1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai

106 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và doanh nghiệp - thương lái - hộ nông dân trong sản xuất - tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng; làm rõ các hình thức kiên kết, mô hình liên kết hiệu quả giữa các tác nhân trong sản xuấ

Trang 1

LÊ THỊ XUÂN TRANG

PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT CỦA NÔNG DÂN

TRONG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ XOÀI VÀ RAU

TẠI HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đồng Nai, 2012

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong sản xuất nông nghiệp người nông dân phải đối mặt với nhiều rủi ro khác nhau, đó là: rủi ro thời tiết, dịch bệnh và rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm làm

ra Tình trạng biến động xấu về giá cả và nhu cầu tiêu thụ trong thị trường nông sản làm nảy sinh tình trạng “được mùa, rớt giá” và “được giá, mất mùa” diễn ra phổ biến mà nông dân không chủ động đối phó được với tình hình

Bên cạnh đó, việc tiêu thụ nông sản của nông dân thường trải qua nhiều khâu trung gian, làm cho quá trình tiêu thụ không thông suốt, chênh lệch giữa giá nông sản do nông dân bán ra với giá nông sản ở thị trường tiêu dùng cuối cùng thường rất lớn, trong đó giá bán nông sản của nông dân thường thấp so với giá thị trường nông sản nguyên liệu trong và ngoài nước, dẫn tới phần thu của nông dân thấp hơn nhiều so với các tác nhân tham gia chế biến, tiêu thụ trong toàn chuỗi giá trị nông sản

Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là sản xuất phân tán, manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết, hợp tác giữa các hộ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ nông sản làm ra trong nhiều năm qua, chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu

Vấn đề tiêu thụ nông sản và nâng cao thu nhập của nông dân trong tiêu thụ nông sản luôn là vấn đề đặt ra đối với các cơ quan hoạch định chính sách và quản

lý nhà nước về nông nghiệp ở Trung ương và địa phương, hiện nay đang tìm tòi các biện pháp xử lý

Cụ thể là trong những năm vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của về chính sách hỗ trợ phát triển Hợp tác xã 1; đồng thời có chủ trương khuyến khích nông dân hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản bằng Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ

1 Toàn văn Nghị định số 88/2005/NĐ-CP tại Phụ lục số 9

Trang 3

nông sản thông qua hợp đồng 2; tiếp đến là Chỉ thị số 25/2008/CT- TTg về tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng;

Các văn bản nói trên đã được thực hiện ở nhiều địa phương trong sản xuất, tiêu thụ các hàng hóa nông sản quan trọng nhưng kết quả thu được thấp 3 Chính

vì vậy Chính phủ đang tiếp tục chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Đề án “Chính sách thúc đẩy phát triển liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản giữa nông dân với các đối tác kinh tế khác trong nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2010-2020” theo chỉ đạo tại Nghị quyết số 26 - NQ/TW Hội nghị lần thứ

7 Ban chấp hành trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đề

án có mục tiêu đánh giá thực trạng liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân; doanh nghiệp với tổ chức đại diện của nông dân (HTX, tổ hợp tác; đại diện nhóm hộ nông dân .) và doanh nghiệp - thương lái - hộ nông dân trong sản xuất - tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng; làm rõ các hình thức kiên kết,

mô hình liên kết hiệu quả giữa các tác nhân trong sản xuất - tiêu thụ nông sản; xác định vị trí, vai trò của mỗi tác nhân trong một số ngành hàng nông sản chủ yếu và đánh giá tác động cơ chế chính sách hiện hành; đề ra mục tiêu,

giải pháp lớn nhằm thúc đẩy phát triển liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản

giữa nông dân với các thành phần kinh tế khác

Với vị trí công tác là cán bộ của Phòng nông nghiệp và Phát triển nông thôn, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; tôi nhận thấy con đường cơ bản để giúp nông dân khắc phục những khó khăn và thua thiệt trong tiêu thụ sản phẩm làm ra là hợp tác, liên kết với nhau, với doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác để cùng nhau tiêu thụ sản phẩm với giá cả có lợi cho tất cả các bên tham gia liên kết Trên cơ sở

đó các bên đều thu được lợi ích cao nhất và giảm thiểu những rủi ro như đã trình bày ở trên

2 Toàn văn Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg tại Phụ lục số 7

3 Hiện tại mới khoảng 20% nông sản hàng hóa được tiêu thụ thông qua hợp đồng

Trang 4

Từ những lý do trên đây, học viên lựa chọn đề tài Phát triển các hình thức

liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai làm đề tài luận văn tốt nghiệp trình độ thạc sĩ kinh tế nông nghiệp

của mình tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Mong muốn của học viên là, kết quả nghiên cứu luận văn sẽ đóng góp thiết thực vào công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp của bản thân cũng như của cơ quan Phòng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai hiện nay

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển các hình thức liên kết

của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 5

+ Phạm vi về nội dung: Các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm xoài và rau thông qua hình thành các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp như: HTX, THT, CLB, LHCLB

+ Không gian: Địa bàn huyện Xuân Lộc

+ Thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2011

4 NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

- Những nội dung về cơ sở lý luận của về vấn đề nghiên cứu

- Những nội dung về thực trạng của vấn đề nghiên cứu

- Những nội dung về giải pháp đối với vấn đề nghiên cứu

5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, kết cấu đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận về các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa

- Chương 2: Đặc điểm của huyện Xuân Lộc và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT CỦA NÔNG DÂN TRONG SẢN XUẤT, TIÊU

THỤ NÔNG SẢN HÀNG HÓA 1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Đến nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về chủ đề “Phát triển mối liên kết trong sản xuất - tiêu thụ nông sản hàng hóa” cụ thể là:

1.1.1 Đề tài của ThS Nguyễn Trọng Khương, năm 2010

- Đề tài “nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất chính sách tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và người nuôi cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long” nghiên cứu sâu về mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp (mối liên kết dọc), đánh giá tình hình thực hiện các chính sách khuyến khích liên kết tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng tại Quyết định 80/2002QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Qua đó, đề xuất các chính sách nhằm thúc đẩy mối liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản giữa doanh nghiệp và nông dân, như: Chính sách kiểm soát giá sàn xuất khẩu; Chính sách kiểm soát giá trần về con giống và thức ăn cho thủy sản; Chính sách bình ổn giá thu mua nguyên liệu, nâng cao năng lực và hiệu quả kiểm soát Nhà nước; Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho nông dân và Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp

- Nghiên cứu về sự phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau trên địa bàn huyện Xuân Lộc, ngoài việc nghiên cứu các chính sách thúc đẩy mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp (Quyết định

số 80/2002/QĐ-TTg), còn nghiên cứu các chính sách thúc đẩy mối liên kết giữa nông dân với nông dân (Luật HTX năm 2003, Nghị định số 88/2005/NĐ-CP, Nghị định số 151/2007/NĐ-CP)

1.1.2 Đề tài của Lê Thị Thanh, năm 2010

Trang 7

- Đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tình hình liên kết giữa Nhà nông, Nhà khoa học và Doanh nghiệp trong sản xuất - kinh doanh rau trên địa bàn huyện

Gia Lâm - Hà Nội” đã nghiên cứu sâu về mối liên kết giữa nông dân với các tổ chức kinh tế thông qua các nội dung liên kết trong sản xuất nông nghiệp (cung

ứng đầu vào; chuyển giao kỹ thuật; phòng chống dịch bệnh; tiêu thụ sản phẩm); Các hình thức liên kết (Hợp đồng miệng, hợp đồng bằng văn bản); Các phương thức liên kết (dọc, ngang)

- Nghiên cứu về các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau trên địa bàn huyện Xuân Lộc sẽ nghiên cứu cả mối liên kết giữa nông dân với các tổ chức kinh tế và mối liên kết giữa nông dân với nông dân; đánh giá các hình thức liên kết theo 2 nhóm chỉ tiêu đó là: Theo chủ thể tham gia và theo tính tổ chức Đồng thời, phân tích việc sử dụng hợp đồng (Hợp đồng miệng, hợp đồng bằng văn bản) như là những công cụ liên kết

1.1.3 Báo cáo của Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, năm 2012

- Báo cáo dự án nghiên cứu đánh giá hình thức và tính hiệu quả của các cơ chế hợp đồng trong nông nghiệp và các phương thức cải thiện việc thực thi hợp đồng do TS Chu Tiến Quang thực hiện, đã phân tích 5 loại hợp đồng trong

ngành nông nghiệp đó là: (1) Hợp đồng tập trung, có hình thức phối hợp chặt

chẽ theo ngành dọc giữa người sản xuất và người mua, trong đó hạn ngạch được phân bổ cho người sản xuất để sản xuất một số lượng hàng hóa đã được

định trước; (2) Hợp đồng đất đai, người mua cũng sở hữu đất đai đang được người sản xuất sử dụng; (3) Hợp đồng đa phương, gồm nhiều bên tham gia

như chính phủ và các công ty cùng phối hợp trong mối quan hệ giữa người sản xuất và người mua Vì vậy, với những hợp đồng này, người nông dân sẽ được đại diện bởi một hiệp hội và chính quyền có trách nhiệm cung cấp các

dịch vụ mở rộng khác; (4) Hợp đồng không chính thức thường là hợp đồng

miệng giữa các bên để đáp ứng nhu cầu về sản xuất theo mùa và phổ biến với

Trang 8

các sản phẩm không đòi hỏi công nghệ chế biến cao; (5) Hợp đồng trung gian

được ký giữa người mua và nhà buôn hơn là ký trực tiếp giữa người mua và nhà sản xuất Loại hợp đồng này thường được dùng trong các tình huống có quá nhiều nhà sản xuất để người mua giám sát và do đó dẫn đến quyết định ký hợp đồng phụ với các nhà buôn

- Nghiên cứu về sự phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau trên địa bàn huyện Xuân Lộc sẽ tập trung nghiên cứu

các loại hợp đồng gồm: Hợp đồng tập trung và Hợp đồng trung gian để làm rõ mối liên kết sản xuất tiêu thụ giữa nông dân với doanh nghiệp và Hợp đồng

không chính thức để làm rõ mối liên kết giữa nông dân với nông dân trong

sản xuất, tiêu thụ nông sản

1.1.4 Sách chuyên khảo về vai trò và giải pháp nâng cao vai trò của HTX đối với xã viên trong nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam

- Sách do TS Chu Tiến Quang - Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung

ương biên soạn đã nghiên cứu mối liên kết giữa nông dân với nông dân trong HTX và các hoạt động liên kết thông qua mô hình hợp tác xã mang lại lợi ích cho nông dân tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản Bao gồm:

+ Hoạt động cung ứng vật tư cho xã viên sản xuất nông nghiệp: Hoạt động này khẳng định vai trò, ý nghĩa của HTX đối với xã viên về cung ứng vật tư, đảm bảo cho xã viên có điều kiện chủ động đầu tư theo đúng yêu cầu của sản xuất Khi HTX thực hiện tốt cung ứng vật tư cho xã viên thì xã viên sẽ phát triển sản xuất tốt hơn so với không nhận được dịch vụ này, từ đó vai trò của HTX sẽ được xác lập và phát triển trong xã viên Để thực hiện được vai trò cung ứng vật tư cho xã viên, đòi hỏi Ban quản trị của HTX biết chủ động nắm bắt đúng nguyện vọng và cam kết của xã viên trong HTX về sử dụng các loại vật tư mà họ cần, tìm nơi cung ứng tốt nhất và thuận lợi nhất để mang các loại vật tư về cho xã viên

Trang 9

+ Hoạt động cung cấp dịch vụ sản xuất nông nghiệp: Làm đất, thủy lợi, bảo vệ cây trồng vật nuôi trong quá trình sản xuất nông nghiệp của xã viên… các dịch vụ này có ý nghĩa rất quan trọng, đảm bảo cho xã viên nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi

+ Hoạt động chế biến, tiêu thụ sản phẩm: Hoạt động chế biến và tiêu thụ nông sản có ý nghĩa làm tăng giá trị nông sản và giúp xã viên tiêu thụ có lợi nhất Bản thân từng hộ xã viên có thể thực hiện được cả hai hoạt động này, nhưng phương thức chế biến và tiêu thụ mang tính thủ công nên chất lượng chế biến thấp và không tạo khối lượng sản phẩm lớn theo yêu cầu của khách hàng, nhất là đối với thị trường xuất khẩu

- Nghiên cứu về sự phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau trên địa bàn huyện Xuân Lộc cũng được nghiên cứu trong loại hình tổ chức HTX, ngoài ra, còn được nghiên cứu trong các tổ chức khác như Câu lạc bộ, Tổ hợp tác

1.1.5 Đề án “Chính sách thúc đẩy phát triển liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản giữa nông dân với các đối tác kinh tế khác trong nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2010-2020”

- Đề án đã đưa ra những chính sách sau: (1) Rà soát bổ sung quy hoạch theo hướng sản xuất hàng hóa; (2) Hỗ trợ đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng vùng nguyên liệu (doanh nghiệp được ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí nâng cấp, tu sửa các cơ sở hạ tầng sản xuất mức trợ tối đa không quá 40% tổng kinh phí của công trình đối với vùng sản xuất ngành hàng nông sản đặc biệt

ưu tiên và 20% đối với ngành hàng nông sản ưu tiên); (3) Cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; (4) Hướng dẫn chế tài xử lý vi phạm hợp đồng trong liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản giữa nông dân và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; (5) Chính sách hỗ trợ các đối tác tham gia liên kết sản xuất chế biến tiêu thụ nông sản (Đối với doanh nghiệp,

Trang 10

hỗ trợ kinh phí nâng cấp hạ tầng, giảm 20% mức thuế thu nhập doanh nghiệp khi liên kết với nông dân ở vùng nguyên liệu ngành hàng đặc biệt ưu tiên và giảm 10% đối với vùng nguyên liệu ngành hàng ưu tiên, trích 1% lãi trước thuế của các doanh nghiệp trong vùng nguyên liệu xây dựng Quỹ phòng chống rủi ro trong liên kết; Đối với Nông dân, được hỗ trợ theo cơ chế chính sách hiện hành về đất đai, tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyên ngư, đào tạo nghề, tư vấn pháp lý; Đối với tổ chức kinh tế của nông dân (HTX, tổ hợp tác), được miễn không thu thuế thu nhập doanh nghiệp cho HTX làm dịch vụ cầu nối tiêu thụ nông sản giữa nông dân và doanh nghiệp trong vùng nguyên liệu trong 10 năm, được hỗ trợ đào tạo, tư vấn pháp lý; Đối với nhà khoa học được ưu tiên hỗ trợ thực hiện các đề tài nghiên cứu tạo ra công nghệ mới và thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm, miễn thuế thu nhập

1.1.6 Báo cáo điều tra hiện trạng các Tổ hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam năm 2009

- Qua nghiên cứu báo cáo điều tra về Tổ hợp tác trong nông nghiệp nông

thôn, học viên nhận thấy mô hình Câu lạc bộ sản xuất ở huyện Xuân Lộc (mà thường được gọi là Câu lạc bộ năng suất cao) có mô hình tổ chức, đặc điểm hoạt động cơ bản và vai trò của nó đối với người nông dân giống như Tổ hợp tác Cụ thể là:

+ Về mô hình tổ chức: Tổ hợp tác và Câu lạc bộ đều có tổ chức rất đơn

giản, các tổ viên cùng hoạt động trong một lĩnh vực nào đó, hợp nhau lại, thống nhất về những công việc chung cần làm và bầu ra người điều hành các công việc đó

+ Về đặc điểm hoạt động: Tổ hợp tác và Câu lạc bộ đều là một loại hình

tổ chức kinh tế thuộc khu vực tư nhân, được hình thành tự nguyện bởi các thành viên tham gia, thuộc sở hữu tập thể của tất cả những thành viên tham

Trang 11

gia và được quản lý bởi chính những thành viên với mục tiêu chính là tăng thu nhập hoặc mang lại lợi ích chung cho các thành viên

+ Tổ hợp tác và Câu lạc bộ đều có vai trò giúp người dân nông thôn trên những khía cạnh chủ yếu sau: (1) Thiết lập các mối liên hệ xã hội với nhau để nâng cao vị thế trong xã hội; (2) Đa dạng hoá sản xuất sang những lĩnh vực

mà từng người riêng lẻ không thể làm được; (3) Nâng cao giá cả sản phẩm; (4) Tăng năng suất, hiệu quả của các hoạt động sản xuất giống nhau; (5) Giảm chi phí các đầu vào của sản xuất, đặc biệt những đầu vào phải mua từ thị trường; (6) Tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường và với chi phí thấp; (7) Có khả năng hơn trong huy động vốn đầu tư vào sản xuất quy mô lớn hơn; (8) Tạo điều kiện cho nhiều người học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm; (9) Giảm bớt rủi ro do biến động của thiên nhiên gây ra; (10) Giúp người dân có tiếng nói chung, uy lực hơn trong đàm phán với những đối tác lớn hơn trên thị trường; (11) Tạo ra cơ sở tốt hơn để những người sản xuất nhỏ liên kết có lợi với các

tổ chức kinh tế lớn trong quan hệ cung ứng và dịch vụ sản xuất, kinh doanh và củng cố quan hệ giữa các cá nhân có cùng các mối quan tâm giống nhau; (12) Tạo cơ hội để xây dựng mối quan hệ hợp tác tin cậy lẫn nhau, chia sẽ thông tin, phối hợp hành động, cùng gánh vác các công việc chung và tạo ra "lưới

an sinh xã hội phi chính thức" ở nông thôn

- Nghiên cứu về sự phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau trên địa bàn huyện Xuân Lộc sẽ đánh giá thực trạng

và đề ra giải pháp phát triển liên kết của nông dân trong mô hình CLB của huyện Xuân Lộc

1.1.7 Đề tài của TS Võ Phước Tấn, năm 2003

- Đề tài “Phương thức tiêu thụ nông sản vùng Đông Nam Bộ, thực trạng

và giải pháp đổi mới phù hợp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam”

đã nêu lên các phương thức tiêu thụ, kênh tiêu thụ nông sản hàng hóa ở vùng

Trang 12

Đông Nam Bộ, Đồng thời, đề xuất giải pháp phát triển các phương thức tiêu thụ nông sản Trong đó, có các phương thức liên kết tiêu thụ nông sản như: (1) Tiếp tục phát triển và hình thành các HTX để tăng khả năng liên kết của nông dân, phát triển hoạt động của HTX theo hình thức đại lý hoặc hợp đồng tiêu thụ nông sản; (2) Hình thành và phát triển mối liên kết giữa HTX với doanh nghiệp để tạo ra sức mạnh cho các doanh nghiệp và HTX trong việc phát triển kinh doanh

- Kênh tiêu thụ và phương thức tiêu thụ nông sản có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình và sự phát triển sản xuất hàng hóa cũng như lợi ích của người nông dân Do đó, nghiên cứu về sự phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau trên địa bàn huyện Xuân Lộc sẽ đánh giá lợi ích của nông dân qua việc áp dụng các kênh tiêu thụ, phương thức tiêu thụ nông dân hàng hóa trên địa bàn huyện Từ đó, có những giải pháp phát triển sự liên kết của nông dân nhằm áp dụng những kênh, những phương thức tiêu thụ có lợi nhất cho nông dân

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN KẾT CỦA NÔNG DÂN TRONG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ NÔNG SẢN HÀNG HÓA

1.2.1 Đặc điểm của sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa

- Sản xuất nông nghiệp hàng hóa là quá trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp để buôn bán, trao đổi nhằm mục tiêu thu lợi nhuận Sản xuất nông nghiệp hàng hóa có quy mô sản xuất lớn, phương thức sản xuất hiện đại Trong sản xuất hàng hóa, thì lợi nhuận và thu nhập là động lực kích thích sản xuất, thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, sử dụng các nguồn lực sản xuất, tiết kiệm và có hiệu quả

- Tiêu thụ là sự trao đổi hàng hóa, trong đó một hay một nhóm chủ thể này tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ một cá nhân hay một tổ chức khác bằng cách chuyển cho cá nhân hay tổ chức đó một giá trị tương xứng Nông sản hàng

