Nam Bộ là vùng đất giàu trầm tích văn hóa, đa dạng tộc ngƣời, tôn giáo, giàu tiềm năng và có vị trí chiến lƣợc trọng yếu. Từ khi tích hợp về với Đại Việt, Nam Bộ luôn là một bộ phận không thể tách rời với quốc gia, dân tộc Việt Nam. Sự đa dạng, phong phú về văn hóa vùng đất Nam Bộ đã vẽ thêm màu sắc cho nền văn hóa Việt Nam. Nam Bộ là nơi sinh sống của bốn tộc ngƣời : Ngƣời Việt, ngƣời Khmer, Chăm và ngƣời Hoa, có sự khác biệt về tổ chức xã hội, ngôn ngữ, tín ngƣỡng tôn giáo chính sự khác biệt đó làm nên tính đa dạng về văn hóa của một nền văn hóa. Tuy nhiên trải qua hàng trăm năm cộng cƣ, cùng chia sẻ ngọt bùi trong quá trình khai phá đã hình thành nên nét văn hóa chung của vùng mà khi phân vùng văn hóa ở Việt Nam các tác giả đều nhất trí cho rằng có sự khác biệt giữa văn hóa Nam Bộ với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam. Khi nói tới vùng Nam Bộ là nói tới vùng sông nƣớc, những cộng đồng dân cƣ nơi đây đã biết khai thác một cách có hiệu quả những yếu tố sông nƣớc không chỉ làm nên nét văn hóa riêng, mà còn phát triển kinh tế xã hội. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đồng bằng màu mỡ, chi chít sông ngòi, kênh rạch, nơi đây thƣờng có “những con nƣớc lớn tràn bờ, nƣớc ròng phơi bãi” và ghe thuyền sinh hoạt tấp nập ngày đêm. Chính điều kiện nơi đây là cơ sở cho sự hình thành những nét văn hóa đặc thù của vùng mà một trong số đó không thể không thể không nhắc đến chợ nổi. Chợ nổi là nét đẹp riêng có của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chợ nổi không chỉ là hình thức sinh hoạt kinh tế của ngƣời dân Đồng bằng sông Cửu Long mà tồn tại bên trong là một nét văn hóa đặc sắc riêng biệt. Tuy nhiên cùng với nhịp sống hiện đại, chợ nổi Nam Bộ đã thay đổi, không chỉ còn là nơi giao thƣơng buôn bán nữa mà còn là nơi tham quan du lịch. Điều này vừa là cơ hội giúp chợ nổi trở nên phát triển hơn về mặt kinh tế, song cũng là nguy cơ chợ nổi mất đi vẻ đẹp văn hóa vốn có của nó, những giá trị văn hóa nếu không đƣợc bảo tồn nó sẽ dần mất đi. Vì thế chủ đề này đƣợc sinh ra với mong muốn đƣa con ngƣời về với vẻ đẹp văn hóa vốn có của chợ nổi Nam Bộ, giúp con ngƣời có thể hiểu hơn và từ đó lƣu giữ, phát huy để nét văn hóa này tồn tại trong mọi thời đại.
Trang 1NĂM 2020
Trang 2
2
MỤC LỤC
PHẦN I: TỔNG QUAN 3
1/ Lý do chọn đề tài: 3
2/ Mục đích nghiên cứu đề tài: 3
3/ Đối tượng nghiên cứu: 4
4/ Phương pháp nghiên cứu: 4
PHẦN II: NỘI DUNG 4
1/ Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn: 4
1.1 Cơ sở lý luận: 4
1.1.1 Khái niệm chợ: 4
1.1.2 Khái niệm chợ nổi: 5
1.1.3 Khái niệm văn hóa và văn hóa sinh hoạt chợ nổi Nam Bộ: 6
2/Sinh hoạt chợ nổi Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa: 6
2.1 Địa điểm họp chợ: 6
2.2 Chủ thể tham gia: 8
2.3 Cách thức mua bán của chợ nổi: 9
2.4 Đời sống sinh hoạt của người dân: 11
3/ So sánh chợ nổi Nam Bộ và chợ nổi Thái Lan: 13
4/ Biện pháp bảo tồn văn hóa trong chợ nổi: 15
PHẦN III: KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 33
PHẦN I: TỔNG QUAN
1/ Lý do chọn đề tài:
Nam Bộ là vùng đất giàu trầm tích văn hóa, đa dạng tộc người, tôn giáo, giàu tiềm năng và có vị trí chiến lược trọng yếu Từ khi tích hợp về với Đại Việt, Nam
