Trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các nhà tâm lý học khoa học xem sự phát triển tâm lý trẻ em gắn liền với việc nảy sinh, hình thành và hoàn thiện phát triển của nhữn
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
BÀI TẬP LỚN
Môn: Tâm lí học tiểu học
Họ và tên sinh viên: Hoàng Thu Thủy Lớp: GDTH D2020B
Mã sinh viên: 220000262
Trang 2Câu 1: Phân tích quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lí trẻ em, cho
ví dụ minh họa và rút ra kết luận sư phạm cần thiết?
Quan niệm về sự phát triển tâm lí là đối với từng trẻ, sự phát triển tâm lí chỉ thực sự xảy ra khi và chỉ khi tạo ra cho bản thân được cái mới trong vốn liếng tâm
lí Đó là cái mới về chất lượng chứ không phải là sự cộng thêm vào Phép duy vật biện chứng đã khẳng định, phát triển là thuộc tính vốn có của mọi sự vật, hiện tượng Đó là một quá trình tích lũy dần về lượng để dẫn đến biến đổi về chất, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng Sự phát triển đượ c diễn biến theo các khuynh hướng: từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến ngày càng phát triển
Trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các nhà tâm lý học khoa học xem sự phát triển tâm lý trẻ em gắn liền với việc nảy sinh, hình thành và hoàn thiện (phát triển) của những cái mới trong đời sống tâm lý theo từng giai đoạn lớn tuổi cái mới trong đời sống tâm lý có thể là các năng lực hoạt động mới, các phẩm chất tâm lý mới, Sự phát triển của tâm lý trẻ em ở đây không chỉ đơn thuần
là sự tăng về số lượng mà là một quá trình biến đổi về các chất lượng Điều đó có nghĩa là trong sự phát triển tâm lý của trẻ, những sự thay đổi về lượng của các tuyến tâm lý sẽ dẫn đến cả sự thay đổi về chất lượng tức là sự hình thành một cái mới về chất trong đời sống tâm lý một chức năng như là: tâm lý mới, một năng lực người mới Cái mới trong đời sống tâm lý ra đời theo phương thức kế thừa những tinh hoa của những cái cũ để đạt tới một mức độ cao hơn và nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa vốn liếng tâm lý đã có ở trẻ với những đòi hỏi mới mà xã hội đặt ra trước trẻ em Thực chất, sự phát triển tâm lý trẻ em là quá trình trẻ em lễ hội nền văn hóa xã hội loài người để tạo nên những cái mới trong đời sống tâm lý của chính mình Sự xuất hiện cái mới về chất khiến cho những cái cũ vốn có phải được cấu tạo lại chứ không phải là sự cộng thêm vào Sự biến đổi về chất lượng đã tạo nên
Trang 3những bước nhảy vọt liên tục đánh dấu một bước chuyển biến từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác Sự phát triển tâm lý của trẻ là quá trình trẻ lĩnh hội nền văn hóa xã hội của loài người, đó là kết quả hoạt động của chính đứa trẻ với những đối tượng
mà loài người đã tạo ra Trẻ không tự lớn lên giữa môi trường sống, mà nó chỉ có thể lĩnh hội kinh nghiệm xã hội nhờ sự chỉ bảo, giáo dục của người lớn Sự phát triển tâm lý trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng Đó là một quá trình không phẳng lặng mà có khủng hoảng và đột biến Sự phát triển tâm lý chỉ có thể xảy ra trên nền của một cơ sở vật chất nhất định (trên cơ thể người với những đặc điểm bẩm sinh di truyền nhất định) Không có sự phát triển cơ thể bình thường, không có hoạt động bình thường của não bộ sẽ không có sự phát triển tâm lý bình thường Những đặc điểm cơ thể là tiền đề, là điều kiện cần thiết để phát triển tâm
