Giác Trí,
xuất bản 2001; “Minh Đăng Quang pháp giáo của Hàn Ôn, xuất bản năm 1960;
“Sinh hoạt giới luật của Phật giáo Việt Nam trong ba hệ phái (Nam tông, Bắc tông, Khất sĩ)” của Thích Nữ Liên Chương, xuất bản 2001, v.v… do đó các công trình thường thiên về mặt giáo lý, giáo luật, giải thích vấn đề theo quan điểm tôn giáo Một vài tác giả quan tâm và nghiên cứu về Hệ phái Khất sĩ với
những luận điểm mà luận án muốn tìm hiểu như:
Về pháp môn khất thực, từ năm 1989, Trần Hồng Liên đã viết bài “„Khất
thực thật và khất thực giả, khía cạnh tôn giáo, khía cạnh xã hội” đăng trên tạp chí Khoa học xã hội, số 1/1989 nói về những trường hợp khất thực giả trong giai đoạn manh nha xuất hiện, trường hợp thành phố Hồ Chí Minh khuyến cáo các sư ngưng đi khất thực một thời gian để ngăn chặn tình trạng này Ngoài ra, tác giả Trần Hồng Liên cũng có một số bài viết khác liên quan đến chủ đề này như
“Chuyển đổi sinh hoạt tu sĩ Phật giáo Nam bộ Việt Nam thời hội nhập” (2008),
“Phật giáo trong người Khmer Sóc Trăng – Hiện trạng và giải pháp” (2002), v.v Trong những bài viết này, tác giả phân tích những biến đổi trong đời sống của các tu sĩ Phật giáo tại Nam bộ dưới tác động của quá trình hội nhập quốc tế, công
Trang 30nghiệp hóa - hiện đại hóa Các bài viết đề cập đến sự biến đổi trong các lĩnh vực sinh hoạt, học tập, công tác hoằng pháp và từ thiện, v.v… Nhưng do giới hạn về
thời lượng nên tác giả chưa phân tích sâu biến đổi của pháp môn khất thực
Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết về pháp môn Khất thực đăng trên các trang web của Phật giáo Việt Nam, như: “Truyền thống khất thực” (Hạnh Chơn, 20/04/2010) đăng trên trang www.daophatngaynay.com , bài Phát thanh số 29,
“Khất thực” (Ban Biên Tập Thư viện Hoa Sen, 15/10/2010), đăng trên trang www.thuvienhoasen.org, bài viết “Ý nghĩa Khất thực của Hệ phái Khất sĩ” (Mây Lành) đăng trên trang website: www.daophatkhatsi.net, “Trì bình khất thực: Đâu
là sư thật – sư giả” (Giác Minh Luật, Hoài Lương, 28/02/2012) đăng trên www.kienthuc.net.vn, “Pháp Khất thực của người Khất sĩ” (Ngọc Trí, 25/07/2011) đăng trên www.daophatngaynay.com, v.v… Những bài viết này chủ yếu nói về nguồn gốc, ý nghĩa của pháp môn khất thực theo lời Phật dạy, cách thực hành pháp môn khất thực và tình trạng khất thực giả Hầu hết đều tiếp cận theo hướng tôn giáo, chú trọng giải thích theo giáo lý, giáo luật nhưng bỏ qua khía cạnh xã hội
Nghiên cứu về Hệ phái Khất sĩ còn phải kể đến một số luận văn Có thể đề
cập đến một số luận văn sau đây:
Luận văn thạc sĩ “Sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ” năm 2001
của Thích Giác Trí là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu tổng quan về quá trình hình thành Hệ phái Khất sĩ dưới góc độ sử học Nội dung được chia thành hai phần sự hình thành Hệ phái Khất sĩ và sự phát triển của Hệ phái Khất sĩ Tác giả chia sự phát triển của hệ phái thành ba giai đoạn: hình thành (1944 – 1954), thành lập các giáo đoàn và hợp nhất về pháp lý (1954 – 1975), trụ xứ và hòa hợp (1975 – 2000) Tác phẩm cũng tổng hợp những thành tựu đặc trưng về mặt tổ chức, hoằng pháp, giáo lý, kiến trúc của Hệ phái Khất sĩ và những đóng góp của Hệ phái cho dân tộc, đạo pháp Công trình cung cấp nguồn sử liệu thành văn và qua lời kể của các nhân chứng, có giá trị tham khảo
