1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN VĂN HỌC

22 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 602,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện cười luôn tìm ra những điều nực cười trong đời sống xã hội, điều này phi tự nhiên, trái với nhịp sống bình thường, lạc hậu mà bảo thủ, trở thành vật cản cho sự tiến bộ xã hội của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM -

BÀI TẬP LỚN Môn: Văn học

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Phương

Mã sinh viên: 220000231 Lớp: GDTH D2020B Giảng viên hướng dẫn: Hà Thu Thủy

Trang 2

Câu 1: So sánh đặc trưng thể loại truyện cười và truyện ngụ ngôn? Những lưu ý khi hướng dẫn học sinh tiểu học đọc 2 thể loại này?

A Truyện cười:

Tiếng cười cùng với nước mắt là biểu hiện những trạng thái phong phú của tâm hồn con người Nhà nhân văn chủ nghĩa Rabơle vì thế đã cho rằng: “Cười là một đặc tính của người” Tiếng cười có tính chất tâm lí đã luôn là người bạn đồng hành của con người trên mọi nẻo đường của cuộc sống đầy chông gai Trên cơ sở ấy, truyện cười dângian đã ra đời như là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống

Tuy rất ngắn nhưng mỗi chuyện đều có mở đầu, có diễn biến, có kết thúc Nhân vật trong truyện cười phần lớn là nhân vật độc đáo, có nét khó quên Toàn bộ các yếu tố thipháp của truyện cười như kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện, đều phục vụ mục đích gây cười Bên cạnh chức năng gây cười, truyện cười còn mang chức năng giáo dục: nó giúp con người mài sắc tư duy suy lí, nó làm giàu óc phê phán, bồi dưỡng tinh thần lạc quan, giúp trau dồi khả năng ngôn ngữ… Bởi vậy, đọc truyện cười để cười không khó Nhưng để có thể hiểu được hết cái thâm thúy của tác giả dân gian thực không dễ

Truyện cười được đặt ra không phải là để giải trí đơn thuần mà là để nêu lên những nhận thức sâu sắc, nghiêm túc về con người và xã hội, là vũ khí đấu tranh giai cấp sắc bén người xưa dùng để phủ nhận những điều phi lí tồn tại trong xã hội phong kiến đangtan rã

Truyện cười là một thể loại trong văn học dân gian dân tộc Truyện cười Việt Nam có những nét riêng, dùng những câu chuyện cười trong cuộc sống để gây cười, nhưng cũng có khi dùng ngôn ngữ dí dỏm, hài hước để miêu tả sự mỉa mai, châm biếm Hiện tượng cười trong truyện cười được hiểu đơn giản là một dạng cười thú vị Nó được chiathành hai loại gồm tiếng cười sinh học và tiếng cười tâm lý xã hội Tiếng cười sinh học

Trang 3

mang tính tự phát nên mang tính bản năng và vô thức Tiếng cười tâm lý xã hội có thể nói là hết sức vi tế và phức tạp Nó có hai loại tiếng cười: tiếng cười tán thưởng và tiếng cười phê phán Trong số đó, ca ngợi thể hiện sự yêu thích, ngưỡng mộ, tán thành

và tán dương Tiếng cười phê phán là tiếng cười trào phúng mà phủ nhận, coi thường

Có hai đặc điểm cơ bản của truyện cười:

Trước hết, khung phản chiếu của một câu chuyện cười là một yếu tố thú vị, gây cười Truyện cười luôn tìm ra những điều nực cười trong đời sống xã hội, điều này phi tự nhiên, trái với nhịp sống bình thường, lạc hậu mà bảo thủ, trở thành vật cản cho sự tiến

bộ xã hội của con người Tuy nhiên, truyện cười chỉ mô tả những hiện tượng vừa buồn cười vừa có khả năng vạch trần cái ác Vì vậy, nó chỉ tập trung vào cuộc sống bình thường, việc thực hiện tầm thường của tất cả các giới luật Các nhân vật trong truyện cười không có anh hùng hay thánh nhân, và họ đều ngang bằng, cá mè một lứa Tất cả những nhân vật – từ chúa sơn lâm, Ngọc đế cho đến vua chúa, quan lại, thường dân… đều có thể là những điều nực cười, bởi họ đều có những khuyết điểm và tật xấu