Trang 13

hóa được tiêu thụ khi các trao đổi diễn ra thông qua một thỏa thuận đa dạng trong

đó cả hai bên cùng có lợi

Tiêu thụ nông sản hàng hóa còn liên quan đến việc xác định nhu cầu thực sự của người tiêu dùng, từ đó có sự tổ chức và điều phối hàng hóa đến người tiêu thụ thông qua các kênh phân phối hoặc các cơ sở bán buôn Khi đã xác định được nhu cầu sẽ hình thành nên các thị trường tiêu thụ của từng chủng loại sản phẩm và từ

đó có cách tổ chức và hình thành phương thức tiêu thụ nông sản một cách hợp lý

- Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 4:

+ Sản xuất nông nghiệp diễn ra trong không gian rộng, gắn với các điều kiện

tự nhiên, sinh thái và xã hội rất đa dạng và phức tạp: Việt Nam vẫn là một nước

nông nghiệp, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trải khắp Trong khi đó, mỗi vùng lại có điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình, cơ cấu mùa vụ, có điều kiện kinh tế xã hội, tập quán canh tác khác nhau và đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống, chúng sinh trưởng và phát triển theo quy luật riêng

+ Sản xuất nông nghiệp không ổn định, sản lượng mỗi loại cây trồng, vật

nuôi luôn biến động theo thời gian, dưới tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, điều kiện canh tác, quyết định của người sản xuất và nhu cầu của thị trường: Sản xuất

nông nghiệp là ngành sản xuất có chu kỳ sản xuất dài, ít nhất phải mất một vài tháng, dài phải mất vài chục năm, nhưng lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố,

do đó tính bấp bênh, rủi ro cao, sản xuất nông nghiệp không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc vào thị trường, tình hình sản xuất của các nước khác trên thế giới

+ Sản xuất nông nghiệp luôn là tác nhân trực tiếp, quan trọng đối với môi

trường sinh thái: Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ

yếu và không thể thay thế được và quá trình sản xuất nông nghiệp có ảnh

4 Theo Giáo trình môn học Xây dựng và phân tích chính sách nông nghiệp nông thôn - do

TS Chu Tiến Quang biên soạn và giảng dạy.

Trang 14

hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái theo hai hướng Hướng thứ nhất là quá trình quang hợp, trao đổi chất của đối tượng sản xuất (cây trồng) tác động đến môi trường sinh thái, tác động này là tác động tích cực, nếu sản xuất nông nghiệp phát triển sẽ tạo thảm cây xanh làm trong lành bầu không khí, tốt cho môi trường sinh thái Hướng thứ hai là sự tác động do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, phân bón hóa học làm ảnh hưởng tiêu cực đến hệ động vật, ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm và chất đất

+ Hướng tới phát triển hài hòa, hợp lý giữa nông nghiệp truyền thống với

nông nghiệp hiện đại và phát triển các ngành nghề, hoạt động chế biến nông sản

để tiêu thụ thuận lợi và đạt được thu nhập cao hơn: Sản xuất nghiệp có những đặc

điểm sinh học riêng, không thể điều chỉnh hoàn toàn như sản xuất công nghiệp nhưng cần phải cải tiến theo nhu cầu của thị trường, theo xu thế phát triển của nền nông nghiệp hiện đại là sản xuất nông nghiệp hàng hóa và tạo ra sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao Đồng thời, kết hợp các hoạt động sơ chế, chế biến nâng cao giá trị sản phẩm làm ra, tăng thu nhập cho người nông dân

1.2.2 Các kênh tiêu thụ nông sản hàng hóa

- Kênh trực tiếp: Nông dân sản xuất ra nông sản và bán cho người tiêu dùng

mà không qua một đơn vị trung gian nào Người tiêu dùng bao gồm hộ gia đình, các nhà hàng, quán ăn, các cơ quan, xí nghiệp, khu công nghiệp tổ chức bếp ăn tập thể Khối lượng nông sản tiêu thụ qua kênh này ít Kênh tiêu thụ nông sản trực tiếp được biểu diễn qua sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1 – Sơ đồ kênh tiêu thụ trực tiếp

Trang 15

sản phẩm nông sản so với sản phẩm sau thu hoạch) Về phía người sản xuất nông nghiệp, tiếp cận được tới người tiêu dùng cuối cùng nên có thể nắm bắt được nhu cầu và thị hiếu của họ về sản phẩm làm ra

- Kênh gián tiếp: Nông dân sản xuất ra nông sản hàng hóa không bán trực tiếp cho người tiêu dùng, mà bán cho các trung gian Các trung gian đó bao gồm trung gian 1 cấp và trung gian 2 cấp:

+ Đối với 1 cấp trung gian: thường là những người buôn bán nhỏ, siêu thị mua nông sản của nông dân rồi đem bán cho người tiêu dùng Kênh tiêu thụ nông sản gián tiếp 1 cấp trung gian được biểu thị qua sơ đồ 1.2:

Sơ đồ 1 2 - Kênh tiêu thụ gián tiếp 1 cấp trung gian

Nguồn: Võ Phước Tấn, 2003

Ở kênh tiêu thụ gián tiếp 1 cấp trung gian này, người sản xuất nông nghiệp bán nông sản cho người tiêu dùng thông qua một khâu trung gian, giá bán sát với giá tiêu dùng nên giá trị hàng hóa mà người tiêu dùng nhận được cao hơn các trường hợp tiêu thụ qua nhiều khâu trung gian

Đặc điểm của kênh tiêu thụ này thể hiện ở chỗ, sản phẩm nông sản được tiêu thụ thông qua kênh trung gian là người bán lẻ hoặc siêu thị; người tiêu dùng tiếp cận và mua sản phẩm thông qua tác nhân trung gian nên không biết được nguồn gốc sản phẩm, nếu như tác nhân trung gian không ghi lại người sản xuất ra sản phẩm mà họ tiêu thụ

Đối với trung gian là doanh nghiệp, nhà sản xuất công nghiệp, thì sản phẩm đưa ra thị trường thường khác biệt nhiều so với với sản phẩm nhà sản xuất bán

Người

sản xuất

Người tiêu dùng

Người bán lẻ, Siêu thị

Người

sản xuất

Người tiêu dùng Nhà sản xuất

công nghiệp

Trang 16

cho doanh nghiệp chế biến Ví dụ nhà sản xuất công nghiệp mua xoài trái, chế biến thành xoài sấy mới bán cho người tiêu dùng (Sản phẩm sau chế biến của nhà chế biến công nghiệp có thể tiêu thụ qua nhiều kênh, nhiều khâu trung gian nữa nhưng đó là hoạt động tiêu thụ của nhà chế biến, đề tài không đề cập đến)

+ Đối với 2 cấp trung gian: Ngoài khâu trung gian là người bán lẻ, siêu thị, doanh nghiệp chế biến như ở kênh tiêu thụ gián tiếp 1 cấp trung gian, còn có cấp trung gian thứ hai đó là thương lái, chợ đầu mối Thương lái, là các tổ chức, cá nhân tập trung lượng hàng hóa từ nhà sản xuất và tiến hành thực hiện phân phối những hàng hóa đó cho các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất công nghiệp chế biến để xuất khẩu hoặc tiêu thụ trong nước; Chợ đầu mối, là nơi tập trung hàng hóa từ các nhà sản xuất, sau đó bán lại cho những người buôn bán nhỏ Kênh tiêu thụ gián tiếp 2 cấp trung gian được biểu thị qua sơ đồ 1.3

Sơ đồ 1.3 - Kênh tiêu thụ gián tiếp 2 cấp trung gian

Sự khác nhau giữa trung gian là thương lái và trung gian là chợ đầu mối là: Thương lái đến tận nơi sản xuất để mua sản phẩm, còn ở chợ đầu mối, người sản xuất đem sản phẩm đến đó để bán

Thương lái

Người

sản xuất

Người tiêu dùng

Người bán lẻ

Người

sản xuất

Người tiêu dùng

bán lẻ

Trang 17

1.2.3 Khái niệm về liên kết của nông dân trong sản xuất tiêu thụ nông sản hàng hóa

1.2.3.1 Khái niệm chung về liên kết

Liên kết là việc thực hiện mối liên hệ khách quan giữa các chủ thể nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích chung Điều kiện hình thành và phát triển liên kết là các bên tham gia liên kết có nhu cầu liên kết, tự nguyện tham gia; bình đẳng, dân chủ trong hưởng lợi và chia sẻ rủi ro Liên kết bao gồm: Liên kết ngang, là mối liên kết giữa các tác nhân ở cùng một mắc xích trong sản xuất một ngành hàng; Liên kết dọc, là mối liên kết giữa các tác nhân ở các mắt xích liên tiếp khác nhau trong sản xuất của một ngành hàng nhằm quản trị các giai đoạn sản xuất khác nhau bền vững, tạo ra và phân phối giá trị gia tăng hợp lý giữa các tác nhân trong ngành hàng

1.2.3.2 Khái niệm về liên kết của nông dân trong sản xuất tiêu thụ nông sản hàng hóa

Liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản là sự kết hợp của những người nông dân với nhau hoặc giữa nông dân với các doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa Trong đó:

- Liên kết giữa những người nông dân với nhau:

Ngày nay sản xuất nông nghiệp không còn phù hợp với tình trạng sản xuất phân tán, nhỏ lẻ mà là sản xuất theo hướng tập trung, hiện đại, tạo ra sản phẩm nông nghiệp hàng hóa phù hợp thị hiếu người tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu thị trường Do đó, từng hộ cá thể với diện tích sản xuất nhỏ, tập quán, kỹ thuật canh tác khác nhau phải liên kết lại mới đáp ứng và bắt kịp sự phát triển của sản xuất nông nghiệp hàng hóa cũng như các yêu cầu khắc khe của thị trường Sự liên kết

đó sẽ tạo ra vùng chuyên canh có diện tích lớn, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, độ đồng đều cao hơn