lý, nhưng nó không quyết định trước sự phát triển tâm lý Những đặc điểm đó chỉ là khả năng của sự phát triển tâm lý Trong những điều kiện bất kỳ hay trong những điều kiện thuận lợi nhất của giáo dục thì những biểu hiện và những chức năng tâm
lý khác nhau cũng phát triển ở những mức độ khác nhau Trong đó, có những thời
kỳ tối ưu đối với sự phát triển của một hình thức hoạt động tâm lý nào đó Ví dụ: Trẻ từ 1 tuổi đến 5 tuổi là giai đoạn thuận lợi cho sự phát triển về mặt ngôn ngữ Tuổi học sinh tiểu học thuận lợi cho sự hình thành những kỹ xảo vận động
Trang 4Vậy nên, bản chất của sự phát triển tâm lý trẻ em là quá trình trẻ em lĩnh hội nền văn hóa xã hội loài người để tạo nên những biến đổi trong đời sống tâm lý của chính mình Sự hình thành và phát triển tâm lý và quá trình hình thành các hệ thống chức năng của não trên cơ sở bổ sung để cải thiện hệ thống chức năng đã có Sự phát triển tâm lý cũng chính là sự hình thành phát triển các hoạt động tâm lý mà trước hết là hoạt động trí tuệ
Các nhà tâm lý học duy vật biện chứng những chỉ ra rằng sự phát triển tâm -sinh lý trẻ em tuân theo những quy luật nhất định Trước hết là quy luật không đồng đều, quy luật này nói lên rằng trong tiến trình phát triển của mỗi cá thể, các chức năng tâm lý không “dàn hàng ngang” cùng phát triển mà sự hình thành và phát triển của chúng diễn ra có thời điểm Tại một thời điểm nào đó trong tiến trình phát triển sẽ có nhiều ưu thế cho sự phát triển tâm lý một chức năng tâm lý nhất định Quy luật không đồng đều còn nói lên rằng sự phát triển tâm lý của những cá thể khác nhau là không như nhau hay còn nói tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý còn được thể hiện ở giữa các cá nhân trong cùng một độ tuổi Mọi trẻ em đều phải trải qua những giai đoạn phát triển giống nhau, theo một trình tự nhất định nhưng mỗi trẻ lại phát triển theo cách riêng với nhịp độ, tốc độ, khuynh hướng không lặp lại ở trẻ khác Vậy nên, có trẻ phát triển nhanh, có trẻ phát triển chậm hơn so với giai đoạn lứa tuổi Ví dụ: sự phát triển về thể chất ở tuổi thiếu niên, có trẻ tăng trưởng theo mức độ trung bình nhưng có trẻ lại có tốc độ tăng trưởng hơn hẳn những đứa trẻ khác Thứ hai chúng ta có thể nhắc tới quy luật về tính toàn vẹn của tâm lý Cùng với sự phát triển của lứa tuổi thì tâm lý con người ngày càng có tính trọn vẹn, thống nhất và bền vững Sự phát triển tâm lý là sự chuyển biến dần các trạng thái tâm lý thành các đặc điểm tâm lý cá nhân Tâm lý trẻ nhỏ phần lớn là những tâm trạng rời rạc khác nhau, là một tổ hợp thiếu hệ thống Sự phát triển tâm
lý thể hiện ở chỗ những tâm trạng đó dần dần chuyển thành các nét của nhân cách
ổn định Ví dụ: Tâm trạng vui vẻ thoải mái nảy sinh trong quá trình lao động