Thứ hai, mục đích của truyện cười là phê phán cái dở và cái không trọn vẹn Mục đích của đây là bản chất của tiếng cười, là hành động phát hiện ra cái xấu, cái sai, cái mâu thuẫn cũng là một hình thức phê phán, phủ nhận đặc biệt Nói cách khác, truyện cười

sử dụng tiếng cười như một phương tiện để nhận thức và cải tạo hiện thực Thông qua những tràng cười sảng khoái, cả người kể và người nghe đều thấy được điều gì đó về con người và xã hội Các đặc điểm tâm lý, tính cách, động tác, cử chỉ và ngôn ngữ của từng nhân vật đã được lựa chọn cẩn thận và đặt vào thời điểm có thể bộc lộ sự thật một cách ngắn gọn nhất Căn cứ vào nội dung, ta có thể chia làm 2 loại: Truyện khôi hài và truyện trào phúng

Truyện khôi hài chủ yếu dùng để giải trí và giáo dục nhẹ nhàng Chúng là những câu chuyện cười làm nổi bật những thói hư tật xấu của những người bình thường hoặc những khuyết điểm chung trong tính cách của họ Người có tính khôi hài là người tự

Trang 4

tách mình ra khỏi đời sống để quay lại nhìn cảnh đời như một khán giả Trước mắt những người có tính khôi hài, con người trong cuộc sống chẳng khác những con rối bị giật dây Họ nhìn ra những sợi dây đó để từ đó phê phán nhẹ nhàng, tiếng cười vui vẻ, cảm thông, không có ác ý Nhờ đó mà người nghe, người đọc tự rút ra bài học cho bản thân mình Nét khôi hài chỉ là cái nhìn của khán giả ngó lên sân khấu Một số truyện khôi hài được biết đến như Ăn vụng gặp nhau, Tay ải tay ai, Tam đại con gà…

Truyện trào phúng được dùng để châm biếm và đả kích những thói hư tật xấu của một nhóm người trong hệ thống phân cấp xã hội Những người này có những thói quen xấu phổ biến cũng như những thói quen xấu của bản chất giai cấp mà họ đại diện Tiếng cười ác ý nhắm vào những người giàu xấu xa bẩn thỉu; quan lại – những kẻ được coi là cha mẹ dân nhưng lại nịnh nọt cấp trên, ức hiếp cấp dưới; thầy mo, thầy địa lý, thầy bói, thầy cúng đủ thứ thầy dốt, bất tài, lại hành động không có nguyên tắc Khám phánghệ thuật xây dựng truyện trào phúng, bạn đọc sẽ thấy tài năng của tác giả dân gian trong việc tái hiện cuộc sống đương thời bằng những mâu thuẫn để tạo ra những tiếng cười vừa xót xa, vừa thâm thúy ý vị Đặc biệt là hệ thống truyện trào phúng nổi tiếng Trạng Quỳnh, nhằm phê phán, lên án và mang yếu tố đả kích mạnh mẽ, chỉ thẳng ngón tay vào bọn phong kiến thối nát

B Truyện ngụ ngôn:

Truyện ngụ ngôn là truyện kể có tính chất thế sự, dùng cách ẩn dụ để thuyết minh cho một chủ đề luân lý, triết lý một quan niệm nhân sinh hay một nhận xét về thực tế xã hội Truyện ngụ ngôn có thể xem như là một vở kịch nhỏ mà nhân vật có thể là bất cứ vật gì trong vũ trụ, sân khấu có thể là bất cứ đâu Một bộ phận lớn truyện ngụ ngôn mượn hình ảnh loài vật Qua truyện ngụ ngôn, tác giả nêu lên triết lý ứng xử dân gian, những bài học đạo đức và kinh nghiệm sống, cùng với đó là vũ khí đấu tranh xã hội, chống lại những kẻ cường quyền, những thế lực phong kiến áp bức bóc lột nhân dân.Ngụ ngôn có bốn đặc trưng cơ bản

Trang 5

Thứ nhất, ngụ ngôn có cốt truyện ngắn nhưng rất cô đọng, hàm suýc và giàu sức biểu hiện, vì thế nó gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân và đặc biệt là các em nhỏ lứa tuổi tiểuhọc.

