1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP LỚN TÂM LÝ HỌC

14 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 126,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà tâm lý học khoa học cho rằng, sự phát triển tâm lý của trẻ em liên quan đến sự xuất hiện, hình thành và hoàn thiện cái mới trong đời sống tâm lý của trẻ.. Nói cách khác, những th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

-BÀI TẬP LỚN Môn: Tâm lí học lứa tuổi tiểu học

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Phương

Mã sinh viên: 220000231

Lớp: GDTH D2020B Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Thảo

Trang 2

Câu 1: Phân tích quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lý trẻ em, cho

ví dụ minh họa và rút ra kết luận sư phạm cần thiết?

* Bản chất của sự phát triển tâm lí trẻ em

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật - biện chứng, sự vận động và phát triển có nguồn gốc ở sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, nghĩa là ở các mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng Kết quả của sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập đó tạo ra động lực của sự vận động phát triển không ngừng của mọi sự vật hiện tượng Nó tạo sự “tự vận động” của tất cả mọi cái đang tồn tại Sự phát triển được biểu hiện thành một xu hướng: từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện Các nhà tâm lý học khoa học cho rằng,

sự phát triển tâm lý của trẻ em liên quan đến sự xuất hiện, hình thành và hoàn thiện cái mới trong đời sống tâm lý của trẻ Những điều mới mẻ trong đời sống tinh thần

có thể là những khả năng vận hành mới và những phẩm chất tâm lý mới Ở đây, sự phát triển tâm lý của trẻ không chỉ là sự gia tăng về số lượng, mà là một quá trình biến đổi về chất lượng Nói cách khác, những thay đổi về lượng trong chức năng tâm lí sẽ dẫn đến những thay đổi về chất lượng, tức là sự hình thành một cái mới về chất trong đời sống tâm lí – một chức năng tâm lí mới, một năng lực Người mới Cái mới trong đời sống tâm lí ra đời theo phương thức kế thừa những tinh hoa của của cái cũ để đạt tới một mức độ cao hơn và nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa vốn liếng tâm lí đã có ở trẻ với những đòi hỏi mới mà xã hội đặt ra trước trẻ Khi chưa

ra đời, cái nơi trong đời sống tâm lí nằm ngoài trẻ, tàng hình trong các giá trị vật chất và tính thân của nền văn minh nhân loại và văn hoá dân tộc Cho nên, để tạo ra

nó, trẻ không có con đường nào khác là tác động lên các giá trị vật chất và tinh thần kia nhằm lấy lại “năng lực Người” ẩn ở trong đó và chuyển hoá thành năng lực của chính mình Hay dễ hiểu hơn, về thực chất, sự phát triển tâm lí trẻ em là quá trình trẻ em lĩnh hội nền văn hoá xã hội loài người để tạo nên những cái mới trong đời sống tâm lí của chính mình Khi đã được hình thành, cái mới đi vào đời sống tâm lí

Trang 3

của trẻ sẽ làm biến động toàn bộ vốn liếng tâm lí cũ, bắt chúng phải được cấu tạo lại và nhờ vậy mà nâng đời sống tâm lí của trẻ lên một trình độ cao hơn Điều đó cũng có nghĩa là sự hình thành và phát triển tâm lí là quá trình hình thành các hệ thống chức năng của não trên cơ sở bổ sung để cải biến hệ thống chức năng đã có Vào thời điểm nảy sinh và hình thành, cái mới trong tâm lí tồn tại như là mục đích hoạt động của trẻ, nhưng khi đã được hình thành và hoàn thiện nó tồn tại như một công cụ, phương tiện hoạt động của trẻ Như vậy, sự phát triển tâm lí cũng chính là

sự hình thành, phát triển các hoạt động tâm lí mà trước hết là hoạt động trí tuệ và

đó là một quá trình diễn ra theo cơ chế “nhập tâm”, tức là chuyển hoá từ hoạt động bên ngoài vào hoạt động bên trong Nhờ vậy, các hành vi và hoạt động của trẻ được

tổ chức lại theo hướng hợp lí hơn, tự chủ hơn và hiệu quả hơn

Rõ ràng, sự phát triển tâm lý của trẻ em là quá trình chúng làm chủ thành quả của nền văn minh, văn hoá nhân loại và sáng tạo ra những cái mới trong đời sống tâm

lý mang bản sắc riêng của chúng, thông qua hoạt động, giao tiếp của bản thân dưới sự tác động của môi trường, trong đó có vai trò chủ đạo của giáo dục

