1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI tập lớn tâm lý học xã hội

47 921 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 529,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Sự hiểu biết về nhân cách con người là tiền đề để điều khiển hoạt động của họmột cách có hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi cuộc cách mạng khoa họccông ngh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC

- -BÀI TẬP LỚN MÔN: TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

ĐỀ TÀI: NHÂN CÁCH TRONG TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên:

Mã sinh viên:

Lớp:

- 2016

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

NỘI DUNG 2

1 Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội 2

2 Khái niệm nhân cách trong tâm lý học xã hội 3

3 Đặc điểm tâm lý của nhân cách và điều kiện tiền đề xã hội của nó 7

4 Tính quy luật của sự phát triển ý thức đạo đức của nhân cách 9

5 Tâm thế xã hội của nhân cách 11

5.1 Vấn đề tâm thế trong tâm lý học Liên Xô 11

5.2 Tâm thế trong tâm lý học xã hội phương Tây 12

5.3 Cấu trúc tâm thế xã hội của nhân cách 13

5.4 Định hướng xã hội của nhân cách 14

6 Cấu trúc của nhân cách trong tâm lý học xã hội 19

7 Phân loại nhân cách trong tâm lý học xã hội 20

7.1 Phân loại nhân cách theo định hướng giá trị xã hội của cá nhân 20

7.2 Phân loại nhân cách theo định hướng giá trị trong hoạt động sống 22

7.4 Phân loại nhân cách theo thời gian 25

7.5 Phân loại nhân cách theo hoạt động nghề nghiệp 25

7.6 Phân loại nhân cách qua cách giao tiếp 25

8 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách 26

8.1 Yếu tố sinh học 26

8.2 Yếu tố môi trường 27

8.3 Yếu tố hoạt động của cá nhân 28

9 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thay đổi nhân cách 29

9.1 Yếu tố sinh lý 30

9.2 Yếu tố chủ thể 30

9.3 Yếu tố môi trường bên ngoài 30

9.4 Yếu tố tuổi tác 32

9.5 Yếu tố giá trị 32

10 Vấn đề nhân cách trong thực tiễn xã hội hiện nay 32

10.1 Quan niệm nhân cách và mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực với phát triển nhân cách ở Việt Nam 32

10.2 Xây dựng nhân cách 33

10.3 Một số mô hình thực tiễn dạy học phát triển phẩm chất, năng lực 35

10.4 Những vận dụng trong dạy học phát triển phẩm chất, năng lực 37

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng 1: Bảng đối chiếu 4 trụ cột giáo dục với các phẩm chất, năng lực tương ứng 35Bảng 2: Bảng tóm tắt vai trò của các môn học trong hình thành năng lực học sinh 37

Sơ đồ 1: Sơ đồ các năng lực chung 36

Sơ đồ 2: Sơ đồ phẩm chất và năng lực trong mối quan hệ với các yếu tố tư tưởng, đạo đức, lối sống và kiến thức, kỹ năng, thái độ 37

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự hiểu biết về nhân cách con người là tiền đề để điều khiển hoạt động của họmột cách có hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi cuộc cách mạng khoa họccông nghệ đang thâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội và điều kiện “nhân tố conngười” trở nên cấp bách như Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 7

đã xác định: Một trong những nhiệm vụ cơ bản của thời kỳ Công nghiệp hóa – hiện đạihóa đất nước là phát triển nguồn lực con người, thực hiện công bằng xã hội, xây dựngnhững thế hệ con người Việt Nam có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực đảm đươngxuất sắc sứ mạng lịch sử ngày nay Muốn vậy, giáo dục và phát triển nhân cách phải lànhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục và đào tạo hiện nay

Vấn đề nhân cách có ý nghĩa quan trọng nhưng cho đến nay, hầu như chưa cócông trình nào nghiên cứu tổng hợp về lí luận nhân cách và phương pháp nghiên cứunhân cách Trong khi đó, mảng về trí tuệ đã được quan tâm nghiên cứu khá hệ thống

và đã có một số công cụ đánh giá trình độ phát triển trí tuệ được Việt hóa

Đã có nghiên cứu về nhân cách, các nghiên cứu khá đa dạng đã đề cập đếnnhiều khía cạnh khác nhau của nhân cách: Từ việc phát hiện hiện trạng của một số lĩnhvực như động cơ hoạt động, định hướng giá trị, kĩ năng xã hội… Mỗi nghiên cứu đềuxuất phát từ một quan niệm nhất định về khái niệm nhân cách, về cấu trúc của nó và sửdụng phương pháp đo đạc phù hợp với quan niệm đưa ra

Trong tâm lý học có nhiều lý thuyết khác nhau về nhân cách đặc biệt xuất hiệnnhững lý thuyết mới, những lý thuyết tiến bộ Đặc biệt là trong lĩnh vực tâm lý học xãhội, vấn đề nhân cách mang một số nét đặc trưng, nhân cách được nghiên cứu trong sựgiao tiếp của cá nhân này với cá nhân khác, nhân cách phải được đặt trong hoàn cảnh

cụ thể của một nhóm xã hội nhất định Tại đây mỗi cá nhân mang những đặc điểmchung, đặc trưng cho nhóm xã hội cụ thể và được gọi là nhân cách xã hội

Xuất phát từ cách tiếp cận nhân cách trong các nhóm xã hội nhất định giúpchúng ta có được cái nhìn mới về tính chất phức tạp của vấn đề nhân cách Qua đógiúp ta có những đánh giá, kết luận và ứng dụng của nhân cách trong lĩnh vực này.Chính vì vậy mà em chọn đề tài “Nhân cách xã hội” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Việc tìm hiểu vấn đề nhân cách xã hội giúp em hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này,qua đó đánh giá được nó Trên cơ sở này bản thân em sẽ điều chỉnh nhận thức củamình về vấn đề này

Trang 6

lý quy định hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội Tâm lý đại cươngnghiên cứu những quan hệ chủ thể bên trong, những phẩm chất của con người thựchiện như một nhân cách,động cơ của hoạt động và hành vi Khác với xã hội học, tâm

lý học đại cương nghiên cứu nhân cách chủ yếu là khâu đàu tiên của chủ thể bản chấtbên trong của chủ thể và cuối cùng là điều kiện xã hội của chủ thể Nhà tâm lý họcquan tâm đến các thuộc tính bên trong, nghiên cứu các chức năng điều khiển hành vicủa nhân cách như tính cách, khí chất, năng khiếu, năng lực, động cơ

Với tư cách là bộ môn giữa tâm lý học và xã hội học, tâm lý học xã hội nghiêncứu có tính chất lịch sử cụ thể những thuộc tính tâm lý, cấu trúc bên trong của nhâncách như là chủ thể của ác mối quan hệ xã hội Tâm lý học xã hội thực hiện sự tổnghợp bước tiếp cận xã hội học và tâm lý học đại cương trong nghiên cứu nhân cách,nghiên cứu cấu trúc nhân cách như là chủ thể và khách thể của các quá trình lịch sử,của mối quan hệ xã hội cụ thể Đối tượng của tâm lý học xã hội nhân cách nghiên cứukiểu chủ thể, sự điển hình hóa chr thể xã hội, với tính cách là cá nhân, nghiên cứu cáckiểu hoạt động xã hội, gắn liền với mức độ cấu trúc tâm lý bên trong: động cơ, địnhhướng giá trị, tâm thế xã hội, và các cơ cấu vị thế khác của nhân cách

2 Khái niệm nhân cách trong tâm lý học xã hội

Muốn hiểu được khái niệm nhân cách trước hết hãy đề cập tới vấn đề thuật ngữ

“nhân cách” Cuối thế kỷ 19 ở phương Tây đã xuất hiện những khuynh hướng nghiêncứu đời sống tâm lý của con người một cách trọn vẹn W.Stean đã viết tác phẩm “Bàn

về tâm lý học khác biệt cá nhân”, trong đó ông đưa ra khái niệm “Person” đẻ chỉ bất

kỳ một thực thể nào, có khả năng tự xác định và tự phát triển trong thế giới vô cơ bêntrong thế giới hữu cơ Theo ông toàn bộ thế giới là một cơ chế có thứ bậc của Person

Trang 7

tích hai từ đó trong mối quan hệ của từ này Chữ “nhân” vừa có nghĩa chỉ con ngườivới tư cách đại diện cho loài người đối lập với loài vật, vừa có nghĩa chỉ con người cụthể (cá nhân) – chữ “cách” có nghĩa là phẩm cách, chỉ phẩm chất và giá trị xã hội củacon người Tuy nhiên ở ta thuật ngữ “nhân cách” thiên về mặt đức hơn là mặt tài củacon người Điều đó có thể chấp nhận được Một con người được gọi là có tài phảidùng, cái tài đó phục vụ cho xã hội, giai cấp, một đoàn người, một cộng đồng ngườithì mới gọi là người có nhân cách.

