Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Trang 1I VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1 Vật chất và những hình thức tồn tại của vật chất
a) Định nghĩa vật chất
Vật chất là một phạm trù cơ bản của triết học Trong lịch sử hình thành
và phát triển của triết học, xoay quanh phạm trù này luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
- Chủ nghĩa duy tâm phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất Họ cho rằng, vật chất là sản phẩm của ý thức, sự tồn tại và biến đổi của vật chất
là do ý thức (thượng đế, ý niệm tuyệt đối…) quyết định
- Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại đã khẳng định vật chất tồn tại khách quan Nhưng do hạn chế bởi lịch sử, nên quan niệm về vật chất của họ còn mang tính trực quan, cụ thể, cảm tính và họ thường đồng nhất vật chất với một dạng vật cụ thể (đất, nước, lửa, không khí, nguyên tử…) Quan niệm về vật chất của các nhà duy vật đã có ảnh hưởng lớn trong triết học và nhận thức nói chung kéo dài đến cuối thế kỷ XIX
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt thành tựu khoa học tự nhiên ra đời đã làm đảo lộn những quan niệm cũ về vật chất, gây ra cuộc khủng hoảng trong nhận thức của chủ nghĩa duy vật siêu hình
Quan điểm triết học Mác - Lênin
- Định nghĩa vật chất của Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
+ Vật chất: với tư cách là một phạm trù triết học có thuộc tính chung nhất
là “thực tại khách quan”, bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức
Nói đến vật chất là nói đến những gì đã và đang hiện hữu thực sự, bên ngoài ý thức con người
Vật chất là hiện thực chứ không phải hư vô và hiện thực này là khách quan chứ không phải là hiện thực chủ quan (tức ý thức)
+ Vật chất là tất cả các sự vật, hiện tượng, quá trình mà khi tác động vào các giác quan thì cho ta cảm giác
Vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực khách quan của mình thông qua sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng cụ thể, tức là thông qua các thực thể
Nói đến vật chất là nói đến thực thể, đến tính thực thể của nó Tính thực thể
là một trong những đặc trưng chung của các sự vật, hiện tượng vật chất trong sự khác biệt với các hiện tượng ý thức
+ Vật chất: là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó
Trang 2Các loại hiện tượng vật chất tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan, không lệ thuộc vào hiện tượng tinh thần
Vật chất là cái cấu thành nội dung của ý thức hay ý thức chẳng qua chỉ là hình ảnh đã được cải biến của thế giới vật chất trong đầu óc con người
- Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
+ Khắc phục được tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, do đó làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ mới, trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng;
+ Tạo cơ sở khoa học cho quan niệm duy vật trong lĩnh vực xã hội, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời cũng tạo cơ sở khoa học cho sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Là cơ sở khoa học, vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết một cách có hiệu quả
+ Trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất
b) Những phương thức tồn tại của vật chất
Vận động của vật chất
- Khái niệm vận động: vận động là mọi sự biến đổi nói chung, là một
thuộc tính phổ biến của vật chất
- Hình thức vận động cơ bản của vật chất:
+ Vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian) + Vận động vật lý (vận động của các phân tử, hạt cơ bản, vận động điện
tử, các quá trình nhiệt, điện…)
+ Vận động hoá học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp
và phân giải các chất)
+ Vận động sinh học (trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường) + Vận động xã hội (sự thay đổi, thay thế của các quá trình xã hội của các hình thái kinh tế - xã hội)
+ Đứng im: Ngoài ra, quá trình vận động còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng im Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động đó là sự vận động trong trạng thái cân bằng, tức là những tính chất của vật chất chưa có sự biến đổi về cơ bản Đứng im chỉ là hiện tượng tương đối và tạm thời Theo Ăngghen thì “mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời”
Đứng im là tương đối, vì trước hết hiện tượng đứng im chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không phải trong mọi quan hệ cùng một lúc
Trang 3Đứng im chỉ xảy ra với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc
Đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, đó là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối, biểu hiện thành một sự vật nhất định khi nó còn là nó chưa bị phân hóa thành cái khác Chính nhờ trạng thái ổn định đó mà sự vật thực hiện được sự chuyển hóa tiếp theo
Đứng im còn được biểu hiện như một quá trình vận động trong phạm vi chất của sự vật còn ổn định, chưa thay đổi Theo Engels thì "vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt
Không gian, thời gian
Vật chất luôn luôn vận động, nhưng vật chất vận động không ở đâu ngoài không gian và thời gian Không gian, thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động
- Không gian là phạm trù triết học dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật chất
xét về mặt quảng tính, sự cùng tồn tại, trật tự, kết cấu và sự tác động lẫn nhau
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái…) với những dạng vật chất khác.