Trang 18

Như vậy, mối liên kết giữa những người nông dân với nhau là mối liên kết ngang, làm tăng quy mô sản xuất, được hình thành và phát triển trong các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp như: HTX, THT, CLB, LHCLB Trong mối liên kết này, các chủ thể tham gia liên kết cùng nhau thực hiện một hoặc tất cả các

khâu trong sản xuất, tiêu thụ nông sản

Hiện nay, sản phẩm nông nghiệp không còn đơn giản chỉ là sản phẩm sản xuất ra bán ngay tới người tiêu dùng, mà có nhiều loại sản phẩm phải được chế biến và bảo quản thông qua các công ty chế biến nông sản, thực phẩm, làm đa dạng về mẫu mã, công dụng của sản phẩm Liên kết giữa người sản xuất nông nghiệp với nhà chế biến trong ngành hàng nông sản là mối liên kết dọc Mối liên kết dọc được khái quát như sau: người sản xuất - doanh nghiệp thu mua, chế biến - người bán buôn (xuất khẩu) - người bán lẻ - người tiêu dùng cuối cùng Mối liên kết này cũng có thể là những hợp đồng kinh tế giữa một bên mua và bên bán Nhiều trường hợp còn có thể được ứng trước giống, vốn, được hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất cho nông dân từ phía các doanh nghiệp Một số hợp đồng cũng có thể chỉ

là những cam kết tiêu thụ nông sản đúng chủng loại, giá cả và thời gian quy định Mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân là một mắt xích quan trọng trong chuỗi liên kết dọc của ngành hàng nông sản, trong đó mối liên kết chính và quan trọng nhất là liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và người sản xuất nguyên liệu Mối liên kết này nhằm kết nối hai quá trình sản xuất khác nhau phối hợp tạo ra và phân phối giá trị gia tăng trong ngành hàng nông sản

1.2.4 Vai trò của liên kết nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa

- Nâng cao tiếng nói của nông dân trên thị trường: Khi nông dân liên kết

tạo thành vùng sản xuất có sản phẩm với số lượng lớn, đồng đều, chất lượng cao, người nông dân có nhiều lựa chọn trong việc bán sản phẩm với giá cao hơn, nên

Trang 19

người nông dân có quyền đưa ra những điều kiện, những yêu cầu thuận lợi hơn cho người nông dân, có quyền quyết định giá bán sản phẩm

- Giảm chi phí sản xuất cá lẻ của từng hộ nông dân: Nếu như mỗi hộ tự đi

mua vật tư nông nghiệp, không có hợp đồng mua bán đảm bảo chất lượng và chi phí vận chuyển cao, thì khi nông dân liên kết lại trong một tổ chức, tổ chức đó sẽ tập hợp nhu cầu của các thành viên, tìm nguồn cung cấp có uy tín, ký hợp đồng mua với số lượng lớn với giá bán sỉ, giảm chi phí vận chuyển Sau đó phân phối lại cho từng hộ để mỗi hộ sử dụng trên đồng ruộng của mình Như vậy sẽ làm giảm chi phí sản xuất của mỗi hộ

- Có cơ hội hội cùng nhau tạo nguồn hàng nông sản lớn, độ đồng đều và

chất lượng cao: Các hộ nông dân liên kết cùng sản xuất một loại sản phẩm, với

cùng một quy trình kỹ thuật, tạo ra sản phẩm nông nghiệp hàng hóa nhiều về khối

lượng, đồng nhất về chất lượng

- Giúp nông dân giảm thiểu rủi ro từ tác động của thiên tai, thị trường,

dịch bệnh: Các hộ nông dân liên kết áp dụng cùng quy trình kỹ thuật, canh tác,

các hoạt động phòng trừ sâu bệnh được thực hiện đồng loạt tại các hộ trong vùng liên kết, nên khả năng phòng chống dịch bệnh cao, khi xảy ra diễn biến bất lợi về thời tiết sẽ giảm thiểu được những thiệt hại Đồng thời, nông dân sản xuất thông qua liên kết sẽ tạo ra hàng hóa chất lượng cao, khi có biến động về nhu cầu thị trường thì hàng hóa của họ sẽ có ưu thế hơn trong tiêu thụ, điều đó giúp nông dân giảm thiểu rủi ro do thị thị trường gây ra

- Giúp nông dân hoạt động động có tổ chức, giảm thiểu tự phát: Tâm lý

tiểu nông, sản xuất tự phát dựa vào kinh nghiệm, mạnh ai nấy làm không còn phù hợp với bối cảnh, xu hướng hiện nay Do đó, liên kết lại với nhau các thành viên

sẽ cùng sản xuất một loại sản phẩm với cùng một quy trình kỹ thuật, mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm sản xuất đúng theo yêu cầu, thỏa thuận thì việc tiêu thụ trở nên dễ dàng và hiệu quả cao hơn Sự thay đổi trong sản xuất - tiêu thụ đều phải

Trang 20

do tập thể bàn bạc, thống nhất, việc bàn bạc và quyết định tập thể sẽ hạn chế được sai sót, rủi ro

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa

1.2.5.1 Nhóm nhân tố chủ quan từ phía nông dân

- Nhận thức của nông dân về vai trò, ý nghĩa của liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa:

Do bị ảnh hưởng của sự tan rã phong trào HTX kiểu cũ trước đây (tư liệu sản xuất đưa vào HTX, kết quả sản xuất tập trung vào HTX, chỉ chia lại cho xã viên theo số ngày công đã tham gia) nên một bộ phận người nông dân e ngại liên kết trong mô hình tổ chức HTX, không chủ động, tích cực, tiên phong trong việc liên kết với nhau để cùng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của mình, người nông dân chưa nhìn thấy hết được lợi ích của sự liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Chính vì vậy mà việc tuyên truyền, phổ biến các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tập thể, sự vận động, tác động từ nhiều mặt

để nông dân thấy được hiệu quả và sự cần thiết của liên kết và tự nguyện tham gia liên kết vô cùng khó khăn và cần thiết

- Năng lực của nông dân trong hình thành, phát triển liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa:

Từ việc người nông dân không chủ động, tích cực trong việc liên kết với nhau để cùng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của mình, nên khi liên kết dưới một hình thức nào đó, dường như không phát huy được hết khả năng quy tụ, tập hợp nông dân và điều hành hoạt động không mang lại hiệu quả cao

Hơn nữa, những người nông dân đa phần chỉ quen với việc cầm cày, cầm cuốc, nên khi tham gia vào các loại hình tổ chức liên kết, đứng trong vai trò là Ban Chủ nhiệm, Ban Quản trị, việc lập phương án kinh doanh, thực hiện quá trình kinh

Trang 21

doanh, thực hiện các giao dịch kinh tế chắc chắn gặp những hạn chế về trình độ,

về sự nhạy bén, về các mối quan hệ

1.2.5.2 Nhóm nhân tố khách quan

- Mức độ cạnh tranh trong tiêu thụ nông sản hàng hóa:

Mức độ cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường tác động đến nhu cầu hình thành sự liên kết của nông dân Với những sản phẩm nông nghiệp

mà thị trường đang có nhu cầu lớn, cung vượt cầu thì sự liên kết của nông dân để tiêu thụ hầu như không có, không những nông dân sản xuất bao nhiêu bán hết bấy nhiêu, không bị ép giá mà còn xảy ra tình trạng tranh mua giữa các thương lái Chẳng hạn như hiện nay sản phẩm bắp được nông dân trên địa bàn huyện sản xuất nhiều (diện tích gieo trồng 12.000 ha/năm), sản lượng lớn (trên 80.000 tấn/năm) nhưng sản phẩm làm ra đều được các công ty, nhà máy chế biến lương thực thực phẩm mua tại ruộng sau khi hái, tách hạt bằng máy Do đó, việc liên kết của nông dân sản xuất bắp chỉ là sự liên kết trong sản xuất (có 23 câu lạc bộ sản xuất bắp)

- Tính chất sử dụng nông sản làm ra:

Sản phẩm nông nghiệp có những loại có thể thu hoạch đúng vụ hoặc muộn hơn vài ngày mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Hơn nữa, sau khi thu hoạch có thể bán ngay hoặc trữ lại, thời gian trữ có thể tính bằng năm như hạt tiêu, hạt điều, cà phê, các loại đậu nhưng có những loại đến thời điểm thu hoạch phải thu hoạch ngay, nếu sớm hoặc chậm một vài ngày sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (trái cây sẽ bị chín quá, rụng, hư hỏng; rau sẽ bị già, cứng; hoa sẽ bị tàn ) và sau khi thu hoạch phải tiêu thụ ngay nếu không sản phẩm sẽ

bị héo úa, giảm chất lượng Chính vì vậy, tùy vào tính chất sử dụng sản phẩm mà nhu cầu liên kết của nông dân cũng khác nhau Đối với những loại sản phẩm có tính chất tươi sống thì nhu cầu liên kết lớn hơn

- Pháp luật và chính sách hỗ trợ của nhà nước:

Trang 22

Chính sách, pháp luật, sự hỗ trợ của nhà nước có tác động lớn đến sự hình thành mối liên kết của người nông dân Khi một chính sách được ban hành để hỗ trợ cho một tổ chức phát triển Những hộ dân riêng lẻ muốn được hưởng chính sách đó thì họ sẽ liên kết lại với nhau Hơn nữa, sự hỗ trợ đó càng lớn, chính sách càng hấp dẫn thì động lực tạo sự liên kết giữa các hộ lại thành một tổ chức càng cao

- Các tác nhân thương lái, doanh nghiệp trong tiêu thụ nông sản:

Các doanh nghiệp, thương lái mua nông sản của dân thường sẽ đến những khu vực có nhiều nông dân cùng sản xuất một sản phẩm để có số lượng lớn, giảm thời gian, chi phí đi thu gom và chỉ muốn đàm phán với một người Chính vì vậy, các doanh nghiệp chỉ muốn liên hệ trực tiếp với người đứng đầu các tổ chức sản xuất của nông dân để thỏa thuận, hợp đồng mua sản phẩm nông nghiệp Do đó, sự xuất hiện của các doanh nghiệp, thương lái sẽ làm cho nhu cầu gắn kết của nông dân lớn hơn

1.2.6 Các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa

1.2.6.1 Phân loại theo chủ thể tham gia liên kết

- Liên kết giữa nông dân với nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản

Mối liên kết này hình thành giữa những người nông dân với nhau và hình thành nên các tổ chức như HTX, THT, CLB, LHCLB trong sản xuất, trong tiêu thụ và trong sản xuất - tiêu thụ

+ Liên kết trong sản xuất: Là sự liên kết diễn ra trong các khâu như cùng nhau tập huấn kỹ thuật, cùng mua vật tư nông nghiệp, cùng nhau thuê, mua máy móc thiết bị nông nghiệp, thống nhất chọn loại cây trồng, giống cây trồng, thời gian xuống giống; quy trình chăm sóc cây trồng

Trang 23

+ Liên kết trong tiêu thụ: Là sự liên kết diễn ra trong các khâu lựa chọn đối tác tiêu thụ, thống nhất giá bán, phương thức bán, thời gian thu hoạch, thống nhất sản lượng cung cấp của mỗi thành viên vào từng thời điểm

+ Liên kết trong sản xuất - tiêu thụ: Là sự liên kết diễn ra trong các hoạt động

kỹ thuật, công nghệ cho nông dân sản xuất, mà chỉ mua nông sản của nông dân thông qua các hợp đồng tiêu thụ với giá đã định trước

1.2.6.2 Phân theo tính tổ chức của liên kết

- Liên kết không hình thành tổ chức: Liên kết diễn ra một lần hoặc thường

xuyên nhưng không hình thành tổ chức, không hình thành các quy chế chặt chẽ về trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia liên kết Liên kết của nông dân không hình thành tổ chức đó chính là những thỏa thuận của một nhóm nông dân,

đa số họ là họ hàng của nhau

- Liên kết có hình thành tổ chức: Bao gồm liên kết hình thành tổ chức có tư

cách pháp nhân và hình thành tổ chức không có tư cách pháp nhân Hình thức liên kết này chặt chẽ và có tính ổn định lâu dài hơn so với liên kết không hình thành tổ chức Liên kết của nông dân có hình thành tổ chức bao gồm: HTX, THT, CLB, Liên hiệp CLB và những trường hợp liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp có đầu tư máy móc thiết bị cho nông dân Đối với các hình thức liên kết này thường

có những ràng buộc chặt chẽ, quy định trách nhiệm, quyền hạn cụ thể của các bên tham gia liên kết

Trang 24

1.2.7 Nội dung liên kết

- Liên kết sử dụng đất đai: Liên kết sử dụng đất diễn ra ở trường hợp các hộ

nông dân liên kết có hình thành nên một tổ chức, tổ chức này được Nhà nước giao đất, đất được giao là tài sản chung của tổ chức đó, được các hộ liên kết sử dụng phù hợp với mục đích của tổ chức

- Liên kết về vốn: Các bên tham gia liên kết góp vốn, góp tài sản để hình

thành tài sản chung, đóng góp chi phí phục vụ sự vận hành của hoạt động liên kết Ngoài ra, liên kết về vốn còn diễn ra khi tổ chức vay vốn sản xuất kinh doanh hoặc doanh nghiệp đầu tư ứng trước vốn, máy móc thiết bị cho nông dân sản xuất

- Liên kết về ứng dụng khoa học công nghệ: Liên kết ứng dụng khoa học

công nghệ diễn ra trong các trường hợp như: Các hộ nông dân liên kết cùng thực hiện một dự án chuyển giao khoa học công nghệ do các Sở ngành của tỉnh chủ trì, thực hiện nghiên cứu, ứng dụng trên diện tích sản xuất của các hộ dân liên kết; Hoặc các hộ dân liên kết kiến nghị cơ quan chức năng tổ chức các buổi tập huấn

về kỹ thuật sản xuất, bảo vệ thực vật trên diện tích đang sản xuất của họ

- Liên kết về tiêu thụ: Các hộ nông dân liên kết cùng chọn một phương thức

tiêu thụ (tiêu thụ phân tán, tiêu thụ hàng đổi hàng hay tập trung chợ đầu mối), một kênh tiêu thụ (trực tiếp hay gián tiếp, gián tiếp 1 cấp trung gian hay 2 cấp trung gian) phù hợp với điều kiện về sản lượng, chất lượng hàng hóa của tổ chức

- Liên kết về cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp: Các hộ nông dân

liên kết cử ra một người tổng hợp nhu cầu về nguyên liệu đầu vào của từng hộ dân, người đại diện có trách nhiệm tìm kiếm nguồn cung cấp có uy tín, chất lượng

để hợp đồng mua, phân phối lại cho từng hộ tự sử dụng Sau đó, người đại diện mua có trách nhiệm gom tiền trả cho đơn vị đã cung cấp

1.2.8 Kinh nghiệm phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa trên thế giới và ở Việt Nam

Trang 25

1.2.8.1 Kinh nghiệm phát triển các hình thức liên kết của nông dân ở một số nước: Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản

- Kinh nghiệm phát triển các hình thức liên kết sản xuất, tiêu thụ của nông dân ở Thái Lan 5 :

Thái Lan là một đất nước sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp được tổ chức theo các hình thức liên kết chặt chẽ giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến và giữa nông dân với nông dân

Liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp: Hình thức liên kết này không

hình thành tổ chức, mà là một hệ thống phối hợp theo chiều dọc, nơi các công

ty mua sản phẩm nông nghiệp từ nhiều nhà sản xuất nhỏ rồi qua quá trình chế biến, đóng gói và đưa sản phẩm ra thị trường Mô hình liên kết này khá phổ biến tại Thái Lan như sản xuất chăn nuôi và chế biến sản phẩm thịt gia cầm, sản phẩm rau, và mía đường, sản phẩm ngành thuỷ sản Tập đoàn CP Groups cũng áp dụng hình thức liên kết sản xuất chăn nuôi heo, gia cầm với các hộ sản xuất nhỏ Các hộ nuôi heo, gia cầm được đầu tư về trang thiết bị chăn nuôi, được cung cấp con giống, thức ăn và thuốc thú y Người nông dân đã nâng cao được chất lượng sản phẩm theo một quy trình nghiêm ngặt được cung cấp bởi công ty CP Sau đó, khi sản phẩm đạt tiêu chuẩn về quy cách, trọng lượng, doanh nghiệp thu mua lại sản phẩm, thanh toán tiền cho nông dân theo hiệu suất chăn nuôi và theo giá thị trường, các liên kết này được ký hợp đồng bằng văn bản và quy định rất chặt chẽ Ngoài ra, còn có mô hình liên kết sản xuất theo hợp đồng liên quan đến việc sản xuất theo mùa, giữa nông dân và cá nhân, các nhà doanh nghiệp hoặc các công ty nhỏ Hình thức này thường được dùng cho các loại cây trồng như rau tươi hoặc hoa quả nhiệt

5 Đề tài của Ths Nguyễn Trọng Khương năm 2010 và Đề tài của TS Võ Phước Tấn năm

2003

Trang 26

đới như hình thức liên kết trồng hoa cúc ở các tỉnh phía bắc Thái Lan, và liên kết trồng rau tươi ở Chiang Mai và Bangkok Loại hợp đồng này chỉ thoả thuận bằng miệng giữa nông dân với các nhà tiêu thụ, hay các doanh nghiệp thương mại

Tại Thái Lan, nhiều công ty chế biến thực phẩm và rau tươi mua sản phẩm nông nghiệp từ các doanh nghiệp thương mại nông nghiệp, các doanh nghiệp này lại thu gom của những người nông dân, họ cũng có những thoả thuận với nông dân về thời vụ và giá cả các lại sản phẩm Doanh nghiệp thu mua này gọi là đơn vị trung gian giữa người trồng trọt và nhà máy chế biến

- Liên kết giữa nông dân với nông dân: Liên kết giữa nông dân với nông dân

ở Thái Lan được hình thành trong loại hình tổ chức là HTX Các hộ dân ở Thái Lan liên kết với nhau lập ra các HTX tiêu thụ nhằm nâng cao thế mạnh khi thương lượng với các nhà thu mua và các doanh nghiệp xuất khẩu Các HTX được lập ra ngoài việc tổ chức bán hàng cho các hội viên còn là nơi cung ứng số lượng lớn các

loại nông phẩm đạt chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Tại Thái Lan, HTX

trở thành một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như giữ vững ổn định xã hội

Hiện nay, Thái Lan có một số mô hình HTX tiêu biểu: HTX nông nghiệp và HTX tín dụng HTX Nông nghiệp được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên trong các lĩnh vực: Vay vốn, gửi tiền tiết kiệm và tiền ký quỹ, tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và các dịch vụ khác Thông qua sự trợ giúp của Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp và HTX Nông nghiệp, xã viên được vay vốn với lãi suất thấp, thời hạn ưu đãi thích hợp cho việc kinh doanh hoặc sản xuất của họ Hiện nay, số HTX tham gia hoạt động kinh doanh này chiếm khoảng 39%

Trang 27

- Kinh nghiệm phát triển các hình thức liên kết của nông dân ở Trung Quốc 6 :

Liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản hàng hóa ở Trung Quốc phát triển mạnh ở

cả 2 hình thức liên kết giữa nông dân với nông dân và giữa nông dân với các công

ty, xí nghiệp, có hình thành tổ chức Cụ thể như sau:

+ Liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp: Trong đó, một bộ phận liên kết

có hình thành tổ chức Các công ty cổ phần, công ty tư nhân được thành lập tại các

xã, thôn Họ sử dụng nguyên liệu, lao động địa phương và tổ chức tiêu thụ tại chỗ hoặc xuất khẩu các sản phẩm làm ra Các xí nghiệp này quan hệ với nông dân theo phương thức thuê mướn trên cơ sở hợp đồng lao động và quan hệ thuê đất đai Hộ nông dân cũng có thể dùng đất làm tài sản góp cổ phần vào xí nghiệp

Hai loại hợp đồng chi phối của sự liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa nông dân với doanh nghiệp là hợp đồng sản xuất và hợp đồng tiêu thu Hợp đồng tiêu thụ liên quan đến thu gom và bán nhiều loại hàng hóa, mà không cần tham gia tích cực của doanh nghiệp chế biến trong sản xuất Hợp đồng sản xuất thường liên quan đến việc cung cấp hạt giống, phân bón, công nghệ và các đầu vào do doanh nghiệp chế biến cung cấp Các hình thức hợp đồng có thể là hợp đồng bằng văn bản và hợp đồng bằng miệng tuỳ thuộc vào tác nhân tham gia và mức độ quan hệ của các tác nhân đó