Trang 5chung, phù hợp với lứa tuổi nếu được lặp lại thường xuyên nó sẽ chuyển thành lòng yêu lao động Tính trọn vẹn của tâm lý còn phụ thuộc nhiều vào động cơ chỉ đạo hành vi của trẻ Dưới tác động của giáo dục làm cho kinh nghiệm sống ngày càng được mở rộng thì động cơ hành vi của trẻ ngày càng trở nên tự giác và có ý nghĩa
xã hội, điều đó được bộc lộ rất rõ trong nhân cách của trẻ Cuối cùng là quy luật về tính mềm dẻo và khả năng bù trừ Hệ thần kinh của trẻ em rất mềm dẻo, nên mọi tác động giáo dục có thể làm thay đổi tâm lý trẻ em Tính mềm dẻo cũng tạo khả năng bù trừ có nghĩa là: khi có một chức năng tâm lý hoặc sinh lý nào đó yếu hoặc thiếu thì những chức năng tâm lý khác được tăng cường, phát triển mạnh hơn để bù đắp cho hoạt động không đầy đủ của những chức năng bị yếu hoặc bị hỏng đó Ví dụ: Người khuyết tật về thị giác được bù đắp bằng sự phát triển mạnh mẽ của thính giác
Hình ảnh Anh Thư-từ một cô bé bị mù đã trở thành một nghệ sĩ piano
Trang 6Đặc điểm của sự phát triển tâm lý trẻ trước hết là, những thành tựu của giai đoạn trước bao giờ cũng là tiền đề cho sự phát triển của giai đoạn sau Cho dù bộ
óc của con người có tinh vi đến đâu chăng nữa nhưng nếu không sống trong xã hội loài người, không được hưởng sự giáo dục và dạy dỗ của thế hệ trước thì đứa trẻ cũng không thể trở thành nhân cách được.Ví dụ: Trường hợp 2 em bé người Ấn Độ lạc trong rừng được bầy sói nuôi dưỡng Bên cạnh đó sự phát triển tâm lý diễn ra có
sự lặp lại theo chu kỳ và nó diễn ra một cách vừa tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt có những thời điểm khủng hoảng
Sự phát triển tâm lý của trẻ là sự lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử Trong khi đó, giáo dục và dạy học là con đường đặc biệt để truyền đạt kinh nghiệm
xã hội, những phương tiện hoạt động cho thế hệ sau, giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý của trẻ Tuy nhiên, tâm lý con người mang tính chủ thể, những tác động của điều kiện bên ngoài luôn luôn bị khúc xạ thông qua lăng kính chủ quan (kinh nghiệm sống) của cá nhân Do vậy, những học sinh khác nhau có thể có những thái độ khác nhau trước cùng một yêu cầu của giáo viên Mặt khác, con người là một chủ thể tích cực hoạt động có thể tự giác thay đổi được chính bản thân mình, nên mọi tác động bên ngoài chỉ ảnh hưởng tới tâm lý con người một cách gián tiếp thông qua quá trình tác động qua lại của con người với môi trường
Để giữ được vai trò chủ đạo thì giáo viên cần mang tới sự giáo dục và những bài giảng dạy phải luôn kích thích, dẫn dắt sự phát triển chứ không phải là chờ đợi sự phát triển Giáo dục phải đi trước một bước để đón bắt sự phát triển, tạo nên ở trẻ quá trình giải quyết mâu thuẫn liên tục để thúc đẩy sự phát triển và giáo viên chính
là một yếu tố quan trọng trong giáo dục Với vai trò là một giáo viên, thầy cô phải luôn nắm bắt kịp thời những nét tâm lí tính cách của các em học sinh; lên bài dạy
và phương pháp học tập phong phú, mới mẻ dẫn dắt sự phát triển của các em từ bên trong, tạo cho trẻ tập tự giải quyết những mẫu thuẫn để thúc đẩy sự phát triển cá nhân
Trang 7Câu 2: Phân tích đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học? Từ phân tích đặc điểm tư
duy của học sinh tiểu học, anh (chị) hãy rút ra kết luận sư phạm cần thiết?