Bộ luôn là một bộ phận không thể tách rời với quốc gia, dân tộc Việt Nam Sự đa dạng, phong phú về văn hóa vùng đất Nam Bộ đã vẽ thêm màu sắc cho nền văn hóa Việt Nam Nam Bộ là nơi sinh sống của bốn tộc người : Người Việt, người Khmer, Chăm và người Hoa, có sự khác biệt về tổ chức xã hội, ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo chính sự khác biệt đó làm nên tính đa dạng về văn hóa của một nền văn hóa Tuy nhiên trải qua hàng trăm năm cộng cư, cùng chia sẻ ngọt bùi trong quá trình khai phá đã hình thành nên nét văn hóa chung của vùng mà khi phân vùng văn hóa ở Việt Nam các tác giả đều nhất trí cho rằng có sự khác biệt giữa văn hóa Nam Bộ với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam Khi nói tới vùng Nam Bộ là nói tới vùng sông nước, những cộng đồng dân cư nơi đây đã biết khai thác một cách có hiệu quả những yếu tố sông nước không chỉ làm nên nét văn hóa riêng, mà còn phát triển kinh tế xã hội Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đồng bằng màu mỡ, chi chít sông ngòi, kênh rạch, nơi đây thường có “những con nước lớn tràn bờ, nước ròng phơi bãi” và ghe thuyền sinh hoạt tấp nập ngày đêm Chính điều kiện nơi đây là cơ sở cho sự hình thành những nét văn hóa đặc thù của vùng
mà một trong số đó không thể không thể không nhắc đến chợ nổi Chợ nổi là nét đẹp riêng có của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Chợ nổi không chỉ là hình thức sinh hoạt kinh tế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long mà tồn tại bên trong là một nét văn hóa đặc sắc riêng biệt Tuy nhiên cùng với nhịp sống hiện đại, chợ nổi Nam Bộ đã thay đổi, không chỉ còn là nơi giao thương buôn bán nữa mà còn là nơi tham quan du lịch Điều này vừa là cơ hội giúp chợ nổi trở nên phát triển hơn về mặt kinh tế, song cũng là nguy cơ chợ nổi mất đi vẻ đẹp văn hóa vốn có của nó, những giá trị văn hóa nếu không được bảo tồn nó sẽ dần mất đi Vì thế chủ đề này được sinh ra với mong muốn đưa con người về với vẻ đẹp văn hóa vốn có của chợ nổi Nam Bộ, giúp con người có thể hiểu hơn và từ đó lưu giữ, phát huy để nét văn hóa này tồn tại trong mọi thời đại
2/ Mục đích nghiên cứu đề tài:
Đề tài này được nghiên cứu với mục đích giúp người đọc hiểu hơn về văn hóa chợ nổi Nam Bộ và từ đó có cái nhìn khác hơn, sâu sắc và xa hơn về chợ nổi trong lịch
sử lẫn tương lai Bởi chợ nổi cần được bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa
Trang 44
truyền thống nhưng vẫn không tách biệt với thời đại để nó tránh khỏi nguy cơ
“chìm” trước đà phát triển của xã hội đương thời
3/ Đối tượng nghiên cứu:
Văn hóa sinh hoạt chợ nổi Nam Bộ
4/ Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tổng hợp, phân tích, liệt kê: Dựa vào việc sưu tầm các nguồn tài liệu trên internet, sách, báo đài, video liên quan đến văn hóa, con người chợ nổi Nam Bộ…
Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh chợ nổi Nam Bộ với chợ nổi của Thái Lan để tìm ra hướng đi, hướng phát triển cho chợ nổi Nam Bộ
PHẦN II: NỘI DUNG
1/ Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn:
1.1 Cơ sở lý luận:
1.1.1 Khái niệm chợ:
Định nghĩa của từ điển Tiếng Việt: “Chợ là nơi công cộng để nhiều người đến mua bán vào những buổi hoặc những ngày nhất định; chợ là nơi gặp gỡ nhau giữa cung và cầu các hàng hóa, dịch vụ, vốn; nơi tập trung các hoạt động buôn bán hàng hóa giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng”…
Định nghĩa thường dùng trong lĩnh vực thương mại: “Chợ là loại hình thương nghiệp truyền thống khá phổ biến ở nước ta; chợ là hiện thân của hoạt động thương mại, là sự tồn tại của không gian thị trường mỗi vùng, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và tập trung nhiều nhất ở các vùng đô thị, các thành phố lớn”
Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển
và quản lý chợ “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư”
Trang 55
Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ "Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội"