+ Liên kết giữa nông dân với nông dân: Có hình thành tổ chức, đó là những

hiệp hội ngành nghề Hình thức hợp tác phổ biến (thể hiện rất rõ ở tỉnh Tứ Xuyên)

là các hội ngành nghề, như hội trồng cam, hội trồng rau, hội trồng bông, hội tiêu thụ nông sản Mục tiêu của các hội nghề nghiệp là hỗ trợ nhau trong việc tiêu thụ sản phẩm, cung cấp thông tin, đào tạo… Các hội thường được tổ chức theo nghề, ngành sản phẩm, không phân biệt địa giới hành chính cấp xã và huyện Những hội này hoạt động theo nhu cầu của người dân về vốn, kỹ thuật, và công nghệ sản

6 Đề tài của Ths Nguyễn Trọng Khương năm 2010 và bài viết “Mô hình kinh tế hợp tác của một số nước châu Á” - internet

Trang 28

xuất Các hiệp hội ngành nghề như: hội nuôi gà, hội cây cảnh, hội người trồng vải, trồng cam rất phổ biến ở các vùng nông thôn Trung Quốc

Liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản hàng hóa ở Ấn Độ chủ yếu là liên kết giữa nông dân với nông dân và có hình thành tổ chức Loại hình tổ chức là HTX Người nông dân coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, đầu vào và các nhu cầu cần thiết về dịch vụ Khu vực HTX có cơ sở hạ tầng rộng lớn, hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng, chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở Những lĩnh vực hoạt động quan trọng của khu vực kinh tế HTX ở Ấn Độ đang nổi lên là HTX tín dụng nông nghiệp, các HTX sản xuất đường, HTX sản xuất phân bón, Liên hiệp HTX sản xuất sữa Amul

Liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản hàng hóa ở Nhật Bản là liên kết giữa nông dân với nông dân và có hình thành tổ chức (HTX) Các loại hình tổ chức HTX Nhật Bản bao gồm: HTX nông nghiệp, HTX tiêu dùng, được tổ chức theo

ba cấp: Liên đoàn toàn quốc hợp tác xã nông nghiệp; Liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp tỉnh; Hợp tác xã nông nghiệp cơ sở

Các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ như cung cấp nông cụ, tín dụng, mặt hàng, giúp nông dân chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm cho hoạt động của nông dân và

tổ chức liên kết qui mô lớn toàn quốc Một nước công nghiệp hoá như Nhật Bản, hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hiệu quả vẫn là hộ gia đình, do đó hợp tác

xã nông nghiệp, một mặt được thành lập để hỗ trợ nông dân, giúp cho họ vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa cải thiện cuộc sống ở nông thôn, mặt khác vẫn tôn trọng mô hình kinh tế nông hộ và chỉ thay thế hộ nông dân và tư thương ở

7 Bài viết “Mô hình kinh tế hợp tác của một số nước châu Á” - internet

8 Theo kinh nghiệm phát triển HTX Nông nghiệp ở Nhật Bản của Phan Trọng An - Trường Đại học Kinh tế

Trang 29

khâu nào hợp tác xã tỏ ra có ưu thế hơn hẳn trong tương quan với mục tiêu hỗ trợ nông dân

1.2.8.2 Kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu, học viên đã tìm hiểu thực tế về sự phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản tại 3 huyện gồm huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận và huyện Thống nhất, tỉnh Đồng Nai Trong 3 địa phương nói trên, học viên nhận thấy hoạt động liên kết ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai có hiệu quả và có nhiều điểm mới cần học tập, ứng dụng tại địa phương Kết quả nghiên cứu và những kinh nghiệm học được như sau 9:

- Liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản hàng hóa đều hình thành tổ chức, Các loại hình tổ chức đó là HTX và CLB

- Số lượng HTX, CLB tuy không nhiều (chỉ có 11 HTX, trong đó có 2 HTX nông nghiệp và 34 CLB), nhưng các HTX, CLB đều hoạt động có hiệu quả, doanh thu, lợi nhuận hàng năm của các xã viên ngày càng tăng Ngoài ra còn có doanh thu chung của HTX, CLB Điều đó cho thấy, các HTX, CLB ở huyện Thống Nhất đã mạnh dạn thực hiện các dịch vụ cung ứng nguyên liệu đầu vào, tiêu thụ sản phẩm của nông dân

- HTX, CLB sử dụng lợi nhuận để trả lương cho các thành viên Ban Chủ nhiệm, Ban Quản lý từ thấp nhất là 700.000 đồng/người/tháng đến cao nhất là 2.000.000 đồng/người/tháng Ngoài ra, huyện Thống Nhất còn hỗ trợ chi phí hoạt động cho mỗi Câu lạc bộ IPM số tiền 200.000 đồng/tháng Điều này đã góp phần khích lệ, động viên Ban Chủ nhiệm trong quản lý, điều hành hoạt động của HTX, CLB, mặt khác nâng cao trách nhiệm của họ

9 Theo báo cáo tổng kết hoạt động kinh tế tập thể năm 2011 của UBND huyện Thống nhất

và quan sát của tác giả

Trang 30

- Một số công việc thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước thay vì thuê doanh nghiệp thực hiện, thì huyện Thống Nhất đã mạnh dạn giao cho HTX, CLB thực hiện để tạo thêm việc làm, cơ hội phát triển cho HTX, CLB

1.2.8.3 Những nhận xét tổng quát và bài học cho Việt Nam

- Liên kết giữa nông dân với nông dân, giữa nông dân với các tổ chức kinh tế khác là một điều tất yếu để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam

- Liên kết của nông dân với nông dân, giữa nông dân với các tổ chức kinh tế khác phụ thuộc vào tính chất sản phẩm sản xuất, trình độ sản xuất của người nông dân Trình độ sản xuất càng cao, nhu cầu liên kết càng lớn Đòi hỏi khắc khe của

cơ chế thị trường, quy định sản xuất hàng hóa càng chặt chẽ thì yêu cầu về liên kết của nông dân càng cao

- Sự liên kết chỉ tồn tại và phát triển khi thỏa mãn lợi ích của các tác nhân tham gia liên kết

- Liên kết có hình thành tổ chức hay không hình thành tổ chức tùy thuộc vào điều kiện ở mỗi nơi Tuy nhiên, trong điều kiện ở Việt Nam, việc liên kết có hình thành tổ chức sẽ thuận lợi hơn trong công tác quản lý, áp dụng các chính sách hỗ trợ của nhà nước để thúc đẩy phát triển sự liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản

- Nhà nước với tư cách là chủ thể hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn, cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể, rõ ràng để phát triển liên kết của nông dân, tạo năng lực cạnh tranh cho nông dân

- Các tổ chức sản xuất của nông dân như HTX, CLB, LHCLB, một mặt được thành lập để hỗ trợ nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất, tiêu thụ nông sản, mặt khác vẫn tôn trọng mô hình kinh tế nông hộ và chỉ thay thế hộ nông dân ở khâu nào mà tổ chức đó có ưu thế hơn với mục tiêu hỗ trợ nông dân

Trang 31

Kết luận chương I

Liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản có vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, làm hạ giá thành sản phẩm, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất và làm tăng giá trị tiếng nói của người nông dân Các hình thức liên kết của nông dân, xét về chủ thể tham gia, bao gồm liên kết giữa nông dân với nông dân và liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, trong mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, liên kết chính và quan trọng nhất

là liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và người sản xuất nguyên liệu; Xét về tính tổ chức, liên kết của nông dân gồm liên kết hình thành tổ chức như HTX, THT, CLB và liên kết không hình thành tổ chức

Sự liên kết của nông dân có thể diễn ra trong các khâu sản xuất, tiêu thụ nông sản, thông qua các nội dung liên kết như đất đai, sử dụng vốn, khoa học kỹ thuật, thị trường, cung ứng vật tư nguyên liệu đầu vào

Trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản khuyến khích hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể như Luật HTX năm 2003, Nghị định số 88/2005/NĐ-

CP, Nghị định số 151/2007/NĐ-CP, Quyết định số 80/QĐ-TTg với các chính sách như chính sách khuyến khích liên kết tiêu thụ nông sản theo hợp đồng, chính sách ưu đãi tín dụng, chính sách hỗ trợ về khoa học, công nghệ, và chính sách phát triển kinh tế hợp tác và HTX Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các chính sách trên vẫn còn những điểm không phù hợp với sự phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trong tình hình mới

Do đó, mỗi tác nhân có liên quan đến sự liên kết của nông dân và Chính phủ cần tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa

Trang 32

Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ SẢN XUẤT - TIÊU THỤ NÔNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN XUÂN LỘC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 KHÁI QUÁT SẢN XUẤT - TIÊU THỤ NÔNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN XUÂN LỘC

2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Xuân Lộc là một huyện nông nghiệp miền núi, kinh tế phát triển chủ yếu từ nông nghiệp Tuy nhiên, quá trình phát triển có những hạn chế nhất định từ cơ chế chính sách chung của cả nước cũng như từ nhận thức của người nông dân, nên sản xuất nông nghiệp hàng hóa của huyện vẫn trong tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, đang ảnh hưởng xấu đến năng suất, chất lượng sản phẩm và gây nhiều trở ngại trong việc ứng dụng cơ giới hóa, tiến bộ khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm

Trong bối cảnh trên đây, liên kết giữa những người nông dân và giữa nông dân với doanh nghiệp sẽ tạo ra lợi ích và sự thuận lợi cho nông dân trong cả khâu sản xuất lẫn tiêu thụ nông sản Cụ thể là: Thứ nhất, tiết kiệm được chi phí sản xuất, gia tăng giá trị nông sản, nâng cao hiệu quả sản xuất; Thứ hai, tạo ra được sản phẩm nông nghiệp hàng hóa với số lượng lớn, đồng nhất về chất lượng; Thứ

ba, năng suất và chất lượng sản phẩm được cải thiện Chính vì vậy, việc phát triển mối liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản có ý nghĩa thực tiễn cao

