Trong lịch sử triết học Mác - Lênin, khái niệm vật chất được hiểu là tất cả những gì tồn tại một cách khách quan, tức là sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý thức con người hay quan n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT
CHẤT
GVHD: PGS TS Đoàn Đức Hiếu SVTH:
1 Phạm Minh Hoàng 21161451
2 Phạm Công Danh 21161434
3 Nguyễn Thái Dương 21161439
4 Trương Minh 21161465
5 Nguyễn Thiện Đạt 21161442
Mã lớp học: LLCT130105_21_1_01CLC
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 12 năm 2021
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Điểm : ………
KÝ TÊN
Trang 3MỤC LỤC
Contents
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
1.1 Quan niệm của triết học Mác-Lênin về vật chất 4
1.1.1 Định nghĩa vật chất của C.Mác và Ph.Ănghen 4
1.1.2 Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm triết học Mác-Lenin về vật chất 7
1.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất 8
1.2.1 Vận động 8
1.2.1.1 Vận động là gì? 8
1.2.1.2 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất 9
1.2.1.3 Các hình thức vận động cơ bản của vật chất 10
1.2.1.4 Vận động và đứng im 11
1.2.2 Không gian và thời gian 12
1.2.2.1 Định nghĩa 12
1.2.2.2 Những quan điểm về không gian và thời gian 13
1.2.2.3 Những tính chất của không gian và thời gian 13
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4L I M Đ U Ơ Ơ Â
Hiện nay, thế giới đang trong giai đoạn phát triển của công nghệ 4.0, đời sống của con người ngày càng được nâng cao hơn Cùng với đó là các vật liệu ngày càng đổi mới để đáp ứng nhu cầu của mọi người Vật chất là mục tiêu mà con người đã và đang theo đuổi, không ngừng thay đổi để đảm bảo chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn
Trong lịch sử triết học Mác - Lênin, khái niệm vật chất được hiểu là tất cả những gì tồn tại một cách khách quan, tức là sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý thức con người hay quan niệm của con người Vì vậy, vật chất là vô hạn
và không giới hạn, tồn tại ở vô số dạng khác nhau, dù con người biết hay chưa biết Đây là những chất tự nhiên hoặc vật chất tồn tại trong đời sống xã hội Có những vật chất cực kỳ lớn, chẳng hạn như thiên hà, hoặc vật chất vô cùng nhỏ, chẳng hạn như các hạt cơ bản Chúng có thể là những tồn tại mà con người có thể nhận thức được một cách trực tiếp, nhưng cũng có thể là những tồn tại không thể nhận thức một cách trực tiếp, nhưng là những tồn tại khách quan Là tồn tại khách quan thì không tồn tại cảm tính, nghĩa là con người không thể dùng các giác quan để tri giác, nhưng vật chất với tư cách là biểu hiện của một tồn tại nhất định về một phương diện nào đó có tồn tại cảm tính, chỉ khi đó con người mới nhận thức được Và ứng dụng vật chất vào đời sống con người cũng từ đó
mà ra
Vậy bây giờ chúng ta làm quen với "Định nghĩa về vật chất, phương thức
và hình thức tồn tại của vật chất của V.I Lênin"
PHẦN NỘI DUNG
1.1 Quan niệm của triết học Mác-Lênin về vật chất
Trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa bất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc, C.Mác và Ph.Ăngghen đưa ra những tư tưởng rất quan trọng về vật chất
1.1.1 Đ nh nghĩa v t ch t c a C.Mác và Ph.Ănghen ị ậ ấ ủ
Theo Ph.Ăngghen, để có một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải
phân biệt rõ ràng giữa vật chất với tính cách là một phạm trù của triết học với bản thân các sự vật hiện tượng cụ thể của thế giới vật chất: “Vật chất, với tính cách là vât chất, là một sáng tạo thuần túy của tư duy và là một sự trừu tượng thuần túy, không có sự tồn tại cảm tính”
Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng, bản thân phạm trù vật chất không phải là sự sáng tạo tùy tiện của tư duy con người, trái lại, là kết quả của con đường trừu
Trang 5tượng hóa của tư duy con người về các sự vật, hiện tượng có thể nhận biết được bằng các giác quan Các sự vật hiện tượng của thế giới, dù rất phong phú, muôn
vẻ nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung, thống nhất đó là tính vật chất - tính
tồn tại độc lập không lệ thuộc vào ý thức.