Luận văn thạc sĩ “Pháp môn khất thực của Hệ phái Khất sĩ tại Nam bộ trong bối cảnh xã hội đương đại” của Bùi Trần Ca Dao năm 2014 Tìm hiểu pháp môn khất thực và ý nghĩa của nó đối với Hệ phái Khất sĩ Là một luận văn
Trang 31nghiên cứu về pháp môn khất thực của Hệ phái Khất sĩ dưới góc độ Dân tộc học
Nội dung của luận văn đã: Làm rõ những biến đổi trong việc thực hành pháp môn khất thực hiện nay Đối chiếu các trường hợp để có được cái nhìn bao quát
về pháp môn khất thực và ý nghĩa của nó đối với Hệ phái Khất sĩ trong bối cảnh
xã hội đương đại Tác giả đã thực hiện rất nhiều những cuộc phỏng vấn sâu liên quan đến vấn đề Khất thực và cách nhìn nhận việc Khất thực dưới những góc nhìn khác nhau, từ chính người trong cuộc, từ tín đồ, từ những người không phải
là tín đồ của Hệ phái Khất sĩ Là Luận văn rất đáng để tham khảo khi nghiên cứu
về vấn đề này
Luận văn thạc sĩ “Tổ chức Phật giáo Hệ phái Khất sĩ qua góc nhìn diễn ngôn và quyền lực” của Trần Khánh Hưng năm 2015, về phương diện lý thuyết, luận văn được thực hiện với mong muốn vận dụng các lý thuyết nhân học vào việc giải thích các hiện tượng xã hội xảy ra ở cộng đồng mà đề tài khảo sát Việc vận dụng này hàm ý đánh giá mức độ tương thích cũng như khả năng của một số
lý thuyết trong trường hợp nghiên cứu mà đề tài đã lựa chọn Về phương diện
thực tiễn, luận văn đã cung cấp những hiểu biết mang tính miêu tả lẫn lý giải về đặc điểm tổ chức Phật giáo Hệ phái Khất sĩ thông qua trường hợp một cộng đồng
tịnh xá trong bối cảnh xã hội cụ thể Những tri thức này dù khó có thể suy rộng
ra cho Hệ phái Khất sĩ nói riêng, Phật giáo Nam bộ nói chung; nhưng chí ít chúng cũng cung cấp cái nhìn vi mô về hiện trạng sinh hoạt tôn giáo của một
cộng đồng Nam Bộ, cũng như có thể làm cơ sở cho những cuộc nghiên cứu tiếp theo mang tính chuyên sâu hơn với quy mô lớn hơn Tuy nhiên, việc tìm kiếm
cấu trúc cộng đồng tịnh xá chỉ được đặt gần như trong đời sống tôn giáo của
cộng đồng đó mà chưa liên hệ nhiều với các định chế xã hội khác, dù chúng có thể có nhiều mối tương quan với nhau Điều này làm cho cấu trúc của cộng đồng tịnh xá mà công trình mô tả trở nên một “mô hình lý tưởng” và gần như bị cô lập với những định chế khác trong xã hội Ngoài ra, góc độ giới trong phân tích diễn ngôn và quyền lực là một vấn đề quan trọng Nhưng trong giới hạn luận văn chưa xem vấn đề này như là trọng điểm phân tích Do đó vấn đề này cần được nghiên cứu có hệ thống hơn trong tương lai
Trang 32Luận văn: “Khất thực, Thọ trai của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam tại thành phố
Hồ Chí Minh” từ góc nhìn văn hóa của tác giả Nguyễn Công Hoài Lương năm
2016, qua luận văn này tác giả đã cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quát về truyền thống sinh hoạt khất thực, thọ trai của Phật giáo đã tồn tại hàng ngàn năm được diễn tả qua hoạt động thực tế của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam Đồng thời đi sâu phân tích ý nghĩa, những nét đẹp của hình thức sinh hoạt này như là một nét văn hóa đối với đời sống tâm linh, nhân cách, oai nghi tế hạnh của các tăng ni từ trước đến nay Thông qua mối quan hệ giữa việc cho và nhận của các tín đồ Phật giáo, các tầng lớp xã hội đối với nhà sư qua hình thức sinh hoạt trì bình khất thực, thọ trai của Chư tôn đức Tăng Ni mà rút ra những bài học trong cuộc sống Những điều nêu trên giúp mọi người nhận thức được thế nào là khất thực đúng pháp và phi pháp, thấy được nét văn hóa thọ trai, từ đó đưa ra những kiến nghị duy trì và khôi phục hình thức sinh hoạt khất thực trong đời sống xã hội Đây là một luận văn viết có tính hệ thống và nghiên cứu rõ về việc khất thực, thọ trai của Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh từ góc nhìn văn hóa học