Xoài và rau là 2 loại cây trồng chủ lực của huyện, mang lại thu nhập tương đối cao cho nông dân so với các loại nông sản khác Hai sản phẩm này được tiêu thụ dưới hình thức tươi sống, khi sản phẩm đã đến thời điểm thu hoạch thì phải được tiêu thụ hết ngay, không thể lưu kho cất giữ như các loại sản phẩm tiêu, điều,

cà phê …vừa có thể thu hoạch sớm hoặc muộn và sau thu hoạch có thể trữ lại được Do đó, ngoài những yêu cầu chặt chẽ trong khâu sản xuất thì khâu tiêu thụ

Trang 33

càng đòi hỏi nghiêm ngặt hơn về thời gian và hình thức bảo quản, vận chuyển Khâu này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người sản xuất, nếu được tổ chức tốt thì người sản xuất sẽ thu được lợi nhuận cao, ngược lại nếu tổ chức không tốt sẽ gây ra thiệt hại lớn về thu nhập

2.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện

2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên đối với sản xuất nông nghiệp

- Vị trí địa lý: Huyện Xuân Lộc nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai, phía

Bắc giáp huyện Định Quán, phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp thị xã Long Khánh; Huyện Xuân Lộc có 15 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thị trấn và 14 xã Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 72.719,48 ha, dân số 228.353 người, chiếm 12,4% về diện tích và 9,6% về dân số toàn tỉnh Đồng Nai, mật độ dân số 308 người/km2

- Thời tiết khí hậu: Huyện Xuân Lộc có thời tiết, khí hậu nắng nóng, nhưng

ôn hòa, thích hợp cho phát triển sản xuất cây lâu năm như cao su, tiêu, cây ăn quả, điều và các loại cây ngắn ngày như lúa, ngô, thuốc lá, rau màu

- Đất đai: Trên địa bàn huyện Xuân Lộc có 6 nhóm đất chính, nhóm đất đỏ

vàng (chiếm 12,13% diện tích tự nhiên) có nhiều ưu điểm, khá thích hợp với các loại cây lâu năm Đất nâu thẫm và đất đỏ bazan chiếm 25,5% tổng diện tích toàn huyện, thích hợp với cây trồng ưa điều kiện khô hạn Đất xám vàng có độ dốc nhỏ, tầng đất dày, nhưng độ phì thấp, có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp nhưng phải thực hiện các biện pháp cải tạo và tăng cường thâm canh Đất xám nâu

và với tầng đất mỏng, độ phì thấp, thích hợp để phát triển rừng

- Hệ thống thủy lợi Gồm các công trình chính như hồ Gia Ui tưới 500 ha,

đập dâng Lang Minh tưới 210 ha, đập dâng Gia Liêu 1 và 2 tưới 400 ha, hồ Núi

Le tưới 400 ha, đập dâng Sóc Ba Buông tưới 40 ha, đập dâng suối Nước Trong, các công trình đập dâng bán kiên cố quy mô nhỏ ngăn dòng tích nước tưới cho 1.753 ha cùng với 16.865m kênh chính và 21.475m kênh nhánh đã phục vụ tưới

Trang 34

được 27% diện tích sản xuất nông nghiệp của huyện Tỷ lệ kênh mương được kiên cố hóa đạt 86% tổng chiều dài các tuyến kênh

- Hệ thống đường giao thông: Huyện Xuân Lộc có Quốc lộ 1A và đường sắt

chạy qua, trung tâm huyện đặt tại ngã 3 Ông Đồn, là đầu mối kết nối các tuyến giao thông quan trọng giữa thành phố Hồ Chí Minh (100 km về phía Nam) với thành phố Phan Thiết (100 km về phía Đông), tạo cho Xuân Lộc lợi thế để phát triển thị trường cho sản phẩm nông nghiệp Hiện nay, Huyện Xuân Lộc là nguồn cung cấp nông sản lớn cho thị trường tỉnh Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Mạng lưới giao thông có 49 km Quốc lộ, 54 km Tỉnh lộ,

123 km đường liên thông giữa huyện Xuân Lộc với các huyện lân cận, 377 km đường xã, hầu hết đều là đường nhựa và đường bêtông xi măng, đáp ứng khá tốt yêu cầu lưu thông, vận chuyển nông sản hàng hóa, giúp cho các doanh nghiệp, thương lái có thể mua sản phẩm của nông dân ngay trên đồng ruộng

- Mạng lưới điện đã phủ kín tất cả các xã, các cánh đồng mẫu lớn, các HTX,

CLB, LHCLB sản xuất nông nghiệp

2.1.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa trên địa bàn huyện

- Về giá trị sản xuất:

Bảng 2.1 Giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Xuân Lộc từ năm 2008-2011

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Giá trị sản xuất ngành

trồng trọt (Tỷ trọng)

826 (67,9%)

863,1 (66,8%)

895,1 (64,3%)

929,1 (62,3%)

Nguồn: Báo cáo KTXH huyện Xuân Lộc các năm 2008, 2009, 2010, 2011

Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện ngày càng tăng, năm 2008 đạt

1.215,9 tỷ đồng, tăng 7,35% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó, giá trị sản xuất

ngành trồng trọt đạt 826 tỷ đồng, chiếm 67,9%; Năm 2009 đạt 1.290,4 tỷ đồng,

Trang 35

tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó, giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt

863,1 tỷ đồng, chiếm 66,8%; Năm 2010 đạt 1.391,0 tỷ đồng, tăng 7,8% so với

cùng kỳ năm 2009, trong đó giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 895,1 tỷ đồng, chiếm 64,3% Năm 2011 đạt 1.490,4 tỷ đồng, tăng 7,1% so với năm 2010, trong

đó giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 929,1 tỷ đồng, chiếm 62,3%

Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng, nhưng xét về cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, cơ cấu kinh tế năm 2008 với tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm tới 44,5%, năm 2009 đã giảm xuống 40,1%, năm 2010 còn 33,8% và năm 2011 giảm còn 31,8 %

Biểu đồ 2.1 - Tăng trưởng ngành nông nghiệp từ năm 2008 đến năm 2011

Đồ thị 2.1 phản ánh giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện tăng đều từ năm

2008 đến năm 2011 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm 10 do tăng diện tích đất ở và đất phát triển công nghiệp, thương mại dịch vụ nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng Cho thấy, việc khai thác sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện ngày càng hiệu quả

10 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm 2008 là 49.252 ha, năm 2010 giảm xuống còn 47.540 ha

Trang 36

Giá trị sản xuất ngành trồng trọt năm 2011 tăng 12,48% so với năm 2008 (929,1 tỷ đồng/826 tỷ đồng) Tuy nhiên, tỷ trọng trong giá trị sản xuất nông nghiệp toàn huyện năm 2010 và năm 2011 giảm dần là do, từ năm 2010, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi của huyện đã tăng vượt bậc, xuất phát từ việc huyện xây dựng quy hoạch vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung nên nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn được hình thành Hơn nữa, trong 2 năm gần đây, tập đoàn CP Thái Lan đã đầu tư một số trại chăn nuôi heo theo hình thức liên kết hợp đồng chăn nuôi gia công với các hộ dân thuộc địa bàn huyện Xuân Lộc

- Các giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện

Giá trị sản xuất bình quân trên 01 ha đất nông nghiệp theo giá hiện hành năm

2011 đạt 91,44 triệu đồng/1ha/năm Thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp đạt 25.750.000 đồng/năm Việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ, an toàn, chú trọng tăng chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường bước đầu phát huy hiệu quả Các giải pháp chủ yếu mang lại kết quả trên bao gồm:

+ Tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi: Đối với cây ngắn ngày, chuyển đổi diện tích lúa 01 vụ sang bắp, cây rau, giúp giữ ổn định năng suất và chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất trên 01 ha đất canh tác; Đối với cây lâu năm, chuyển một số diện tích cây Điều kém hiệu quả sang trồng cao su, cải tạo giống trên cây sầu riêng, xoài, chôm chôm, nhãn, mít tăng chất lượng và hiệu quả sản xuất các loại cây ăn trái là đặc sản của vùng, chuyển một số diện tích cây Màu kém hiệu quả sang trồng ổi Xá lị, ổi không hạt

+ Chọn lọc, nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả: Huyện

đánh giá, chọn lọc những trường hợp sản xuất có hiệu quả kinh tế cao, tổ chức ghi hình ảnh bằng đĩa DVD, trong đó nêu rất cụ thể về cây, con sản xuất, diện tích, chi phí, lợi nhuận đạt được và phổ biến đến nông dân thông qua hệ thống truyền thanh

từ huyện đến xã, các buổi họp dân của từng tổ nhân dân nhằm định hướng,

Trang 37

khuyến khích nông dân chọn lựa hình thức sản xuất phù hợp với diện tích, điều kiện đất đai và lực lượng lao động hiện có của gia đình, kết hợp tổ chức các điểm trình diễn, tham quan, tập huấn Kết quả đến cuối năm 2011, toàn huyện đã nhân rộng được rất nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao từ 100-250 triệu đồng/ha/năm, nâng cao giá trị sản xuất trên 01 ha đất nông nghiệp, tạo thành các vùng chuyên canh Việc nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cao một cách bền vững, ổn định cuộc sống cho nông dân Trong đó, đối với cây xoài và cây rau có các mô hình sản xuất hiệu quả cao, được nông dân thực hiện nhiều như:

Mô hình trồng xoài công nghệ cao: Sản xuất xoài theo tiêu chuẩn GLOBALGAP tại xã Xuân Hưng, hiện nay đang tiếp tục nhân rộng thực hiện tại các xã Xuân Hòa, Suối Cao, Xuân Bắc, Xuân Tâm, Xuân Thành với diện tích nhân rộng là 1486 ha

Một số diện tích cây Xoài được trồng xen cây Quýt đường (mô hình tại xã Xuân Hưng) hoặc trồng xen cây Ổi không hạt, cây Kiểng (mô hình tại xã Xuân Bắc) Cây quýt đường và cây ổi có tán nhỏ, được trồng ở giữa 4 cây xoài Việc trồng xen này đã tăng thêm thu nhập cho nông dân mà không ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng xoài