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết, là quá trình nhận thức lí tính điển hình Tư duy có tính “có vấn đề, tính trừu tượng và khái quát, tính gián tiếp của tư duy, và tư duy thường có liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và nhận thức cảm tính
Đặc điểm nổi bật trong tư duy của học sinh tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát Tư duy của học sinh các lớp đầu tiểu học là tư duy cụ thể dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng Còn tư duy của học sinh các lớp cuối tiểu học đã thoát ra khỏi tính chất trực tiếp của tri giác và mang dần tính trừu tượng, khái quát Ví dụ: Học sinh lớp 1 hay đếm que tính và ngón tay khi tính toán; hay thường lĩnh hội tài liệu học tập một chiều Đặc điểm này được thể hiện rõ trong mọi khía cạnh tư duy của các em
Trang 8Đặc điểm nổi bật nhất của tư duy học sinh tiểu học biểu hiện ở các mặt của
tư duy: trong khi tiến hành các thao tác tư duy, trong lĩnh hội khái niệm, trong phán đoán và suy luận Trước hết tư duy của học sinh tiểu học còn mang tính máy móc Với học sinh các lớp đầu tiên của tiểu học thì khả năng phân tích, tổng hợp còn sơ đẳng Các em tiến hành hoạt động này chủ yếu bằng hành động thực tiễn khi tri giác trực tiếp đối tượng Ở đây, trẻ thường chỉ tách ra một cách riêng lẻ từng bộ phận, từng thuộc tính của đối tượng khi phân tích hoặc chỉ cộng lại một cách đơn giản các thuộc tính, các bộ phận để làm nên cái toàn thể khi tổng hợp Ví dụ: trẻ ở lớp 1 lớp 2 thường phải dựa vào từ để tìm ra các chữ, dựa vào câu để tìm ra các từ
từ Đến các lớp cuối tiểu học, các em đã có thể phân tích đối tượng mà không cần đến những hành động thực tiễn đối với đối tượng đó, đã có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ và sắp xếp chúng vào các hệ thống nhất Tuy nhiên trẻ vẫn khó khăn khi tiến hành tổng hợp
Học sinh tiểu học đã biết tiến hành so sánh nhưng thao tác này vẫn chưa được hình thành một cách đầy đủ Ở các lớp đầu tiểu học, trẻ vẫn thường nhầm lẫn giữa so sánh và kể lại một cách đơn giản các đối tượng cần so sánh Ví dụ: khi giáo viên đưa ra hai hình ảnh so sánh cho học sinh đầu tiểu học “Vầng trăng khuyết như hình lưỡi liềm” thì lúc này học sinh chỉ kể lại miêu tả sơ lược lại vầng trăng khuyết nhìn ra sao, treo lơ lửng trên bầu trời, lưỡi liềm sẽ trông như nào,… chứ chưa thể chỉ ra được các điểm giống nhau, khác nhau Đến cuối tiểu học các em đã có thể so sánh sự giống và khác nhau Học sinh các lớp cuối tiểu học tuy đã biết đi tìm sự giống nhau và khác nhau khi so sánh nhưng các em thường hoặc chỉ tìm thấy sự giống nhau ở những đối tượng đã quen thuộc hoặc là chỉ tìm thấy sự khác nhau ở những đối tượng mới lạ, rất hiếm khi cùng một lúc các em vừa tìm thấy cái giống nhau và cái khác nhau
Trang 9Bên cạnh đó, tư duy chưa thoát khỏi tính trực quan cụ thể; tư duy còn mang tính phán đoán một chiều Ví dụ: Trẻ em thường dễ bị lúng túng khi giải bài toán
có từ “nếu” hoặc khó hình dung những thứ trừu tượng Tư duy của trẻ em thường lẫn lộn giữa nguyên nhân – kết quả và chưa chưa thể hiểu vấn đề một cách sâu sắc
Ví dụ: Trẻ em có thể trả lời được câu hỏi “Cá trong bể ở nhà không được chô ăn thường xuyên thì sẽ làm sao?” nhưng khi hỏi “Tại sao cá trong bể lại chết?” thì thường không trả lời được Trừu tượng hóa và khái quát hóa là những thao tác khó đối với học sinh tiểu học Bởi kỹ năng phân biệt các dấu hiệu và lấy ra các thuộc tính bản chất chưa có sẵn ở học sinh tiểu học mà sẽ được hình thành dần Nó được hình thành qua ba mức độ Ban đầu học sinh biết tách các dấu hiệu không bản chất