Để làm rõ khái niệm nhân cách hãy điểm qua một số loại định nghĩa nhân cách.Định nghĩa nhân cách với tư cách là con người cụ thể với toàn bộ những đặcđiểm của nó (A.G.Kovalie, K.K.Platonov, Bách khao toàn thư về triết học của Liên

Xô, …) Ví dụ K.K.Platonov, ông khẳng định nhân cách có nhiều khoa học nghiên cứunhưng chỉ có tâm lý học mới nghiên cứu một cách toàn diện về nhân cách Ông chorằng đại đa số định nghĩa nhân cách đều nói đến con người chứ không nói đến nhâncách Ví dụ: “Nhân cách là con người với toàn bộ những phẩm chất xã hội của nóđược hình thành trong những hoạt động và quan hệ xã hội khác nhau” (L P Bueva),

“Nhân cách – đó là con người với tư cách là một thực thể xã hội một chủ thể nhậnthức và tích cực cải tạo thế giới” (Bách khoa toàn thư Xô viết) Hiểu nhân cách như làtổng hòa mối quan hệ xã hội” (N C Gontcharov) Ông không đồng ý với điịnh nghĩa

đó vì cho rằng không chính xác bởi vì không thể cho bản chất con người trùng vớikhái niệm nhân cách Những định nghĩa về nhân cách khác như nhân cách là chủ thểcủa hoạt động, nhân cách là chủ thể nhận thức cũng không được K K Platonov tánthành Trên cơ sở nhận xét và phê phán các định nghĩa về nhân cách ông đưa ra địnhnghĩa nhân cách như sau: “Nhân cách đó là một con người cụ thể như là một chủ thểcải tạo thế giới trên cơ sở nhận thức thể nghiệm thế giới, trên cơ sở quan hệ với thếgiới đó”, ta có thể diễn đạt tư tưởng đó ngắn gọn hơn, “Nhân cách là con người cónhận thức” Mặc dù tính đặc thù của con người đã được nhấn mạnh nhưng Platonovvẫn mắc sai lầm là lảng tránh bản chất hoạt động xã hội của nhân cách, sự tác độngtương đối của con người và thế giới xung quanh A G Kovalie “nhân cách là conngười sinh động cụ thể, một thành viên xã hội, một chủ thể hoạt động của sự phát triển

xã hội”

Định nghĩa về nhân cách với tư cách là một cấu trúc tâ, lý (Cattek A

N Leonchiev, A L Secbacov) Ví dụ: A L Secbacov định nghĩa nhân cách như sau:

“nhân cách là sự hình thành một cấu trúc trọn vẹn những cấu trúc tâm lý phản ánh bảnchất xã hội của con người hiện thực với tư cách là chủ thể có ý thức nhận thức và tíchcực cải tạo thế giới” A N Leonchiev “nhân cách là một cấu tạo tâm lý mới được hìnhthành trong mối quan hệ sống của cá nhân do kết quả cải tạo của con người đó”

Trang 8

Định nghĩa nhân cách là sự thống nhất các thuộc tính sinh vật, tâm lý, xã hộicủa con người (V Tardy, J Maset, L M Arkhangelxki W.) Ví dụ: V Tardy (TiệpKhắc) định nghĩa nhân cách như sau: “nhân cách là sự thống nhất cá nhân con người,

là sự thống nhất các thuộc tính tâm hồn và cơ thể trong mối quan hệ xã hội” L M.Arkhangelxki “nhân cách là mức độ xã hội trong sự phát triển cá nhân con người”.Nhân cách được hiểu như là một hệ thống một tổ chức, một cấu trúc điều khiển hoạtđộng của con người (K Obakhowxki, J Reykowxki, J Koriclxki W.) Ví dụ: J.Reykowxki “nhân cách là hệ thống trung tâm điều khiển và sự liên kết các hoạt động”

K Obakhowxki “ nhân cách vừa là tổ chức thông tin vừa là tổ chức những đặc điểmchức năng của nó được tạo thành dưới ảnh hưởng của hoạt động riêng của con người”

Theo Rubinstein và một số nhà nghiên cứu cho rằng: nhân cách là tập hợp cácđiều kiện bên trong, qua chúng các tác động bên ngoài được khúc xạ Theo định nghĩanày, các yếu tố bên trong như nhu cầu, kinh nghiệm, động cơ, đóng vai trò các yếu tốgây ra sự trả lời khác nhau của chủ thể đối với các kích thích giống nhau từ môi trườngbên ngoài Từ đó, nhân cách chưa bộc lộ được những đặc thù của chính nó, vì địnhnghĩa này có thể áp dụng cho mọi sinh vật sống khác nữa

Theo S.Freud: Nhân cách đó là những tình cảm, những cố gắng và những tưtưởng phát sinh từ những mâu thuẫn giữa tính hiếu chiến của chúng ta, động cơ thúcđẩy để tìm kiếm sự thỏa mãn nhu cầu một cách sinh học và sự kiềm chế xã hội chốnglại chúng

Hai nhà tâm lý học: Predvetrnưi và Sherkhovina cho rằng nhân cách là conngười – chủ thể của hoạt động, là nhân tố cải tạo thế giới, là chủ thể có nhận thức và tựnhận thức

Dựa vào nguyên tắc hoạt động một số nhà tâm lý học Xô Viết cũng đưa ra địnhnghĩa về nhân cách: Nhân cách là con người – chủ thể của hoạt động xã hội và nhờhoạt động xã hội mang lại cho con người có được một vị trí nhất định giữa nhữngngười khác

Điểm qua một số định nghĩa nhân cách chưa tiêu biểu hết những loại định nghĩanhân cách chúng ta có thể nhận xét sơ bộ như sau:

1 Giới hạn khái niệm nhân cách và khái niệm con người chưa rõ ràng, nhiều đặcđiểm nhân cách lặp đi lặp lại trong đặc điểm con người

2 Những tiêu chuẩn hình thành nhân cách chưa có sự thống nhất, tiêu chuẩn nào

là đặc trưng nhất cho nhân cách

3 Chưa có sự thống nhất trong biểu đạt khái niệm, nhân cách là con người… (K.K.Platonov), nhân cách là chủ thể… (A V Petrovxki), nhân cách là cấu trúc tâm lýmới (A N Leonchiev), nhân cách là cá thể có tính chất xã hội (B G Ananiev) nhâncách là hệ thống, là cấu trúc, nhân cách là cá nhân…

Trang 9

Đó là chưa kể đến những định nghĩa nhân cahs không đưa ra vào đây mang tínhchất liệt kê, miêu tả các mặt khác nhau của nhân cách, nhấn mạnh đến mặt đạo đức, trítuệ, mặt hành vi của nhân cách, mặt sinh vật, mặt xã hội của nhân cách.