- Thời gian là phạm trù triết học dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật
chất vận động xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình
+ Chủ nghĩa duy tâm cho rằng: không gian, thời gian mang tính chủ quan, là sản phẩm chủ quan
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng: không gian, thời gian là những cái bất biến, không phụ thuộc vào vật chất vận động
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: không gian, thời gian là khách quan, là hình thức tồn tại của vật chất vận động, do vật chất vận động quy định Không gian có ba chiều: chiều dài, chiều rộng, chiều cao Thời gian có một chiều từ quá khứ tới tương lai
Không gian, thời gian đều vô cùng, vô tận
2 Nguồn gốc, bản chất của ý thức
a) Nguồn gốc của ý thức
- Khái niệm: Ý thức là một phạm trù song song với phạm trù vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có
sự cải biến sáng tạo.
Ý thức có 2 nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
Trang 4- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức:
+ Một là, phải có bộ óc người
Do quá trình vận động, phát triển lâu dài của giới tự nhiên, làm xuất hiện con người với bộ não phát triển cao Từ đó, có sự ra đời của ý thức
Như vậy, ý thức là thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là thuộc tính của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt, được
tổ chức cao, đó là bộ óc con người
+ Hai là, phải có thế giới khách quan tồn tại bên ngoài con người
Thế giới khách quan là đối tượng, nội dung của ý thức Không có thế giới khách quan thì không có gì để ý thức phản ánh
Như vậy, nguồn gốc tự nhiên của ý thức là sự tương tác giữa bộ óc người
và thế giới khách quan
- Nguồn gốc xã hội của ý thức:
Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm của sự phát triển
xã hội và ngay từ đầu đã mang bản chất xã hội
+ Một là, ý thức được hình thành thông qua lao động, hoạt động thực tiễn của con người
Lao động là hoạt động có mục đích của con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để biến đổi, cải tạo tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình
+ Hai là, ý thức hình thành thông qua trao đổi ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được
Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, lưu truyền tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác
b) Bản chất của ý thức
Bản chất: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
- Ý thức là cái phản ánh, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Nội dung ý thức phản ánh là khách quan còn hình thức phản ánh là chủ quan Ý thức
là cái vật chất ở bên ngoài “di chuyển” vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó Trong ý thức sự phù hợp giữa tri thức với khách thể chỉ là tương đối
- Ý thức có tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội:
Trang 5+ Ý thức là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng, có mục đích rõ ràng.
Là hiện tượng xã hội, hình thành, phát triển gắn với hoạt động thực tiễn xã hội Sự phản ánh của ý thức về thế giới hiện thực ngày càng sâu sắc, từng bước xâm nhập vào các tầng bản chất, quy luật
+ Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú, từ những cái đã biết ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật
+ Có thể tưởng tượng ra cái không thể có trong thực tế; có thể tiên đoán,
dự báo tương lai; có thể tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao
- Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên
quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người là quá trình năng động, sáng tạo:
- Phản ánh của ý thức thống nhất ba mặt:
+ Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh;
+ Mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần;
+ Chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan
- Sáng tạo là thuộc tính đặc trưng bản chất nhất của ý thức
Tính sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật của
sự phản ánh, mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Sáng tạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức
3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
“Vật chất và ý thức là hai phạm trù đối lập nhau về bản chất, nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó vật chất quyết định ý thức, ý thức có tính độc lập tương đối và có vai trò tác động trở lại to lớn đối với việc cải tạo thế giới khách quan, thông qua hoạt động thực tiễn của con người.”