1.2.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
Ngoài nguồn tư liệu về Hệ phái Khất sĩ, tư liệu các kỳ Đại hội đại biểu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và một số công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo
Việt Nam mà luận án lấy đó làm nền tảng là những công trình nghiên cứu về Hệ phái Khất sĩ nói chung và Giáo đoàn Ni giới Khất sĩ nói riêng Các công trình nghiên cứu trước hết đề cập đến lịch sử phát triển Hệ phái Khất sĩ (quá trình ra đời, hình thành và phát triển) Trong đó đề cập đến sự hình thành, phát triển của các Ni đoàn, bao gồm cả Ni đoàn Hệ phái Khất sĩ thành phố Hồ Chí Minh
Một số công trình nghiên cứu hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đề cập đến hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ Thành phồ Hồ Chí Minh dưới hai phương diện: hoạt động tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội
Hoạt động tôn giáo của Giáo đoàn Ni giới thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn mang những nét chung của Ni giới Hệ phái Khất sĩ vẫn có những nét đặc thù riêng Theo đó là những hoạt động chủ yếu như: xây dựng,
củng cố hệ thống tổ chức; hoạt động hoằng pháp, hoạt động giáo dục; đời sống
tu hành Hoạt động hướng đến xã hội là những hoạt động từ thiện xã hội, cử đại
Trang 33diện tham gia vào hệ thống tổ chức chính quyền, mặt trận và các tổ chức chính
trị xã hội khác Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thường rời rạc, mỗi công trình thường đề cập đến một mảng của hoạt động tôn giáo hoặc họa động hướng đến xã hội Hoặc các công trình nghiên cứu đề cập đến một số hoạt động nhưng thường là chưa thực sự nổi bật Chưa có một công trình nào đề cập một cách hệ
thống những hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và đó chính là nhiệm vụ của luận án
Luận án tập trung làm rõ những vấn đề nghiên cứu chính sau đây:
Một là, làm rõ quá trình hình thành, phát triển, nêu bật tính đặc thù của Hệ phái Khất sĩ và Ni giới thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh
Hai là, nêu bật những hoạt động của Giáo đoàn Ni giới Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh với tư cách là nghiên cứu trường hợp (case study) trên hai lĩnh vực: hoạt động tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội
Về hoạt động tôn giáo, luận án tập trung vào một số lĩnh vực chủ chốt như:
Ba là, tìm ra những nét đặc thù của Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ tại thành
phố Hồ Chí Minh; đưa ra một số khuyến nghị đối với Hệ phái và chính quyền để Giáo đoàn Ni Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy những thành tựu tốt đẹp, khắc phục những hạn chế về hoạt động trên cả hai lĩnh vực Tôn giáo và hướng đến xã hội
1.3 Khung lý thuy ết và một số khái niệm
1.3.1.1 Câu hỏi nghiên cứu
1.Quá trình hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ và Ni giới Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
2.Hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí
Trang 34Minh diễn ra như thế nào?
3 Giáo đoàn Ni có vai trò gì? Có những vấn đề gì đặt ra đối với giáo đoàn
ni trong thời gian tới?
