1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN HÓA LÀNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

33 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 712,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làng vốn đã không còn là điều xa lạ trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam. Hình ảnh làng xưa đã được đưa vào thơ ca, văn học hay các tác phẩm điện ảnh, truyền hình. Bên cạnh đó những sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam còn được xuất phát chủ yếu từ văn hóa nông thôn mà đặc biệt là ở vùng Bắc Bộ, nơi văn hóa làng đã hình thành và phát triển đầu tiên. Từ thuở sơ khai, đây đã là vùng đất đai trù phú và từng là cái nôi của Văn hóa Đông Sơn thời thượng cổ và văn hóa Đại Việt thời trung cổ với thành tựu rất phong phú về mọi mặt. Hơn nữa văn hóa làng ở vùng Bắc Bộ có lịch sử hình thành và phát triển trước tiên đã trở thành cái nôi và gốc gác, góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa của nước ta hiện nay nói chung và có ảnh hưởng đến văn hóa làng Nam Bộ và làng Trung Bộ nói riêng. Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ đóng vai trò to lớn đối với việc hun đúc nên cốt lõi, tâm hồn đất Việt, các giá trị đạo đức, nhân văn. Tuy nhiên, văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng có những hạn chế, không phù hợp với yêu cầu của việc xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay. Vì thế ta cần nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa làng Bác Bộ để có cái nhìn đa chiều và sâu hơn, biết được những ưu điểm cần phát huy và những điểm đã mất đi hoặc mai một theo năm tháng, những điều chỉ còn lại trong dân gian đến nay không còn nữa.

Trang 1

VĂN HÓA LÀNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

Trang 2

MỤC LỤC

I TỔNG QUAN……… 1

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Đối tượng nghiên cứu:

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu

II NỘI DUNG……… 3

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn……… 3

2 Văn hóa làng vùng Đồng bằng Bắc bộ hiện nay

Chương 2: Đặc tính của làng dân gian Bắc Bộ………9

I Những đặc tính cơ bản

II Một số biểu tượng – cấu trúc đặc trưng:

Chương 3 Văn hóa dân gian ở làng Bắc bộ………20

Trang 3

I TỔNG QUAN

1 Lý do chọn đề tài

Làng vốn đã không còn là điều xa lạ trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam Hình ảnh làng xưa đã được đưa vào thơ ca, văn học hay các tác phẩm điện ảnh, truyền hình Bên cạnh đó những sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam còn được xuất phát chủ yếu từ văn hóa nông thôn mà đặc biệt là ở vùng Bắc

Bộ, nơi văn hóa làng đã hình thành và phát triển đầu tiên Từ thuở sơ khai, đây đã

là vùng đất đai trù phú và từng là cái nôi của Văn hóa Đông Sơn thời thượng cổ và văn hóa Đại Việt thời trung cổ với thành tựu rất phong phú về mọi mặt Hơn nữa văn hóa làng ở vùng Bắc Bộ có lịch sử hình thành và phát triển trước tiên đã trở thành cái nôi và gốc gác, góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa của nước ta hiện nay nói chung và có ảnh hưởng đến văn hóa làng Nam Bộ và làng Trung Bộ nói riêng

Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ đóng vai trò to lớn đối với việc hun đúc nên cốt lõi, tâm hồn đất Việt, các giá trị đạo đức, nhân văn Tuy nhiên, văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng có những hạn chế, không phù hợp với yêu cầu của việc xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay Vì thế ta cần nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa làng Bác Bộ để có cái nhìn đa chiều và sâu hơn, biết được những

ưu điểm cần phát huy và những điểm đã mất đi hoặc mai một theo năm tháng, những điều chỉ còn lại trong dân gian đến nay không còn nữa

2 Mục đích nghiên cứu

Qua việc tìm hiểu về văn hóa làng Bắc Bộ sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc hình thành cùng quá trình phát triển của làng xưa ở nước ta Nhờ đó mà ta biết được các đặc trưng điển hình, biết rõ hơn về từng ý nghãi của mỗi một biểu tượng đặc trưng cho làng cũng như những phong tục, tín ngưỡng và lối sống, sinh hoạt của người dân Việt trong dân gian xưa

Việc nghiên cứu về đặc trưng văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ giúp chúng ta nhận thức sâu hơn về các giá trị cốt lõi của văn hóa dân gian từ xưa để từ đó làm

cơ sở cho việc xây dựng, gìn giữ và phát triển làng văn hóa ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu về làng ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ cùng và địa lí khu vực, cơ

sở hạ tầng, cơ cấu tổ chức, phong tục, tập quán, tâm lý, quan niệm, tính cách và cả