Ví dụ : Trẻ em luôn thích khám phá và có nhu cầu tự lập

* Một số quy luật phát triển tâm lí trẻ em

- Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lí:

Sự phát triển tâm lí trẻ em diễn ra một cách không đồng đều và đầy biến động Có nghĩa là, Tại một thời điểm nào đó trong tiến trình phát triển, sẽ có nhiều ưu thế cho sự phát triển tâm lí một chức năng tâm lí nhất định Nếu có được những tác động phù hợp thì sự hình thành và phát triển của nó sẽ diễn ra thuận lợi và nhanh chóng Ngược lại, nếu tại thời điểm ấy, một điều kiện nào đấy cản trở sự hình thành

và phát triển chức năng đó thì mọi việc làm về sau sẽ khó khăn hơn rất nhiều.Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lí còn thể hiện ở chỗ có sự khác biệt về sự phát triển tâm lí giữa các cá nhân trong cùng một độ tuổi Mặc dù, tất cả trẻ em đều trải qua những giai đoạn phát triển giống nhau theo một trình tự nhất định Những

Trang 4

giai đoạn này có thể ví như những bậc thang Muốn trèo đến bậc trên cùng đứa trẻ phải lần lượt trèo từng bậc một Tuy nhiên mỗi trẻ em trải qua con đường phát triển theo cách riêng của mình với những tốc độ, nhịp độ, khuynh hướng riêng không lặp lại ở trẻ khác Vì thế, có trẻ phát triển nhanh, có trẻ phát triển chậm hơn so với giai đoạn lứa tuổi Tính không đồng đều trong sự phát triển tâm lí được quy định bởi sự tác động của rất nhiều điều kiện bên trong và điều kiện bên ngoài thường xuyên dao động gây nên tính không đồng đều và tính mâu thuẫn tất nhiên đối với

sự phát triển tâm lý của bất kỳ đứa trẻ nào Sự phát triển tâm lí của trẻ phụ thuộc nhiều vào môi trường sống và giáo dục Môi trường sống khác nhau, điều kiện sống

và giáo dục khác nhau tạo ra những hứng thú, phẩm chất, nhân cách, trình độ phát triển trí tuệ không như nhau.Nó còn phụ thuộc vào mức độ tích cực của trẻ tham gia hoạt động Tính chất của hoạt động quy định tính chất của sự phát triển tâm lý Hoạt động của mỗi đứa trẻ bị thúc đẩy bởi những động cơ khác nhau

Ví dụ: Nếu người chăm sóc biết khuyến khích và kỉ luật một cách thích hợp, trẻ sẽ phát triển được sự đánh giá tích cực về bản thân, trở nên có trách nhiệm hơn với việc làm của mình Ngược lại, trẻ sẽ có thói quen đổ lỗi khi làm sai nếu không được giáo dục đúng cách

- Quy luật về tính mềm dẻo và khả năng bù trừ:

Quy luật này nói lên rằng ở trẻ, hệ thần kinh rất mềm dẻo và dựa vào đó mà tác động của giáo dục có thể làm thay đổi tâm lí của trẻ Tính mềm dẻo cũng tạo ra khả năng bù trừ khi một chức năng tâm lí hoặc sinh lí nào đó yếu hoặc thiếu thì những chức năng khác được tăng cường, phát triển mạnh hơn để bù đắp hoạt động không đầy đủ của chức năng trên Phát triển tâm lí là một quá trình lâu dài và phức tạp, vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội; vừa linh hoạt, vừa ổn định; vừa trọng điểm, vừa thống nhất, toàn vẹn

Ví dụ: Những đứa trẻ có hoàn cảnh sống kém may mắn hơn thường có xu hướng cố gắng bù trừ bằng cách nỗ lực học giỏi, cư xử tốt để được mọi người ghi nhận,

Trang 5

khuyết tật của thị giác được bù đắp bằng sự phát triển mạnh mẽ hoạt động của thính giác,…

- Tính toàn vẹn của tâm lí:

Cùng với sự phát triển, tâm lí con người ngày càng có tính trọn vẹn, thống nhất và bền vững Sự phát triển tâm lí là sự chuyển biến dần các trạng thái tâm lý thành các đặc điểm tâm lý cá nhân Tâm lí trẻ nhỏ phần lớn là một tập hợp thiếu hệ thống các tấm trạng rời rạc khác nhau Sự phát triển thể hiện ở chỗ những tâm trạng đó dẫn chuyển thành các nét của nhân cách Tính trọn vẹn của tâm lí phụ thuộc nhiều vào động cơ chỉ đạo hành vi của trẻ Cùng với giáo dục, cùng với sự mở rộng kinh nghiệm sống, động cơ hành vi của trẻ ngày càng trở nên tự giác, có ý nghĩa xã hội

và ngày càng bộc lộ rõ trong nhân cách của trẻ Trẻ thường hành động vì muốn đạt được một mục đích nào đó, hoặc thỏa mãn một nhu cầu cá nhân nào đó Khi trưởng thành, mục đích này dần mang tính xã hội hơn Trẻ mang trách nhiệm và nghĩa vụ

xã hội đậm đặc hơn, vừa muốn thỏa mãn bản thân, vừa tuân thủ theo các nền tảng đạo đức xã hội Tất cả thúc đẩy trẻ hướng đến phát triển bản thân toàn diện và tích cực

Ví dụ: Tâm trạng vui sướng khi trẻ được khen vì đạt kết quả cao trong học tập, lặp lại thường xuyên sẽ khiến trẻ hứng thú và có động lực cho việc học tập hơn

* Rút ra kết luận sư phạm:

1) Chăm sóc trẻ em trong môi trường tốt, biết yêu thương và kỉ luật trẻ đúng mực Bởi khi trong môi trường ấy, đứa trẻ sẽ được thoả mãn nhu cầu về tình cảm để phát triển Ngoài ra, giúp trẻ biết phân biệt tốt xấu, hình thành thói quen tốt và tránh xa những việc làm sai trái

2) Tổ chức nhiều hoạt động tập thể lôi cuốn các em tham gia, trò chuyện với trẻ nhiều hơn để giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp

Trang 6

3) Tăng cường giáo dục về đạo đức, tư tưởng, lối sống cho các em bằng nhiều biện pháp khác nhau

4) Chú ý đến điểm mạnh ở mỗi đứa trẻ và giúp các em phát huy điểm mạnh đó 5) Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ trong hoạt động

Câu 2: Phân tích đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học ? Từ phân tích đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học, anh (chị) hãy rút ra kết luận sư phạm cần thiết?

Tư duy là sự phản ánh quá trình nhận thức ở trình độ cao một cách khái quát, tích cực, gián tiếp và sáng tạo về thế giới qua các khái niệm, suy lý và phán đoán Khi trẻ trong độ tuổi tiểu học, khả năng tư duy đã khá phát triển, trẻ đã có ý thức, ghi nhớ, tư duy tổng hợp, phát tán và đánh giá đối với các tranh vẽ, ký hiệu, ngữ nghĩa

và hành vi Đặc điểm nổi bật trong tư duy của học sinh tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát Tư duy của học sinh các lớp đầu tiểu học là tư duy cụ thể dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng Còn

tư duy của học sinh các lớp cuối tiểu học đã thoát ra khỏi tính chất trực tiếp của tri giác và mang dần tính trừu tượng, khái quát Đặc điểm này được thể hiện rõ trong mọi khía cạnh tư duy của các em Trẻ trong giai đoạn đầu tiểu học tư duy chủ yếu diễn ra trong trường hành động: nghĩa là những hành động trên các đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của các giác quan) Thực chất của loại tư duy này

là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật Về bản chất, trẻ chưa có các thao tác tư duy - với tư cách là các thao tác trí óc bên trong Trong giai đoạn tiếp theo, trẻ đã chuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong Đó

là các thao tác cụ thể

VD: Ở những năm đầu tiểu học, các em làm toán cần phải sự dụng đến ngón tay, que tính,… nhưng khi đến những năm cuối tiểu học, các em đã có thể làm toán mà không cần đến những hành động đó

Trang 7

Trừu tượng hoá và khái quát hoá là những thao tác khó đối với học sinh tiểu học Bởi kĩ năng phân biệt các dấu hiệu và lấy ra các thuộc tính bản chất chưa có sắn ở học sinh tiểu học mà sẽ được hình thành dần Trừu tượng hóa và khái quát hóa là hai thao tác cơ bản, đặc trưng của tư duy Trừu tượng hóa là dùng trí óc gạt khỏi đối tượng những bộ phận, thuộc tính, quan hệ,… không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố nào cần thiết để tư duy Khái quát hóa là dùng trí óc để hợp nhất sự vật, hiện tượng khác nhau nhưng có cùng những thuộc tính bản chất thành một nhóm mà nhóm này tạo nên một khái niệm nào đó Ở các lớp đầu tiểu học, trẻ vẫn còn tiếp nhận các dấu hiệu bên ngoài để hợp nhất các đối tượng không dựa vào dấu hiệu chung, bản chất của chúng mà dựa vào những dấu hiệu chung giống nhau ngẫu nhiên hay chức năng Đó cũng chính là nguyên nhân của những sai lầm thường xảy