Để có một định nghĩa hợp lý về nhân cách định nghĩa đó phải nêu lên được mốiquan hệ cá nhân và xã hội, và bản chất tích cực xã hội của nhân cách

Qúa trình phát triển các nhân và hình thành cá nhân với tư cách là quá trình xãhội hóa, không thể tiến hành ngoài xã hội,xã hội cũng không nằm ngoài nhân cách mà

là bản chất của nhân cách Các Mác viết “Bản chất của cá nhân không phải là râu,không phải là tóc, không phải là tính chất vật lý trừu tượng của cá nhân đó, mà là xãhội hóa cá nhân đó”

Quan niệm cuae Các Mác về bản chất xã hội của cá nhân là tiền đề phươngpháp luận của việc hiểu khái niệm nhân cách Thừa nhận tính xã hội của nhân cáchkhông có nghĩa là thu về tát cả các tính chất xã hội một cách thụ động Nhân cáchtrong ý nghĩa đầy đủ của nó phải được hiểu là chủ thể của hoạt động, của sự phát triển

xã hội Tiêu chuẩn tiến bộ xã hộ của cá nhân được thể hiện ở mức độ phát triển xã hoojcủa cá nhân đó

Nhân cách là những phẩm giá của cá nhân phải đặt trong hệ thống mối quan hệ

xã hội Chúng ta giải thích nhân cách cá nhân là những phẩm giá mà cá nhân đó cóđược, cá nhân đó tự tạo ra, tự đánh giá về những phẩm chất đó Nhân cách hiện rangay cả những cái gì sâu kín nhất Tuy không gian tồn tại của cá nhân, nó thể hiện nhưngười mang phẩm chất đầy đủ của cá nhân mình

Trong xã hội cá nhân không đứng riêng rẽ, cá nhân được gắn liền với cá nhânkhác Nhân cách được xác định trong không gian tồn tại của cá nhân khác, với tư cách

là người mang nhân cách của mỗi một trong số họ Ở đây nhân cách được thể hiệntrong những đồ vật mà cá nhân có quan hệ, thông qua hoạt động và giao tiếp của họ.Trong trường hợp này nhân cách thể hiện bên ngoài, không gian cơ thể của cá nhân.Nhân cách còn thể hiện trong tập thể, nhóm má cá nhân đó sống Nhân cách của mỗingười được đánh giá bằng những phẩm chất chung của cả nhóm, của tập thể Vì vậytập thể có trách nhiệm một phần đối với nhân cách cá nhân sinh hoạt trong tập thể,trong nhóm của mình Cá nhân cũng có trách nhiệm phẩm giá chung của tập thể

Như vậy nhân cách thể hiện bởi những phẩm chất, phẩm giá cá nhân có trongmối quan hệ nhóm và tập thể mà cá nhân đó có quan hệ Nhân cách cá nhân còn trongnhững quan niệm và đánh giá của người khác, cá nhân khác Mỗi cá nhân ý thức đượcphẩm giá của mình trong hệ thống mối quan hệ xã hội

Trên cơ sở phân tích như vậy chúng ta có thể định nghĩa nhân cách là hệ thống

những phẩm giá xã hội của cá nhân, thể hiện mối quan hệ xã hội (cá nhân – cá nhân,

Trang 10

cá nhân nhóm – tập thể - cá nhân – cộng đồng xã hội), trong quá trình hoạt động và

giao tiếp của cá nhân đó.

Bằng hoạt động và giao tiếp con người ý thức được phẩm chất và giá trị củamình trong hệ thống mối quan hệ xã hội Điều đó có nghĩa là con người đã trở thànhchủ thể của mối quan hệ xã hội Nhân cách chỉ được hình thành khi nào con người ýthức được mình, ý thức được mối quan hệ của mình đối với người khác, đối với xã hội

Như vậy nhân cách không bao gồm toàn bộ những phẩm chất tâm lý xã hội mànhững phẩm chất và tâm lý này được đánh giá về mặt xã hội với tư cách là hệ thốngnhững phẩm giá xã hội nhất định

Cách hiểu nhân cách như vậy không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn gópphần giải quyết những vấn đề thực tiễn trong hình thành và phát triển con người mới

xã hội chủ nghĩa và trong đó giá trị xã hội, tính tích cực xã hội là thước đo nhân cách

3 Đặc điểm tâm lý của nhân cách và điều kiện tiền đề xã hội của nó

Để hiểu đăc điểm tâm lý của nhân cách và điều kiện xã hội của nó cần phảihướng đến tâm lý học đại cương, những quy luật và cơ chế chung của tâm lý học.Song cũng cần lưu ý rằng không nên mô tả nhân cách như là sự liệt kê đơn giản nhữngthuộc tính tâm lý và mối quan hệ được thực hiện giữa chúng Nhân cách không đồngnghĩa với tất cả đời sống tâm lý con người mà chỉ ở cấp bậc cao hơn đời sống tâm lýcủa con người

Vì vậy, đặc điểm đầu tiên của nhân cách là biểu hiện mặt bên trong của quan hệbên trong chủ thể tức là những cấu trúc tâm lý bên trong của con người Ví dụ nhưthành phần tổng hợp tâm lý bậc cao, tính chất trọn vẹn bậc cao, sự thống nhất mặt cơbản và phẩm chất tâm lý (nhận thức và xúc cảm)

Nhóm nét thứ hai có tính chất đặc thù với nhân cách là mối quan hệ chủ thể khách thể Điều này thể hiện tính độc lập và tính bền vững của nhân cách trước tácđộng của môi trường Chủ thể phải điều khiển bản thân mình, hành động và hành vicủa mình cho phù hợp với khách thể

-Mặt thứ ba của tính đặc thù của nhân cách là mối quan hệ chủ thể và chủ thể,mối quan hệ giữa các cá nhân Ở mặt này, chúng ta phải nghiên cứu ảnh hưởng củangười này đối với người khác Vì vậy, nhân cách không chỉ ở bản thân cá nhân mà còn

ở sự đánh giá của người khác có quan hệ với cá nhân Điều này thể hiện tiềm năng xãhội của con người được đánh giá qua sự phát triển của người khác

Theo A Maslow những dấu hiệu tốt nhất của con người có thể gọi là nhân cáchgồm chức năng lạc quan và nhân cách bản thân cấp thời Nó bao gồm các tính chất tâm

lý sau:

1 – Nhận thức hiện thực khách quan, phân biệt cái biết và cái không biết, cái cụthể và cái trừu tượng

Trang 11

2 – Hướng đến việc giải quyết các vấn đề bên ngoài Tập trung hướng đến kháchthể.

3 – Nhận thức bản thân, người khác và thế giới

4 – Khả năng chuyển nhu cầu từ bên ngoài vào bản thân

5 – Khả năng sáng tạo

6 – Tính chất tự nhiên của hành vi

7 – Quan hệ hữu nghị đối với mọi người tốt, ngoài các quan hệ có tính giáo dụchoặc tính chất khác

8 – Khả năng có quan hệ sâu sắc đối với một số ít người

9 – Quy định mặt đạo đức, phân biệt những mặt xấu và tốt

10 – Độc lập tương đối với hoàn cảnh vật lý cũng như hoàn cảnh xã hội

11 – Có ý thức phân bịêt giữa mục đích và phương tiện

12 – Tính chất quy mô lớn của nội dung tâm lý và hoạt động, (những người này

có tiền đồ lớn, lãnh đạo rộng, có giá trị vạn năng)

Ba tính chất sau cùng (10,11,12) thể hiện mức độ cao của nhân cách, tính chất

tự nhiên của hành vi, tính chất chân thành của con người có thể dẫn tới phạm trù dấuhiệu bên trong của nhân cách Một người mang dấu hiệu nhân cách tự thân cấp thời làphải góp phần phát triển nhân cách người khác, tuy việc phát triển nhóm xã hội vàtrong xã hội nói chung, thể hiện tính chất tiềm năng xã hội cao Nhưng để đạt đượcmức độ cao của nhân cách cần phụ thuộc vào các điều kiện khác nhau

Cơ chế tâm lý để xem xét những thuộc tính nhân cách bao gồm niềm tin và mụcđích Niềm tin sẽ điều chỉnh các yếu tố tâm lý, hình thành những chức năng tâm lý.Mặt nhu cầu trong nhận thức và cải tạo thế giới có vai trò quan trọng của tính chủ thể -khách thể của nhân cách Nhu cầu là một động lực mạnh mẽ phát triển nhân cách

Vấn đề những cơ sở tâm lý của tiềm năng xã hội của nhân cách được xem như

là giới hạn giữa tâm lý học đại cương và xã hội học Dựa vào mối quan hệ tính chấtđặc thù của nhân cách xã hội được thể hiện mối quan hệ bên trong chủ thể, khách thể,giữa các chủ thể Người ta dựa vào tính chất tâm lý xã hội để hình thành chức năngnhân cách Trong một tính chất chủ thể - khách thể nhân cách được biểu hiện ở hiệntượng độc lập với hiện thực, phản ánh nhiều mức độ của tính khách quan,cải tạo kháchthể, góp phần vào việc phát triển nhân cách

Trong mối quan hệ bên trong chủ thể, nhân cách thể hiện ở hiện tượng tự khẳngđịnh, tính mục đích diễn ra theo ba hình thức: nội dung (sự thống nhất mục đích) hìnhthức công cụ (phong cách sống) về mức độ (năng lực chung) Sự thật tính chất củanhân cách diễn ra trong các hình thức phong phú và muôn hình muôn vẻ