- Vật chất quyết định ý thức: Về cả nguồn gốc, nội dung, bản chất và
khuynh hướng vận động phát triển của ý thức
+ Vật chất tồn tại khách quan, có trước, sinh ra ý thức Ý thức có sau, sinh ra từ vật chất;
+ Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan
+ Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh
+ Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào bộ óc con người; không
có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra;
Trang 6+ Khi thế giới khách quan vận động, biến đổi và phát triển sẽ dẫn đến sự vận động, biến đổi và phát triển của ý thức
- Ý thức tác động trở lại vật chất: thông qua hoạt động thực tiễn của con
người
+ Vai trò của ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào chất lượng của sự phản ánh là đúng đắn hay sai lầm:
Một là, ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan thì thúc đẩy hoạt động của con người trong cải tạo thế giới;
Hai là, ý thức phản ánh sai lệch thế giới khách quan sẽ kìm hãm hoạt động cải tạo thế giới của con người
+ Sự tác động của ý thức đối với vật chất phụ thuộc vào các điều kiện khách quan và chủ quan của hoạt động thực tiễn
Con người dựa trên những tri thức, hiểu biết về thế giới khách quan, quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp, ý chí, quyết tâm thực hiện thắng lợi những mục tiêu đã xác định
+ Tính năng động, sáng tạo của ý thức là rất lớn, nhưng nó không thể vượt quá tính quy luật khách quan của những tiền đề vật chất đã xác định, mà phải dựa vào các điều kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động
Như vậy: Nắm vững mối quan hệ biện chứng vật chất - ý thức trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải xây dựng quan điểm tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy năng động chủ quan để nắm bắt và hành động theo quy luật khách quan Chống quan điểm chủ quan, duy ý chí, phiêu lưu, mạo hiểm, hoặc thụ động, trông chờ
II NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
a) Nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Các quan điểm khác nhau
- Chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo: thừa nhận có mối liên hệ phổ biến, nhưng nguồn gốc của nó là từ thần linh, thượng đế, “Ý niệm tuyệt đối” sinh ra
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình coi các sự vật, hiện tượng trong thế giới là
cô lập, tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, hết cái này đến cái kia, giữa chúng không có liên hệ, ràng buộc, ảnh hưởng, chuyển hoá lẫn nhau, hoặc nếu có thì chỉ là sự liên hệ hời hợt bên ngoài, có tính ngẫu nhiên, chứ không
có liên hệ tất yếu bên trong
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Trang 7Bản chất thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất; mọi sự vật, hiện tượng của thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ qua lại, thâm nhập
và chuyển hoá lẫn nhau
- Khái niệm liên hệ: liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định,
sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới
- Tính chất mối liên hệ:
+ Mối liên hệ mang tính khách quan:
Các mối liên hệ không phụ thuộc vào ý thức của con người, mà nó là vốn
có của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất, bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới;
Liên hệ bao giờ cũng là liên hệ của các sự vật, hiện tượng, quá trình
Sự vật, hiện tượng thay đổi thì sự liên hệ của chúng cũng thay đổi
+ Mối liên hệ mang tính phổ biến:
Trong giới tự nhiên, mối liên hệ thể hiện ở sự tác động lẫn nhau giữa các
sự vật, hiện tượng trong quá trình tiến hoá từ vô cơ đến hữu cơ và quá trình xuất hiện sự sống;
Trong xã hội, mối liên hệ thể hiện ở sự tác động qua lại giữa các mặt của đời sống xã hội với tính cách là một cơ thể thống nhất hữu cơ
Trong tư duy, có mối liên hệ giữa các hình thức của tư duy: Khái niệm, phán đoán, suy luận…
+ Mối liên hệ mang tính phong phú, đa dạng:
Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài; Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu; Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
Ý nghĩa phương pháp luận
- Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cần quán triệt phương pháp luận quan trọng là: quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể
- Quán triệt nguyên tắc toàn diện và lịch sử - cụ thể, giúp chúng ta nghiên cứu, nhận thức đúng bản chất của các sự vật, hiện tượng, để có cơ sở xác định đúng đắn đường lối, nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản lâu dài và chủ yếu trước mắt
- Tránh cách xem xét phiến diện một chiều hoặc cách xem xét tràn lan b) Nguyên lý về sự phát triển
Quan điểm các nhà triết học siêu hình cho rằng: phát triển của sự vật, hiện tượng chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về lượng
Quan điểm triết học Mác - Lênin cho rằng: Các sự vật hiện tượng không những có mối liên hệ phổ biến, mà còn luôn vận động, phát triển không ngừng Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới.