Từ những khái niệm trên, có thể nói chợ là nơi trao đổi, mua bán hàng hóa gồm hai thành phần chủ lực: Bên bán và bên mua Tùy từng vùng, từng khu vực mà có những nét đặc trưng riêng Chợ còn là biểu hiện của sự sung túc hay nghèo nàn của một địa phương
1.1.2 Khái niệm chợ nổi:
Tương tự như chợ thì chợ nổi cũng có 2 thành phần: người mua và người bán, nhưng thay vì họp chợ ở trên bờ thì chợ nổi lại diễn ra trên sông Khái niệm chợ nổi chỉ xuất hiện khoảng ba mươi năm trở lại đây, ban đầu thì chợ nổi chỉ bao gồm một nhóm cư dân buôn bán với nhau nhưng dần dần các nhà nghiên cứu bắt đầu phát hiện ra nét độc đáo của hình thức này Cũng bắt đầu từ đó mô hình chợ nổi mới được đề cập nhiều
Cho đến nay, đã có một số tác giả đưa ra định nghĩa về chợ nổi và nội hàm khái niệm gồm: là một loại chợ, nhóm, họp trên sông, phương tiện đi lại trong giao dịch
là ghe, xuồng ( Nhâm Hùng, 2009; Ngô Văn Lệ, 2014; GSTS Trần Ngọc Thêm và ctv,2014)
Theo Nhâm Hùng (2009,tr19): “Chợ nổi là cách nhóm chợ trên sông Người mua
kẻ bán đều giao thương trên ghe, xuồng, tàu, bè trong một khoảng thời gian nhất định Trên chợ nổi có đầy đủ chủng loại hàng hóa và dịch vụ nhưng chủ lực là nông sản”
H1: Chợ nổi Ngã Bảy (Hậu Giang)
Trang 66
Nguồn: https://godidigo.com/blog/cho-noi-mien-tay.html
*So sánh chợ nổi và chợ:
Chợ nổi và chợ đều là nơi diễn ra sự mua bán, trao đổi hàng hóa và đều có hai thành phần: người mua và người bán
Tuy nhiên, mua bán ở chợ diễn ra trên bờ, có ban quản lý chợ và phải đóng thuế, bất cứ địa phương nào cũng có chợ dù là lớn hay nhỏ và chợ bán tất cả các mặt hàng Cách thức rao hàng của chợ chính là bảng hiệu Ngược lại với chợ, chợ nổi mua bán trên sông nước, mang tính tự phát, và cách thức rao hàng là cây bẹo, không phải địa phương nào cũng có chợ nổi
1.1.3 Khái niệm văn hóa và văn hóa sinh hoạt chợ nổi Nam Bộ:
Unesco đã định nghĩa văn hóa năm 2002: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, GSTS Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.”
Có thể nói văn hóa sinh hoạt trong chợ nổi chính là cách thức sinh hoạt hằng ngày trong chợ nổi, những hoạt động hằng ngày nhưng đã trở thành những nét truyền thống văn hóa riêng biệt của người dân nơi đây Nó là địa điểm, chủ thể, cách thức mua bán, đời sống trong ghe thuyền, sau những buổi họp chợ của người dân chợ nổi Nam Bộ Tất cả những yếu tố ấy tạo thành nét văn hóa đặc sắc không thể nào trộn lẫn của Chợ nổi Nam Bộ
2/Sinh hoạt chợ nổi Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa:
2.1 Địa điểm họp chợ:
Chợ nổi Nam Bộ được tổ chức mua bán trên sông, chợ nổi phải họp ở nơi có vị trí đầu mối giao thông mà ghe xuồng từ khắp nơi có thể tụ về một cách thuận lợi nhất Các vùng miền khác ở Việt Nam, dù là vùng đồng bằng Bắc Bộ hay gần nhất là
Trang 77
Đông Nam Bộ, đều không ở đâu có một mạng lưới sông nước kênh rạch phủ kín giúp cho ghe xuồng có thể len lỏi tới khắp nơi như Tây Nam Bộ
Từ 3giờ sáng mỗi ngày, hoạt động mua bán giao thương ở chợ diễn ra nhộn nhịp
và kéo dài đến 10 giờ sáng Khi nhắc đến chợ nổi, chúng ta chỉ đơn thuần nghĩ rằng chợ nổi diễn ra vào hừng đông, nhưng nếu để cảm nhận một cách rõ nét và đầy đủ về chợ nổi thì chúng ta phải tìm hiểu chợ nổi vào ban đêm nữa Chợ nổi vào ban đêm chỉ gói gọn trong giới thương hồ, vì trong khoảng thời gian này, giao dịch buôn bán chỉ còn một ít lẻ tẻ Hầu hết các chủ buôn đều đậu ghe và nghỉ ngơi, sinh hoạt với gia đình của họ, hoạt động rõ nét nhất chính là các ghe dịch vụ, họ bán đầy các loại thức ăn suốt đêm và lúc nào cũng nóng hổi