4 Tính quy luật của sự phát triển ý thức đạo đức của nhân cách

Trang 12

Trong các tài liệu triết học và tâm lý học người ta phân chia 3 mức độ chính củaviệc phát triển ý thức đạo đức của nhân cách Mức độ đầu tiên là mức độ trước khi cóđạo đức, tức là khi đứa tre còn chịu sự thúc đẩy vị kỷ riêng của mình Mức độ thứ hai

là mức độ đạo đức được quy ước, hướng đến một tiêu chuẩn hay một yêu cầu nhấtđịnh Mức độ thứ ba là mức độ đạo đức tự trị, có nghĩa là hướng tới hệ thống nhữngnguyên tắc bên trong có tính chất phổ biến

Để hiểu rõ một cách một cách chi tiết hơn vấn đề phát triển đạo đức của nhâncách chúng ta hãy tìm hiểu quan điểm của nhà tâm lý học Mỹ L Kohlberg Trong khiphát triển những chỉ dẫn của J Piagie và L X Vuwgotxki về sự phát triển ý thức đạođức của trẻ song song với sự phát triển trí tuệ, L Kohlberg đã phân chia mức độ pháttriển ý thức đạo đức ra các giai đoạn sau đây: a)giai đoạn tiền đạo đức 1)Trẻ lắngnghe để tránh hình phạt 2) Trẻ chịu sự chỉ đạo của ý nghĩa vị kỷ của lợi ích iêng b)Giai đoạn đạo đức quy ước phù hợp với các mức độ sau: 3) Nếu tre tốt, có nguyệnvọng về cái tốt và biết xấu hôt trước lời khiển trách 4) Tâm thế giữ vững những quyước đã được hình thành, cái gì tốt phù hợp với luật lệ c) Giai đoạn đạo đức tự trẻ hắnliền với việc chuyển biến những vấn đề bên trong của nhân cách Trong giai đoạn này

có hai giai đoạn nhỏ: 5a) Khi nhận biết tính chất tương đối và tính chất điều kiện củaquy tắc đạo đức và đòi hỏi có cơ sở loogic Sau giai đoạn 5a là giai đoạn 5b – “sựtương đối” thay đổi những dấu hiệu của những quy luật cấp cao phù hợp với lợi ích đa

số Giai đoạn thứ 6 hình thành những nguyên tắc đạo đức bền vững Giai đoạn 7 là giaiđoạn cao nhất khi các giá trị đạo đức xuất phát từ tiền đề triết học chung Nhưng giaiđoạn này ít người đạt được

Để thấy rõ mối quan hệ giữa các giai đoạn phát triển trí tuệ theo Pagie và cácgiai đoạn phát triên đạo đức của Kohlberg chúng ta so sánh theo bảng sau:

Các giai đoạn logic Các giai đoạn đạo đức

+ Tư duy tượng

trưng, trực giác Giai đoạn 0 – cái gì tốt tôi muốn tôi thích nó.

+Các thao tác cụ thể: Giai đoạn 1 – Vâng lời Xuất phát từ việc sợ lời khiển trách.Giai đoạn 1 Giai đoạn 2: trao đổi sự giúp đỡ

Giai đoạn 2

+Thao tác hình thức: Giai đoạn 3: định hướng tới ý kiến có ý nghĩa của người

khác

- Giai đoạn 1

- Giai đoạn 2 Định hướng đến việc giữ vững những nguyên tắc đã đượchình thành

- Giai đoạn 3 Giai đoạn 5a:

Tính thực dụng và biểu tượng về đạo đức với tính cách là sảnphẩm của quy tắc xã hội

Giai đoạn 5b: hướng dẫn lời khuyên cá nhân và luật lệ caocấp

- Giai đoạn 4 Giai đoạn 6: định hướng tới những nguyên tắc đạo đức tổng

Trang 13

Sự kiểm tra bằng thực nghiệm lý thuyết của Kohlberg được tiến hành ở Mỹ,Anh, Canada, Meehico và một số nước khác Những công trình này đều khẳng địnhtính quy luật bền vững của các mối quan hệ có quy luật giữa mức độ ý thức đạo đức cánhân với sự phát triển trí tuệ Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng tính chất khó khăn củaviệc trưởng thành ý thức đạo đức Lần đầu tiên người thanh niên nhận thức tính tươngđối của tiêu chuẩn đạo đức, nhưng có khi anh ta lại không biết điều đó, anh ta lén đitìm sự tương đối đạo đứ, ý thức về giá trị tương đói của đạo đức là một tiến bộ về chứcnăng so sánh với giai đoạn tre em trước đó

Vậy, sự phát triển ý thức đạ đức của nhân cách có quan hệ với hành vi như thếnào

Ở mức độ trí tuệ, sự phát triển đạo đức là ý thức được và khái quát được nhữngphán đoán, trong mức độ hành vi là hành động hiện thực, tính nhất quán của hành vi,khả năng choonhs lại những cám dỗ, những ảnh hưởng của hoàn cảnh Sự đánh giácon người hơn là hành vi là sự phán đoán về đạo đức Nhưng điều này là rất khó Bởi

vì không phải hành vi nào của con người có thể phản ánh trung thực về nhân cách conngười Có những đứa trẻ trong một hoàn cảnh nào đó tỏ ra dũng cảm, song cũng khôngkết luận là nó dũng cảm được, vì có những lúc nó rất sợ

Một trong những khuynh hướng chính hiện nay là nghiên cứu sự phát triển đạođức với tư cách là nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của ý thức đạo đức cá nhân đến hành

vi của họ Ví dụ như mức độ phát triển của phán đoán đạo đức của trẻ đã điều chỉnhhành vi của nó trong những hoàn cảnh xung đột mà nó cần phải giải quyết, hoặc là lừadối chịu sự dằn vặt lương tâm, hoặc là nói thật Người có ý thức đạo đức cao thường ít

có sự thay đổi khuynh hướng đối với hành vi đã được ổn định

Đặc điểm lý thuyết của Kohlberg là ở chỗ ông ta xem xét sự phát triển cấu trúccủa ý thức đạo đức không liên quan tới sự thay đổi nội dung và chức năng của nó.Điều đó chỉ đunhs trong một số trường hợp cụ thể Nhưng những trường hợp kháckhông thể không đúng Ví dụ việc nắm vững một vài hệ thống thao tác lôgic nào đó,không có nghĩa là trẻ có khả năng áp dụng hệ thống này trong thực tiễn Để áp dụngđúng không chỉ nắm vững các thao tác trí tuệ phù hợp mà còn đánh giá đúng đắn cáchgiải quyết nhiệm vụ phù hợp Hơn nữa cần phải tính đến yếu tố xã hội nhân cách trongviệc giải quyết những nhiệm vụ đạo đức, nhiệm vụ này luôn luôn có quan hệ đến hệthống giá trị nhân cách Phương pháp của ông rất hạn chế, trong việc giải quyết nhữngvấn đề nhân cách Mức độ khác nhau của ý thức đạo đức thể hiện không chỉ trong cácgiai đoạn phát triển mà còn thể hiện các kiểu nhân cách khác nhau, không phụ thuộcvào điều kiện phát triển trí tuệ Ví dụ một người nào đó phải xử 3 người ăn cắp, ngườithứ nhất là một người lạ, người thứ hai là một người bạn, người thứ ba là mẹ của mình,

Trang 14

thì rõ ràng đối với người thân của mình người đó sẽ dùng lời khuyên bảo để giảm tội,còn người lạ thì sẽ áp dụng đúng luật để sử phạt Rõ ràng, sự phát triển các giai đoạnđạo đức như nhau, nhưng tùy hoàn cảnh mà có cách áp dụng khác nhau Theo ý kiếncủa ông phán đoán đạo đức của trẻ em và của thanh niên trước hết có hình thức kháiquát tượng trưng của tư duy Vì vậy bước chuyển từ giai đoạn thấp lên giai đoạncaokhoong đòi hỏi kinh nghiệm đạo đức, và mối quan hệ giữa phán đoán đạo đức vàkinh nghiệm nhân cách chỉ xuất hiện ở người lớn, mức độ đạt được đạo đức tự lập.Nhân cách được đánh giá không chỉ qua sự hiểu biết đạo đức mà phải thông qua thựctiễn hoạt động của h, qua sự sẵn sàng tâm lý với một hoạt động nào đó.