Thứ hai, nhân vật của ngu ngôn thường là loài vật được nhân hoá Vì vậy mỗi truyện ngụ ngôn là một ẩn dụ lớn Các nhân vật loài vật trong ngụ ngôn đều là nhân vật chức năng, đóng vai trò tượng trưng cho một kiểu người nào đó trong xã hội Những con thú

dữ thường là hình ảnh của kẻ có quyền lực và sức mạnh; những con vật bé nhỏ thường

là hình ảnh của người lương thiện, luôn là nạn nhân của kẻ mạnh, nhưng đôi khi, bằng lòng dũng cảm và trí thông minh, họ có thể làm cho kẻ mạnh phải nể sợ

Thứ ba, ngụ ngôn luôn đặt ra mục tiêu triết lí Mỗi một câu chuyện ngụ ngôn hàm chứa trong đó ít nhất một bài học triết lí, đó là lí do vì sao nó được coi là túi khôn của nhân loại Bài học triết lí được thể hiện hoặc công khai qua nhan đề câu chuyện và qua lời nói của nhân vật, hoặc kín đáo qua hàm ngôn của nó Để chuyển tải lời triết lí, nhan đề truyện phải là những thành ngữ hoặc những lời nhận xét ngắn gọn thâu tóm toàn bộ ý nghĩa của câu chuyện Rất nhiều truyện ngụ ngôn Việt Nam lấy tên là thành ngữ tiếng Việt: Đẽo cày giữa đường, Thả mồi bắt bóng,…

Thứ tư, ngụ ngôn dùng các bài học kinh nghiệm thực tiễn để giáo dục người đời Các bài học đều được nêu lên qua những tình huống cụ thể, được đúc kết các phương châm hành động, là lời khuyên chân thành nhằm giúp con người biết mình biết người, không

bị những thói hư tật xấu, những điều xa hoa bên ngoài làm mất đi bản chất tốt đẹp của mình

Một số truyện ngụ ngôn mà ta thường thấy: “Mèo lại hoàn mèo”, “Thầy bói xem voi”,

C Phân biệt truyện cười và truyện ngụ ngôn

Truyện cười và truyện ngụ ngôn đều thuộc bộ phận văn học dân gian và nhóm “truyện dân gian”, đều chế giễu, phê phán những hành động, cách ứng xử trái với đạo đức làm

Trang 6

người, qua đó là bài học sâu sắc mà thế hệ trước muốn truyền lại và răn dạy cho thế hệ sau Ngoài ra còn là sự phản kháng đối với xã hội, đả khích giai cấp thống trị với nhữngthói hống hách, ngang ngược, quyền thế Cốt truyện thường ngắn mà rất giàu cảm xúc, biểu hiện rõ bản chất của đói tượng thông qua tình huống cụ thể, là phương tiện hữu ích để giáo dục học sinh khi được hòa mình vào thế giới của những câu chuyện, học cách đồng cảm và thương yêu những con người bất hạnh, bộc lộ thái độ yêu ghét trước cái hay cái tốt và cái xấu cái ác, lên án, đấu tranh chống lại áp bức, cường quyền Từ

đó, nhân cách của các em được hình thành và phát triển

Tuy có nhiều nét tương đồng, song hai thể loại truyện trên cũng có nhiều nét khác biệt Nhân vật trong truyện cười thường rất ít, đối tượng chủ yếu của tiếng cười tập trung vào cái đáng cười ở nhân vật Tiếng cười có thể là bản năng, vô thức, nhưng cũng có thể là tiếng cười bộc lộ thái độ, tình cảm ở con người Kết thúc câu chuyện là chi tiết gây cười, từ đó người đọc có thể tự rút ra bài học cho cuộc sống Ở truyện ngụ ngôn, tác giả không tập trung vào chi tiết hài hước, gây cười mà giới thiệu tình huống có tính chất điển hình trong quan hệ, ứng xử để người đời tham khảo Các tình huống này thuộc về cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, giúp người đọc chọn lọc và phán xét Ngụ ngôn thường phê phán những sai lầm trong suy nghĩ, hành động, lối sống của người đời và chỉ ra rằng những điều ấy sẽ dẫn đến thất bại; kiên trì, đoàn kết, “ở hiền gặp lành”, ắt

sẽ dẫn đến thành công

D Những lưu ý khi hướng dẫn học sinh tiểu học đọc truyện cười – truyện ngụ ngôn:Truyện cười và truyện ngụ ngôn là phương tiện hữu ích để giáo dục học sinh Ngay từkhi còn nhỏ, các em đã được tiếp xúc với những bài ca dao qua những lời ru, câu hát Ởlứa tuổi tiểu học, tư duy trực quan cụ thể còn đang phát triển, các em chủ yếu đánh giá,nhìn nhận sự vật, sự việc bằng trực giác Các em yêu thích truyện cười và truyện ngụngôn bởi vẻ ngoài đơn giản, ngôn từ dễ hiểu, cốt truyện ngắn, nhân vật gần gũi, thânthuộc Đọc hai thể loại truyện trên, các em sẽ dần bộc lộ được cảm xúc yêu ghét vớitừng nhân vật, phản đối hay đồng tình với hành vi của họ Cũng chính vì sự tiếp nhận