ra ở trẻ trong quá trình lĩnh hội khái niệm Ở các lớp cuối tiểu học, học sinh đã thoát khỏi sự “ám thị” những dấu hiệu trực quan và ngày càng dựa nhiều hơn vào những tri thức được hình thành trong quá trình học tập nên đã nhìn thấy các dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng và tách chúng ra khỏi các dấu hiệu không bản chất để làm nên sự quát đúng đắn

Ví dụ: Nhiều em học sinh lớp 1 xếp gián và chuột vào nhóm “vật nuôi” vì chúng cùng “ở trong nhà”, nhưng ở các lớp cuối tiểu học, các em đã nhận thức được “gián

và chuột không phải vật nuôi vì vật nuôi là những con vật được nuôi trong nhà để yêu thương, ôm ấp và làm bạn với con người”

Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học còn thể hiện rõ trong phán đoán và suy luận của các em Trẻ các lớp đầu tiểu học thường chỉ phán đoán một chiều Ngoài ra, các em xác định mối quan hệ từ nguyên nhân đến kết quả dễ hơn là từ kết quả suy

ra nguyên nhân Cho nên, trẻ dễ trả lời câu hỏi “Nếu trồng cây mà không tưới nước thì chuyện gì sẽ xảy ra?” hơn là câu hỏi “Tại sao cây trồng này lại bị héo?”, nhưng đến các lớp cuối tiểu học, trẻ đã biết dựa vào nhiều dấu hiệu để phán đoán, hơn nữa còn có thể chứng minh, lập luận cho phán đoán của mình

Trang 8

Trong lĩnh hội khái niệm, với các em những lớp đầu tiểu học, các em thường lấy các đối tượng cụ thể thay cho nghĩa về nó (“cây” là cây chuối, cây bưởi; “hoa” là hoa hồng, hoa cúc, hoa mai,…) hoặc liệt kê tất cả những gì thấy được ở đối tượng làm thành định nghĩa: cây có lá, có cành, có hoa, có quả Đến cuối những năm tiểu học, các em mới có thể hiểu khái niệm dựa vào dấu hiệu bản chất của chúng: cây là thực vật có rễ, lá, thân rõ rệt, chúng đứng im và ăn chất vô cơ

Như vậy, xuất phát điểm của tư duy học sinh tiểu học là trực quan, cụ thể Nhờ tiếp xúc với thực tế, học tập, trao đổi xã hội, đặc biệt là hoạt động học trong nhà trường

mà nó được phát triển Vì thế, chúng ta phải có những biện pháp phù hợp để thúc đẩy và rèn luyện tư duy ngay từ giai đoạn này cho các em

* Rút ra kết luận sư phạm:

- Giúp trẻ phát triển ngôn bằng cách rèn cho trẻ tập đọc, tập viết, tập nói thường xuyên và đều đặn Qua đó, trẻ sẽ tích lũy được một kho tàng ngôn ngữ, biết cách sử dụng và vận dụng chúng một cách linh hoạt

- Tạo điều kiện thúc đẩy quá trình nhận thức cho các em qua những câu chuyện nhỏ, những hành động nhỏ trong cuộc sống

- Để trẻ tự phân tích và giải quyết vấn đề của mình

- Rèn luyện tư duy phản biện cho các em qua những câu hỏi “Vì sao”, “Tại sao”, lắng nghe ý kiến của các em, tạo điều kiện, cơ hội để các em được bộc bạch, nói lên suy nghĩ và phán đoán của mình

- Để trẻ tự kiểm soát và tổng hợp những gì mình đã làm như: bài tập hôm nay, việc nhà, bảng xếp hàng thành tích học tập,…

Câu 3: Phân tích các con đường hình thành nhân cách người giáo viên tiểu học? Từ những phân tích đó, anh (chị) hãy lập kế hoạch học tập và rèn luyện để trở thành người giáo viên tiểu học?