1.3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
Hệ phái Khất sĩ là một Hệ phái Phật giáo nội sinh tồn tại bên cạnh hai Hệ phái lớn ở Việt Nam là Bắc truyền và Nam truyền trong những năm 1940 Tại Miền Nam Việt nam, khoảng thời gian này đã chứng kiến sự ra đời của một loạt tôn giáo nội sinh như Phật Giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài… Những hệ phái và tôn giáo này đã có ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng tín đồ tại Nam bộ Tuy nhiên, sự ra đời của Hệ phái Khất sĩ đã làm thay đổi diện mạo bức tranh tôn giáo của Nam bộ thời kỳ này Tại thành phố Hồ Chí Minh, Ni giới Hệ phái Khất sĩ đã có rất nhiều những bước trưởng thành theo thời gian để khẳng định mình tại thành phố và khu vực Nam bộ
Trước hết người dân có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc đặt niềm tin của mình vào tôn giáo, dù đó chỉ là một chỗ dựa trong tinh thần Họ đến với Hệ phái Khất sĩ vì nhận thấy sự gần gũi trong niềm tin, trong thực hành tôn giáo và
sự dễ dàng trong cố kết cộng đồng Phật giáo vốn quen thuộc trong đời sống tâm linh của người dân, tuy nhiên đối với Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ thì những đường hướng hoạt động mang tính chất thuần túy tôn giáo hoặc những hoạt động hướng đến xã hội mang lại cảm giác gần gũi hơn đối với người dân Nam bộ Chính vì vậy nên những hoạt động của Giáo đoàn Ni tại thành phố hiện tại là rất sôi nổi và tích cực Vì vậy cần xem xét kỹ lưỡng những hoạt động này nó có ảnh hưởng như thế nào đối với cộng đồng tin theo, có hướng tích cực nào và một số những điểm cần khắc phục
Hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú thêm đời sống tôn giáo của người dân Nam
bộ nói chung và người dân thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh trong quản lý tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng đã tạo điều kiện cho chư Ni của Hệ phái Khất sĩ có thể yên tâm với những hoạt động tôn giáo của mình Chính quyền, Giáo hội cũng như Ni giới Hệ phái đã có những
sự kết hợp các hoạt động giáo dục và hoạt động hướng đến xã hội
Trang 351.3.1 3 Lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu
Để nghiên cứu sự ra đời, quá trình phát triển và đặc biệt là một số hoạt động của Ni giới Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, luận án vận dụng
một số lý thuyết nghiên cứu thuộc các khoa học nhân văn sau đây:
Tiếp cận theo lý thuyết thực thể tôn giáo: Thực thể tôn giáo là một khái niệm dùng để chỉ toàn bộ hiện thực tôn giáo tồn tại trong lịch sử đồng thời là một thiết chế và kết cấu của đời sống xã hội, chịu sự tác động từ các mối quan
hệ và tương tác với các thiết chế xã hội khác Thực thể tôn giáo là tổng thể (holisme) các niềm tin và thực hành tôn giáo trong cộng đồng gồm cá nhân và nhóm người theo các giá trị chung với các tính chất xác định là tính lịch sử, tính tập thể, tính tài liệu, tính biểu tượng và tính kinh nghiệm và nhạy cảm đã từng
và đang tồn tại trong đời sống xã hội [86]
Đã có một thời kỳ rất dài, tôn giáo được nhìn nhận thuộc hình thái ý thức
xã hội, nhưng nếu đặt tôn giáo dưới góc nhìn như vậy, không phản ánh hết được bản chất thực của tôn giáo, bởi thực tế không có một tôn giáo nào tồn tại dưới một loại hình độc lập mà phải phản ánh mối quan hệ nào đó giữa con người với cái thiêng Nói như Durkheim: “Một tôn giáo là một hệ thống vững chắc các