Trang 4

“hương âm”, "thổ ngữ" tức "giọng làng" riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong quá trình lịch sử

4 Phương pháp nghiên cứu

Thông qua việc đọc sách, báo, thu thập tài liệu đồng thời tìm hiểu qua phóng sự, nguồn video và các câu truyện dân gian để có thể đưa ra lí thuyết

Bên cạnh đó là nguồn hình ảnh cùng quan sát thực tế để kiểm chứng tính đúng đắn của lí thuyết

5 Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu

- Tìm hiểu thêm được những tục lệ cũng như tín ngưỡng trong dân gian Thấy được phong cách sinh hoạt hằng ngày cũng như các mùa lễ hội, lễ tết của người bình dân trong xã hội xưa

- Nhận biết những tục lệ văn hóa nào cần được phát huy nhưng đang trong tình trạng báo động dần biến mất, từ đó có những biện pháp cùng như cách để lưu giữ lại những nét đặc sắc trong văn hóa

- Bên cạnh đó nhận biết những tục lệ không còn phù hợp trong hoàn cảnh thời đại đổi mới, nhunwg đồng thời vẫn phải hiểu được ý nghĩa của những tục lệ ấy, hiểu được tâm tư tình cảm cũng như thế giới quan người bình dân xưa

- Chung tay gìn giữ và phát triển văn hóa làng, gìn giữ bản sắc dân tộc cũng như loại bỏ những yếu tố khiến văn hóa làng xã theo hướng bảo thủ

Trang 5

II NỘI DUNG:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn:

I Cơ sở lý luận

1 Làng ở Việt Nam

Làng là đơn vị cư trú và là một hình thức tổ chức xã hội quan trọng của nông thôn

các quốc gia ở châu Á Theo đó, “Làng xã là điểm tụ cư của những người cùng

huyết thống, sau đó để phù hợp với sự phát triển của xã hội và lịch sử, làng xã còn

là điểm tụ cư của những nhóm người cùng nghề nghiệp, bao gồm nhiều dòng họ khác nhau Khi nhà nước ra đời, làng xã là một đơn vị hành chính cơ sở và là một

tổ chức tự quản, quân sự và văn hóa khá hoàn chỉnh.” (Thùy Trang, Văn hóa làng

xã-tín ngưỡng, tục lệ, làng xã, 2009)

Làng còn được hiểu là một cộng đồng cư dân của người Việt trên vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Cả… đã có lịch sử từ lâu đời qua bao ngàn năm Trải qua thời kì chiến tranh loạn lạc, đôi khi nước đã đã bị chiếm mất nhưng làng vẫn còn đó tồn tại theo thời gian Làng vẫn luôn được giữ vững, phục hồi, tái lập trên khắp đồng bằng châu thổ sông Hồng, rồi tái sinh phát triển trên dải đất miền trung

và đồng bằng sông Cửu Long, cái gì đã làm cho làng có sức mạnh bền vững và dẻo dai như thế Chính là văn hoá làng và cơ sở vật thể và phi vật thể của văn hoá làng

là cái đình, luỹ tre, cây đa, ao làng, cổng làng,…

Mặc dù đã có nhiều mô hình làng xã, nhưng một ngôi làng điển hình thường khá nhỏ, có thể có từ 5 đến 30 gia đình Nhà trong làng được xây dựng gần kề nhau để cùng hợp tác và bảo vệ, mỗi nhà đều có một mảnh vườn, mảnh đất xung quanh nhà cho riêng mình để trồng trọt và chăn nuôi

Làng ở đồng bằng Bắc Bộ tập hợp những người cùng huyết thống hay cùng

phương kế sinh nhai sinh sống trên một địa bàn nhất định Sự gắn bó giữa con người ở làng quê, không chỉ ở quan hệ sở hữu đất đai, những di sản kiến trúc chung của làng, mà còn là sự gắn kết cộng đồng trong đời sống tâm linh, duy trì nếp sống cùng các chuẩn mực xã hội

2 Khái niệm văn hóa làng

Cùng với việc xuất hiện làng xã trong lịch sử, văn hóa làng cũng ra đời, trở thành nét đặc trưng của văn hóa dân tộc

Trang 6

“Văn hóa làng là những đặc trưng văn hóa đặc thù, được bảo lưu lâu dài trong

từng cộng đồng dân cư làng và tạo nên sự khác biệt giữa các làng Những đặc trưng đó được thể hiện trên các phương tiện phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tâm

lí, lối sống, phương thức hoạt động ứng xử của con người với môi trường tự nhiên

và với xã hội.” (Nguyễn Văn Mạnh, Văn hóa làng và làng văn hóa ở Quảng Ngãi)

