1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực gò vấp

91 215 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 830,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a Giới Mezozoi MZ Các thành tạo Mesozoi trong phạm vi thành phố đó là sự có mặt của các hệ tầng La Ngà và hệ tầng Long Bình với các đặc điểm thành phần thạch học chủ yếu như sau : - Trầm

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm phát triển mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của cả nước Trong đó khu vực nghiên cứu bao gồm Hóc Môn và Gò Vấp là khu vực mới phát triển trong những năm gần đây, thu hút rất nhiều lao động và dân cư đến sinh sống, làm việc Sự phát triển này đòi hỏi được đáp ứng về nhiều mặt, trong đó nhu cầu về cung cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt và sản xuất là rất quan trọng

Ở thành phố Hồ Chí Minh, nước dưới đất tồn tại trong các địa tầng chứa nước (Holocen, Pleistocen, Pliocen, Miocen) Ở một vài nơi chất lượng của nguồn nước đang biến đổi theo chiều hướng xấu, nước ngầm bị nhiễm mặn, nhiễm phèn và nhiễm bẩn, do đó không thích hợp cho cung cấp nước Trong khi nguồn bổ cấp nước ngầm Tp Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ thì theo tài liệu quan trắc mực nước nhiều năm đã chỉ ra rằng mực nước ngầm đang bị hạ thấp tại một số nơi trong thành phố, đặc biệt là những khu công nghiệp và những khu vực mà hệ thống cung cấp nước sinh hoạt chưa có, nhân dân phải tự khai thác lấy

Chính vì những lý do nêu trên, đề tài được nêu ra nhằm góp phần giải quyết một số vấn đề liên quan đến việc biến đổi về lượng cũng như chất lượng nước dưới đất do các hoạt động kinh tế kỹ thuật gây ra và đưa ra một số kiến nghị, biện pháp hợp lý để giải quyết việc sử dụng nước dưới đất khu vực trên

II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Trang 2

3 Phương pháp nghiên cứu :

- Nghiên cứu, vận dụng các cơ sở lý thuyết về :

+ Phương pháp phân tích lịch sử tự nhiên

+ Phương pháp điều tra thực địa

+ Các phương pháp thủy động lực

+ Ứng dụng lý thuyết về ô nhiễm nước

+ Xác suất thống kê toán

+ Các phương pháp nghiên cứu địa chất thủy văn truyền thống

- Thu thập các tài liệu liên quan

4 Nội dung nghiên cứu:

Để thực hiện các mục đích của đề tài, các nội dung cơ bản nghiên cứu gồm:

- Làm sáng tỏ điều kiện địa chất, địa chất thủy văn khu vực nghiên cứu,

Trang 3

- Xây dựng bản đồ tài liệu thực tế

- Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất về chất lượng và trữ lượng

- Khoanh ranh giới nhiễm sắt khu vực nghiên cứu

- Lập sơ đồ thể hiện vị trí các điểm nước dưới đất bị nhiễm bẩn (dựa vào Tiêu chuẩn nước dùng cho sinh hoạt của Việt Nam)

- Xử lý, thống kê các tài liệu thu thập được

- Vận dụng các lý thuyết đã học để phân tích và lý giải một số hiện tượng trên

III./ Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN:

- Ý nghĩa khoa học: đề tài góp phần trong việc nghiên cứu hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất, đánh gía sự tác động của hoạt động nhân sinh đến tài nguyên nước

- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả của đề tài là cơ sở khoa học đáng tin cậy để đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên nước dưới đất cho khu vực Hóc Môn-Gò Vấp

Trang 4

a) Quận Gò Vấp :

• Phía Đông giáp quận Bình Thạnh và giáp Quận 12 qua sông Bến Cát, Vàm Thuật

• Phía Tây giáp Quận 12 qua kênh Tham Lương

• Phía Nam giáp sân bay Tân Sơn Nhất, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận, quận Bình Thạnh

• Phía Bắc giáp Quận 12 qua sông Bến Cát

b) Huyện Hóc Môn :

• Phía Tây giáp huyện Bình Chánh

• Phía Đông giáp Quận 12

• Phía Nam giáp sân bay Tân Sơn Nhất, quận Tân Bình

• Phía Bắc huyện Củ Chi

1.2/ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH:

Địa hình khu vực nghiên cứu là sự chuyển tiếp hài hòa giữa địa hình đồi núi của miền trung du và địa hình thấp trũng của vùng đồng bằng sông Cửu Long Địa hình thay đổi từ lớn hơn 5 mét ở phía Hóc Môn đến 11 mét tại quận Gò Vâp

Theo độ cao khu vực nghiên cứu có thể chia thành 2 vùng:

• Vùng cao chiếm khoảng 80% tổng diện tích quận Gò Vấp, địa hình có độ cao cao nhất là khu vực giáp sân bay Tân Sơn Nhất

Trang 5

• Vùng trũng : gồm huyện Hóc Môn và phần diện tích còn lại của quận Gò Vấp, phân bố dọc theo kênh Tham Lương ở phía Bắc vùng nghiên cứu và sông Bến Cát ở phía Đông vùng nghiên cứu Bề mặt địa hình khá bằng phẳng, độ chênh cao của vùng này phổ biến thay đổi từ 0,4m đến 0,5m, ở vùng trũng thường bị ngập nước vào mùa mưa

1.3/ ĐẶC ĐIỂM ĐẤT ĐAI:

Trên địa bàn khu vực nghiên cứu phân bố các loại đất như sau:

• Đất xám trên phù sa cổ

Loại đất này phân bố trên phù sa cổ, địa hình cao và chiếm khoảng 70% diện tích quận với 1.330 ha

Đất có thành phần cơ giới nhẹ (đất thịt pha cát), nghèo dinh dưỡng, lượng hữu

cơ thấp Độ pH từ 4,5 đến 5 Tuy nhiên, nhiều nơi do bồi dưỡng liên tục các loại phân hữu cơ với số lượng lớn trong quá trình thâm canh rau, nên độ phì nhiêu của đất đã được nâng lên đáng kể và độ pH cũng được nâng lên từ 5 đến 5,7 Thoát nước tốt, khá tơi xốp, thích nghi với các cây trồng cạn, nhất là rau các loại, đồng thời phù hợp cho các công trình xây dựng nhờ nền đất cứng

• Đất xám

Diện tích 156 ha (chiếm 8% diện tích tự nhiên của quận Gò Vấp), phân bố trên dạng địa hình triền, chuyển tiếp giữa 2 đơn vị đất xám trên phù sa cổ và đất phèn tiềm tàng sâu Mẫu chất là phù sa cổ, nhưng ở địa hình thấp hơn đất xám trên phù sa cổ nên thường bị ngập nước vào mùa mưa, hàm lượng hữu cơ khá cao, thích hợp với trồng lúa vào mùa mưa, rau vào mùa khô

• Đất phèn tiềm tàng sâu

Diện tích 384 ha (chiếm 20% diện tích tự nhiên của quận), phân bố ven sông Bến Cát trên dạng địa hình thấp trũng, được hình thành trên mẫu chất là bồi tích

Trang 6

phù sa trong đó có vật liệu sinh phèn Đất có thành phần cơ giới nặng (sét), giàu hữu cơ đạm, tuy nhiên có những hạn chế chính là:

- Đất dễ bị lầy, khả năng chịu lực kém

- Đất phèn tiềm tàng nên độ độc sắt, nhôm khá cao khi bị oxyt hóa, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng

- Nhiễm mặn nhẹ vào các tháng mùa khô Đất thích nghi cho các cây trồng chịu nước như lúa, cói, rau muống, đồng thời có thể trồng mía, dừa và một số loại cây ăn trái khi được lên líp và có bờ cao

1.4/ ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU:

Khu vực nghiên cứu thuộc khu vực TP.HCM, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo với chế độ nhiệt tương đối ổn định, quanh năm cao Hàng năm có 2 mùa rõ rệt:

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11

- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Hai hướng gió chủ yếu trong năm là hướng Tây Bắc chiếm tần suất 66% và hướng Đông Nam với tần suất 22%

Căn cứ theo số liệu khí tượng từ năm 2004 đến 2006 của trạm Tân Sơn Hòa, TP.HCM nằm trong khu vực nghiên cứu có các đặc trưng về đặc điểm khí hậu như sau:

a) Nhiệt độ:

Theo số liệu năm 2006 ở trạm Tân Sơn Hòa, nhiệt độ trung bình từ 27 – 28oC, nhiệt độ cao nhất là 36,5oC, thấp nhất là 23,8oC Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 29,5oC vào tháng 4, thấp nhất 27,2oC vào tháng 1

Khí hậu ôn hoà không quá nóng hoặc không quá lạnh Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất (tháng 4) với tháng thấp nhất (tháng 1) là 2,3oC

So với năm 2004, 2005, nhiệt độ trung bình năm 2006 có xu hướng tăng

Trang 7

Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006

Bảng 1.1: Nhiệt độ ( o C) qua các năm 2004 – 2006 tại trạm Tân Sơn Hòa

Năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Trung bình năm

Tổng lượng mưa năm 2006 (1.798mm) so với các năm 2004 (1.783mm) và

2005 (1.742mm) không có sự chênh lệch lớn Tuy nhiên, có sự thay đổi về tháng có

Biểu đồ 1.1: Nhiệt độ hàng tháng từ 2004-2006 tại trạm Tân SơnHòa

Trang 8

Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006

lượng mưa cao nhất năm 2004 (tháng 7 với 355,9mm), năm 2005 (tháng 10 với 388,6mm) và năm 2006 (tháng 8 với 349mm)