Ví dụ: Ở lớp 1, khi giải thích khái niệm về “cá”, sẽ có những đặc điểm như: bơi, không biết nói,…Tiếp theo học sinh biết dựa trên những dấu hiệu không bản chất
và bản chất nhưng cái bản chất phải dễ bộc lộ, dễ nhìn Ví dụ: Ở lớp 2, lớp 3 đã nhấn mạnh dấu hiệu “biết bơi”, “sống ở dưới nước như: sông, hồ, biển ”, “thở bằng mang”,…Và sau cùng học sinh biết tách ra dấu hiệu bản chất, sắp xếp thành hệ thống nhưng vẫn phải dựa vào sự vật cụ thể trực quan Trong lĩnh hội khái niệm tư duy của các em cũng được thể hiện rất rõ điều này Ví dụ: Ở lớp 4,5 có thể hệ thống được những đặc điểm, dấu hiệu trên nên có thể phân loại được ngành, lớp, loài,… như: Cái cây gồm có lá, cành, quả, cần được tưới nước để phát triển và lớn lên
Vậy, xuất phát điểm của tư duy học sinh tiểu học là trực quan, cụ thể Khi tiếp xúc với thực tế, học tập, trao đổi xã hội, đặc biệt là hoạt động học trong nhà trường, nó được phát triển Mặc dù định hướng của nó vẫn chủ yếu là cụ thể nhưng
là một thức cụ thể ít, mang tính chất trực tiếp, đã tách nhiều ra khỏi tri giác trực tiếp và mang dần tính trừu tượng, những thao tác logic đầu tiên thay thế dần cho tính trực giác, cho phép trẻ có khả năng suy luận và nhận thức thế giới một cách khách quan hơn trong những giới hạn cụ thể Tuy nhiên những đặc điểm tư duy của
Trang 10học sinh tiểu học chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi nó là kết quả của trình độ dạy học ở trường tiểu học Nhiều công trình nghiên cứu ở cả Liên Xô, Đức, Việt Nam đã xác nhận rằng với nội dung và những điều kiện dạy học nhất định ở trẻ tuổi này có thể hình thành những khái niệm mà sự vận dụng chúng cho thấy các em có trình độ khá cao về khả năng khái quát hóa và trừu tượng hóa, có khả năng tư duy lý luận
Trong giai đoạn để trẻ phát triển tư duy thì giáo dục là một trong chìa khóa hàng đầu Qua đó chúng ta có thể kết luận sư phạm như sau: Chúng ta cần phải coi trọng việc phát triển tư duy cho học sinh Bởi lẽ, không có khả năng tư duy học sinh sẽ không học tập và rèn luyện được Muốn kích thích học sinh tư duy thì phải đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề và tổ chức cho học sinh độc lập, sáng tạo giải quyết tình huống có vấn đề Vì vậy, việc phát triển tư duy phải được tiến hành song song và thông qua truyền thụ tri thức Với vai trò là một người làm sư phạm, thầy cô cần phát triển tư duy cho trẻ bằng cách để trẻ học toán tư duy – điều này cực kì có ích trong phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy logic Rèn luyện cho trẻ cách tư duy tổng quát: giúp trẻ có sự phán đoán chính xác và giúp các em có khả năng lập kế hoạch Bên cạnh đó nên để trẻ tự giải quyết vấn đề của chính bản thân
để tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc với nhiều vấn đề trong cuộc sống, hướng dẫn
và chỉ ra cốt lõi để các con có thể làm quen dần với các khó khăn và tự giải quyết được vấn đề của mình mà không cần dựa dẫm vào người khác Rèn luyện cho trẻ cách tư duy theo nhiều chiều, từ đó hình thành lên trong trẻ trạng thái tò mò và luôn đặt câu hỏi: “Tại sao” để trẻ có thể nhìn nhận các vấn đề một cách sâu sắc và chính xác hơn
Câu 3: Phân tích các con đường hình thành nhân cách của người giáo viên tiểu
học? Từ những phân tích đó anh (chị) hãy lập kế hoạch học tập và rèn luyện để trở thành người giáo viên tiểu học?
Người giáo viên nói chung hay đặc biệt là những người giáo viên tiểu học,