Từ định nghĩa đó, văn hóa làng dù thể hiện ở chỗ nào, khía cạnh nào, dù phân loại theo kiểu nào cũng khó đồng nhất với các cộng đồng văn hóa khác, kể cả những cộng đồng đặc biệt như thôn, xã

3 Nguồn gốc hình thành và cách đặt tên làng

3.1 Sự hình thành và phát triển của làng

Làng Việt Bắc Bộ có lịch sử tồn tại từ rất lâu đời Cách ngày nay khoảng 4000 năm

về trước, trên đất Bắc đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó

là công xã nông thôn Đây chính là quá trình hình thành làng Việt cách trực tiếp

Và như vậy quá trình hình thành làng Việt Nam nói chung và làng Bắc Bộ nói riêng được diễn ra vào thời kỳ tiền Đông Sơn (gắn liền với văn hóa Phùng

Nguyên) Đó là thời kỳ tan rã của công xã thị tộc thay vào đó là công xã nông thôn Theo sự phát hiện khảo cổ, các làng Việt được hình thành theo nhiều dạng:

- Hình thành từ những cộng đồng thị tộc, bộ tộc xa xưa ở miền núi và trung du

đi xuống đồng bằng, hay từ ngoài biển bào đất liền, cùng sinh sống, liên hệ với nhau dần dần thành chỗ định cư ổn định Những địa điểm cùng tụ cư như vậy dần dần có nhiều biến đổi do ddieuf kiện tự nhiên (gần sông, gần biển, thuận tiện gioa thông); do khả năng nghề nghiệp và sở thích lẫn thói quen sinh hoạt mà cthành từng phường hay một vùng tách dần ra nhiều làng khác nhau

- Do một người khởi xướng, tìm được đất để làm ăn sinh sống, kéo thêm cả họ vào Cũng có thể là những thành phần trong gia tộc cùng quây quần lại trên

cơ sở cùng chung huyết thống để đỡ bần, bảo vệ nhau Do đó xuất hiện các làng thôn có tên như Trịnh xá, Bùi Xá, Nguyễn Xá,…

- Từ những vùng đất được nhà vua lấy để ban cho những người hoàng tộc hoặc những quan lại có công như kiểu thái ấp, lộc điền theo chế độ ân sủng của triều đình phong kiến Khi quan lại hết thời, những nơi tụ cư này thộc vào các phủ huyện và trở thành làng

Trang 7

Xét theo cơ cấu hình thành này, tên làng cũng là một thành phần quan trọng trong nguồn gốc hình thành làng Tên có thể đặt đồng thời với việc lập làng, có thể đặt sau nhưng bao giwof cũng mang ý nghĩa:

- Gắn với thiên nhiên, hoàn cảnh địa lý, với núi sông, cây cỏ

- Gắn với những đặc sản là thành quả lao động riêng của người dân trong làng hoặc với công trình kiến trúc, tên chợ,…

- Gắn với những truyền thuyết hay sự kiện lịch sử, những chiến công diệt giặc ngoại xâm

- Nói lên được ước vọng của người dân: muốn sống thanh bình, thịnh vượng, đặc biêt là muốn có những thành tích trong học hành, khoa cử

Đặt tên làng là một biểu hiện thấm nhuần sâu sắc văn hóa làng Trong kho tàng dân gian Việt Nam, có nhiều giai thoại về điểm này (như chuyện Lê Lợi đặt tên cho các làng) có ý nghĩa rất cao về văn hóa mà lâu nay chưa được quan tâm thỏa đáng

3.2 Hệ thống và cơ cấu tổ chức làng

Làng chính là trung tâm sinh hoạt độc lập tự chủ của người dân, và cũng là nơi xuất phát sức mạnh của dân tộc ta về mọi phương diện Làng ở Bắc Bộ hình thành

từ rất lâu đời, trên cơ sở tan rã của công xã nông thôn Vì thế mà có cơ cấu tổ chức

ổn định, bền vững, khép kín và chặt chẽ Làng ở Bắc bộ được cấu thành trên cơ sở của các luật lệ buộc như lệ tộc của mỗi dòng họ, lệ làng Bởi thế mà dù cho làng có nhiều hình thức tổ chức khác nhau nhưng vẫn gây sức ảnh hưởng và áp lực lên từng thành viên trong cộng đồng làng Người nông dân nơi đây sống gắn bó chặt chẽ với xóm giềng, dòng tộc, gia đình, quanh quẩn với những biểu tượng làng của mình