Lượng mưa hàng tháng từ 2004 – 2006 được dẫn ở bảng 1.2

Bảng 1.2: Lượng mưa (mm) hàng tháng từ 2004 – 2006 tại trạm Tân Sơn Hòa

Năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

2004 0,1 0 0 13,2 263,9 246,8 355,9 201,3 283,7 309,0 97,0 12,7

2005 0 0 0 9,6 143,6 273,9 228,0 146,3 182,9 388,6 264,5 105,4

2006 0 72,7 8,6 212,1 299,2 139,4 168,6 349,0 247,7 256,1 16,1 28,9

(Nguồn Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ)

c) Lượng bốc hơi:

Lượng bốc hơi hàng năm trung bình 1.169mm, cao nhất 1.223,3mm, nhỏ nhất 1.136mm So với lượng mưa, lượng bốc hơi xấp xỉ 60%

Các tháng mùa khô, lượng bốc hơi cao, từ 104,4 - 146,8mm

Các tháng mùa mưa lượng bốc hơi thấp, từ 64,9 - 88,4mm

Biểu đồ 1.2: Lượng mưa hàng tháng từ 2004-2006 tại trạm Tân Sơn Hòa

Trang 9

d) Độ ẩm:

Độ ẩm không khí trung bình là 76,3%, cao nhất 100% (tháng 11), thấp nhất 33% (tháng 1) Mùa mưa độ ẩm cao từ 74 - 89%, mùa khô độ ẩm thấp từ 67 - 73%, độ ẩm này cho thấy rất thích hợp cho động, thực vật phát triển

Bảng 1.3: Độ ẩm (%) hàng tháng năm 2006 tại trạm Tân Sơn Hòa

Tháng

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Trung bình 71 67 69 73 89 80 81 80 80 80 74 72 Cao nhất 92 92 91 93 95 96 95 97 94 96 100 97 Thấp nhất 33 38 35 39 39 50 50 51 47 46 44 48

(Nguồn Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ)

e) Số giờ nắng:

Số giờ nắng trung bình là 5,2 giờ/ngày Số giờ nắng cao vào các tháng mùa khô (cao nhất là tháng 3, 4: 7,1 giờ/ngày), thấp vào các tháng mùa mưa (thấp nhất là tháng 12 : 3,9 giờ/ngày)

1.5/ THẢM THỰC VẬT:

Khu vực nghiên cứu là khu vực đã và đang trong tiến trình đô thị hoá xen lẫn với canh tác nông nghiệp quy mô gia đình, chủ yếu là trồng rau, hoa Cây bóng mát không nhiều, được trồng rải rác trên các khoảnh đất trống

1.6/ MẠNG LƯỚI THỦY VĂN :

1.6.1) Khu vực Hóc Môn :

Thành phố tiếp tục tập trung vốn, ngân sách cho các công trình thủy lợi đầu mối như : kênh Đông, kênh N31A, tiểu dự án công trình Hóc Môn – Bắc Bình Chánh … và nhân dân tham gia làm thủy lợi nội đồng, kết quả làm tăng năng lực tưới tiêu thêm 8.000 ha (trong đó 2.500 ha những năm 1999- 2001), tạo thêm nguồn

Trang 10

nước ngọt 9.000 ha, chống ngập úng tăng thêm 4.900 ha ( trong đó có 3.000 ha những năm (1999 – 2001) góp phần tăng vụ tăng năng suất cây trồng

Việc khai thác lợi ích công trình thủy lợi kênh Đông Củ Chi phục vụ sản xuất nông nghiệp có hiệu quả tạo điều kiện nuôi trồng thủy sản , nước sinh họat cho Thành phố, mực nước ngầm dâng cao, môi trường khí hậu cải thiện

1.6.2) Khu vực Gò Vấp :

Về mặt không gian có thể chia mạng thủy văn có liên quan đến khu vực nghiên cứu thành 2 hệ thống : Hệ thống sông rạch trong diện tích quận Gò Vấp và hệ thống sông rạch ngoại vi

* Hệ thống sông rạch nội vi:

Đó là hệ thống sông Bến Cát với tổng chiều dài trên toàn quận là 12km, bề rộng đạt 60m Trong hệ thống này tùy theo vị trí phân bố, chúng được gọi là hệ thống rạch Bến Cát, sông Bến Cát, sông Trường Đay, kênh Tham Lương … và một số chi lưu chằng chịt quanh chúng

- Rạch Bến Cát bắt nguồn từ Nam huyện Củ Chi qua huyện Hóc Môn - quận 12, đđổ nước vào ngã ba Bến Phân, bề rộng dòng chảy từ 40 - 50m, chiều sâu từ 2 - 3m Rạch Bến Cát chịu tác động của áp triều, mỗi ngày lên xuống 2 lần - chế độ bán nhật triều

Lưu lượng mùa khô 1,5 - 1,7 m3/s (đđo ngày 28/4/1998)

Lưu lượng mùa mưa 6,5 - 8,8 m3/s (đđo ngày 25/4/1998)

- Sông Bến Cát là sự nối dài của rạch Bến Cát và được tính từ ngã ba sông Bến Phân, theo hướng Đông Nam đổ nước vào sông Sài Gòn Bề rộng sông từ 60 - 75m đđến 65 - 85m, sâu từ 4 - 6m ở đđoạn gần ngã ba sông, sâu 7 - 8m ở đđoạn tiếp nối với sông Sài Gòn Sông có chế độ bán nhật triều

- Sông Trường Đay với chiều dài khoảng 2km, bắt đđầu từ cầu Trường Đay đđến ngã ba Bến Phân Nước đđược phân lưu, một phần chảy về sông Bến Cát, một

Trang 11

phần chảy về hướng Tây Nam, đổ về rạch Chợ Mới Chiều rộng sông từ 20 - 30m, sâu từ 2,5-3m, hoạt động theo chế độ bán nhật triều

- Kênh Tham Lương là kênh được nối dài từ rạch Chợ Mới theo hướng nam chảy vào sông Cầu Xám – Bình Chánh Trên diện tích của Quận Gò Vấp còn có một số hồ nhỏ, tuy nhiên quy mô không đáng kể

* Hệ thống sông ngòi ngoại vi:

Hệ thống sông ngòi ngoại vi khu vực Gò Vấp chủ yếu là hệ thống sông Sài Gòn nằm ở phía đông chảy theo hướng Bắc - Nam, đổ về phía Nam thành phố Các con sông lớn của miền Đông Nam Bộ, như sông Đồng Nai và sông Vàm cỏ Đông nằm khá xa khu vực quận (khoảng 4 - 5km) nên không ảnh hưởng điều kiện địa chất thuỷ văn khu vực quận Gò Vấp

Bề rộng sông Sài Gòn từ 250 - 350m, sâu từ 10 - 20m, tàu thuyền đi lại dễ dàng Lưu lượng dòng chảy lớn nhất từ 84 - 93m3/s, nhỏ nhất từ 20 - 25m3/s Độ cao mực nước từ -0, 34m đến +1,18m (tại Bình Dương)

Sông Sài Gòn hoạt động theo chế độ bán nhật triều, một ngày lên xuống 2 lần, biên độ thuỷ triều dao động từ 1,5 - 3,1m Sông Sài Gòn cũng đóng vai trò trong sự hình thành trữ lượng khai thác tầng chứa nước Pleistocen

1.7/ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, XÃ HỘI:

1.7.1) Dân số:

- Quận Gò Vấp có 16 phường, tổng diện tích tự nhiên toàn quận là 19,74 km2 Huyện Hóc Môn gồm 10 xã với tổng diện tích tự nhiên là 109,18 km2 Do quá trình đô thị hóa nhanh nên có tỷ lệ tăng dân số nhanh trong giai đọan 2001-2003 Bước sang giai đọan 2004-2006 tỷ lệ tăng dân số đã giảm đáng kể

Trang 12

Bảng 1.4: Tình hình tăng dân số quận Gò Vấp và huyện Hóc Môn

a) Về công nghiệp:

Sản phẩm chủ yếu là các mặt hàng tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp như dệt, may, thêu, da Các mặt hàng nước chấm, nước giải khát đang là thế mạnh của ngành sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm của quận Ngoài ra, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như chiếu, mành trúc, sơn mài của Gò Vấp cũng khá nổi tiếng trên thị trường

b) Về thương mại – dịch vụ:

Quận có các chợ và các khu phố thương mại lớn như khu thương mại chợ Gò Vấp, khu phố chợ Tân Sơn Nhất, khu thương mại Hạnh Thông Tây, khu thương mại dịch vụ An Lộc

c) Về du lịch:

Khu vực nghiên cứu có nhiều làng hoa, nhà vườn kinh doanh dich vụ du lịch

và nhiều làng nghề

1.7.3 Cơ sở hạ tầng:

Trang 13

a) Cấp điện:

- Hóc Môn : Đến nay đã có 100% xã, thị trấn được cấp điện từ mạng lưới điện quốc gia theo giá qui định nhà nước, 99,2 % số hộ nông thôn đang sử dụng điện, đây là thành tích nổi bật cả nước