Trang 7

của các em còn mang tính chất cảm tính nên càng cần đến sự định hướng, dẫn dắt củangười lớn Cụ thể, cần giúp trẻ nắm bắt được nội dung và ý nghĩa phía sau câu chuyện.Trước hết, cần giúp các em nắm được đặc trưng thể loại: Từ đó giúp trẻ nhanh chóngnắm bắt được nội dung cơ bản cũng như mục đích sáng tác của từng thể loại, xác địnhcác vai trong truyện ám chỉ những hạng người nào trong xã hội, hiểu nghĩa ám chỉ của

cả câu chuyện và rút ra ý tứ được gửi gắm trong đó Giáo viên cần bám sát chuẩn kiếnthức kĩ năng để thiết kế bài giảng, tổ chức hướng dẫn học sinh học tập với các hìnhthức đa dạng phong phú: nghe – nói – đọc – viết, thể hiện được mục tiêu bài giảng: Vềkiến thức, kỹ năng, thái độ; nội dung kiến thức: Chính xác khoa học, nổi bật trọng tâm;thể hiện được sự tích hợp: Phẩm chất, đạo đức, kĩ năng sống…Ngoài ra, tổ chức cáchoạt động học tập của học sinh: Hoạt động nhóm, cá nhân để các em có thể hiểu vàtrau dồi kiến thức về thể loại truyện mình được học Qua những câu chuyện nhỏ, họcsinh dần bộc lộ được những những tư tưởng, tình cảm đó trong giao tiếp, biết yêuthương con người, yêu cái thiện, biết phê phán, đấu tranh với cái xấu, cái ác, tránh xathói hư tật xấu, có tư tưởng đúng đắn, nhìn nhận sự vật hiện tượng một cách toàn diệnhơn

Câu 2: Chứng minh rằng “Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo là hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt văn học trung đại Việt Nam”

Văn học là dòng chảy không ngừng của thời gian, và các nhà văn, nhà thơ là thư kí trung thành của thời đại Văn học giúp con người có niềm tin vào cuộc sống và hướng con người đến chân – thiện – mĩ Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc thì văn học trung đại từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX đóng một vai trò quan trọng và giá trị to lớn

Nó đánh dấu sự ra đời của nền văn học viết Việt Nam và ghi dấu sự phát triển của văn học dân tộc Đồng thời nó là cầu nối giữa văn học dân gian và văn học hiện đại Trong thời kì này, dân tộc ta đã thoát khỏi ách thống trị nặng nề của phong kiến phương Bắc

Trang 8

hơn một ngàn năm Vì vậy, văn học thời kì này mang hai đặc điểm lớn đó là: Chủ nghĩayêu nước và chủ nghĩa nhân đạo.

Chủ nghĩa nhân đạo trước hết bắt đầu từ sự thương yêu con người, mà hạt nhân của nó chính là trái tim giàu lòng yêu thương của nhà văn Nó phản ánh con người vừa trực quan vừa khách quan, một mặt miêu tả con người sống động như chính nó trong đời sống, mặt khác lại nhìn nó với cái nhìn thấm đẫm sự cảm thông, yêu thương – cái nhìn đậm chất nhân đạo của người nghệ sĩ Càng đồng cảm, xót xa cho số phận con người,

sẽ càng căm ghét, phẫn nộ với những thế lực đày đọa con người Càng trân trọng, nâng niu vẻ đẹp của con người, sẽ càng khinh ghét, kinh tởm những thế lực chà đạp, làm vấybẩn vẻ đẹp ấy Do vậy, đó không chỉ là sự nâng niu trân trọng những vẻ đẹp của con người, mà còn muốn biến văn học thành một thứ vũ khí đấu tranh cho quyền sống của con người