Có nhiều nguyên tắc khác nhau, nhiều cách để tổ chức làng xã một cách chặt chẽ,

vì thế tạo nên được nhiều loại hình, nhiều cách tập hợp người khác nhau, nhưng vẫn luôn hòa đồng trong phạm vi làng Về cơ bản, cơ cấu làng Việt (cổ truyền và hiện đại) được biểu hiện bởi những hình thức tổ chức (liên kết, tập hợp người) sau đây:

- Tổ chức theo địa vực (khu đất cư trú) với mô thức phổ biến: Làng phân

thành nhiều xóm, xóm phân thành nhiều ngõ, mỗi ngõ gồm một hay nhiều nhà thành những khối dọc bờ sông, bờ đê hay đường cái, hay theo khối bàn

Trang 8

cờ ô vuông, xen kẽ với ruộng đồng,… Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộc sống tương đối riêng

- Tổ chức làng xã theo huyết thống (gia đình), dòng họ: một làng có thể gồm

nhiều dòng họ còn có làng chỉ một họ duy nhất và khi đó làng và dòng họ đồng nhất với nhau Mức độ liên kết huyết thống trong phạm vi làng hết sức rạch ròi, chi li với những tên gọi cụ thể (cố - cụ - ông - cha – con - cháu – chắt – chút – chít ….)

- Tổ chức làng theo nghề nghiệp, theo sở thích và lòng tự nguyện ( thường

được gọi là phe – hội hay phường): ngoài yếu tố huyết thống, phường – hội còn là mối dây ràng người trong làng Phường và hội là tập hợp những người cùng sở thích và cùng nghề nghiệp Mỗi làng có thể có nhiều hội nhiều phe

- Tổ chức làng xã theo lớp tuổi (truyền thống nam giới): tổ chức giáp, hiện rất

mờ nhạt Là tổ chức dành riêng cho nam giới, nữ giới không được vào, được tiến thân theo tuổi Giáp gắn chặt với làng, từ khi bé trai được vào giáp ngay

từ khi vừa chào đời, rồi lên đinh, ngồi chiếu giữa làng, dần dần địa vị được nâng lên cho đến khi lên lão,…

- Tổ chức làng theo cơ cấu hành chính: Theo nhiều tác phẩm trong văn học

xưa như Chí Phèo, Vợ nhặt, làng được chia theo hai loại là dân chính và ngụ

cư (nội tịch và ngoại tịch) Tuy nhiên dân ngụ cư có thể trở thành dân chính

cư nếu như sống ở làng từ 3 đời trở lên và có điền sản Dân cư trong làng được phân thành nhiều hạng khác nhau: chức sắc ( đỗ đạt hoặc có phẩm hàm vua ban); chức dịch (có chức vụ trong bộ máy hành chính), lão, đinh, ty, ấu, người già, trai đinh, trẻ con (trong các giáp)…

Làng là một thiết chế xã hội của nông thôn Bắc bộ có cơ cấu tổ chức phong phú nhưng không kém phần chặt chẽ, luôn mang tính cộng đồng và tự trị cao Làng còn

là nơi gìn giữ và lưu truyền văn hóa làng chống lại sự xâm lăng, đồng hóa của văn hóa ngoại lai

II Cơ sở thực tiễn:

Từ xa xưa, làng đã là một tổ chức cộng đồng khép kín: đình làng thờ Thành

Hoàng, tổ chức lễ hội Lũy tre và cổng làng là điển hình của biên giới tách biệt làng với thế giới bên ngoài với những luật lệ riêng của mỗi làng Gia đình, dòng tộc cũng góp phần cho sự phong phú thêm cho truyền thống làng Vì thế mà khi về vùng quê Bắc bộ, thường hay thấy bất kể già trẻ đều phải thưa gửi ông trưởng tộc

dù tuổi đười còn rất trẻ Không những thế dù con cái có ăn khoai sắn thay cơm

Trang 9

nhưng nhà thờ họ, giỗ họ, mộ tổ đều phải lo cho đầy đủ chu đáo, phải làm thật to Trong làng xã chứa đựng những điều tốt đẹp và cả bất cập Mọi sự phát triển, tụt hậu, chiến thắng hay thất bại đều dựa vào truyền thống ấy

Nói đến văn hóa là nói đến những “nét riêng biệt” có tính đặc trưng, tức là cái hồn, cái chất của một người, một vùng miền hay một dân tộc Văn hóa bộc lộ tư duy, tình cảm của con người và biểu hiện ở quan niệm sống, hành vi ứng xử của họ Với Việt Nam nói chung, đồng bằng Bắc bộ nói riêng, cái hồn này thể hiện trong văn hóa làng