- Gò Vấp : Nguồn cung cấp điện cho khu vực là các trạm biến điện nguồn của lưới truyền tải điện quốc gia Khác với một số quận, lưới phân phối ở quận Gò Vấp chỉ có một cấp điện thế 15KV.Đây là một thuận lợi lớn cho việc quản lý vận hành và phát triển lưới điện

b) Cấp nước:

- Hóc Môn : chương trình sử dụng nước sạch nông thôn ở Thành phố được triển khai từ năm 1997 Do đặc điểm của khu vực nghiên cứu là dân cư phân tán trên địa bàn rộng nên hệ thống cấp nước của thành phố hầu như không có Để khắc phục tình trạng này thành phố đã dành nguồn vốn ngân sách (chiếm chủ yếu trong các nguồn vốn ) để phát triển giếng lẻ bơm tay và đặc biệt là các trạm cấp nước tập trung ở các khu dân cư tập trung Hiện nay trên địa bàn huyện Hóc Môn có 13 trạm cấp nước tập trung với công suất khoảng 3.000 m3/ngày đêm do Trung tâm Nước Sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý Theo thống kê năm

2006 nguồn nước sử dụng ở nông thôn như sau:

- Số hộ dân sử dụng nước sạch : 87,5 % (toàn thành là 97.1%)

- Sử dụng nước máy : 25,53 % số hộ

- Sử dụng nước giếng : 60,7 % số hộ

- Sử dụng nước mưa : 3,08 % số hộ

- Sử dụng nguồn nước khác : 3,69 % số hộ

- Gò Vấp : Nước từ hệ thống cấp nước thành phố có chất lượng tốt nhưng rất hạn chế Nước từ các giếng khoan ngầm được sử dụng rộng rãi nhờ dễ khai thác và

chi phí thấp nhưng thường không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép sử dụng

Trang 14

CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT – ĐỊA CHẤT THỦY VĂN

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Khu vực Gò Vấp – Hóc Môn nằm trong TP.HCM Do đó, lịch sử nghiên cứu

ĐC và ĐCTV, đặc điểm ĐC-ĐCTV của quận gắn liền với của thành phố

2.1/ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÀ ĐỊA CHẤT THỦY VĂN:

Dựa vào mức độ, mục đích và thời gian nghiên cứu có thể chia thành hai giai đọan chính sau:

2.1.1) Giai đọan trước năm 1975:

Giai đoạn này có thời gian lịch sử kéo dài trên một nửa thế kỷ trong hoàn cảnh thành phố nằm dươí sự kiểm soát của các chế độ thực dân cũ và mới Sự nghiệp nghiên cứu ĐCTV được các chuyên gia người Pháp thực hiện đầu tiên gắn liền với việc nghiên cứu địa chất, khai thác tài nguyên và xây dựng cơ sở vật chất Tiếp sau đó còn có sự tham gia của các nhà nghiên cứu nước ngoài khác (Mỹ, Nhật) và các tác giả Việt Nam Công trình nghiên cứu đầu tiên có lẽ là “Lịch sử cấp nước thành phố Sài Gòn “ của Brenil và Nolleret (1936) Trong thập kỷ 50 có sự đóng góp của các tác giả Richard.C, Vielard Godon, Brashears với các nội dung

“ Vấn đề nước uống được ở Việt Nam và sự kiểm tra các hệ thống phân phối

công cộng “, “Tầm quan trọng của nước mưa ở Sài Gòn “, “Tiềm năng cấp nước vùng Sài Gòn-Chợ Lớn “ Trong khoảng những năm từ 1969-1975 còn có

”Phát hiện nước ngọt ở vùng rừng Sát tỉnh Gia Định“ của Anderson H.R,

Nguyễn Đình Viễn và Trịnh Thanh Phác Ngoài ra Rasmusseu còn có bài viết về

“Tiềm năng nước dưới đất châu thổ sông Mêkông“ Trong đó đã phác họa được

Trang 15

những nét khái quát về điều kiện ĐCTV khu vực bao trùm lãnh thổ thành phố, rút

ra được những nhận xét về triển vọng nước và kiến nghị về khai thác sử dụng

Nhìn chung số lượng nghiên cứu không nhiều, mang tính chất khái lược hoặc tản mạn, thiếu hệ thống Tuy nhiên cũng cần lưu ý người đọc về tính chất thực dụng Trong việc đầu tư vốn dưới các thời kỳ thuộc chế độ cũ khó có thể có được công trình nghiên cứu dài hơi và có hệ thống trong lĩnh vực này Trong khi đó, kỹ nghệ khoan giếng khai thác nước ngầm lại khá phát triển Trong khoảng 34 năm, từ năm 1932 đến 1966 đã có ít nhất 35 lỗ khoan khai thác nước ngầm được thực hiện trong phạm vi thành phố Lỗ khoan sâu nhất đạt được là 52 mét, nông nhất là 17 mét, khai thác bình quân 3100 m3/ngày Trong số này còn có hơn 10 lỗ khoan đang hoạt động

Đáng kể nhất trong việc nghiên cứu điều kiện ĐCTV là công cuộc khảo sát nguồn nước ngầm Hóc Môn để cấp nước cho thành phố Sài Gòn thay thế cho nguồn nước cũ đang ngày càng giảm dần do khai thác quá mức cho phép Trước tình hình dân số ngày càng đông thì có thể nói đây là công trình duy nhất có sự đầu

tư đáng kể của chính quyền cũ Công tác khảo sát do công ty địa vật lý của Nhật Bản tiến hành dưới sự lãnh đạo của Tiến sĩ Hyronm Tanabe theo nhiều bước từ năm 1970 – 1973 Đây là một công trình điều tra cơ bản được tiến hành khá nghiêm túc và đạt được kết quả nhất định trong việc đánh giá tiềm năng nước dưới đất vùng Hóc Môn Tuy nhiên cần phải thấy rằng công tác nghiên cứu ở đây mới chỉ giới hạn ở việc đo sâu điện với khối lượng 50 điểm tới chiều sâu 150 mét trên

cơ sở 3 lỗ khoan sâu 120 mét Đã vậy, chiều sâu nghiên cứu (khoan, bơm, đo địa vật lý) đều được chọn một cách máy móc và việc phân chia lớp cũng dựa trên những nhận thức trực quan, không chú ý đến cấu trúc điạ chất và địa tầng, do đó cũng rất khó khăn trong việc liên hệ và đánh giá mối quan hệ của vùng nghiên cứu

Trang 16

với miền cung cấp nước và miền thoát của nó Sự vận dụng các kết quả này vào việc đánh giá điều kiện địa chất thủy văn chung của lãnh thổ sẽ rất hạn chế

2.1.2) Giai đoạn sau năm 1975 :

- Năm 1975 Lê Thạc Xính đã hiệu đính và cho xuất bản tờ bản đồ Địa chất thủy văn phần miền Nam tỷ lệ 1:500000 trong đó có vùng nghiên cứu

- Năm 1980 Phan Đình Điệp và Vương Văn Phổ Danh công bố công trình

“Nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long“

- Từ năm 1978 – 1983, do Trần Hồng Phú chủ biên đã thành lập tờ bản đồ Địa chất thủy văn tỷ lệ 1:500.000 toàn Việt Nam Trong đó thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và quận Gò Vấp – Hóc Môn nói chung được xếp vào rìa bồn actezi của đồng bằng sông Cửu Long với 3 tầng chứa nước có tuổi là QI-III, N2-Q1, N2

- Năm 1981 – 1984, Tô Văn Nhụ ( Bộ Xây Dựng ) đã tiến hành khảo sát thăm dò vùng Hóc Môn với mục tiêu trữ lượng là 50000 m3/ngày Báo cáo đã làm sáng tỏ phần nào về đặc điểm địa chất, địa chất thủy văn của vùng Về khối lượng gồm 17 điểm khoan, 12 lỗ khoan bơm hút thí nghiệm cùng nhiều điểm đo địa vật lý, đo carota, lấy mẫu thí nghiệm, quan trắc động thái Chiều sâu nghiên cứu từ

120 mét trở lên, một số điểm sử dụng 150 mét

- Từ năm 1983 – 1988, Đoàn Văn Tín đã thiết lập bản đồ ĐCCT-ĐCTV tỷ lệ 1:50.000 trên toàn thành phố, trong đó ở vùng công tác có 5 cụm lỗ khoan Kết quả tờ bản đồ này đã chi tiết hóa về địa tầng, diện phân bố các tầng chứa nước

- Năm 1985, Sở Thủy Lợi thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập báo cáo

“Nghiên cứu dự báo trữ lượng nước ngầm phục vụ nông nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh“ Công trình này chủ yếu đánh giá tầng chứa nước QI-III

- Từ năm 1983 – 1992, Bùi Thế Định và các tác giả khác của Liên Đoàn 8 đã hoàn thành tờ bản đồ ĐCCT-ĐCTV Nam Bộ tỷ lệ 1:200.000

Trang 17

- Năm 1988, Vũ Văn Nghi đã thành lập báo cáo “Tính trữ lượng khai thác nước dưới đất nhà máy nước Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh“ Báo cáo được Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản nhà nước thông qua với trữ lượng:

Cấp B : 46.000 m3/ngày Cấp C1 : 9.150 m3/ngày Cấp C2 : 47.850 m3/ngày

- Năm 1991, Liên Đoàn 8 tiếp tục hoàn thành báo cáo kết quả thăm dò sơ bộ vùng Củ Chi – Hóc Môn do Nguyễn Quốc Dũng làm chủ biên với trữ lượng đã được hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản nhà nước thông qua là:

Cấp A + B : 53.000 m3/ngày Cấp C1 : 30.000 m3/ngày

- Năm 1994, Vũ Văn Nghi chủ biên thành lập báo cáo “Tính trữ lượng nguồn nước dưới đất cho nhà máy nước Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh Báo cáo được Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản nhà nước thông qua với trữ lượng :

Cấp A : 7.400 m3/ngày Cấp B : 17.600 m3/ngày Cấp C1 : 77.000 m3/ngày Cấp C2 : 282.000 m3/ngày

- Năm 1995, Vũ Văn Nghi đã thành lập báo cáo “Tổng hợp đánh giá tài nguyên nước ngầm vùng thành phố Hồ Chí Minh“ đưa ra trữ lượng cấp công nghiệp và các cấp của vùng thành phố Hồ Chí Minh đã được tìm kiếm thăm dò là:

Cấp A+ B : 260.000 m3/ngày Cấp C1 : 144.000 m3/ngày Cấp C2 : 337.000 m3/ngày

- Năm 1997, Liên đoàn 8 đã hoàn thành báo cáo “Điều tra địa chất đô thị thành phố Hồ Chí Minh” do Trần Hồng Phú làm chủ biên, trong báo cáo này có

Trang 18

một phần đề cập đến địa chất thủy văn của vùng, đã làm sáng tỏ được điều kiện địa chất thủy văn về độ giàu nước, tính chất thủy hóa trong các tầng chứa Báo cáo cũng đã sơ bộ dự báo về trữ lượng tiềm năng nước dưới đất và khả năng cấp nước

cho thành phố

Tóm lại, lịch sử nghiên cứu ĐCCT-ĐCTV trên lãnh thổ quận Gò Vấp – Hóc

Môn suốt gần một thế kỷ qua đã diễn ra trong 2 giai đoạn Từ 30/4/1975 trở về trước là giai đoạn khởi đầu với sự đóng góp chủ yếu của các nhà địa chất nước ngoài và đặc trưng bởi các đề tài nghiên cứu có tính chất tản mạn, thực dụng hay là rất khái lược Chỉ có một số công trình thăm dò nước ở Hóc Môn được đầu tư thích đáng nhưng thực hiện còn dở dang Nhưng những công trình nghiên cứu trong giai đoạn này đóng góp như một màn mở đầu cho giai đoạn sau 30/04/1975 Từ ngày 30/04/1975 về sau là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của công tác nghiên cứu ĐC-ĐCTV khu vực Các công trình nghiên cứu thăm dò được sự đầu tư thích đáng của nhà nước được thực hiện từng bước từ sơ lược đến chi tiết, từ diện đến điểm nên nói chung đã hệ thống hoá được sự hiểu biết chung của thời đại về đặc điểm ĐC-ĐCTV của lãnh thổ Các công trình nghiên cứu ĐC-ĐCTV khu vực thực hiện trong giai đoạn này chính là nền tảng cho việc thực hiện công tác đo vẽ bản đồ ĐC-ĐCTV tỷ lệ 1:50.000 sau này

2.2/ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT:

Theo báo cáo thành lập tờ bản đồ địa chất công trình và địa chất thủy văn tỉ lệ 1:50.000 khu vực thành phố Hồ Chí Minh (do Liên đoàn Địa chất công trình và Địa chất thủy văn miền Nam lập năm 1989), trong vùng nghiên cứu có các mặt cắt địa tầng từ Mesozoi đến Kainozoi Thuộc Mesozoi có các trầm tích Jura giữa hệ tầng La Ngà (J2 ln ), trầm tích phun trào Jura trên - Krêta dưới hệ tầng Long Bình

(J3- K1 lb) Thuộc Kainozoi có các trầm tích Neogen, Pleistocen, Holocen

Trang 19

a) Giới Mezozoi (MZ)

Các thành tạo Mesozoi trong phạm vi thành phố đó là sự có mặt của các hệ tầng La Ngà và hệ tầng Long Bình với các đặc điểm thành phần thạch học chủ yếu như sau :

- Trầm tích Jura giữa hệ tầng La Ngà (J2ln) : đây là một tập hợp các thành

tạo trầm tích lục nguyên có thành phần chủ yếu là lớp sét kết, bột kết màu xám xanh, xanh đen, phân lớp mỏng Trầm tích này không hiển lộ trên bề mặt Trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh các đá của hệ tầng La ngà chỉ gặp ở hai lỗ khoan

818 và 801 Lỗ khoan 818 ở ấp Hàm Luông, Long Bình, Thủ Đức: Đá của hệ tầng

La Ngà trong lỗ khoan này phân bố ở độ sâu từ 351 – 398 m, bề dày là 47 m

- Trầm tích phun trào Jura trên và Krêta dưới hệ tầng Long Bình( J3-K1 lb) :

các trầm tích hệ tầng Long Bình chỉ lộ ra ở phạm vi nhỏ hẹp thuộc khu đồi Long Bình ( quận Thủ Đức ) , thành phần gồm các đá phun trào andezit, dacid xen kẹp

tuf và bột kết màu xám xanh cùng các đá granit thuộc phức hệ Đèo Cả ( K đc )

Các trầm tích trên được phát hiện ở lỗ khoan 818 ấp Hàm Luông, xã Long Bình, huyện Thủ Đức, phân bố ở độ sâu từ 0 – 351 m Chiều dày chung của hệ tầng Long Bình là 352 – 370 m Các loại đá trên đã lộ ra ở Long Bình, Châu Thới ở phía Bắc thành phố Hồ Chí Minh đến các vùng đồi núi phía Đông thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu Chúng được thành tạo vào giai đoạn cuối Mesozoi muộn Các đá trên cấu thành móng cứng rắn của vùng, trên đó được lắp đầy các trầm tích Neogen , Đệ Tứ

Hình thái bề mặt đá móng được khắc họa khá rõ qua các tuyến mặt cắt Đáng chú ý là các tuyến hướng Tây Bắc – Đông Nam và các tuyến hướng Đông Bắc – Tây Nam Qua 3 tuyến dọc theo hướng cấu trúc chính Tây Bắc – Đông Nam có thể thấy rõ bề mặt địa hình móng đá cứng chắc của vùng có dạng một lòng chảo mà trung tâm của nó là khoảng từ phía nam kênh Tàu Hủ đến phía nam bến phà

Trang 20

Bình Khánh Vùng nâng ở phía Tây Bắc phù hợp với diện phân bố của đới địa hình nổi cao Củ Chi – Hóc Môn Trong đới này cũng còn tồn tại một dải lõm hẹp dọc theo diện phân bố của kênh An Hạ làm tách ra hai phần gò đồi Củ Chi và gò đồi thấp Hóc Môn

b) Giới Kainozoi (KZ):

+ Hệ Neogen –Thống Pliocen (N 2 ):

Trong các trầm tích Pliocen đã được xác định trong các báo cáo trước đây, ranh giới trên được xác định bởi các bề mặt phong hóa mạnh mẽ của các lớp bột phân lớp móng gắn kết chắc chứa nhiều kết vón sắt dạng hạt đậu và các ổ kết hạch cacbonat dạng sederit rắn chắc

Trong bản thân các trầm tích Pliocen có thể phân ra 2 phụ thống theo đặc điểm thạch học và ranh giới bề mặt phong hóa : phụ thống Pliocen dưới ( 1

2

N ) và phụ thống Pliocen trên ( 2

2

N )

• Về thành phần độ hạt : bởi vì chúng được thành tạo chủ yếu trong môi trường lục địa với biểu hiện cấu trúc nhịp từ thô đến mịn, nhiều nơi phần cuối của nhịp chỉ là cát mịn, cát bột nằm ngay trên lớp sạn sỏi, cát trung thô nên khả năng phân cách giữa các lớp yếu, có nơi gần như không phân cách

• Về các bề mặt phong hóa của các trầm tích Pliocen dưới và trên :

Ranh giới trên của các trầm tích 1

2

N và 2

2

N Tuy nhiên chiều dày và sự phân bố có thể khác nhau, cụ thể là :

+ Lớp sét, bột cát nằm trên cùng của hệ tầng 1

Trang 21

chìm dần từ tây bắc về đông nam Trên tuyến Đông Bắc – Tây Nam chúng cũng phân bố từ độ sâu 60 – 80 mét ở phía Đông Bắc, 180 – 200 mét ở phía Đông Nam thành phố Do hiện tượng biến đổi trầm tích tướng đá cũng như quá trình phong hóa bóc mòn của giai đoạn sau nên lớp này bị thay đổi bởi lớp cát mịn hay cát trung thô Điều đó cho thấy rõ sự liên quan trực tiếp giữa nước trong trầm tích N12 và nước trong trầm tích N22

+ Lớp sét, bột cát nằm trên tầng trên cùng của lớp N22 được phát hiện ở độ sâu từ 26m đến 41,5m Lớp này bị phong hoá laterit khá mạnh Mức độ ổn định của chúng cũng kém hơn do các quá trình bóc mòn của các giai đoạn phát triển hệ thống sông Sài Gòn cổ cũng như hiện đại Điều đó cho thấy nước trong trầm tích

+ Hệ Đệ Tứ - Thống Pleistocen ( Q1 ):