5 Tâm thế xã hội của nhân cách

5.1 Vấn đề tâm thế trong tâm lý học Liên Xô

Khi nghiên cứu nhân cách trong tâm lý học xã hội, vấn đề tâm thế xã hội có một

vị trí quan trọng Kinh nghiệm cá nhân thể hiện qua trong hành động và hành vi của cánhân như thế nào có liên quan đến tâm thế xã hội, chỉ có nghiên cứu cơ chế hình thànhtâm thế mới có thể hiểu cái gì điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người Trướchết cần phải phân tích nhu cầu và động cơ nào thúc đẩy nhân cách hoạt động cơ chếbên trong hành vi của con người chính là sự phù hợp giữa nhu cầu và động cơ của họ.Vấn đề đặt ra là vì sao con người trong những hoàn cảnh nhất định lại hành động theocách này hoặc theo cách khác Vì sao con người lại hướng đến chọn động cơ này, giảithích nguyên nhân này ở một mức độ nhất định Chúng ta phải xuất phát từ khái niệmtâm thế xã hội để giải thích Khía niệm tâm thế được hiểu trong sinh hoạt bình thườngnhư là thái độ Nhưng trong tâm lý học tâm thế có một ý nghĩa khác

Ở Liên Xô trường phái D N Uznadze đã có những đóng góp trong việc nghiêncứu tâm thế Ngoài thuật ngữ tâm thế người ta còn dùng thuật ngữ tâm thế xã hội Nóichung hai khía niệm này được dùng đồng nghĩa Người ta dùng chúng với các kháiniệm khuynh hướng, xu hướng, tính sẵn sàng Theo D N Uzadze tâm thế là trạng tháitâm lý của chủ thể, là trạng thái sẵn sàng đối với tính tích cực nhất định Trạng tháinày được hình thành bằng hai điều kiện nhu cầu của chủ thể phù hợp với hoàn cảnhcủa khách thể Khi hoàn cảnh phù hợp với nhu cầu được lặp lại nhiều lần thì xuất hiệntâm thế cá nhân Khi hoàn cảnh không còn giống như trước nữa nhưng tâm thế vẫnxuất hiện Điều đó có thể giải thích xu hướng hành động của nhân cách trong nhữngđiều kiện nhất định

Như vậy, vấn đề tâm thế trong lý luận hoạt động được giả thích như tâm thế xãhội có liên quan đến ý nghĩa nhân cách, hình thành mối quan hệ giữa động cơ và mụcđích Như vậy, vấn đề tâm thế được hiểu với nội dung khái niệm khác nhau: tâm thế xãhội, xu hướng nhân cách Thái độ, cần phải làm rõ khái niệm này không phải ở tâm lýđại cương mà chính trong tâm lý học xã hội

Trang 15

5.2 Tâm thế trong tâm lý học xã hội phương Tây

Vấn đề tâm thế ở phương Tây được nghiên cứu có tính chất truyền thống trongtâm lý học xã hội Các nhà nghiên cứu tâm lý học phương Tây dùng thuật ngữ “attitude” để chỉ tâm thế xã hội

P N Sikhirev trong khi phân tích lịch sử nghiên cứu “attitude” trong tâm lý học

xã hội phương Tây đã phân chia ra ba thời kỳ: Thời kỳ mở đầu từ năm 1918 đến trướcchiến tranh thế giới lần thứ hai – Đặc điểm của thời kỳ này là công bố những tài liệunghiên cứu và số lượng người nghiên cứu vấn đề này Thời kỳ thứ hai trong giai đoạn

40 – 50 đến nay xuất hiện hàng loạt hững vấn đề nghiên cứu mới và đồng thời có sựkhủng hoảng trong nghiên cứu Sau đây là một vài ví dụ cụ thể

Trong năm 1918, nhà nghiên cứu Mỹ U Tomax và Ph Znahecki trong khinghiên cứu sự thích ứng của người dân Ba Lan từ Châu Âu sống ở Mỹ đã chứng minh

sự thích ứng phụ thuộc vào hai yếu tố: sự phụ thuộc của cá nhân với tổ chức xã hội và

sự phụ thuộc của tổ chức xã hội đối với cá nhân Sự phụ thuộc này thể hiện mối tácđộng qua lại giữa nhân cách và xã hội Tomax và Znahecki đã đặt tính chất hai mặt củamối quan hệ trên là khái niệm “giá trị xã hội” và “tâm thế xã hội” Vì vậy trong tài liệuđầu tiên trong tâm lý hocjxax hội khái niệm attitude có nghĩa như là những rung cảmtâm lý cá nhân về giá trị, ý nghĩa, ý nghĩa của khách thể xã hội hoặc như trạng tháinhận thức của cá nhân đối với một vài giá trị xã hội

Sau khi khám phá hiện tượng attitude nhiều vấn đề trong tâm lý học xã hội đangchờ đợi làm sáng tỏ Về khái niệm attitude cũng được thể hiện quan điểm mâu thuẫnnhau Năm 1935 G Allpart đã viết một bài báo đề cập vấn đề này Attitud được hiểutheo các nghĩa sau:

a- Là trạng thái của ý thức và của hệ thống thần kinh

b- Là sự sẵn sàng trả lời đối với kích thích

c- Là sự tổ chức

d- Tầm cơ sở của kinh nghiệm trước đây

e- Ảnh hưởng của khuynh hướng và động lực đến hành vi

Vì vậy đã có sự phụ thuộc attitud đối vơi kinh nghiệm quá khứ và có vai trò quantrọng đối với hành vi

Trang 16

4 Chức năng bảo vệ attitud có khả năng giải quyết những xung đột bên trongnhân cách.

Cấu trúc của attitud theo M Xmit (1942) gồm có 3 thành phần: thành phần nhậnthức (nhận thức khách quan của tâm thế xã hội), thành phần xúc cảm (giá trị xúc cảmcủa khách thể, thể hiện có cảm tính hoặc không cảm tính đối với chúng), thành phầnhành vi (hành vi đối với khách thể) Hiện nay tâm thê xã hội được coi như là ý thức,giá trị, tính chất sẵn sàng hành động trong tâm lý học xã hội phương Tây

5.3 Cấu trúc tâm thế xã hội của nhân cách

Hiện nay vấn đề cần thiết là phải xây dựng lý luận và phương pháp trong việcnghiên cứu tâm thế nhằm khắc phục những khó khăn trên con đường gặp phải của cácnhà tâm lý học Mỹ Tâm thế được hiểu như là trạng thái ý thức của chủ thể, và cả hệthống thần kinh của chủ thể, đặt trước hành động của nó và điều khiển hành động theomột cách nào đó

Thực nghiệm giải quyết nội dung vấn đề này được thể hiện trong tác phẩm cuẩ

V A Iadov với quan niệm xếp đặt điều chỉnh hành vi xã hội của nhân cách Tư tưởng

cơ bản của quan điểm này là ở chỗ con người có hệ thống phức tạp hình thành sự sắpxếp khác nhau điều chỉnh hành vi và hành động của mình Sự sắp xếp này tổ chức theothứ bậc thấp và cao Trên cơ sở này tâm thế xuất hiện khi có mặt của nhu cầu với hoàncảnh thỏa mãn nhu cầu V A Iadov cho rằng sự hình thành sắp xếp tác động trongnhững mức độ khác nhau của nhu cầu và hoàn cảnh, có nghĩa là sự sắp xếp xuất hiệnkhi có sự gặp gỡ mức độ nhất định của nhu cầu và mức độ hoàn cảnh thỏa mãn nhucầu Sơ đồ chung của sự xếp đặt được mô tả vừa như các thứ bậc của nhu cầu và vừanhư thứ bậc của hoàn cảnh tác động đến con người Thứ bậc của nhu cầu được thểhieenjtheo thứ bậc của hoạt động này Dựa theo ý kiến của Mac cho rằng quá trìnhthỏa mãn về thực chất là qua trình con người nắm vững hình thức hành động nào đó.Hình thức đầu tiên thực hiện nhu cầu con người là hoàn cảnh gia đình, hình thức thứhai là nhóm nhỏ trong đó cá nhân hành động một cách trực tiếp.Hoàn cảnh rộng hơncủa hoạt động gắn liền với hình thức nhất định của lao động, của công việc và cuộcsống Hình thức cuối cùng của hoàn cảnh hoạt động được hiểu như là cấu trúc giai cấp

xã hội, trong đó cá nhân nắm vững những tư tưởng văn hóa của xã hội Do đó các mức