Vậy điều gì đã làm cho làng có sức mạnh bền vững và dẻo dai như thế? Đó là văn hóa làng Văn hóa làng chính là cái gốc của văn hóa dân tộc đồng thời là hằng số không đổi đồng hành cùng người dân Việt theo thời gian từ xưa đến nay Khẳng định vị trí của làng trong việc hình thành nền văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu

Nguyễn Từ Chi viết: “Làng là tế bào sống của xã hội Việt Nam Xã hội Việt Nam

là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên tìm hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung, trong sức năng động lịch

sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hóa, cả trong những phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó”

Văn hóa làng Bắc Bộ được thể hiện ở những điểm chính: ý thức cố kết cộng đồng rất cao, từ ý thức đó mà hình thành nên những phong tục, tập quán, nếp sống dân chủ Thông qua các hương ước, lệ làng, thể hiện rõ ý thức tự cai quản, tôn ti trật tự trong các dòng họ và trong từng làng Ngoài những đặc điểm chung, mỗi làng còn

có những nét riêng, làm nên sự độc đáo, sự ràng buộc tự nhiên Ngoài ra, văn hóa làng Bắc bộ còn được thể hiện ở sự đa thần giáo trong đời sống tín ngưỡng của làng

Trang 10

2 Văn hóa làng vùng Đồng bằng Bắc bộ hiện nay

Ngày nay, trước sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp và thời đại công nghệ 4.0, đã và đang có rất nhiều giá trị quý báu của văn hóa làng vùng Đồng bằng Bắc bộ dần mất đi, không còn nữa mà chỉ còn xuất hiện trong dân gian, trong những bài thơ, cao dao, tục ngữ hay những bài hát, bài vè Làng Bắc Bộ ngày nay

đã có những bước tiến mới về văn hóa, tinh thần do sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ

Tìm hiểu, xây dựng và lưu giữ văn hóa làng dân gian Bắc Bộ chính là góp phần tích cực vào công cuộc bảo tồn và lưu giữu cùng phát triển văn hóa nước nhà, vì một nền văn hóa đầm đà bản sắc dân tộc

Trang 11

Chương 2: Đặc tính của làng dân gian Bắc Bộ

I Những đặc tính cơ bản

Vùng đồng bằng Bắc Bộ là nơi diễn ra các hoạt động sinh sống và sản xuất của người dân trồng lúa nước, đồng thời cũng là không gian sinh hoạt, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ được hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Làng là một thành tố quan trọng trong cơ cấu xã hội Việt kể cả xưa và nay (nổi lên là gia đình (nhà) – làng – nước), với hai đặc tính cơ bản là tính cộng đồng và tính tự trị

1 Tính cộng đồng

Tính cộng đồng là đặc tính cơ bản nhất của văn hóa làng Việt Nam Một cộng đồng

là một nhóm xã hội của các cá thể sống chung trong cùng một môi trường thường

là có cùng các mối quan tâm chung Mục đích thành lập làng là do nhu cầu cùng nhau đối phó với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bên ngoài nên làng dân gian mang tính cộng đồng

Tính cộng đồng của làng được nhấn mạnh vào sự đồng nhất, có một điểm chung nào đó liên kết mọi người trong cùng một làng lại với nhau Sự đồng nhất đó có thể

là cùng một hội, cùng một thuyền, cùng cảnh ngộ, địa bàn cư trú hay cùng huyết thống Từ những sự đống nhất ấy mang mọi người trong làng lại với nhau, khiến

họ gắn bó cùng giúp nhau vượt qua cảnh ngộ, cùng giúp nhau để đối chọi với thiên nhiên và cùng phấn đấu tạo ra của cải vật chất Tình cộng đồng được thể hiện qua những biểu tượng tiêu biểu như sân đình, bến nước, cây đa, là những nơi dân trong làng thường tụ tập, trao đổi, thăm chuyện lẫn nhau