Các trầm tích Q1 lộ ra liên tục trên địa hình cao 4,5 mét trở lên , phần lộ ra lớn nhất là Củ Chi – Hóc Môn đến phía Đông thành phố Hồ Chí Minh , một phần lộ ra đáng kể ở Thủ Đức giáp với sông Đồng Nai Phần lớn diện tích phía nam thành phố Hồ Chí Minh về Nhà Bè, Bình Khánh, Cần Giờ chúng bị phủ bởi các trầm tích Holocen Trong phạm vi từ thành phố Hồ Chí Minh về phía Tây Bắc (vùng Hóc Môn, Củ Chi), các trầm tích chủ yếu có nguồn gốc sông, về phía Đông và phía Nam có yếu tố hỗn hợp sông biển Ở các vùng lộ có thể thấy mặt cắt gồm

3 lớp lớp từ dưới lên như sau :

Trang 22

• Lớp 1 : Cuội sỏi lẫn cát thạch anh và sét cao lanh màu vàng, đỏ Đôi chỗ chứa ít thấu kính sét cao lanh màu trắng chuyển lên là cát trung thô đến mịn lẫn ít sét, gắn kết khá chắc Chiều dày biến đổi từ 12 mét đến 20 mét

• Lớp 2 : Cát sạn sỏi bị laterit hóa khá mạnh mẽ, các kết vón laterit có kích thước từ 3–7cm với nhiều hình thù méo mó, góc cạnh với khung sắt cứng chắc Chiều dày lớp biến đổi từ 2 mét đến hơn 10 mét

• Lớp 3 : Cát mịn hay cát bột màu xám vàng, xám trắng mà đặc trưng là vùng Củ Chi , đôi chỗ là bột cát , có chiều dày từ 2 mét đến 5 mét Lớp 3 là lớp được Bùi Phú Mỹ (1983) gọi là tầng đất xám tuổi Pleistocen muộn

Về phía trên chúng bị phủ bất chỉnh hợp bởi các trầm tích Holocen

+ Hệ Đệ Tứ - Thống Holocen (Q 2 ):

Các trầm tích Q2 được phân ra thành các phân vị địa tầng với nhiều nguồn gốc khác nhau :

+ Hệ tầng Bình Chánh: tầng gồm nhiều nguồn gốc khác nhau Trầm tích nguồn gốc hỗn hợp sông biển ( am 1 2

2

Q bc), tại vết lộ S.1095 ấp Lan Nhì, xã Đông

Thạnh, huyện Hóc Môn thể hiện rõ hai lớp (lớp trên dày 2 m, lớp dưới dày 0.8 m)

+ Hệ tầng Cần Giờ : nguồn gốc sông biển , đầm lầy – biển và một vài thể nhỏ trầm tích biển Cần Giờ ( 2 3

Vùng thành phố Hồ Chí Minh đến Củ Chi, các trầm tích này phân bố rải rác theo kênh rạch , đáng kể là kênh An Hạ có diện phân bố rộng, nối liền thung lũng sông Sài Gòn và Lê Minh Xuân Chiều dày từ 2 – 5 mét

Trang 23

Vùng Lê Minh Xuân đến Bình Chánh, Nhà Bè đến Cần Giờ chiều dày tăng từ 25 mét đến 47 mét Thành phần mặt cắt từ dưới lên có 3 lớp :

• Lớp 1 : dưới là cát thô lẫn sạn sỏi thạch anh, chuyển dần lên là cát trung mịn lẫn ít bùn thực vật có tướng trầm tích sông, chiều dày 22 mét Lớp này chỉ tồn tại trong vùng thung lũng Lê Minh Xuân về đến Bình Chánh, Nhà Bè, phản ánh một giai đoạn sông vào giai đoạn đầu Holocen

• Lớp 2 : Bột sét màu xám xanh, vàng nâu xám, chứa ít kết vón dạng ống hay tròn nhỏ, dày 9 mét Các trầm tích lớp 1 và 2 thuộc hệ tầng Bình Chánh

• Lớp 3 : Sét bột, sét màu đen xám chứa nhiều vụn thực vật và mảnh vỏ động vật

Lớp 2 và 3 phân bố rộng hơn, tràn lên cả thung lũng sông Sài Gòn, An Hạ, là sản phẩm của quá trình biển tiến vào cuối Holocen, thuộc hệ tầng Cần Giờ ( 2 3

2

Q ) Vào giai đọan này Cần Giờ xuất hiện thêm các giồng cát ven biển diện tích nhỏ với chiều dày từ 3 – 10 mét

2.3/ ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO :

Theo báo cáo thành lập tờ bản đồ địa chất công trình và địa chất thủy văn tỉ lệ 1:50.000 khu vực thành phố Hồ Chí Minh (do Liên đoàn Địa chất công trình và Địa

chất thủy văn miền Nam lập năm 1989), đặc điểm kiến tạo của khu vực như sau :

2.3.1) Cấu trúc :

Khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói chung và quận Gò Vấp – Hóc Môn nói riêng thuộc phần đông bắc trũng Kainozoi Cửu Long, đồng thời cũng là phần tiếp giáp về phía nam của đới hoạt hóa Mesozoi Đà Lạt qua đứt gãy Bà Rịa – Biên Hòa Do vậy vùng này thể hiện rõ hai tầng cấu trúc chủ yếu :

a) Tầng cấu trúc Mesozoi :

Tham gia vào cấu trúc này là các thành hệ lục nguyên hệ tầng La Ngà và thành hệ trầm tích phun trào hệ tầng Long Bình Chúng được hình thành vào cuối

Trang 24

thời kỳ hoạt hoá Mesozoi và kết thúc vào pha xâm nhập phức hệ Đèo Cả – Krêta muộn Tầng cấu trúc Mesozoi đóng vai trò là móng cứng rắn của đồng bằng trong vùng nghiên cứu và là các yếu tố khống chế các trầm tích Kainozoi Bề mặt phân bố của tầng không bằng phẳng, chúng bị chia cắt mạnh mẽ bởi các đứt gãy hướng Tây Bắc – Đông Nam và hướng Đông Bắc – Tây Nam Các đứt gãy hướng Tây bắc – Đông Nam là yếu tố gây nên cấu trúc dạng bậc thang của bề mặt móng đã được nêu ở phần địa tầng Mezozoi, cũng theo hướng sụp lún của móng chiều dày các trầm tích Kainozoi tăng lên rõ rệt từ Đông Bắc (Thủ Đức) về Tây Nam (vùng Bình Chánh) Ngược lại theo hướng Tây Bắc về Đông Nam móng có dạng võng ở phần trung tâm và nâng lên dần về phía Củ Chi và Duyên Hải

b) Tầng cấu trúc Kainozoi :

Các thành tạo cấu trúc này phủ bất chỉnh hợp lên tầng cấu trúc Mesozoi trong đó đã phân ra hai phụ tầng cấu trúc là phụ tầng cấu trúc Neogen và phụ tầng cấu trúc Đệ Tứ

• Phụ tầng cấu trúc Neogen : Bao gồm các trầm tích Neogen với nguồn gốc châu thổ Các đất đá được gắn kết nhẹ và bị biến vị yếu với độ dốc từ 10O – 15O Chiều dày chung của phụ tầng từ 200 – 240 mét và có xu hướng tăng dần theo sự sụp lún của móng về phía Tây – Tây Nam

• Phụ ïtầng cấu trúc Đệ Tứ : Các đất đá của phụ tầng phủ bất chỉnh hợp lên phụ tầng Neogen với bề mặt phong hóa , bóc mòn rõ rệt Các đất đá còn ở dạng bở rời và thể hiện rõ hai phần có nguồn gốc khác biệt Phần dưới là các thành tạo lục địa của Pleistocen, phía trên là cách thành tạo đa nguồn gốc Holocen Giữa hai phần này cũng có quan hệ gián đoạn, phong hóa, bóc mòn rõ rệt

Các gián đoạn giữa các tầng và phụ tầng cấu trúc là yếu tố quan trọng để phân chia chính xác địa tầng và liên kết chúng Các lớp phong hóa thể hiện khá rõ và có thể coi như các “ tầng chuẩn “ trong liên kết địa tầng khu vực

Trang 25

2.3.2) Đặc điểm Địa mạo – Tân kiến tạo :

Theo Báo cáo thành lập tờ bản đồ Địa chất công trình – Địa chất thủy văn tỉ lệ 1:50.000 khu vực thành phố Hồ Chí Mnh, trên cơ sở phân tích hình thái, nguồn gốc đã phân chia 3 kiểu kiến trúc hình thái bậc III và 12 kiểu kiến trúc hình thái bậc IV trong phạm vi nghiên cứu

Các kiểu kiến trúc hình thái bậc III gồm :

+ Đồng bằng xâm thực – tích tụ rìa võng Bến cát – Thủ Đức

+ Đồng bằng tích tụ – xâm thực rìa võng Củ Chi – Hóc Môn

+ Đồng bằng tích tụ rìa võng Nhà Bè – Duyên Hải

Trong các vùng đồng bằng xâm thực – tích tụ và tích tụ – xâm thực đã phân chia các kiểu thềm bậc III với độ cao từ 20 – 30 m Chúng phân bố ở khu vực Long Bình bắc thủ Đức và đông bắc huyện Củ Chi Bề mặt địa hình tạo nên dải đồi lượn sóng, đỉnh rộng, sườn dốc thoải Trên bề mặt phát triển các quá trình rửa trôi, xói mòn