Trang 9

“Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” Từ muôn đời nay, mỗi người dân Việt Nam đều nhìn nhận nghề giáo với tầm quan trọng bậc nhất Xã hội dù có phát triển đến mức nào thì vị trí và vai trò của những người thầy, người cô vẫn không thể phủ nhận, bởi lẽ họ là nhân lực then chốt trong công tác nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Nghề giáo đào tạo nên những con người vừa có đức, vừa có tài để cống hiến cho gia đình và xã hội Các thầy cô giáo không những dạy chữ mà còn dạy người, họ như cây thông trên sườn núi, cây quế giữa rừng sâu thầm lặng toả hương dâng hiến trí tuệ, sức lực cho đời” Nghề dạy học là nghề cao quý bởi lẽ những người giáo viên không chỉ truyền thụ cho học sinh kiến thức cần thiết cho cuộc sống mà còn dạy học sinh cách sống, làm thế nào để trở thành người có phẩm chất đạo đức tốt, dạy cho học sinh điều hay lẽ phải, hướng các em tới giá trị của Chân - Thiện - Mỹ Người giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của một nền giáo dục Năng lực và đạo đức nghề nghiệp của

họ góp phần to lớn vào sự hưng thịnh của mỗi quốc gia Còn đối với mỗi thế hệ học trò, thầy cô là người cha, người mẹ, người anh, người chị, là tấm gương sáng để họ noi theo Giáo dục tiểu học là bậc phổ cập và phát triển, tạo tiền đề để thực hiện

“nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” Lứa tuổi tiểu học là thời

kì thuận lợi để hình thành các thành phần tạo nên nhân cách con người Việt Nam Ngay từ nhỏ, các em đã được học lịch sử, địa lý đất nước, bài văn, bài thơ, truyền thống tốt đẹp của ông cha, được giáo dục lối sống văn minh, tình cảm cao thượng, biết yêu thương dân tộc, đồng bào Ngoài ra còn là những tri thức của nhân loại từ bao đời Vì vậy, ở một người giáo viên, luôn phải có trong mình một nhân cách tốt

và thực sự chuẩn mực Nhân cách là tổng thể phẩm chất và năng lực tạo nên bản sắc và giá trị tinh thần của mỗi cá nhân Nhân cách của người thầy đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp trồng người Có lẽ hơn bất kì nghề nghiệp nào khác, nghề dạy học là nghề có trách nhiệm cao nhất bởi lao động của nhà giáo mang tính quyết định, là kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ, định hướng cho sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ Nghề dạy học là nghề nghiệp đặc thù Nếu như kĩ sư làm

Trang 10

việc với máy móc, kiến trúc sư làm việc với bản vẽ, thì giáo viên làm việc với con người Thành quả sau quá trình lao động phải là những con người hoàn chỉnh Hơn bất kì một ngành nghề nào khác, nghề giáo không được phép tạo ra thứ phẩm bởi việc làm hỏng một con người là tội lỗi lớn không thể tha thứ Sản phẩm hoạt động của nhà giáo là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và các phẩm chất, nhân cách được hình thành ở học sinh Bằng năng lực và nhân cách của mình, giáo viên đã giúp người học chuyển tải nền văn hóa xã hội vào bên trong thành những phẩm chất, năng lực thông qua hoạt động học tập của học sinh Nhờ có năng lực, nhà giáo năm bắt được đổi tượng, thiết kế được mô hình nhân cách tương lai của học sinh, sử dụng những tác động phù hợp và phát huy được tính chủ thể của học sinh Nhờ có phẩm chất tốt đẹp, nhà giáo trở thành tấm gương, là hình mẫu cho học sinh noi theo Khi nói đến nhân cách người giáo viên, ta nhắc đến hai phạm trù cơ bản: Phẩm chất và năng lực Phẩm chất được ghép lại của 2 từ đó là “phẩm” và “chất” Phẩm là tư cách Chất là tính cách Như thế, phẩm chất được hiểu là tính chất bên trong của con người Tính chất bên trong có thể xấu hoặc tốt, tuỳ theo sự rèn luyện, định hướng của mỗi người Phẩm chất là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với chính con người Phẩm chất thể hiện qua cách ứng

xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc động dạy học và giáo dục Như vậy, một người giáo viên có năng lực phải biết vận dụng, tích hợp nhiều kĩ năng sư phạm một cách linh hoạt Đồng thời nhân cách thể hiện trình

độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của họ Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao Năng lực của người giáo viên là những thuộc tính tâm lý giúp hoàn thành tốt hoạt động dạy học và giáo dục Như vậy, một người giáo viên có năng lực phải biết vận dụng, tích hợp nhiều kĩ năng sư phạm một cách linh hoạt

Trước hết, mỗi người giáo viên phải mang trong mình tình yêu con người và lòng say mê với sự nghiệp phát triển, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ Dạy học là nghề

Ngày đăng: 14/12/2021, 05:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w