Đặc biệt, Ph.Ăngghen khẳng định, xét về thực chất, nội hàm của phạm trù vật chất chẳng qua chỉ là sự tóm tắt trong chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung của tính phong phú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biết được bằng các giác quan của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất “Thực thể, vật chất không phải cái gì khác hơn là tổng số những vật thể từ đó người ta rút ra được khái niệm ấy bằng con đường trừu tượng hóa; vận động với tính cách là vận động không phải là cái gì khác hơn là tổng số những hình thức vận động có thể cảm biết được bằng các giác quan; những từ như “vật chất” và “vận động” chỉ là những sự tóm tắt trong đó chúng ta tập hợp chúng theo các thuộc tính chung của chúng, rất nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau có thể cảm biết được bằng các giác quan Vì thế chỉ có thể nhận thức được vật chất và vận động bằng cách nghiên cứu những vật thể riêng biệt và những hình thức riêng lẻ của vận động,
và khi chúng ta nhận thức được những cái ấy thì chúng ta cũng nhận thức được cả vật chất và vận động với tính cách vật chất và vận động.
C.Mác không đưa ra một định nghĩa về vật chất, nhưng đã vận dụng đúng
đắn quan điểm duy vật biện chứng về vật chất trong phân tích những vấn đề chính trị - xã hội, đặc biệt là trong phân tích quá trình sản xuất vật chất cả xã hội
và mở rộng quan điểm duy vật biện chứng về vật chất để phân tích tồn tại xã hội
và mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội C.Marx và Ph.Ăngghen đã khẳng định quan điểm duy vật biện chứng của mình trong nghiên cứu lịch sử như sau: “Những tiên đề xuất phát của tôi, đó là những cá nhân hiện thực, hoạt động của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do chính hoạt động của họ tạo ra…” Như vậy, vật chất trong xã hội chính là tồn tại của chính bản thân con người cùng với những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người, hoạt động vật chất và những quan hệ vật chất giữa người với người
Vladimir Ilyich Lenin đã tiến hành đánh giá toàn diện những thành tựu
mới nhất của khoa học, đấu tranh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa duy tâm, gây nhầm lẫn hoặc xuyên tạc những thành tựu mới nhất trong nhận thức cụ thể của con người về vấn đề này, cố gắng bác bỏ chủ nghĩa duy vật, bảo vệ và phát triển phép biện chứng duy vật
Để đưa ra một ý tưởng thực sự khoa học về vấn đề này, V I Lenin đặc biệt quan tâm đến việc tìm ra cách xác định phạm trù này Trên cơ sở tư tưởng của C.Mác
và Ph.Ăngghen, V I Lenin đã xác định vật chất là một phạm trù triết học và
Trang 6bằng cách đối chiếu nó với phạm trù ý thức theo nghĩa của nhận thức luận cơ
bản, V I Lenin viết: “Không thể đem lại cho hai khái niệm nhận thức luận cơ bản này một định nghĩa nào khác ngoài chỉ rõ ràng trong hai khái niệm đó, cái nào được coi là có trước, cái nào quyết định cái nào? Và cái kia có tác động trở lại cái còn lại hay không?”
Với phương pháp trước đó, “chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Vladimir Ilyich Lenin bắt đầu định nghĩa về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” đây là một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất mà cho đến nay được các nhà khoa học hiện đại coi là một định nghĩa kinh điển
Định nghĩa vật chất của V I Lenin bao gồm nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý
thức và không lệ thuộc vào ý thức
Khi nói vật chất là một phạm trù triết học là muốn nói phạm trù này là sự trừu tượng hóa, không có sự tồn tại cảm tính Nhưng về nguyên tắc, khác với tất
cả những khái niệm trừu tượng duy tâm thuộc phạm trù này, V I Lenin nhấn mạnh rằng phạm trù triết học này dựa trên cơ sở “đặc tính duy nhất của vật chất
mà chủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta” Nói cách khác tính trừu tượng của phạm trù của vật chất dựa trên cơ sở hiện thực, do đó không tách rời tính hiện thực cụ thể của nó Nói đến vật chất là nói đến tất cả những gì đã và đang hiện hữu thực sự bên ngoài ý thức của con người Vật chất là hiện thực chứ không phải là hư vô và hiện thực này mang tính khách quan chứ không phải chủ quan Đây cũng chính là cái phạm vi hết sức hạn chế
mà ở đó theo V I Lenin, sự đối lập giữa vật chất và ý thức là tuyệt đối Việc tuyệt đối hóa cái trừu tượng của phạm trù này sẽ không coi vật chất ở đâu cả; nó
sẽ rơi vào quan điểm duy tâm, trong khi tuyệt đối hóa tính cụ thể của phạm trù này đưa chúng ta đến quan điểm duy vật
Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì
đem lại cho con người cảm giác
Đối lập với quan niệm duy tâm “khách quan” về tồn tại vật chất, V.I.Lenin khẳng định rằng vật chất luôn biểu hiện hiện thực khách quan thông qua sự tồn tại độc lập của nó, tức là nhận thức về các sự vật, hiện tượng cụ thể Những thực thể này, do đặc tính noumenon vốn có của chúng, sẽ mang lại cho con người những cảm giác khi nó trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên các cơ quan giác