Thế giới sáng tạo ra trong văn học và bằng văn học nghệ thuật từ xưa đến nay là một thế giới mà trong đó con người luôn đấu tranh chống lại mọi thế lực thù địch luôn xuất hiện dưới mọi hình thức, để khẳng định chính mình, khẳng định quyền năng và sức mạnh của mình, đồng thời thể hiện khát vọng làm người mãnh liệt và cao đẹp của mình Lòng yêu thương, ưu ái đối với con người và thân phận của nó từ trước đến nay vẫn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà văn, nhà nghệ sĩ trong cảm hứng sáng tạo của nghệ thuật

tâm điểm chính là con người” Văn học không thể không phản ánh con người Văn học trung đại là nơi mà các tác giả gửi gắm vào đó những nguyên tắc đạo lý làm người, thái

độ đối xử trong các mỗi quan hệ giữa con người với nhau , những khát vọng sống, khát vọng về hạnh phúc Đó còn là lòng cảm thương cho mọi kiếp người đau khổ, đặc biệt làvới trẻ em, phụ nữ và những kiếp người lương thiện bị đọa đày, hồng nhan mà bạc mệnh, những người tài hoa mà lận đận,…

Trang 9

Ở giai đoạn này, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng Các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực lẫn nhau Cuộc sống của nhân dân vô cùng khổ cực Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã cùng một lúc lật đổ các tập đoàn phong kiến, đánh đuổi quân Xiêm, quân Thanh, thống nhất đất nước Khi phong trào Tây Sơn suy yếu, triều Nguyễn khôi phục chế độ phong kiến chuyên chế và đất nước nằm trước hiểm họa xâm lược của thực dân Pháp Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam Xã hội Việt Nam chuyển dần từ xã hội phong kiến sang

xã hội thực dân nửa phong kiến

Các tác phẩm nổi bật thời kì này có thể kể đến như: Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn –Đoàn Thị Điểm dịch), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), thơ Hồ Xuân Hương,Truyện Kiều (Nguyễn Du),… Đó là những tác phẩm mà, mỗi trang giấy là một số phận được trải ra trước mắt người đọc, từng số phận là những tiếng kêu khóc đau đớn cho những kiếp người, từng con chữ cất lên đều ám ảnh, day dứt khôn nguôi Người đọc tìm đến tác phẩm với nhiều mục đích, nhưng cao cả hơn cả vẫn là để thanh lọc tâm hồn,

để tâm hồn mình phong phú hơn, trong sạch hơn Đến với những số phận gửi gắm trongtác phẩm, họ được sống nhiều hơn, được trải nghiệm nhiều hơn, nhưng hơn cả là, họ được xúc cảm nhiều hơn, suy tư nhiều hơn, họ được khóc với nỗi đau của đồng loại, được reo vui với niềm vui của đồng loại Văn học giúp cho trái tim mỗi con người trở nên nhạy cảm hơn, bao dung hơn, nhân hậu hơn Con người bước vào những tác phẩm văn học ấy với nhiều vẻ đẹp rất đa dạng Đó có thể là nhan sắc tuyệt mỹ của nàng Kiều

“hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”, đó có thể là cái đẹp tài năng như của người nghệ sĩ Vũ Như Tô khi xây Cửu Trùng Đài Nhưng, quan tâm nhất vẫn là vẻ đẹp tâm hồn của con người, nhiệm vụ hàng đầu của vẫn là tìm kiếm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người Quá trình tìm kiếm vẻ đẹp ấy đòi hỏi rất nhiều công sức, trí tuệ, tình cảm của người cầm bút Người nghệ sĩ trước hết phải là những con người biết dấn thân,biết đạp lên những định kiến cố hữu của con người và xã hội để nhìn con người một

Trang 10

cách người nhất Nam Cao, để khám phá được khao khát sống trong Chí Phèo, đã phải cùng nhân vật của mình quằn quại trong cuộc lột xác đầy đau đớn từ một con quỷ thànhmột con người, để làm nên từng trang văn dữ dội như lửa cháy, đồng thời, nhà văn tài

ba ấy cũng phải đạp lên những định kiến của người đời, phải tách rời khỏi những kẻ nhìn Chí Phèo như quỷ dữ, để nhìn anh như một con người Chỉ ở góc nhìn đó, nhà vănmới có thể đau đớn đến tận cùng cùng với nỗi đau của nhân vật, mới có thể từ cùng cựccủa bi kịch gạn lọc nên viên ngọc tươi trong: khát khao sống, khát khao lương thiện củamột con người Cái nhân đạo của Nam Cao còn ở bức thông điệp dội vào cuộc sống: Cuộc sống cần phải thay đổi, để mỗi con người có hoài bão, có ước mơ được sống đúngvới hoài bão và ước mơ của mình, để được sống và cống hiến, sống trở thành con người

có ích cho xã hội, chứ không phải là những con người đau đớn, những kiếp sống mòn, ngày ngày nhìn ước mơ của mình đổ vỡ, và bản thân mình thì dẫn tha hóa, trở thành kẻ tồi tệ, giày vò hành hạ những người yêu thương của mình