niềm tin tôn giáo và thực hành liên hệ với các vật thiêng, tức là các vật được phân biệt, được kiêng cữ, các niềm tin và thực hành thống nhất thành một cộng đồng luân lý (Commurauté morate), được gọi là Giáo hội, đối với tất cả những
ai tin theo” [85]
Để phản ánh được thực chất tồn tại của tôn giáo trong xã hội chỉ cách tiếp cận hệ thống, hay còn gọi là hệ thống luận (systémique) để giải quyết và phân tích hệ thống gồm: tương tác, toàn thể, tổ chức, phức hợp và từ đó coi tôn giáo
là thực thể xã hội tồn tại một cách khách quan
Vận dụng lý thuyết thực thể tôn giáo để nghiên cứu hoạt động của Ni giới Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh, trong đó mỗi hoạt động không phải là những hoạt động độc lập mà còn gắn liền với hệ thống lớn để tạo thành những hoạt động tôn giáo mang tính chỉnh thể Luận án đặt yếu tố hoạt động thuần túy tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội trong Giáo đoàn này được coi là một nghiên cứu trường hợp (case study), nhằm làm rõ hơn bức tranh hoạt động của
Trang 36Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua Hai hoạt động thuần túy tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội cần thiết phải nhìn nhận trong sự tương tác với nhau, hoạt động này bổ trợ cho hoạt động kia Lý thuyết này được áp dụng ở các Chương hai, Chương ba và một phần của Chương bốn để nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, thực trạng, cũng như một số khuyến nghị phát huy những tích cực trong hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố cũng như khắc phục một vài điểm còn hạn chế
Lý thuyết cấu trúc chức năng: Durkheim, E.Tylor và B.Malinowski là những người đặt nền móng khởi nguồn cho phương pháp nghiên cứu cấu trúc chức năng trong xã hội học nói chung và xã hội học tôn giáo nói riêng Trường phái coi tôn giáo như một thực thể tối thượng, coi tôn giáo là yếu tố hạt nhân quyết định bộ phận tinh thần và tinh thần lại là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội nên các tác giả này chỉ muốn lấy chức năng để coi đó là bản chất tôn giáo [61;
tr 57 – 58] Tiếp cận hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh theo thuyết cấu trúc chức năngcho thấy những hoạt động này luôn có những chức năng, vai trò của nó.Mỗi bộ phận cấu thành thực thể tôn giáo đều giữ những chức năng khác nhau, luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau theo cơ chế phân công - hợp tác và chính điều này tạo cho những hoạt động này trở nên hiệu quả và đi đúng hướng Mỗi thành tố cấu thành thực thể tôn giáo đều có vai trò, chức năng riêng của mình đối với các hoạt động, luôn vận động, nương tựa lẫn nhau, bổ sung cho nhau làm cho Ni giới Hệ phái tồn tại như một thực thể
Lý thuyết cấu trúc chức năng được áp dụng vào Chương 2 và một số phần Chương 3, của luận án, nhằm làm rõ các vấn đề:
Một là, làm rõ chức năng của từng bộ phận trong hệ thống tổ chức của Hệ
phái Khất sĩ cũng như hệ thống tổ chức của Giáo đoàn Ni
Hai là, mối quan hệ tương tác của từng bộ phận trong tổ chức
Ba là, tính chỉnh thể của tổ chức
Lý thuyết về sự lựa chọn duy lý: Sự lựa chọn duy lý (Rational Choice) được đề cập nhiều đến trong ngành nhân học, xã hội học, kinh tế học vào nửa
Trang 37đầu thế kỷ XX Lý thuyết này có nguồn gốc từ kinh tế học, bởi một số nhà tâm
lý cho rằng, hành vi của con người luôn có sự tính toán Nội dung cốt lõi của lý thuyết lựa chọn duy lý đề cập đến chiến lược lựa chọn hành động của cá nhân