Tính cộng đồng được thể hiện tiêu biểu trong quan hệ huyết thống: gia đình và dòng họ Người Việt, đặc biệt ở vùng Bắc Bộ, rất coi trọng gia đình Thành viên trong gia đình luôn sống vì nghĩa vụ và trách nhiệm với các thành viên còn lại trước, đồng thời, họ lấy gia đình làm nòng cốt để tạo lập kỷ cương xã hội Với ý nghĩa đó, gia đình Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ vừa là đơn vị sinh hoạt, đơn

vị kinh tế, cũng là đơn vị giáo dục và là tế bào của xã hội Trong dân gian đã có quan niệm “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” nên người cùng một họ luôn có trách nhiệm phải đùm bọc cưu mang lẫn nhau, giúp đỡ nhau về nhiều phần trong cuộc sống Vào những ngày lễ tết, đám giỗ, cả họ sẽ cùng nhau họp bàn việc tổ chức đám và các nghi lễ Cùng vì đó mà tinh thần cộng đồng ở gia đình và dòng họ luôn được gìn giữ và tiếp tục phát triển cho đến tận bây giờ Như vậy, sức mạnh

Trang 12

của gia đình và dòng họ thể hiện trước hết ở tinh thần đùm bọc, đoàn kết, yêu thương nhau giữa các thành viên, giữa các thế hệ

Tính cộng đồng của văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ còn được thể hiện qua địa bàn cư trú Nghĩa là những người sống gần nhau, cùng làng, cùng xóm luôn

bên cạnh giúp đỡ nhau khi cần thiết, do đó mà dân gian có câu hàng xóm “tối lửa

tắt đèn có nhau”

Không những thế, tính cộng đồng của văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ thể hiện tiêu biểu qua việc thờ Thành hoàng làng và tổ chức lễ hội hàng năm Đối với

dân làng, “Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng

hi vọng chung của cả làng, lại cũng là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc

vô hình, khiến cho làng thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ” Qua

việc cả làng cùng thờ một vị thần cho thấy được sự liên kết cộng đồng về mặt tinh thần của người dân Do vậy, các loại lễ hội thờ cúng cũng góp phần tăng cường mối đoàn kết tương thân Có thể nói, đặc trưng tính cộng đồng của văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ không chỉ tìm thấy trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn thể hiện rõ trong đời sống tinh thần

Nhờ làng có tính cộng đồng nên người dân trong làng là những người ở gần với nhau, họ luôn có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi cần Và cũng vì vậy mà người dân làng có được tính tập thể cao, luôn hòa đồng

với nhau theo như câu ca dao “Bán anh em xa mua láng giềng gần” mà người dân

Bắc Bộ thường hay nói đến Việc tất cả mọi người trong làng cùng hỗ trợ nhau như thế đã tạo nên một nếp sống dân chủ bình đẳng, ai cũng như ai, ai cũng có thể giúp nhau và ai cũng cần được giúp đỡ Những hệ quả của tính cộng đồng này đã phần nào ăn sâu và trở thành nòng cốt của văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay

Tuy vậy, tính cộng đồng của văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ được hình thành trên cơ sở nền kinh tế tiểu nông, khép kín, không khoa học, nên cũng có những hạn chế nhất định Một khi tính cộng đồng đã quá cao thì mọi cá nhân đều nghĩ đến cộng đồng mà quên mất vai trò của cá nhân, của bản thân Do đó mà họ

chỉ biết lo “việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng” hay thậm chí nặng hơn nữa

người dân thường có thói ỷ lại, dựa dẫm vì đinh ninh rằng trong làng rồi sẽ có người giúp nên không việc gì phải lo

2 Tính tự trị

Nói đến đặc tính văn hóa làng dân gian xưa, ngoài tính cộng đồng không thể không

nói đến tính tự trị Từ bao lâu nay đã có câu nói“Phép vua thua lệ làng” thể hiện

Trang 13

sức mạnh của tính tự trị diễn ra trong làng dân gian xưa như thế nào Chính tính tự trị đã xác định sự độc lập của làng, tự bản thân làng có thể cai quản trông coi mọi việc trong làng

Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre và cổng làng Mỗi làng ở đồng bằng Bắc Bộ xưa thường có lũy tre kiên cố bao bọc làng, tách biệt làng với thế giới bên ngoài Cùng với lũy tre là cổng làng Trước đây vào làng rất khó, nhiều khi chỉ

có một lối đi vào duy nhất là qua cổng làng, cổng được làm chắc chắn, bên trên có mảnh chai làm vũ khí tự vệ, hai bên đường có ao Từ xa xưa, làng Việt đã được bảo vệ một cách có ý thức Ngày nay, tình hình an ninh đảm bảo hơn, lũy tre đã dần vắng bóng, nhiều cổng làng đã biến mất nhưng ý thức tự trị trong tư duy con người thì vẫn còn lưu lại

Có thể nói, làng ở đồng bằng Bắc Bộ có tính tự quản cao, nhìn chung, mỗi làng là một đơn vị hành chính tương đối độc lập được quản lý chặt chẽ trong một kết cấu

xã hội phân tầng theo chức tước, theo khoa mục, theo tuổi tác, theo trật tự thân tộc