Có thể nói quá trình tìm kiếm hạt ngọc trong tâm hồn con người là quá trình khó khăn nhất Bởi con người ta cũng chẳng thể hiểu được chính bản thân mình, thì làm sao người khác có thể hiểu kín kẽ, cùng tận? Thêm nữa, trong hoàn cảnh khốn cùng của cuộc sống, mà tâm hồn người nghệ sĩ vẫn phải luôn hướng đến cái đẹp cái thiện Họ không thể làm ngơ, câm lặng trước những giọt nước mắt của đồng loại Nhà văn Nam Cao đã từng nói “Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến

ai được nữa” Ấy vậy mà, những nhà văn vẫn giữ cho mình một thái độ sống hết sức nhân văn để từ đó cảm thương cho số phận của những kiếp người khổ cực khác Ở họ phải có một sự nhạy cảm thiên bẩm và một trái tim hừng hực yêu thương Đôi mắt của

họ phải là đôi mắt tinh tường, đôi mắt thấu hiểu, thấy được từ những biểu hiện bên ngoài nhỏ nhất của con người để thấy được những biến động của tâm hồn bên trong

Họ thông cảm, xót xa cho những số phận kia bao nhiêu, lại càng căm ghét sự xấu xa, tàn nhẫn, vô nhân đạo chà đạp lên con người bấy nhiêu

Trang 11

Bên cạnh chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước cũng là nguồn cảm hứng lớn nhất của văn học Việt Nam thời kì trung đại Lịch sử ghi nhận công lao vất vả, truân chuyên của dân tộc Việt Nam trong việc sinh tồn quốc gia, nhưng lịch sử cũng ghi nhận những trang sử hào hùng, chói lọi chiến công và sự anh dũng của một dân tộc nhỏ bé mà kiên cường, bất khuất, gan góc chống lại sự áp bức để giành lại tự do, hòa bình cho chính mình Để có được nền độc lập hòa bình, chúng ta đã phải đánh đổi rất nhiều thứ, mà

danh từ trừu tượng Nó không có hình dáng, màu sắc nhưng mỗi khi nhắc đến nó, tất cảngười dân Việt Nam đều có thể hình dung một cách rõ ràng và cụ thể Lòng yêu nước bắt nguồn từ những tình cảm bình dị nhất, gần gũi nhất với con người như tình yêu gia đình, yêu thành quả lao động mình làm ra, cho đến tinh thần sẵn sàng đem hết khả năng của mình phục vụ cho lợi ích của tổ quốc.Đó là một truyền thống vô cùng quý báucủa dân tộc ta Cảm hứng yêu nước trong văn học thời kì trung đại được thể hiện bằng nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau với nhiều mức độ: yêu thương có, hơn giận có, buồn vui có, có cả những thao thức băn khoăn và sự tự hào, xót thương Ta bắt gặp những bản tuyên ngôn độc lập với giọng đọc hào sảng qua “Nam quốc sơn hà” hay mộtbài hịch vang núi sông ngỡ còn đâu đây trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn,…

Ngôn từ chính là vũ khí, trí tuệ chính là vũ khí, tình cảm chân chính chính là vũ khí – những nhà văn chân chính từ bao đời nay vẫn chiến đấu cho cuộc sống của con người như thế Họ chính là những những nghệ sĩ vĩ đại

Nhưng cảm hứng yêu nước, với sự biểu hiện đa dạng không chỉ có trong các tác phẩm

có tính chiến đấu và hào sảng như vậy Đất nước có chiến tranh, nhân dân lầm than nô

lệ, truyền thống phong tục của cha ông bị chà đạp, giày xéo… những dòng cảm xúc bi thương, sầu tủi và buồn đau da diết, những tâm sự của bản thân nghệ sĩ với hoàn cảnh tối tăm của đất nước trong nô lệ nhưng đồng thời vẫn có niềm tin sắt son vào tương lai vào chính nghĩa cũng được bộc bạch Đó là những nỗi bi thương, buồn đau trong thơ Nguyễn Đình Chiểu – một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học dân tộc hay tâm sự của

Ngày đăng: 14/12/2021, 05:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w