Đối với cây rau: Từ mô hình sản xuất theo IPM và theo hướng VietGAP tại HTX Sản xuất - Thương mại dịch vụ nông nghiệp Trường An, nông dân một số vùng khác đã từng bước thực hành sản xuất sạch với: đất, nước tưới, giống sạch bệnh, sử dụng thuốc BVTV an toàn Bên cạnh đó, trong việc tổ chức sản xuất rau,

mô hình tưới phun sương và nhà lưới đơn giản là mô hình có hiệu quả, tiết kiệm nước, tiết kiệm công lao động đã được áp dụng nhiều Nhờ tiết kiệm nước nên đã

mở rộng diện tích canh tác rau

+ Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các trang trại sản xuất chuyên canh, quy mô lớn (Hiện nay trên toàn huyện đã hình thành được 516 trang trại theo tiêu

Trang 38

chí mới tại Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại) Đồng thời, kêu gọi đầu tư các cơ sở chế biến nông sản nhằm hỗ trợ nông dân tiêu thụ sản phẩm làm ra

+ Đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở như các công trình thủy lợi, giao thông, điện phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp

- Những hạn chế trong sản xuất nông nghiệp của huyện

Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của toàn huyện Xuân Lộc còn những hạn chế như: Độ đồng đều và chất lượng sản phẩm nông nghiệp vẫn chưa đáp ứng với nhu cầu của thị trường; Đã quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp nhưng tình hình sản xuất nông nghiệp nhìn chung vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún; Tình hình cơ giới hóa trong nông nghiệp nhất là đối với cây trồng lâu năm không cao, chưa có ứng dụng cơ giới hóa, đặc biệt là đối với các khâu cắt tỉa cành sau thu hoạch mặc dù đây là công việc rất nặng nhọc và tốn chi phí Do đó, thu nhập trên mỗi ha đất nông nghiệp chưa đồng đều giữa các vùng trong huyện Cụ thể như sau:

+ Đối với cây hàng năm: Diện tích hiện có 12.628,4 ha Trong đó, diện tích

đạt giá trị sản lượng trên 100 triệu/ha/năm là 5.348 ha, chiếm 42,3% (trong đó, diện tích đạt giá trị sản lượng từ 200 triệu/ha/năm trở lên là 1108ha, chiếm 8,77%); diện tích đạt giá trị sản lượng dưới 100 triệu/ha/năm là 6.163,4 ha, chiếm 48.8%; diện tích đạt giá trị sản lượng dưới 50 triệu/ha/năm là 1.117 ha, chiếm 8,84%; Diện tích có thu nhập thấp chủ yếu trên các loại đất sỏi đá thuộc vùng đồi

đá, vùng đất thiếu nước, hoặc vùng đất ruộng 01 vụ lúa

+ Đối với cây lâu năm: Diện tích cho sản phẩm là 25.571 ha Trong đó, diện

tích đạt giá trị trên 100 triệu/ha/năm là 8.912 ha, chiếm 39,5% (trong đó, diện tích đạt giá trị từ 200 triệu/ha/năm là 4.109ha, gồm các loại cây Tiêu, cao su, Xoài, Sầu riêng, chiếm 16%); diện tích cho giá trị dưới 100 triệu/ha/năm là 13.036 ha, chiếm 50,9%; diện tích cho giá trị dưới 50 triệu/ha/năm là 3.623ha, chiếm 14,1% Diện

Trang 39

tích cây lâu năm có thu nhập thấp chủ yếu là diện tích cây Điều, cây nhãn trồng phân tán, đất xấu, thiếu chăm sóc và khó khăn về nước tưới

DT đạt trên triệu 200

DT đạt trên triệu 200

DT đạt dưới triệu 50

DT đạt dưới triệu 100

DT đạt trên triệu 100

Đồ thị 2.2 - Cơ cấu giá trị thu nhập Đồ thị 2.3 - Cơ cấu giá trị thu nhập cây hàng năm cây lâu năm

Nhìn vào biểu đồ 2.2 và 2.3, diện tích cây lâu năm và cây hàng năm đạt dưới 100 triệu/ha chiếm tỷ trọng rất lớn Vì vậy, huyện Xuân Lộc đang tiếp tục thực hiện những giải pháp nâng cao thu nhập cho người nông dân, nhất là các vùng đồng bào dân tộc, hộ nghèo có thu nhập thấp, điều kiện sản xuất không thuận lợi như đất canh tác xấu, nông dân không có khả năng đầu tư cải tạo, thiếu các công trình hạ tầng

- Tình hình tiêu thụ một số mặt hàng nông sản hàng hóa trên địa bàn huyện

+ Sản phẩm xoài của HTX Xoài Suối

Lớn, rau của HTX rau Trường An đã xây

dựng được thương hiệu và sản xuất đạt tiêu

chuẩn VietGAP nên việc tiêu thụ rất thuận

lợi Sản phẩm của hai đơn vị này cung cấp

cho các siêu thị, chợ đầu mối, thương lái lớn,

Ông Phạm Công Triệu, một thành viên của Hợp tác xã xoài Suối Lớn phấn khởi:

Là nông dân, thấy trái cây mình làm ra được bán trong siêu thị, xuất khẩu ra thế giới, chúng tôi vui mừng lắm Nếu không hợp sức lại với nhau, chúng tôi sẽ không bao giờ có thành quả như ngày hôm nay

Theo http://xttm.agroviet.gov.vn 06.3.2012

Trang 40

doanh nghiệp chế biến với giá cao

Riêng sản phẩm xoài của HTX xoài Suối Lớn đã xuất khẩu sang Trung Quốc

từ năm 2010.

Hình 2.1 Sản xuất rau theo hướng VietGAP tại HTX Trường An

+ Sản phẩm xoài và rau của các CLB, LHCLB trên địa bàn chủ yếu cung cấp cho các thương lái tiêu thụ trong và ngoài huyện Ngoài ra, sản phẩm xoài và rau của các hộ khác được bán cho những người buôn bán nhỏ và người tiêu dùng tại chỗ

Nhìn chung, sản lượng xoài và rau sản xuất ra đều tiêu thụ hết, không có tình trạng dôi dư, không tiêu thụ được, nhưng trong những trường hợp biến động giá bất thường vào những lúc được mùa, các hộ sản xuất đơn lẻ thường bị ép giá trong tiêu thụ

2.1.2.3 Lao động nông nghiệp ở huyện Xuân Lộc

Lao động trong nông nghiệp huyện năm 2008 là 67.120 người, giảm xuống còn 57.980 người vào năm 2011 Huyện đang chủ động chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm việc tại các khu công nghiệp của trong huyện, ngoài huyện

để giảm lao động nhàn rỗi và tạo tiền đề đẩy mạnh cơ giới hoá nông nghiệp

Cơ cấu lao động chuyển dịch khá nhanh theo hướng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ

Ngày đăng: 29/08/2017, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2.1 phản ánh giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện tăng đều từ năm - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
th ị 2.1 phản ánh giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện tăng đều từ năm (Trang 35)
Sơ đồ 2.1 - Sơ đồ liên kết của Liên hiệp Câu lạc bộ - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ liên kết của Liên hiệp Câu lạc bộ (Trang 44)
Bảng 2.4. Tình hình phát triển Liên hiệp Câu lạc bộ từ năm 2008 đến 2011  Chỉ tiêu  Năm 2008  Năm 2009  Năm 2010  Năm 2011 - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 2.4. Tình hình phát triển Liên hiệp Câu lạc bộ từ năm 2008 đến 2011 Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 (Trang 44)
Bảng 3.1. Diện tích, năng suất, thu nhập một số cây hàng năm - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.1. Diện tích, năng suất, thu nhập một số cây hàng năm (Trang 50)
Bảng 3.2. Diện tích, năng suất, thu nhập một số cây lâu năm - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.2. Diện tích, năng suất, thu nhập một số cây lâu năm (Trang 51)
Bảng 3.5. Tỷ lệ ứng dụng công nghệ sau thu hoạch của xoài và rau - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.5. Tỷ lệ ứng dụng công nghệ sau thu hoạch của xoài và rau (Trang 54)
Bảng 3.6. Tỷ lệ nông dân sản xuất xoài và rau quan tâm đến các yếu tố cơ bản - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.6. Tỷ lệ nông dân sản xuất xoài và rau quan tâm đến các yếu tố cơ bản (Trang 55)
Bảng 3.7. Tình hình tiêu thụ xoài và rau qua các kênh - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.7. Tình hình tiêu thụ xoài và rau qua các kênh (Trang 58)
Bảng 3.11. Tình hình phát triển các LH CLB sản xuất, tiêu thụ cây rau - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.11. Tình hình phát triển các LH CLB sản xuất, tiêu thụ cây rau (Trang 64)
Bảng 3.14. Hiệu quả sản xuất rau  Chỉ tiêu  ĐVT  Có liên kết  Không liên kết - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.14. Hiệu quả sản xuất rau Chỉ tiêu ĐVT Có liên kết Không liên kết (Trang 67)
Đồ thị 3.1 và 3.2 - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
th ị 3.1 và 3.2 (Trang 68)
Bảng 3.16. Những lợi ích khác của nông dân khi tham gia liên kết - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.16. Những lợi ích khác của nông dân khi tham gia liên kết (Trang 71)
Bảng 3.18. Tỷ lệ liên kết giữa nông dân với nông dân trong các loại hình tổ - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.18. Tỷ lệ liên kết giữa nông dân với nông dân trong các loại hình tổ (Trang 79)
Bảng 3.21. Các nhân tố ảnh hưởng đối với sự hình thành mối liên kết giữa các hộ - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.21. Các nhân tố ảnh hưởng đối với sự hình thành mối liên kết giữa các hộ (Trang 87)
Bảng 3.22. Hoạt động diễn ra trong quá trình liên kết - Phát triển các hình thức liên kết của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ xoài và rau tại huyện xuân lộc, tỉnh đồng nai
Bảng 3.22. Hoạt động diễn ra trong quá trình liên kết (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w