Trang 7quan Mặc dù, không phải mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới khi tác động lên giác quan của con người đều được các giác quan của con người nhận biết; một số phải thông qua các công cụ khoa học, một số thậm chí có công cụ khoa học nhưng vẫn chưa biết; tuy nhiên, nếu tồn tại khách quan, bên ngoài, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người, nó vẫn là vật chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không coi vật chất một cách chung chung
mà coi vật chất là quan hệ với ý thức con người, trong đó vật chất xét theo phương tiện nhận thức là cái có trước, cái thứ nhất, là nguồn gốc của cảm giác (ý thức); còn cảm giác (ý thức) là cái có sau, cái thứ hai, cái phụ thuộc vào vật chất Đây cũng là câu trả lời của lập trường nhất nguyên duy vật của V I Lenin đối với khía cạnh đầu tiên của vấn đề cơ bản của triết học
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó Chỉ
có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Trong thế giới này, theo quy luật vốn có của nó, đến một lúc nào đó sẽ đồng thời xuất hiện hai hiện tượng vật chất
và hiện tượng tinh thần Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại một cách khách quan, không hề phụ thuộc vào các hiện tượng tinh thần Còn đối với các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức ) bao giờ cũng xuất phát từ hiện tượng vật chất và những gì thu được trong các hiện tượng tinh thần ấy (nội dung của nó) chỉ là bản sao, bản chụp của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan Vì vậy, cảm giác là cơ sở duy nhất của sự hiểu biết, tuy nhiên bản thân nó không ngừng chép lại, chụp lại và phản ánh hiện thực khách quan, để con người về nguyên tắc có thể nhận thức được thế giới vật chất Trong cái thế giới vật chất không có gì là cái không thể biết, chỉ có cái đã biết và cái chưa biết, do giới hạn của con người trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, cùng với sự phát triển của khoa học, các giác quan của con người ngày càng được “mở rộng”, giới hạn nhận thức của thời đại bị vượt qua, bị mất đi chứ không phải vật chất mất đi mất đi như các nhà duy tâm vẫn nghĩ
Khẳng định trên có ý nghĩa to lớn đối với việc phản bác thuyết “ bất khả tri”, đồng thời khuyến khích các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại Ngày nay, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn ngày càng phát triển, những phát kiến mới đã khẳng định tính đúng đắn của quan điểm duy vật biện chứng về vật chất và chứng minh rằng định nghĩa của V I Lenin về vật chất vẫn còn nguyên giá trị Vì thế mà chủ nghĩa duy vật biện chứng càng khẳng định rằng vai trò của nó là cốt lõi của thế giới quan là phương pháp luận đúng đắn của khoa học hiện đại
Trang 81.1.2 Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm triết học Mác-Lenin về vật chất
Xác định vật chất là “thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, V I Lenin thừa nhận rằng trong nhận thức luận, vật chất là bản chất đầu tiên, là nguồn gốc khách quan của cảm giác và của ý thức Và khi cho rằng vật chất "được các giác quan của chúng ta sao chép, chụp lại và phản ánh", V I Lenin muốn nhấn mạnh rằng con người có thể nhận thức thế giới vật chất thông qua nhiều phương thức nhận thức khác nhau (sao chép, chụp ảnh, phản ánh )
Như vậy, định nghĩa của V L Lenin về vật chất đã giải quyết được hai vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Nó cũng đưa ra nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri, chủ nghĩa duy vật siêu hình và tất cả những biểu hiện của chúng trong triết học tư sản hiện đại
Nó còn tạo ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong một hệ thống lý luận thống nhất, tạo cơ sở lý luận khoa học cho việc phân tích duy vật biện chứng những vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trước hết là về sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất , về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về mối quan hệ giữa các quy luật khách quan của lịch sử và hoạt động
có ý thức của con người
Nhờ nhận thức các hiện tượng của đời sống xã hội, định nghĩa về vật chất của Lenin đã giúp xác định được thế nào là vật chất trong lĩnh vực xã hội,
từ đó giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích nguyên nhân sâu xa của các sự kiện xã hội, nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất; trên cơ sở này, có thể tìm ra các giải pháp tối ưu cho các hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển
Trong nhận thức và thực tiễn, con người cần hiểu đầy đủ nguyên tắc khách quan - bắt đầu từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, nhận thức đúng và vận dụng đúng quy luật khách quan
Định nghĩa của V.I.Lê-nin về vật chất còn có ý nghĩa định hướng đối với một ngành khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm những dạng hay hình thức vật thể mới trong thế giới
1.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
Tìm hiểu cách thức tồn tại của vật chất để trả lời câu hỏi: “Những dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình bằng cách nào ?” Theo quan điểm
Trang 9của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các dạng cụ thể của vật chất là: vận động,
không gian và thời gian.