Đó là điều mà các triều đại, nhà nước phong kiến luôn tìm cách xóa bỏ nhưng đều thất bại

Tính tự trị của làng thể hiện ở việc: mỗi làng có một luật pháp riêng (thể hiện qua hương ước), có một tiểu triều đình riêng, trong đó hội đồng kì mục là cơ quan lập pháp, lí dịch là cơ quan hành pháp Tính tự trị của làng còn được biểu hiện ở lệ làng Lệ làng là những quy tắc ứng xử trong đời sống xã hội và tín ngưỡng đòi hỏi dân làng phải tuân theo Lệ làng có thể được chép thành văn bản, được gọi là

hương ước

Tính tự trị được tạo nên bởi cơ sở nhấn mạnh sự khác biệt giữa cộng đồng làng này

so với cộng đồng làng khác Từ đó tạo nên được tình thần tự lập cộng đồng, mỗi cộng đồng, mỗi làng phải tự lo liệu việc, có luật pháp riêng của mình Vì lối sống

tự lo liệu như thế nên dần hình thành nếp sống tự cung tự cấp: mỗi làng tự lo nhu cầu cho cuộc sống làng mình, mỗi nhà tự có vườn trồng rau, chăn gà, nuôi lợn để

tự đảm bảo nhu cầu ăn uống cũng như chỗ ở Do đó mỗi làng nói chung hay mỗi người dân trong làng nói riêng thường có tính siêng năng, cần cù để có thể tự lo liệu, cung cấp đủ những nhu cầu thiết yếu cho chính gia đình và cho cả làng của mình

Trái với những điều ấy, tính tự trị còn khiến cho làng cũng như những người dân

có óc tư hữu, ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân và đôi khi nghĩ không phải việc của mình thì mình không cần phải lo Bởi thế mới có câu trong dân gian:

Trang 14

“Ai có thân người nấy lo

Ai có bò người nấy giữ”

Bên cạnh đó, tính tự trị còn có thể khiến người dân mang óc bè phái, địa phương cục bộ do thói quen tự lo liệu Làng nào chỉ việc lo cho riêng làng nấy, lo chu đáo cho cục bộ làng địa phương của mình Dân gian xưa có câu:

“Trống làng nào làng nấy đánh, Thánh làng nào làng nấy thờ”

Ngoài ra, tính tự trị còn khiến người dân có óc gia trưởng, tôn ti nặng nề Tính tôn

ti tự thân nó không hề xấu do xuất phát từ nguyên tắc tổ chức nống thôn theo huyết thống, tuy nhiên do tính tôn ti khi đi cùng với óc gia trưởng đã gây nên tâm lý cậy quyền, áp đặt những suy nghĩ, ý muốn của mình lên người khác như câu “Sống lâu lên lão làng” Những suy nghĩ nhưu vậy sẽ làm cản trở sự phát triển của xã hội vì đâu cứ phả người cao tuổi là sẽ đúng hết, sẽ có lúc người trẻ hơn nhưng có những suy nghĩ hợp lí hơn

3 Chức năng

Đặc điểm môi trường sống quy định tính cách và tư duy của dân tộc Dân tộc Việt

ta gốc nông nghiệp cùng lối tư duy biện chứng đã hình thành nên nguyên lí âm dương và cúng với đó là lối ứng xử nước đôi trái ngược nhưng hài hòa với nhau Làng dân gian Bắc Bộ xưa cho đến nay vẫn luôn mang trong mình cả hai tính cách, vừa đoàn kết tương thân tương ái, vừa có óc tư hữu ích kỉ; vừa có tính tập thể hòa đồng trong cộng đồng làng lại vừa có óc bè phái, địa phương; vừa có nếp sống dân chủ lại vừa có óc gia trưởng tôn ti;… Tùy lúc tùy nơi mà mặt tốt và mặt xấu được thể hiện ra Tuy nhien những tính chất cơ bản này của làng dân gian Bắc Bộ góp phần hình thành nên tính cách của làng Việt Nam và ăn sâu vào tính cách đặc trưng của văn hóa Việt Nam

II Một số biểu tượng – cấu trúc đặc trưng:

1 Cây đa

Từ bao đời nay cây đa đã được xem là một trong những biểu tượng đặc trưng của làng quê truyền thống vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ nói riêng và cả nước nói chung Cây đa tượng trưng cho sự trường tồn, sức sống dẻo dai Năm tháng trôi