độ nhu cầu phải phù hợp với các hoàn cảnh hoạt động thì mới tạo nên tâm thê

Vấn đề hiện nay cần phải xây dựng sơ đồ thứ bậc của hoàn cảnh thứ bậc trongđoa cá nhân tác động hoàn cảnh này và có sự gặp gỡ nhu cầu nhất định Hoàn cảnh nàyđược coi như điều kiện của hoạt động và có độ dài thời gian nhất định Mức độ thấpcủa hoàn cảnh là hoàn cảnh có đối tượng nhanh chóng được biến đổi trong thời gianngắn, mức độ cao hơn của hoàn cảnh đó là điều kiện bền vững của hoạt động có quan

hệ đến nghề nghiệp, ngành nghề, mức độ cao nhất thể hiện điều kiện bền vững của

Trang 17

hoạt động trong thời gian lâu dài, bao gồm hình thức rộng lớn của hoạt động sống củanhân cách: cấu trúc kinh tế, chính trị, tư tưởng của những chức năng nó Như vậy, cấutrúc hoàn cảnh trong đó nhân cách tác động có 4 mức độ như trên V A Iadov đã chia

ra 4 mức độ của sự sắp xếp Mức độ đầu tiên là thành phần tâm thế giản đơn Mức độthứ hai đó là sự sắp xếp phức tạp được hình thành trên cơ sở của nhu cầu con ngườitrong giao tiếp của nhóm nhỏ và phù hợp với hoàn cảnh mà nhiệm vụ đặt ra hoạt độngcủa nhóm này Mức độ thứ ba của sự sắp xếp là khuynh hướng chung của hứng thúnhân cách trong hoàn cảnh của tính tích cực xã hội Mức độ thứ tư là mức độ cao nhấtcủa sự sắp xếp thể hiện ở hệ thống định hướng giá trị của nhân cách

Quan niệm về sự sắp xếp điều chỉnh hành vi của nhân cách đã góp phần vào lýluận cũng như trong thực nghiệm, trong tâm lý học xã hội những kinh nghiệm đángquý Dựa trên quan niệm xã hội người ta có thể thay đổi tâm thế xã hội Sự sắp xếp cótính chất chủ thể nên có thể thay đổi được nó Mức độ thay đổi tâm thế gắn liền vớimức độ thay đổi sự sắp xếp Muốn giả quyết vấn đề thay đổi tâm thễ xã hội cần phảiđặt nó vào trong nội dung tâm lý học xã hội của khái niệm này Sự thay đổi tâm thế xãhội trong tâm lý học xã hội cần pahir phân tích theo quan điểm nội dung của sự thayđổi khách thể xã hội, theo quan điểm của sự thay đổi vị trí tích cực của nhân cách.Không chỉ giản đơn là trả lời lại hoàn cảnh mà do sự tiếp tục phát triển nhân cách

Vấn đề tâm thế xã hội có thể giải quyết đúng đắn trên cơ sở xem xét mối quan

hệ đối với hoạt động Trong một thời gian trước đây khái niệm tâm thế xã hội khôngđược dùng để giải thích nhân cách theo nguyên tắc hoạt động Nếu tâm thế xuất hiệntrên cơ sở hoạt động của con người thì việc thay đổi tâm thế trên cơ sở thay đổi hoạtđộng của nó Đó chính là sự thay đổi động cơ cho phù hợp với mục đích hoạt động.Chỉ có sự thay đổi sự phù hợp này đối với chủ thể thì ý nghĩa nhân cách của hoạt độngmới thay đổi Còn nhiều vấn đề về tâm thế xã hội cần được làm sáng tỏ, ví dụ như vaitrò cuat tâm thế xã hội đối với động cơ của hành vi, giải quyết được vấn đề này khôngchỉ có tác dụng thay đổi tâm thế xã hội của nhân cách mà còn đảm bảo sự thay đổihướng đích của nhân cách Điều này có vai trò to lớn trong vận dụng thực tiễn

5.4 Định hướng xã hội của nhân cách

Một trong những vấn đề quan trọng của lĩnh vực nhân cách là hiểu được mỗitác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh và việc hình thành định hướng xã hộicủa nhân cách Đặc trưng của mối tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh Hoạtđộng có tính chất nhân cách và tính chất xã hội không thể hiểu ở vị trí vật lý học, sinhvật học, xã hội học Muốn hiểu hoặc nghiên cứu hoạt động con người cần trong cácđặc thù của những quy luật sinh vật và xã hội học Con người với tư cách vừa là mộtđộng vật vừa là một tồn tại xã hội nó thực hiện hoạt động giống loài nhất định Tâm lýhọc xã hội cần phải nghiên cứu tính tích cực xã hội của con người không phải tính tự

Trang 18

phát mà là yêu cầu tất yếu có ở bản thân con người trong hoàn cảnh xã hội Tính tíchcực của con người phải được xem xét trong quá trình phát triển xã hội.Hình thứcchung của mối tác động tác động qua lại vật lý được phản ánh trong phạm trù của mốiliên hệ qua lại giữa nguyên nhân và kết quả Trong nội dung mối tác động vật lý người

ta sử dụng những khái niệm như không gian, thời gian, kích thích, vận động, sự tácđộng tới những vật khác nhau tạo nên mối quan hệ tác động vật lý giữa các sự vật, lựctác động lẫn nhau, diễn ra trong trường không gian – thời gian Nhưng không thể mangnhững hiện tượng như thế trong thế giới bên trong của con người và hoàn cảnh xã hộinhư nguyện vọng, mong muốn, trách nhiệm vào trong hệ thống này

Mối quan hệ qua lại có tính chất dặc thù được quy định ở con người như là một

cơ thể sống với hoàn cảnh Con người là một cơ chế đặc biệt, là sự thống nhất trọn vẹn

về mặt cấu trúc sinh vât Trong quá trình tác động qua lại với hoàn cảnh , sự phá hoại

và phục hồi sự thăng bằng của cơ thể sống được diễn ra thường xuyên Ở đây có sựtrao đổi chất giữa cơ thể và môi trường Cơ thể đã đồng hóa những đối tượng và sựvật để phục hồi sự thăng bằng Ngoài ra do trạng thái của cơ thể những tác động củamôi trường bên ngoài có thể gây ra những phản ứng khác nhau Nếu phá hoại sự cânbằng lớn sẽ gây ra cơ thể chết

Sinh vật học nghiên cứu những quy luật của mỗi tác động qua lại trực tiếp củahoàn cảnh và cơ thể.Nhưng con người hình thành mối quan hệ với hoàn cảnh với sự

vật không phải như có thể có quan hệ trực tiếp với sự vật Tính tích cực là hình thái

đặc biệt của mối quan hệ qua lại này Ai cũng biết dưới tác động của sự vật biểu

tượng nhìn và nghe được tiếp nhận không đóng vai trò quan trọng đối với cơ thể,nhưng rất quan trọng đối với con người Ví dụ bieeurtuwowngj nhìn và nghe giúp conngười định hướng đối với sự vật cần thiết Bằng con đường này, cảm giác đã trở thànhđối tượng của phản ánh, tìm kiếm những chức năng tín hiệu tiếp nhận ý nghĩa của đốitượng Đ N Uznadze là một trong những người đầu tiên chú ý đến hình thức, đặc biệtcủa mối tác động cá nhân với hiện thực Ông đã nghiên cứu hệ thống mối quan hệphản ánh vô thức của cá nhân đối với hoàn cảnh Trên cơ sở phân tích những thựcnghiệm ông đã chỉ ra rằng, khi có nhu cầu và hoàn cảnh thích hợp thì ở mỗi cá nhân sẽxuất hiện tính sẵn sàng, hay là tâm thế đối với tính tích cực thực hiện hành vi nhấtđịnh Hành vi sẽ được thực hiện để phản ánh nhu cầu trong môi trường thích hợp Conđường nghiên cứu cơ chế tâm thế phải nghiên cứu những quy luật tiếp nhận nhữngthông tin và cơ cấu trên cơ sở hành vi phù hợp không có sự tham gia của ý thức Bêncạnh những quan hệ tâm lý vô thức đối với hiện thực con người còn có quan hệ vôthức đối với chúng Hiện thực đời sống xã hội con người đòi hỏi có mối quan hệ có ýthức này Hoạt động tập thể đặt ra cho con người nhận thức hiện thực và trao đổi ýkiến với người khác Trong những trường hợp riêng cá nhân cần phải hướng tính tích