Thềm bậc II có độ cao từ 5 – 15 mét phân bố ở Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn Sài Gòn Chúng chia thành 2 loại nguồn gốc : xâm thực và tích tụ – xâm thực Các bậc thềm bậc II thường bằng phẳng và nghiêng về phía tây nam

Các tác giả báo cáo cũng tính được tốc độ nâng, hạ tân kiến tạo cho các vùng nâng yếu hay điều hoà là  0,19 mm/năm và vùng hạ yếu là  1,1 mm/năm

Trong các vùng nâng việc tìm kiếm thăm dò nước nhạt có nhiều thuận lợi Ở các vùng hạ việc tìm kiếm thăm dò sẽ gặp nhiều khó khăn song lại là yêu cầu cần phải giải quyết cấp bách Việc đầu tư cho tìm kiếm thăm dò tại các vùng này cần tập trung hơn

Vào các giai đoạn hoạt động tân kiến tạo trong Neogen – Đệ tứ, các đứt gãy cổ phần lớn đều hoạt động trở lại Phần lớn kết quả hoạt động này dẫn tới sự hình thành các kiểu kiến trúc – hình thái đã phân chia Đồng thời các đứt gãy đó cũng

Trang 26

giữ vai trò là ranh giới giữa các kiểu kiến trúc hình thái nói trên Có thể thấy rõ sự hoạt động trở lại của đứt gãy sông Đồng Nai được thể hiện ở ranh giới các thềm xâm thực ở phía bắc và các thềm xâm thực tích tụ ở phía nam đứt gãy Sự hoạt động trở lại của đứt gãy sông Sài Gòn đã góp phần tạo nên ranh giới các bậc thềm

25 – 35 mét ở phía bắc và bậc thềm 5 – 15 mét ở phiá nam đứt gãy này

Sự hoạt động lại của các đứt gãy cổ và các đứt gãy kéo theo của chúng còn có thể cho chúng ta hy vọng vào việc phát hiện các nguồn nước nóng, nước khoáng trong địa bàn thành phố, tương tự như những nguồn đã phát hiện ở những vùng lân cận như Phước Lai, Suối Nghệ, Gia Tân thuộc tỉnh Đồng Nai

2.3.3) Sơ lược những nét chủ yếu về lịch sử phát triển địa chất vùng :

a) Thời kỳ Miocen :

Sau khi đã bị lôi kéo vào pha cuối cùng của giai đoạn hoạt hóa Mesozoi, vùng đã bị nâng lên lâu dài, chịu quá trình bóc mòn và phá hủy của các quá trình tân kiến tạo

Trong giai đọan đầu thời kỳ tân kiến tạo, trong khi vùng trung tâm đồng bằng ở giữa khu vực sông Tiền và sông Hậu đã bị sụp lún và lấp đầy bởi các trầm tích Paleogen, Neogen dưới thì khu vực thành phố vẫn trong chế độ bóc mòn, hoạt hóa

Cuối thời kỳ này các sông lớn như Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ được hình thành dọc theo các đứt gãy đã hoạt động trở lại

b) Thời kỳ Miocen – Pliocen :

Vào cuối Miocen vùng thành phố biï lún chìm và ở một số các thung lũng sông nói trên đã được lấp đầy bởi một khối lượng trầm tích nhỏ Miocen

Sau đó vùng được nâng và chịu quá trình phong hóa trong thời gian ngắn ngủi để bước vào giai đoạn hạ lún liên tục trong Pliocen Trong cả giai đoạn này các trầm tích thường là cát thô, sạn sỏi, cuội được lấp đầy ở phần dưới chứng tỏ các

Trang 27

trầm tích được lắng đọng trong chế độ lục địa Phần trên mới xuất hiện các trầm tích tướng châu thổ Trong suốt thời kỳ này đã có tới 4 nhịp trầm tích thể hiện sự biến đổi của bề mặt địa hình từ giai đoạn lục điạ với trầm tích sông là chủ yếu đến giai đoạn trầm tích trong điều kiện châu thổ có sự tham gia của biển Môi trường nước để lắng đọng các trầm tích ban đầu là nước sông , chuyển dần sang nước lợ Quá trình này đã hình thành các địa tầng 1

c) Thời kỳ Đệ Tứ :

Vào cuối Pliocen muộn đầu Pleistocen, vùng được nâng chịu quá trình phong hóa, bóc mòn tạo nên vỏ phong hóa các trầm tích Pliocen Tiếp đó vào giai đọan Pleistocen vùng lại bị sụp lún Cùng với các pha biển tiến Pleistocen, đạt cực đại vào Pleistocen muộn Thời kỳ này vùng thành phố được trầm tích bởi các vật liệu lục địa với tướng sông là chủ yếu, môi trường nước chủ yếu là nước nhạt Vào cuối Pleistocen khi biển tiến đạt tới cực đại thì dọc các thung lũng lớn như Lê Minh Xuân, hay vùng phía Đông Nam thành phố như Hiệp Phước, Cần Giờ, Thái Mỹ mới

bị ảnh hưởng của nước biển Giai đoạn này đã hình thành các trầm tích Pleistocen, các hoạt động tân kiến tạo kết hợp với các quá trình ngoại sinh đã tạo nên các bậc thềm bậc II , III , IV với các độ cao 5-15 mét ; 25-35 mét ; 40-47 mét

d) Thời kỳ Holocen :

Giai đoạn này vùng bước vào giai đoạn biển tiến được khởi đầu từ cuối Holocen sớm, đạt cực đại vào Holocen giữa và muộn Với độ cao mực nước biển 4 – 5 mét Các trầm tích có nguồn gốc biển được phát triển rộng rãi trong phạm vi thành phố , đặc biệt biển lấn sâu vào vùng thung lũng sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn gây nên hiện tượng nhiễm mặn một số vùng rất xa biển Quá trình này tạo nên các trầm tích biển, đầm lầy biển của hệ tầng Bình Chánh, Cần Giờ Các hoạt động tân

Trang 28

kiến tạo yếu, kết hợp với các quá trình ngoại sinh, tạo nên các địa hình bậc thềm I cao 4 – 5 mét, các bãi bồi cao, đầm lầy hiện đại

2.4/ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN:

Theo kết quả điều tra địa chất thủy văn của Liên đoàn địa chất thủy văn và địa chất công trình Miền Nam, trong trầm tích bở rời Kainozoi quận Gò Vấp – Hóc Môn có 4 phân vị chứa nước chủ yếu : Nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen, nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen, nước lỗ hổng trong trầm tích sản phẩm Pliocen muộn và nước lỗ hổng trong các trầm tích Pliocen sớm Sau đây là sự mô tả chi tiết các phân vị chứa nước

2.4.1) Tầng chứa nước Holocen ( qh ) :

Trầm tích Holocen có nguồn gốc rất đa dạng: Trầm tích sông, hỗn hợp sông biển, biển Chúng phân bố chủ yếu trên các địa hình tích tụ đồng bằng và bãi bồi phía nam Thủ Đức, phần lớn diện tích huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Quận 7, Quận 8, Quận 6, dọc thung lũng sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, chúng thường phân bố trên vùng có độ cao địa hình thấp, dọc theo các sông Bến Cát, sông Trường Đay

Thành phần đất đá chứa nước chủ yếu là bột, bột sét, cát mịn chứa nhiều sản phẩm mùn thực vật Chiều dày tầng chứa nước thay đổi từ 1-2m đến 10-15m, ít nơi đến 20-30m

Các kết quả điều tra cho thấy: tầng chứa nước Holocen có khả năng chứa nước rất kém, rất nghèo nước, lưu lượng từ 0.12 l/s đến 0.33 l/s Mực nước tĩnh thường nông, mùa mưa từ 0.2 – 0.3m nhưng về mùa khô mực nước hạ xuống đến 4-

5 m cách mặt đất Tại một số vùng thuộc bãi bồi cao, trầm tích Holocen có khả năng chứa nước tốt hơn Nước sử dụng tốt cho các hộ gia đình nhưng mùa khô giếng tầng này bị cạn kiệt Tầng chứa nước có quan hệ thủy lực với nước sông, bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thủy triều và tiếp thu nguồn cung cấp nước mưa

Trang 29

Điều kiện thủy hóa của nước trong trầm tích Holocen rất phức tạp Phần lớn nước của tầng này thường đục và có màu hơi vàng, trên mặt nước có váng rỉ sắt, mùi tanh, vị hơi chua Tổng độ khoáng hóa thay đổi từ 1.25 –12.43 g/l, thường gặp từ 4.21 – 8.90 g/l Nước thường có loại hình Cl-Na chiếm ưu thế Đối với một số khu vực không bị nhiễm mặn tổng độ khoáng hóa thay đổi từ 0.13-0.31g/l và thường gặp nhỏ hơn 0.2 g/l, loại hình hóa học nước HCO3-Cl hoặc Cl-HCO3

Tóm lại, nước trong trầm tích Holocen tuy phân bố trên diện rộng nhưng khả năng chứa nước kém, chiều dày nhỏ và rất dễ bị nhiễm bẫn nên không thể khai thác sử dụng làm nguồn cung cấp nước tập trung cho sinh hoạt và sản xuất

2.4.2) Tầng chứa nước Pleistocen (qp):