Trang 15

qua nhưng cây đa vẫn luôn sừng sững, chứng kiến những thăng trầm đổi thay của

đất trời và của bao thế hệ con người

Hình ảnh cây đa đầu làng rất quen thuộc với nhiều người (Nguồn:

https://vannghetiengiang.vng )

Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ thường

ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích Cuộc sống sinh hoạt của làng diễn ra sôi động xung quanh gốc đa Với người dân quê, gốc đa là nơi bình

đẳng nhất, không có sự phân biệt ngôi thứ

Không tiền ngồi gốc cây đa

Có tiền thì hãy lân la vào hàng

Gốc đa còn gắn liền với sinh hoạt hằng ngày của người dân xưa với những hình ảnh họp chợ hay là chỗ chơi thoải mái nô đùa, nhặt lá hái hoa của trẻ nhỏ hay chúng có thể chơi những trò chơi dân gian nơi đây Gốc đa còn là nơi để người người nghỉ chân tránh nắng sau những giờ làm việc mệt nhọc ngoài đồng Ngoài

ra, gốc đa còn là chốn hò hẹn thân quen của những cặp đôi yêu nhau

Em đang dệt vải quay tơ Bỗng đâu có khách đưa thơ tới nhà

Hẹn giờ ra gốc cây đa Phượng hoàng chả thấy thấy gà buồn sao

Không những thế, hình ảnh cây đa còn có ý nghĩa tâm linh với người dân trong làng Cây đa có thể có ở nhiều vị trí nhưng không thể thiếu ở đình làng hay chùa

"Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề"

Trang 16

Hay:

"Cây thị có ma, cây đa có thần"

Cây đa được coi là nơi ngự trị của các thần linh dân dã và các linh hồn bơ vơ Cây

đa nào càng già cỗi, càng xù xì, rậm rạp thì càng gắn bó với thần linh Gốc đa ở các

di tích thường được dân chúng thắp hương chung để tỏ lòng tôn kính các vị thần linh dân dã hoặc cầu cho những linh hồn bơ vơ về nương nhờ lộc Phật không đi lang thang quấy nhiễu dân làng

Cây đa luôn là biểu tượng đẹp với hầu hết các ý nghĩa chuẩn mực của biểu tượng: vừa hiện hữu, vừa tiềm ẩn, huyền bí, vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa mang đậm yếu tố tâm linh

2 Ao làng

Bên cạnh hình ảnh cây đa, ao làng cũng là hình ảnh không thể thiếu trong mỗi làng quê Việt Nam nói chung và làng quê xưa Bắc Bộ nói riêng Ao làng là hình ảnh thân thương, gần gũi và ăn sâu vào kí ức thời thơ ấu cho đến về già với mỗi người xưa

Ao làng là nơi diễn ra nhiều hoạt động đặc sắc, náo nhiệt của cả làngnhư vào dịp giáp tết Nguyên đán, người trong làng thường tát cạn ao và chia từng phần cá cho nhau Và một số người còn vớt từ dưới ao lên những cây gỗ ngâm từ trong bùn để chuẩn bị sửa nhà hoặc làm nhà Có khi cả làng có hiều người cùng chung nhau một con lợn và mổ ngay bên bờ ao, chia thịt, luộc lòng, người ta rửa lá dong để gói bánh chưng và làm cỗ chung vui tại đây

Ao làng còn là nơi cư dân gặp gỡ trò chuyện, đặc biệt với gốc đa cạnh ao làng là nơi lý tưởng để người nông dân cùng xóm làng với nhau sau giờ làm mệt nhọc có thể cùng ngồi trò chuyện thăm hỏi qua lại Đặc biệt hơn nữa, hình ảnh ao làng cũng

là một chốn hẹn hò, gặp gỡ gần gũi mà lý tưởng của các cặp gái trai trong làng Không những thế, hoạt động giặt giũ khi xưa cũng diễn ra ở ao, việc các chị em cùng nhau ra ao vừa giặt đồ vừa trò chuyện mang lại không khí tươi vui cũng nhưu thể hiện tính cộng đồng gắn kết thân thiết giữa người trong cùng một làng với nhau

Ngày đăng: 23/12/2021, 16:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh cây đa đầu làng rất quen thuộc với nhiều người (Nguồn: - VĂN HÓA LÀNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
nh ảnh cây đa đầu làng rất quen thuộc với nhiều người (Nguồn: (Trang 15)
Hình ảnh lũy tre xanh làng quê xưa (Nguồn: baolaocai.vn) - VĂN HÓA LÀNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
nh ảnh lũy tre xanh làng quê xưa (Nguồn: baolaocai.vn) (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w