Trang 19

cực tâm lý của mình đến khách thể của hoạt động tập thể Qúa trình phân biệt hóa tínhtích cực tâm lý gắn liền với sự hình thành ý thức và khả năng khách thể hóa Trongtrường hợp con người chưa đạt được phản ánh tâm thế đòi hỏi khách thể hóa đối tượnggây trở ngại cho hành vi hiện thực Con người đặt ra câu hỏi đây là cái gì Để trả lờivấn đề này đòi hỏi phải đạt được hoạt động xây dựng lý luận vì vậy quan hệ nhận thứchiện thực đã hình thành con đường này, sự tác động của họ đối với thế giới xungquanh đã có ý thức Và do đó đã hình thành hình thức mới của mối tác động qua lạigiữa chúng Nói tóm laị quan hệ có ý thức của con người đối với hiện thực cho phépcon người xem xét hoàn cảnh không chỉ như là hoàn cảnh trực tiếp mà như là hệ thốngtrọn vẹn có khả năng xảy ra sự thống nhất với chúng

Phân tích hệ thống tính tích cực tâm lý – xã hội của con người đã chỉ ra rằng bêncạnh sự phản ánh hiện thực cần thiết có mối quan hệ nhất định của con người đối với

sự phản ánh đó Tâm thế, theo lý luận của Uznadze là hiện tượng tâm lý trọn vẹn trong

đời sống hiện thưc được phản ánh cho phù hợp với nhu cầu cá nhân Hoạt động nhận

thức và hoạt động xã hội được thực hiện trên cơ sở tâm thế Hành vi xã hội không chỉđóng kín trong cá nhân mà nó phục vụ cho nhiệm vụ xã hội Hành vi xã hội hướng tớinhu cầu xã hội, giá tri xã hội và tạo nên ý nghĩa xã hội

Hành vi xã hội cũng như tất cả tính tích cực khác đã bắt đầu tự sẵn sàng, từ tâmthế, trong đó tâm thế đã phản ánh nguyện vọng xã hội, mục đích, nhu cầu, sự chờ đợi.Khi phân tích tính tích cực cần chú ý đến khuynh hướng xã hội của nhân cách Mốiquan hệ tốt hay xấu đối với khách thể gắn liền với tính tích cực của nhân cách Đối vớinhân cách không phải chỉ là hiểu biết những kiến thức về văn hóa, truyền thống, hệ tưtưởng, quan hệ xã hội mà còn là có định hướng và có tâm thế về những hiện tượng đó.Nếu như trong nhận thức phản ánh đối tượng và hiện tượng của sự vật thì trong địnhhướng phản ánh thái độ con người đối với chúng

Đối với đánh giá kiến thức ta thường sử dụng thang điểm 5 bậc – (từ 0 – đến 5).Song trong định hướng xã hội người ta có thể đánh giá theo thang điểm 10 có nghĩa là

từ (-5 đến +5) Định hướng có 2 loại: Định hướng cá nhân và định hướng xã hội Địnhhướng cá nhân được xây dựng trên cơ sở những ảnh hưởng của nhu cầu cá nhân – cònđịnh hưỡng xã hội trên cơ sở hướng tới nhu cầu của người khác Nói chung ở đâychúng ta sẽ xem xét những quy luật hình thành và tác động của định hướng xã hội.Như chúng ta đã biết, dưới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, tâm thế củacon người đã hình thành đối với hành vi nhất định Khuynh hướng và tính chất phùhợp của hành vi tạo điều kiện cho hành động Dưới tác động của tâm thế, vị thế củahiện thực tương quan “tính vị thế” được hình thành trong ý thức và trong hành vi củanhân cách Tính vị thế là đặc điểm hiện thực của tính tích cực tâm lý của con người.Hoạt động tâm lý tức thời của con người có tính vị thế Do mối quan hệ với đối tượng

Trang 20

khác nhau mà ở cá nhân có thể có tâm thế dương hoặc tâm thế âm Nhiệm vụ của việchình thành nhân cách là tạo nên tính tích cực nhân cách.

Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm tâm thế nhân cách đối với hiện tượng quyđịnh, đối với giá trị, đối với quan điểm, lý luận, hệ tư tưởng có thể biểu hiện bằng bậcthang điểm từ -5 đến +5

Trong hoàn cảnh xã hội nhất định đều có cùng quan hệ với nghề nghiệp songngười giáo viên, người thợ điện, người máy kéo… có định hướng khác nhau Trongnhững nhóm xã hội khác nhau có định hướng xã hội đối với hiện tượng và giá trị khácnhau Ví dụ: định hướng của từng người hay nhóm xã hội đối với những vấn đề chínhtrị, xã hội, nghệ thuật, âm nhạc, văn học, v,v… có khác nhau Tính tích cực xã hộiđược quy định ở định hướng xã hội, tâm thế xã hội Vì vậy việc hình thành những quyluật và thay đổi tâm thế xã hội có ý nghĩa thực tiễn to lớn

Những quy luật hình thành và thay đổi tâm thế xã hội

a) Hiệu quả của định hướng xã hội:

Những nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng phù hợp với tâm thế con người đốivới hiện tượng và giá trị nhất định thể hiện sự đánh giá chúng có khác nhau Ví dụnhân cách N1 có vùng tâm thế dương đối với âm nhạc (+5) và có tâm thế (-3) đối vớibài báo nghiên cứu âm nhạc nào đó Trong trường hợp này nhận được cách đánh giátrong vị thế khác, ở bài báo nhân cách N2 có quan hệ âm tính đối với âm nhạc

Về mặt tương phản con người đánh giá mình còn có khoảng cách lớn so vớihiện thực mà anh ta có Trong một thời gian gần với sự kiện anh ta đánh giá tươngđồng hơn và xảy ra sự đồng hóa hiện thực sự kiện của giá trị tương phản và đồng hoácường độ thuộc tính cảm giác của sự vật trên cơ sở tâm thế nhất định đã tạo điều kiệncho việc nghiên cứu những thuộc tính của tâm thế Những quy luật này thể hiện rõtrong hành động tâm thê xã hội

Tương phản và đồng hóa đó là hiệu quả xuất hiện trong ý thức của nhân cáchdưới tác động của định hướng xã hội Tương phản và đồng hóa là quy luật chức nănghóa ý thức Tâm thế tạo nên khả năng phản ánh thích hợp hiện tượng trong ý thức,nhưng có thể dẫn đến sự sai lệch đối với tương phản và đồng hóa

Quy luật này được vận dụng vào công tác tuyên truyền

b) Quy luật, sự thay đổi định hướng xã hội:

Hiệu ứng “tương phản và đồng hóa” có quan hệ xã hội đối với sai lệch của ý thứcdưới ảnh hưởng của định hướng xã hội cần phải phân biệt với nhữn quy luật thay đổiđịnh hướng xã hội Trên cơ sở của nghiên cứu thực nghệm ta thấy giá trị tương phảnkhông thường xuyên gây ra sự thay đổi định hướng xã hội của nhân cách trong khuynhhướng độc lập

Trang 21

Khi định hướng xã hội thay đổi và đi tới gần vị thế tác động,chúng ta gọi là “tâmthế thích nghi” Khi tâm thế thay đổi trong sự tác động đối lập khuynh hướng xảy ratâm thế Trong trường hợp thứ 3 đôi khi sau giá trị tương phản của khách thể tâm thếcủa nhân cách về mặt giá trị không thay đổi.

c) Tính bền vững của định hướng xã hội:

Qua nghiên cứu thực nghiệm người ta thấy rằng tâm thế xã hội chiếm một vùngcàng lớn trong bậc thang giá trị thì càng khó thay đổi chúng Tâm thế của con ngườikhác biệt một vùng tâm thế càng lớn thì vùng đồng hóa hẹp và vùng tương phản càngrộng Vì vậy nhân cách nào đó ở con người có vùng tâm thế có ý nghĩa riêng do nhữnghiện tượng và giá trị đưa lại Định hướng xã hội phù hợp đã chuyển vào “cái tôi” và sựthay đổi định hướng này rất khó Nếu định hướng xã hội chiếm một bậc thang vị trítrung bình thì dễ dàng thay đổi tâm thế

Sơ đồ sau đây chỉ mối quan hệ nhân cách bạn bè và mối quan hệ đối với giá trị

Để thấy rõ mối quan hệ này ta hãy xét quy luật sau đây:

d) Quy luật hình thành và tác động của định hướng xã hội trong quá trình tác động lẫn nhau giữa con người