Tầng có diện phân bố rộng trên toàn vùng, lộ ra trên mặt ở phần lớn diện tích của quận Gò Vấp, phần nhỏ còn lại bị các trầm tích Holocen phủ trực tiếp lên Tầng chứa nước được cấu tạo thành hai phần, phần trên là lớp cách nước yếu, phần dưới là lớp chứa nước

Thành phần đất đá chứa nước là cát hạt trung thô lẫn sạn và thường bên trên các lớp chứa nước hạt thô đều có lớp sét, sét bột ít thấm nước Trầm tích Pleistocen có thể phân ra hai lớp : một lớp cách nước, một lớp chứa nước

Phần trên là lớp cách nước yếu phân bố từ 0m (vùng lộ) tới 13,5m (GV01), chiều dày từ 4,4m (GV04) đến 13,5m (GV01) (xem bảng 2.1) Thành phần thạch học của lớp này là sét bột, bột đến bột cát, cát bột lẫn cát mịn, màu xám xanh, xám vàng, nâu đỏ, nhiều nơi bị phong hóa có nhiều kết vón laterit Tùy theo từng vị trí mà các thành phần này thể hiện ở mức độ chiếm ưu thế khác nhau

Trang 30

• Phần dưới là đất đá chứa nước, gồm cát hạt mịn đến trung và thô, nhiều nơi lẫn sạn sỏi, màu xám tro, xám xanh, xám vàng trắng xen lẫn nhau Chiều dày lớp chứa nước biến đổi từ 19,5m (GV01) đến 34,5m (GV14) tại Gò Vấp, ở Hóc Môn chiều dày tầng chứa có thể lên đến 47,5 m (Q004030) (xem bảng 2.2) Trong tầng chứa nước có xen kẹp các lớp sét, bột, cát bột mỏng,

Bảng 2.2: Chiều dày lớp chứa nước tầng Pleistocen

Bảng 2.1: Chiều dày lớp cách nước yếu tầng Pleistocen

Trang 31

LK X Y Lớp chứa nước (m)

(Nguồn Báo cáo Quy hoạch và sử dụng nước ngầm Tp.HCM – LĐ8)

Chiều sâu mực nước tĩnh từ 0,81 - 1,80m ở ven sông và kênh rạch, 2 - 5m ở vùng trung tâm, 5 - 7m đến 9 - 10m ở trung tâm Gò Vấp Lưu lượng tại các giếng khai thác trong tầng chứa nước Pleistocen thay đổi trong khoảng khá lớn, từ 0,2 - 0,4l/sm đến 2,4 - 2,7l/sm

Kết quả đo vẽ địa chất thủy văn cho thấy các thành tạo 2 3

1

Q là một tầng cách nước tương đối không đủ đóng vai trò một tầng cách nước không hoàn chỉnh (liên tục ) Sự xuất lộ trên bề mặt của các trầm tích 2 3

1

Q quan sát được tại Gò Vấp Trong phần diện tích còn lại chúng nằm bên dưới lớp trầm tích Holocen Bề mặt địa hình có cấu tạo từ trầm tích 1

1

Q là bậc thềm cổ có độ dốc không lớn nhưng bị phân cắt mạnh mẽ tạo

Trang 32

thành nhiều rãnh, hẻm trên đó tích tụ vật liệu trẻ Đó là lý do cho thấy việc suy luận bề dày của trầm tích 1

Q có thể cho là hợp lý

Chiều dày của tầng rất thay đổi từ trên dưới 10 mét ở phía bắc Củ Chi, đến

30 mét ở Hóc Môn hay lớn hơn ở phía tây Lê Minh Xuân (Bình Chánh ) Trong khi đó chiều dày thực tế của tầng chứa nước trung bình vào khoảng 50-70% chiều dày chung Số còn lại là mái, các lớp kẹp, thấu kính sét

Căn cứ vào mối quan hệ địa tầng, cấu trúc địa chất và hướng vận động có thể dự đoán nguồn cung cấp cho tầng này từ các nguồn xung quanh, chủ yếu khu vực bắc và đông bắc thành phố Hồ Chí Minh Nguồn cung cấp tiếp theo là tầng chứa nước bên dưới, ngoài ra còn có lượng mưa rơi trực tiếp trên các diện lộ trầm tích Pleistocen ở Củ Chi, Hóc Môn Tại đây lượng mưa rơi trực tiếp được tiếp nhận thông qua các lớp hạt nhỏ và mịn của các trầm tích nói trên mà bổ sung cho tầng

qp Ngoài ra còn có nguồn cung cấp từ bên trên (nước tầng qh) theo cửa sổ địa chất thủy văn đi vào Trầm tích Pleistocen có mức độ giàu nước từ trung bình đến giàu Trên bản đồ có thể phân tích ra các vùng giàu nước khác nhau như sau:

- Vùng giàu nước: phân bố ở Hóc Môn, Bình Chánh, tỉ lưu lượng đạt từ 1,09 đến 2,885 l/s.m Lưu lượng khai thác đạt 27-120 m3/ h Nhiều nhà máy khai thác quy mô khá lớn (4000-5000 m3/ngày)

- Vùng giàu nước trung bình: phân bố phần phía tây thành phố như : Bình Trị Đông, Phú Lâm Tỉ lưu lượng các lỗ khoan đạt từ 0,245 đến 0,680 l/s.m Công suất giếng khai thác đạt từ 12 – 59 m3/ h

Chất lượng nước trong trầm tích Pleistocen cũng thay đổi theo vùng rõ rệt Vùng giàu nước và vùng giàu nước trung bình kể trên đều có chất lượng nước khá

Trang 33

thác phục vụ nhu cầu ăn uống và sinh hoạt, đôi khi có sản xuất Độ tổng khoáng hóa từ 0,04 – 0,27g/l, với độ pH từ thấp đến rất thấp Kiểu nước clorua bicarbonat natri hoặc clorua natri kali

Động thái nước dưới đất trong trầm tích Pleistocen thay đổi theo mùa rõ rệt và chịu ảnh hưởng của triều

Quan hệ giữa tầng chứa nước qp và tầng chứa nước n22 : ngăn cách giữa 2 tầng chứa nước trên là một lớp bột sét có tuổi n22 màu vàng loang lổ, đôi chỗ bị phong hóa mạnh dạng kết vón laterit rắn chắc tạo thành lớp liên tục Chiều dày biến đổi từ 2.0 mét đến 29.5 mét, chiều dày trung bình là 13.48 mét Khả năng chứa nước kém và là lớp cách nước tương đối

Theo tài liệu quan trắc mực nước quốc gia và hút nước chùm thí nghiệm trên TP.HCM, tầng chứa nước Pleistocen có quan hệ thủy lực với tầng chứa nước dưới nó Tuy nhiên, theo tài liệu hút nước chùm và hút nước khai thác thử tại quận Gò Vấp, tầng chứa nước Pleistocen không quan hệ thủy lực với tầng chứa nước Pliocen trên

Nước mưa cung cấp cho tầng chứa nước Pleistocen trên diện phân bố và xuất lộ rộng lớn ở phía bắc, trung tâm thành phố và khu vực Gò Vấp Nước thoát về sông Sài Gòn, sông Bến Cát

Do đặc điểm của tầng chứa nước Pleistocen : diện xuất lộ trên bề mặt tương đối rộng, tiếp thu nguồn bổ cập từ nước mưa, nước sông vừa là đối tượng khai thác, sử dụng rất rộng rãi cho nông nghiệp, công nghiệp và cả dân sinh nên tầng chứa nước này rất dễ bị nhiễm bẩn, với hàm lượng NO3- hơi cao (6-15 mg/l), có NO2- và thường chứa lượng vi sinh cao hơn tiêu chuẩn cho phép khi khai thác nhiều có khả năng gây ra nhiều tai biến đối với môi trường nước dưới đất

Trang 34

Kết luận: Tầng chứa nước Pleistocen là tầng chứa nước có diện phân bố rộng, chiều dày lớp chứa nước lớn, khả năng chứa nước từ giàu đến trung bình, nằm nông, chất lượng đảm bảo cho việc cung cấp nước, điều kiện khai thác dễ dàng Do đó, tầng này đang được khai thác rộng rãi phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt, phát triển nông nghiệp, cũng như công nghiệp Chất lượng nước đã có dấu hiệu nhiễm bẩn từ vừa đếán nặng

2.4.3) Tầng chứa nước lỗ rỗng trong các trầm tích bở rời Pliocen trên (n22):

Các trầm tích Pliocen trên phân bố trên toàn vùng nghiên cứu, không lộ ra trên mặt, bị tầng chứa nước Pleistocen phủ trực tiếp lên và nằm trên tầng Pliocen dưới , chìm ở độ sâu 50-60 mét (Củ Chi, Hóc Môn) Chiều dày trầm tích cũng thay đổi theo chiều hướng tương tự (phía bắc chỉ dày 40-60 mét, càng về phía nam chiều dày tăng dần đến hơn 100 mét)

Phần trên có chiều dày lớp cách nước yếu từ 9,5m (GV09) đến 27,7m (GV11), trung bình 17,5m (xem bảng 2.3) Lớp này là lớp sét, đôi nơi là sét bột ngăn cách giữa tầng chứa nước Pliocen điệp Bà Miêu với tầng Pleistocen

Bảng 2.3 : Chiều dày tầng cách nước yếu tầng Pliocen trên (n22)

Trang 35

LK X Y Từ Lớp cách nước (m) đến Chiều dày

(Nguồn Báo cáo Tiềm năng khai thác và ô nhiễm nước ngầm quận Gò Vấp)