1.2.1 Vận động
1.2.1.1 Vận động là gì?
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động không chỉ là
sự thay đổi vị trí không gian (là hình thức vận động đơn giản ở mức độ thấp của vật chất), mà hiểu theo nghĩa chung nhất, vận động là bất kỳ sự biến đổi nào, là
sự thay đổi và hiện tượng của mọi sự vật, mọi quá trình từ đơn giản đến phức tạp xảy ra trong không gian và vũ trụ Thông qua vận động, vật chất mới xuất hiện
và bộc lộ bản chất của nó
“ Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể
từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy, ”
Engels-1.2.1.2 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
Khi định nghĩa chuyển động là sự biến đổi chung thì chuyển động "là thuộc tính vốn có của vật chất" và "là phương thức tồn tại của vật chất" Điều này có nghĩa là vật chất tồn tại thông qua chuyển động Trong và thông qua sự vận động, mọi dạng vật chất đều thể hiện sự tồn tại của chúng Một khi chúng ta nhận thức được sự chuyển động của vật chất, chúng ta sẽ nhận thức được bản thân vật chất
Với tính cách “là thuộc tính cố hữa của vật chất”, theo triết học Mác -Lenin, vận động là sự tự vận động của bản thân vật chất, sinh ra do sự tác động lẫn nhau của các yếu tố bên trong cấu tạo nên vật chất Quan điểm về sự tự vận động của vật chất đã được chứng minh bằng các thành tựu của khoa học tự nhiên, ngày càng có nhiều phát minh mới của khoa học tự nhiên hiện đại cũng
đã khẳng định quan điểm này
“Vật chất mà không vận động là điều không thể quan niệm được Vận động là sự biến đổi nói chung không phụ thuộc vào tính chất, khuynh hướng hay kết quả của
nó Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểu hiện, bộc lộ sự tồn tại của mình.”
Trang 10-Friedrich
Engels-Vật chất là vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi và vận động là một thuộc tính không thể tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể
bị mất đi hoặc sáng tạo ra Kết luận này của triết học Mác - Lenin đã được khẳng định bởi định luật bảo toàn chuyển hóa năng lượng trong vật lý Theo định luật này, vận động của vật chất được bảo toàn cả về mặt lượng và chất Nếu một hình thức vận động nào đó của sự vật mất đi thì tất yếu nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế nó Các hình thức vận động chuyển hóa lẫn nhau, còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất
“Quan niệm về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản: Tất cả những gì cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gì người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì nay đã trở thành nhất thời, và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một vòng tuần hoàn vĩnh cửu.”
-Friedrich
1.2.1.3 Các hình thức vận động cơ bản của vật chất
Dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đã phân chia vận động thành 5 hình thức cơ bản Đó là:
Vận động vật lý (vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện
tử, các quá trình nhiệt điện, v.v.)
Vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian)
Vận động hóa học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa hợp và phân giải các chất)
Vận động sinh học (trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường)
Vận động xã hội (sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái kinh tế - xã hội)
Để phân chia vận động của vật chất thành 5 dạng xác định ở trên, cần chú ý mối quan hệ giữa chúng như sau:
Các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất Từ vận động cơ học đến vận động xã hội là sự khác nhau về trình độ của sự vận động, những trình độ này tương ứng với trình độ của các kết cấu vật chất