Sự thật khi một tâm thế nào thực hiện thì có nhu cầu hiện thực của con người vàxác định đối tượng phù hợp Nhưng điều đó chỉ chiếm một vị trí nhỏ trong định hướng

xã hội của con người Sự thật nhu cầu của con người đã bị biến đổi trong quá trình tácđộng qua lại của xã hội Nhữn nhu cầu sinh vật của con người (ăn, tự vệ, sinh lý) khác

xa với nhu cầu của động vật, bởi vì nhu cầu của con người có tính chất xã hội Cái gì

có liên quan đến mục đích và nguyện vọng của con người thì cái đó có nguồn gốc xãhội và trở thành hiện tượng xã hội Trong tâm lý học, chúng ta biết rằng tâm thế củacon người trong mối quan hệ tác động qua lại quy định tâm thế xã hội của ngườ đómang những giá trị tương đối nhất định Những công trình nghên cứu đã chứng minhrằng hoàn cảnh xã hội có ảnh hưởng đến định hướng nhân cách không chỉ trong trườnghợp con người thực hiện một tâm thế tương ứng mà trong trường hợp có định hướngđối lập Điều này được thể hiện trong nghiên cứu các hiện tượng, thăng bằng Dựa trênthực nghiệm người ta cho rằng, con người chịu ảnh hưởng của nhóm trong trường hợpkhi ở họ hình thành tâm thế dương đối với nhóm Nếu ở họ xuất hiện tâm thế âm cókhuynh hướng mất thăng bằng

Quy luật hình thành giá trị dương và âm

Nếu một người nào đó có quan hệ bình thường trung bình với nhóm bạn bè thìanh ta dửng dưng với nhóm đó

NC: Nhân cách

B: Nhóm bạn

GT: Gía trị

Trang 22

Nhân cách (NC) có tâm thế dương đối với bạn bè (B), và bạn bè qua quá trình tácđộng qua lại với nhân cách (NC) có quan hệ dương đối với giá trị (GT) Trong trườnghợp này định hướng dương đối với giá trị được hình thành tâm thế một cách vô thức ởnhân cách Tương tự như vậy ở trong trường hợp 2, 3, 4.

6 Cấu trúc của nhân cách trong tâm lý học xã hội

Các nhà tâm lý học, khi đưa ra khái niệm về nhân cách đồng thời đã phác họa ramột cấu trúc của nhân cách tương ứng với nó

Theo Rievald, các hiện tượng tâm lý thực hiện các chức năng đa dạng trong hoạtđộng như: chức năng kích thích, chức năng định hướng, chức năng kiểm tra, chứcnăng đánh giá và chức năng điều khiển Để hiểu cấu trúc nhân cách ông cho rằng:Trước hết cần phải biết các động cơ hiện tại của nó Khi xem xét sự khác nhau củanhân cách, Rievald cho rằng, bản chất xã hội cho phép đưa các kiểu định hướng chínhcủa nhân cách Những định hướng giá trị khác nhau đã tạo nên các kiểu loại nhân cáchkhác nhau thể hiện bản chất xã hội khác nhau, các phẩm chất tâm lý khác nhau và cácquan điểm sống khác nhau Ông còn cho rằng kiểu định hướng giá trị là đặc điểm tâm

lý xã hội chính của nhân cách

Từ hướng khác, Aphanashev khẳng định: Tính cá nhân không chỉ có các đặcđiểm riêng tồn tại ở một con người, mà còn có cả những đặc điểm chung và các thuộctính của loài người.Từ đó, mỗi tính chất và cấu trúc của nhân cách nói chung cần đượctiếp tục phân tích theo 3 tham số: 1- Tính nhận thức hoặc mức độ định hướng; 2- Tính

tổ chức; 3- Năng lực (cường độ, sự căng thẳng, phạm vi thể hiện) Như vậy, nhân cáchphải được phân tích từ quan điểm về các đặc điểm của nhận thức, ý chí và cảm xúc Sựphân chia này tương tự như sự phân chia các hiện tượng tâm lý thành : Trí tuệ, tìnhcảm và ý chí Nhân cách còn được phân chia thành: Tính cách, khí chất, năng lực xãhội Các yếu tố hợp thành nhân cách thì được chia thành các yếu tố bên trong và cácyếu tố bên ngoài…

Một vấn đề đặt ra sau khi xem xét khái niệm nhân cách và cấu trúc của nhân cáchchính là dựa trên quá trình hình thành và phát triển của nhân cách Nói cách khác, từmột cá thể để trở thành một nhân cách cần phải trải qua một quá trình xã hội hóa cánhân, cá nhân tự phát triển cả về tâm lý và sinh lý trong mối quan hệ tương hỗ với môitrương xung quanh, với các nhóm mà nó là thành viên Đó chính là quá trình phát triển

và tự hoàn thiện nhân cách

7 Phân loại nhân cách trong tâm lý học xã hội

7.1 Phân loại nhân cách theo định hướng giá trị xã hội của cá nhân

Gía trị xã hội của cá nhân là những thước đo sự đóng góp của các cá nhân đối với

xã hội Mặt khác, sự đóng góp nhiều hay ít của cá nhân đối với xã hội sẽ làm nảy sinh

sự đánh giá ngược lai của xã hội đối với họ, thể hiện qua vai trò và vị trí của họ trong

Trang 23

xã hội Chính nhờ vào quan hệ hai chiều giữa cá nhân với xã hội nói trên, giá trị xã hộicủa cá nhân càng được củng cố Đến khi nó ít nhiều mang tính bất biến thì nó sẽ chiphối mọi nhu cầu và động cơ, xu hướng bộc lộ bản thân và cách tự khẳng định của các

cá nhân, từ đó hình thành các kiểu nhân cách khác nhau Chúng ta chia chúng thành badạng chính tùy vào mức độ đóng góp cho xã hội của các cá nhân như sau:

• Loại định hướng nhân cách sáng tạo.

Nhân cách sáng tạo là loại nhân cách mà con đường để khẳng định mình là thành

quả lao động đóng góp một cách có ý thức cho xã hội Nhu cầu được lao động, được

sáng tao, là nhu cầu hàng đầu của nhân cách sáng tạo

Bên cạnh sự hữu ích cho xã hội, để đánh giá một người có hay không có nhâncách sáng tạo cần phải xem xét đến:

- Gía trị xã hội của động cơ đã thúc đẩy người ta hành động.

- Ở đây, xuất hiện một khái niệm về tính cách nhân đạo của nhân cách Điều đó

thể hiện ra ở việc biết quan tâm đến các cá nhân khác và tôn trọng lợi ích cũng nhưthành quả lao động của họ

- Mặt khác, người khác sáng tạo thường được xã hội và mọi người xung quanh

đánh giá cao Điều này giúp họ khẳng định vị trí và vai trò xã hội của mình.

Nói một cách ngắn gọn, một người có nhân cách sáng tạo là người bằng lao động

của mình đóng góp một cách có ý thức và hữu ích cho xã hội Bên cạnh đó, ý thức và

động cơ hành động của anh ta phải mang những đặc điểm sau:

+ Luôn mong muốn mang toàn bộ sức lực và tâm trí của mình ra làm việc vì lợiích xã hội

+Tôn trọng quyền lợi, sở thích và những nhu cấu củ những người lao động khác,luôn mong muốn mang lại niềm vui cho họ và thực sự hài lòng khi đạt được điều này.+Ý thức rằng công việc chung luôn quan trọng hơn lợi ích cá nhân

+ Tự hào về những thành quả lao động của bản thân

• Loại định hướng nhân cách hưởng thụ

Động cơ chính của loại nhân cách hưởng thụ là làm sao để thỏa mãn những nhucầu về tinh thần cũng như vật chất của cá nhân Các hoạt động tích cực của loại nhâncách này nếu không để thỏa mãn trực tiếp những nhu cầu thì cũng nhằm mục đích tíchlũy, phục vụ cho cá nhân mình

Dựa vào phương tiện sống và hành vi của loại nhân cách này, có thể chia họthành hai loại nhân cách: Loại hưởng thụ tích cực, sống bằng chính lao động của mình

và loại hưởng thụ tiêu cực, ăn bám xã hội và những cá nhân khác

Tuy rằng, đối với dạng người thứ nhất, sáng tạo chỉ là công cụ phục vụ cho mục đích hưởng thụ, nhưng họ vẫn là những người mong muốn sống trung thực và đòi hỏi

lao động Xét về phương diện xã hội, họ vẫn mang lợi ích cho xã hội bằng chính lao

Ngày đăng: 09/04/2017, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w