Trang 8- Khái niệm: Phát triển là phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận
động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật
Phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung mà phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động, nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động là đi lên, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ
Trong quá trình phát triển, sự vật sẽ hình thành dần những quy định mới cao hơn về chất, là một quá trình diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn; sự phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà quanh co, phức tạp, dường như lặp lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở mới cao hơn, trong đó bao gồm cả những bước thụt lùi tương đối; nguồn gốc của sự phát triển là do mâu thuẫn nằm trong chính bản thân sự vật
- Tính chất của sự phát triển
+ Phát triển mang tính khách quan:
Là sự tự phát triển, không phụ thuộc vào ý thức của con người, hay một lực lượng siêu nhiên nào đó
Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của chúng, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển không ngừng
+ Phát triển mang tính phổ biến:
Trong giới tự nhiên, sự phát triển được thể hiện sự tiến hoá từ đơn giảm đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo
xã hội để tiến tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người, ở sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, sự kế tiếp các nền văn minh
Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn đối với hiện thực tự nhiên và xã hội
+ Phát triển mang tính đa dạng, phong phú:
Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng
Tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất, sự phát triển
sẽ được biểu hiện hết sức khác nhau
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại ở không gian, thời gian khác nhau sẽ có quá trình phát triển khác nhau
Ý nghĩa phương pháp luận
- Nguyên lý về sự phát triển cung cấp cho chúng phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới
Trang 9- Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm phát triển trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn sẽ giúp chúng ta khắc phục những tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân con người
2 Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
a) Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại
Nội dung quy luật: “bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy tại điểm nút; chất mới ra đời
sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng”.
- Mọi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất của chất và lượng
+ Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác
+ Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu
thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như của các thuộc tính của nó
Lưu ý: Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ mang tính chất tương đối, phụ
thuộc vào mối quan hệ xác định Trong mối quan hệ này là chất, nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng và ngược lại
- Sự thống nhất biện chứng giữa chất và lượng trong giới hạn độ:
+ Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và
chất của sự vật, nó là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
+ Bất kỳ một sự vật nào cũng có chất và lượng, đó là hai mặt cấu thành của một sự vật hiện tượng quy định lẫn nhau không thể tách rời, một chất nhất định trong sự vật bao giờ cũng có lượng tương ứng của nó; lượng và chất là hai mặt mâu thuẫn của cùng một sự vật, hiện tượng
+ Trong quá trình vận động chất và lượng cũng biến đổi Sự thay đổi của lượng và của chất có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhưng, lượng của của sự vật có thể thay đổi tới một giới hạn nhất định mà không làm chất của sự vật thay đổi + Sự thống nhất biện chứng giữa chất và lượng được thực hiện trong giới hạn
“độ”
Như vậy: Sự thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất trong giới hạn “độ” chất và lượng của sự vật tác động qua lại với nhau cùng vận động biến đổi Chất của sự vật là yếu tố tương đối ổn định, lượng thường xuyên biến đổi một cách dần dần, tiệm tiến theo cách thức tăng dần hoặc giảm dần tới một giới hạn nào đó sẽ làm chất căn bản của sự vật thay đổi
Trang 10- Điểm giới hạn xảy ra sự thay đổi về chất của sự vật gọi là “điểm nút”.
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay
đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật
- Tại “điểm nút” sự chuyển hoá làm chất sự vật thay đổi gọi là “bước nhảy”
Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về
chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra
- Chất mới ra đời tác động trở lại với lượng mới Đây chính là chiều ngược lại của quy luật
Sau khi ra đời chất mới làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật;
+ Khi tích luỹ đủ về lượng phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải kịp thời chuyển những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất
+ Chống tư tưởng nôn nóng đốt cháy giai đoạn hoặc tư tưởng thụ động trông chờ, ỷ lại; trong hoạt động của con người phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy
b) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Mâu thuẫn biện chứng
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất của các mặt đối lập
- Mặt đối lập là những mặt trái ngược nhau, tồn tại trong cùng một sự vật, hiện tượng
Các mặt đối lập là các thuộc tính, các bộ phận bên trong sự vật vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng
- Mâu thuẫn biện chứng là mâu thuẫn trong đó bao hàm sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Mâu thuẫn biện chứng là khách quan, phổ biến, nghĩa là: nó vốn có ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới
Ví dụ: Trong sinh vật có mâu thuẫn giữa biến dị và di truyền, đồng hoá
và dị hoá Trong xã hội có mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột
Nội dung cơ bản của quy luật:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất của các mặt đối lập