để đạt lợi ích tối đa cho mình trong quan hệ xã hội và xem trọng mục đích đạt được trong hành động của chủ thể [22; tr 447] Lý thuyết sự lựa chọn duy lý nhấn mạnh đến việc phải cân nhắc, tính toán nhằm đạt được những tối đa lợi nhuận với chi phí tối thiểu Từ những điều đạt được này không chỉ là yếu tố vật chất mà còn là yếu tố tinh thần và cả lợi ích xã hội
Nhìn từ góc độ của lý thuyết lựa chọn duy lý, tìm hiểu tại sao người dân thành phố Hồ Chí Minh lại lựa chọn Hệ phái Khất sĩ? Trong khi đó ở địa bàn thành phố tồn tại nhiều tôn giáo Người theo Hệ phái Khất sĩ thấy rằng họ được thỏa mãn cao nhất mà những chi phí phải trả (kinh tế, thời gian…) cho việc thỏa mãn nhu cầu tôn giáo của mình là thấp nhất….Sự gần gũi trong tôn giáo mang các yếu tố như thể chế hóa (institutionalization) trong tổ chức, thế tục hóa (secularization) trong hoạt động và duy lý hóa (rationalization) trong lựa chọn niềm tin và thực hành
Tiếp cận lý thuyết về Sự lựa chọn duy lý niềm tin và thực hành tôn giáo để thực hiện đề tài nghiên cứu cụ thể “Hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh”, Luận án áp dụng chủ yếu ở Chương 2 và Chương 3
1.3.2 Mô hình khung phân tích
Trên cơ sở nêu và phân tích câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, các
lý thuyết nghiên cứu mà lý thuyết thực thể tôn giáo là cốt lõi để nghiên cứu hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh trên
cơ sở 02 trụ cột: hoạt động thuần túy tôn giáo và Hoạt động hướng đến xã hội, luận án đưa ra mô hình khung phân tích như sau:
Trang 38Sơ đồ 1.1: Khung phân tích nghiên cứu hoạt động của Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ tại thành phố Hồ Chí Minh có thể được mô hình hóa như sau:
Hệ phái Khất sĩ: một Hệ phái của Phật giáo Việt Nam được khai sáng bởi
Tổ sư Minh Đăng Quang vào thập niên cuối thế kỷ XX Tông chỉ của Hệ phái
là “Nối truyền Thích ca Chánh pháp” Hệ phái Khất sĩ còn có các tên gọi: Đạo Phật Khất sĩ, Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam Trong luận án thống nhất sử dụng tên Hệ phái Khất sĩ
Bộ Chơn lý: gồm 69 chủ đề về Phật giáo, đạo Phật Khất sĩ do Tổ sư Minh
Đăng Quang trước tác sau khi Tổ sư qua đời các đệ tử đúc kết lại thành bộ
Ho ạt động của Giáo đoàn Ni tại thành phố Hồ Chí Minh
Sự ra đời của Hệ phái Khất sĩ và sự ra đời của
Ni giới Khất sĩ
Quá trình hình thành và phát triển của Giáo đoàn Ni tại Thành phố Hồ Minh
Vai trò trong hoạt động thuần
túy tôn giáo
Vai trò trong hoạt động hướng
đến xã hội
Xu hướng và đặt ra một số vấn đề cần giải quyết để phát huy những điểm tích cực và đưa ra những điểm còn hạn chế trong hoạt động thuần túy tôn giáo cũng như hoạt động hướng đến xã hội nhằm
mục đích Giáo đoàn Ni tại thành phố Hồ Chí Minh ngày càng có
những hoạt động ích cho cộng đồng
Trang 39Chơn lý Nhân lễ tưởng niệm 50 năm ngày Tổ sư vắng bóng (1954 - 2004), Samôn Giác Toàn xin phép chư tôn đức giáo phẩm Hệ phái in tách ra làm hai phần: phần liên hệ đến Giới luật, dành riêng cho Tăng, Ni, có 9 chủ đề, in chung thành tập Luật nghi Khất sĩ (riêng cho giới xuất gia) Phần còn lại 60 chủ đề liên hệ Kinh, Luật do Tổ sư giảng in chung thành Bộ Chơn lý
Như vậy có bộ Chơn lý tập hợp 69 bài giảng của Tổ sư Minh Đăng Quang và
bộ Chơn lý tập hợp 60 bài giảng về Kinh Luận, và cuốn Luật nghi Khất sĩ (riêng cho giới xuất gia) Các bộ sách trên được in và xuất bản nhiều lần Trong luận án, nghiên cứu sinh sử dụng bộ Chơn lý 60 bài giảng của Tổ sư Minh Đăng Quang, nhà xuất bản Tôn giáo, 2009 và tác phẩm Luật nghi Khất sĩ (riêng cho giới xuất gia) 9 bài giảng, nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2012