Phần dưới là đất đá chứa nước gồm cát hạt mịn đến thô, nhiều nơi lẫn sạn sỏi, cuội màu xám tro, xám xanh, xám vàng, tạo thành tầng chứa nước liên tục trên vùng nghiên cứu Thành phần cát hạt trung đến thô chứa cuội sỏi Chiều dày tầng chứa nước thay đổi từ 42m (GV15) đến 81,5m (GV01)(xem bảng 2.4) Trong tầng chứa nước có xen kẹp các lớp sét, bột, cát bột mỏng

Bảng 2.4: Chiều dày lớp chứa nước tầng Pliocen trên (n22)

Trang 36

LK X Y Từ Lớp chứa nước (m) đến Chiều dày

(Nguồn Báo cáo Quy hoạch và sử dụng nước ngầm Tp.HCM – LĐ8)

Đây là tầng chứa nước rất giàu nước và là đối tượng tìm kiếm thăm dò, khai thác quy mô lớn cho cả quận và thành phố

Khả năng chứa nước của tầng chứa nước này là giàu nước đến rất giàu Kết quả bơm khai thác nước tại các nhà máy nước lớn như Hóc Môn, Gò Vấp, Bình Trị Đông, Vĩnh Lộc A, Bình Hưng cho lưu lượng từ 8 l/s đến 35 l/s Hệ số dẫn nước (Km) từ 500 m2/ngày đến 1358 m2/ngày, tại Gò Vấp Km = 915 m2/ngày Hệ số thấm từ 5m/ngày đến 15m/ngày

Đặc điểm thủy hóa nước dưới đất trong tầng chứa nước trầm tích Pliocen trên cũng rất phức tạp Đường biên mặn 1g/l có đỉnh lên giáp rạch Bến Cát (phía Gò Vấp) và vượt quá Hiệp Bình Phước (phía Thủ Đức) Nước trong tầng Pliocen điệp Bà Miêu thuộc loại nhạt đến siêu nhạt, với độ tổng khoáng hoá từ 50 – 350mg/l (toàn vùng) và từ 25 – 120mg/l đối với khu vực quận Loại hình hoá học nước chủ yếu là HCO3, HCO3 –Cl, đôi chỗ Cl-HCO3

Phía Bắc và trung tâm, nước có kiểu bicarbonat clorua-natri kali

61.6)

26 3 37 650

,

Ca K Na

Cl HCO M

+Phía đông, đông nam nước có kiểu clorua-natri magie calci

74 6 )

(

3 11 87 270

,

Ca Mg K Na

HCO Cl

M

+

Trang 37

Khu vực Gò Vấp :

14 15 15 23 31

39 3 54 035

,

Fe K Mg Ca Na

Cl HCO

Sắt Canxi

11 15 17 26 30

39 54 037

,

Fe Mg K Ca Na

Cl HCO

Sắt Canxi

15 16 20 20 27

33 3 66 027

,

Fe K Mg Ca Na

Cl HCO

Sắt Canxi

11 13 15 21 21

18 4 21 3 60 050

,

NH Na Fe Mg Ca

Cl SO HCO

Sắt Magiê

11 18 20 21 28

35 3 64 040

,

K Fe Na Mg Ca

Cl HCO

Sắt Magiê

14 19 20 23 23

35 3 64 035

,

K Fe Na Mg Ca

Cl HCO

Canxi Magiê

• Các kết quả phân tích cho thấy: nước trong tầng Pliocen điệp Bà Miêu đảm bảo chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt Tuy nhiên nước hàm lượng sắt tương

đối cao, từ 5-15 mg/l, có nơi lớn hơn 50 mg/l

Khu vực Gò Vấp :

14 20 20 29

401 3 53 045

,

Na Mg Ca Fe

Cl HCO

Sắt Canxi

15 19 25 26

44 3 50 050

,

Na Mg Ca Fe

Cl HCO

Sắt Canxi

13 19 25 27

40 3 53 050

,

Na Mg Ca Fe

Cl HCO

Sắt Canxi

12 4 12 12 27 30

37 3 54 060

,

Na NH Fe Mg Ca

Cl HCO

Sắt Magiê

10 12 13 27 30

29 3 67 120

,

NH Fe Na Mg Ca

Cl HCO

Sắt Magiê

15 19 48

35 3 59 055

,

Fe Mg Ca

Cl HCO

Canxi Magiê

16 18 21 34

45 3 48 110

,

Fe Na Mg Ca

Cl HCO

Canxi Magiê

12 13 27 30

4 25 27 3 48 096

,

Fe Na Mg Ca

SO Cl HCO

Sunfat Canxi

Trang 38

GV15 6 10

12 13 27 30

67 3 65 096

,

Fe Na Mg Ca

Cl HCO

Canxi

11 15 24 36

4 11 27 3 61 120

,

Na Fe Mg Ca

SO Cl HCO

41

39530306

Ca Mg K

Na

Cl HC

Natri

1212

68

153761

Mg Ca Na

NO Cl

1222

59

34600306

Mg Ca

Na

Cl HC

Natri

1030

50

29680307

Mg Na

Ca

Cl HC

Canxi Natri

1722

56

243641

Mg Ca

Na

NO Cl

212844

32640305

K Ca Na

Cl HC

44209

Na

HC SO

Cl

163053

460346

04

K Ca Na

HC Cl

44209

Na

HC SO

Cl

Tầng chứa nước trong trầm tích Pliocen trên là tầng chứa nước áp lực: độ cao áp lực đạt từ 50-60 mét đến 100 mét tính từ mái chứa nước Mực nước tĩnh 0.1 –27.4 mét, tầng chứa nước không có quan hệ với nước trên mặt và với các tầng chứa nước khác lân cận

Động thái mực nước cũng như chất lượng nước trong tầng chứa nước trầm tích Pliocen trên tương đối ổn định Mực nước dao động trong năm 1-2 mét Mực nước cao nhất và thấp nhất không trùng hợp với đỉnh cao nhất và thấp nhất của các

Trang 39

yếu tố khí tượng thủy văn vùng Tuy nhiên, mực nước của tầng chứa cũng phụ thuộc vào chu kỳ thủy triều, nhưng không lớn lắm

Kết luận: tầng chứa nước lỗ rỗng trong trầm tích Pliocen trên rất phong phú, có khả năng đáp ứng nhu cầu nhu cầu cung cấp nước rất lớn, đặc biệt là vùng nghiên cứu (Hóc Môn, Bình Chánh) có thể đạt hàng trăm nghìn m3/ngày cho mỗi vùng Một khả năng hiện thực là: khai thác đồng thời hai tầng chứa nước trong cùng một giếng khai thác thì tăng lưu lượng lên rất lớn và hiệu quả kinh tế cao hơn Tuy nhiên cũng cần đầu tư nghiên cứu thêm, nhất là cần phải mở rông phạm vi nghiên cứu tầng chứa nước này

2.4.4) Tầng chứa nước lỗ rỗng trong các trầm tích bở rời Pliocen dưới (n12):

Sự phân bố trầm tích này có giới hạn và chiều sâu phân bố lớn nên công trình nghiên cứu sâu không có nhiều

Các trầm tích Pliocen phân bố khá rộng trên vùng nghiên cứu Tầng chứa nước Pliocen dưới bị tầng chứa nước Pliocen trên phủ trực tiếp lên và nằm trên tầng chứa nước Miocen Chiều sâu phân bố tăng dần theo hướng : phía bắc thường gặp ở độ sâu 0-130 mét, còn ở phía tây và tây nam phải đến độ sâu 190-200 mét mới gặp được trầm tích này

• Phần trên có chiều sâu mái lớp cách nước yếu từ 100m (GV15) đến 138,2m (GV10) Chiều dày lớp này thay đổi từ 5,4m (GV16) đến 27,9m (GV15) (xem bảng 2.6) Thành phần thạch học là sét bột đến bột cát, tạo thành lớp ngăn cách giữa hai tầng chứa nước Pliocen trên và dưới, lớp sét, bột sét chứa cacbonat dày 7-15 mét, duy trì tương đối liên tục, tính thấm nước kém, có khả năng cách nước cao do đó ngăn cách tốt với các tầng chứa nước trầm tích Pliocen trên và tạo áp lực cao

Trang 40

Bảng 2.5: Chiều dày lớp cách nước yếu tầng Pliocen dưới n12

(Nguồn Báo cáo Tiềm năng khai thác và ô nhiễm nước ngầm quận Gò Vấp)

• Phần dưới là đất đá chứa nước gồm cát hạt mịn đến trung, nhiều nơi lẫn sạn sỏi, cuội màu xám tro, xám xanh, xám vàng, tạo thành tầng chứa nước liên tục trong vùng nghiên cứu Chiều dày từ 50m đến 94,5m Trong tầng chứa nước có xen kẹp các lớp sét, bột, cát bột mỏng

Tầng chứa nước trong trầm tích Pliocen dưới có mức độ giàu nước từ giàu đến trung bình Trên toàn vùng nghiên cứu có thể phân ra các khu vực có mức độ giàu nước khác nhau như sau :

Khu vực giàu nước trung bình được khoanh định ra 2 khu: gồm Hóc Môn, Bình Chánh Tỷ lưu lượng các giếng khoan đạt từ 0.358–0.797 l/s.m Lưu lượng

Ngày đăng: 13/09/2019, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w