Ni giới Khất sĩ: đây là cộng đồng nữ giới xuất gia đi tu nằm trong Hệ phái
Khất sĩ
Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ: Giáo đoàn là tổ chức, đoàn thể tôn
giáo có tính độc lập tự trị nhất định Giáo đoàn Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ là tổ chức, đoàn thể nữ giới xuất gia đi tu nằm trong Hệ phái Khất sĩ
Khất Sĩ: có nghĩa là khất thực và khất pháp, tức là xin vật thực của người
đời để nuôi thân và xin Pháp của Phật để tu hành nuôi tâm Hiện nay, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam phải ra thông tư giới hạn nghiêm ngặt việc khất thực để bảo vệ danh dự của tăng đoàn nhất là tăng đoàn của Hệ phái Khất
sĩ và Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam Đối với Hệ phái Khất sĩ và Nam tông, sau ngày 01.5.2001, nếu vị nào vẫn muốn giữ hạnh khất thực thì phải xin phép với giáo hội và sẽ được giáo hội cấp gấy chứng nhận cùng với phù hiệu đàng hoàng Các vị này phải hành trì đúng chánh pháp, đúng luật qui định của giới khất sĩ, tức là chỉ đi khất thực từ 8 giờ đến 10 giờ sáng Sau 10 giờ sáng là phải trở về trú xứ Chỉ được thọ nhận vật thực, không được nhận tiền bạc Về hành trang chỉ gồm có một chiếc bình bát duy nhất, không được mang theo túi hay đãy Đối với Ni giới, khi đi khất thực, phải đi từ hai vị trở lên, không được
đi một mình riêng lẻ
Tập sự: Người có nguyện vọng xuất gia, được xuống tóc, ở tịnh xá một
thời gian để tìm hiểu Hết thời gian tìm hiểu và bổn sư cho phép thì sẽ được thụ
Trang 40giới sadi Đây là bước tu tập đầu tiên của Hệ phái Khất sĩ
Sadi: Phiên âm từ chữ Sramanera Sadi là người xuất gia giữ đủ 10 giới nhưng chưa đủ tuổi hoặc chưa đủ điều kiện để lên tỳ kheo Sadi phải theo một vị thầy lớn tuổi đạo để được răn dạy
T ỳ kheo (tỳ khưu, tỷ kheo): Phiên âm từ chữ Bhiksu trong tiếng Sankrit và
Bhikkhu trong tiếng Pali, nghĩa là thầy tu giữ hạnh thanh tịnh Tỳ kheo phải trên
20 tuổi, trước khi lên tỳ kheo phải làm tập sự là sadi, tỳ kheo là người giữ 250
giới đối với Tăng, 348 giới đối với Ni
Tăng già: Phiên âm từ chữ Sangha,1 Chỉ giới xuất gia; 2 Tổ chức của
những người xuất gia Phật giáo; 3 Một trong tam bảo
Sư: Người xuất gia theo Hệ phái Khất sĩ hoặc Nam tông được gọi là sư
Bố thí: Nghĩa là cho, gồm tài thí (cho tiền bạc), pháp thí (ban cho giáo
pháp của Phật) Bố thí là hạnh lớn, đứng đầu trong Lục độ, bao gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ
Chúng sinh (còn gọi là chúng hữu tình): Dịch nghĩa từ chữ Sattva, nghĩa
là những loài có sinh ra Chúng sinh có sinh ắt có tử, triền miên trong vòng luân hồi sinh tử, chưa tự thức tỉnh
Chư Phật ba đời (Chư Phật mười phương ba đời): nghĩa là Phật của ba
thời: quá khứ, hiện tại và vị lai, chỉ tất cả các vị Phật trong ba đời và mười phương thế giới (phương đông, phương tây, phương nam, phương bắc, phương dưới, phương trên, phương tây nam, phương đông nam, phương tây bắc, phương đông bắc) Ý nghĩa của thuật ngữ này là nói đến chư Phật ở mọi thời gian và không gian, ở khắp mọi nơi trong càn khôn vũtrụ
Độ ngọ: Độ nghĩa là phương pháp, đại hạnh (chẳng hạn lục độ) đưa đến
Niết bàn Ngọ là trước giờ trưa Độ ngọ là ăn một bữa trước giờ trưa như một phương pháp tu hành
Du tăng, du phương: Là vị sư du hành khắp bốn phương để học đạo và
truyền đạo
Giáo hóa (khuy ến hóa): Dạy dỗ cho người ta tu tập, làm lành lánh dữ Hóa duyên: Vị sư đi nơi này, nơi khác khuyến hóa, tạo điều kiện cho chúng sinh cúng dường