Địa điểm họp chợ nổi phải nằm trên tuyến giao thông chính nơi sông rạch cắt nhau tại các thành ngã ba, ngã năm, ngã bảy Những nơi dưới nước đã có sông rạch cắt nhau, thì thường trên bờ, đường bộ cũng tụ hội tạo nên các thị tứ, thị trấn Các khúc sông này phải đáp ứng được tiêu chuẩn phải tương đối rộng để có chỗ tụ tập ghe xuồng mà vẫn còn khoảng trống để lưu thông, khiến giao thông không bị tắc nghẽn Vì cần phải tương đối rộng nên nơi họp chợ nổi chỉ có thể là sông chứ không phải là kênh rạch, tương đối rộng nhưng không được quá lớn, vì sông lớn thì sóng gió cũng lớn theo theo gây nguy hiểm cho ghe thuyền neo đậu Khúc sông nơi họp chợ nổi không được sâu quá mà cũng không cạn quá Nếu sông cạn quá lúc nước ròng thì có thể bị mắc cạn, nếu sông sâu quá thì khó neo đậu ghe thuyền và
độ an toàn thấp
“Chợ nổi đa phần đóng ở nơi giáp nước để thương đồ dừng tay chèo đợi con nước thuận, có khi phải ở lại vài ba ngày nên các sinh hoạt chợ nổi rất nhộn nhịp, kể cả sinh hoạt văn nghệ”( Nguyễn Ngọc Phan, 2009) Ở dưới sông, do hai con nước chảy ngược chiều gặp nhau dừng lại nên chỗ giáp nước cũng là nơi mà lục bình, rác rưởi tập trung dồn lại Nơi sông nhỏ hẹp, lục bình có thể tập trung dày đặc đến mức ghe xuồng không bơi qua được, phải chờ nước chảy mới thông luồng, hoặc nếu gấp thì phải vác xuồng qua đoạn sông đó mới thả xuống bơi tiếp được Như thế, nơi giáp nước không phải là địa điểm thuận tiện cho việc hình thành chợ nổi được; trên thực tế, các chợ nổi đều đặt ở những nơi sông rạch cắt nhau
Trang 88
2.2 Chủ thể tham gia:
Chủ thể tham gia chợ nổi thường là chủ nhân của những ghe xuồng liên tục đến đi, ken đặc trên cả hàng sông dài hàng km Ta không thể biết chính xác được là tổng cộng có bao nhiêu ghe xuồng nhưng nếu ước chừng thì ở một chợ nổi ít nhất cũng
có vài trăm đến dăm bảy trăm chiếc ghe xuồng đang tham gia mua bán trên sông Những ghe xuồng này có nguồn gốc từ khắp các địa phương trong và ngoài vùng Các ghe loại vừa là ghe buôn bán nhỏ trong địa phương, còn các ghe lớn là của các thương lái thu gom hàng đưa lên thành phố hoặc đưa sang Campuchia, Thái lan, Trung Quốc Muốn biết ghe xuống đến từ địa phương nào, chỉ cần nhìn vào hai chữ cái đầu viết tắt tên tỉnh trong số hiệu in trên mạn ghe, nếu thấy ghi “ĐT” thì ta biết ghe này đến từ Đồng Tháp Những chủ ghe bán hàng cùng quê hoặc quen biết nhau thường cột nối các ghe thành một chiếc bè lớn, mũi ghe quay ra sông đón khách Người Việt thường quan niệm “buôn có bạn, bán có phường”; liên kết chặt lại với nhau, người bán hàng dễ bề giúp đỡ nhau khi cầ thiết Trên sông, ca-nô, xuồng vỏ lãi chạy qua chạy lại với tốc độ cao tạo nên sống mạnh vỗ vỗ vào mạn khiến những chiếc ghe xuồng đang neo đậu chao đảo chòng chành; khi các ghe nương tựa tạo thành bè kết nối với nhau thành bè như vậy thì tác động của sóng đã giảm đi rất nhiều Với người mua, một khi đã bước lên bè mà không mua được hàng ở ghe này thì bước sang ghe bên cạnh sẽ rất tiện Khi cần chuyển dịch một khoảng cách ngắn, tất cả các ghe cùng đồng loại nổ máy trông rất vui mắt
Theo TS Trần Nam Tiến cho rằng: “Điểm lý thú của chợ nổi là nơi hội tụ của các loại người tứ xứ đến mua bán, làm ăn Từ những người dân bình thường cho đến những người tứ cố vô thân, rời bỏ quê hương tha phương kiếm sống, với: ki-ốt nổi
là chiếc ghe bán hàng hóa, trái cây, khi nơi này khi nơi khác Chỉ cần có một chiếc ghe và sản phẩm hàng hóa có thể họp chợ mua bán…” Chính vì như thế mà chủ thể sản sinh ra chợ nổi chính là những người mua bán trên sông Những người tham gia thuộc đủ mọi thành phần già trẻ, gái trai vừa cung vừa cầu, bổ sung cho nhau tạo nên diện mạo của chợ nổi Nam Bộ
Phần đông các chợ nổi lớn ở Tây Nam Bộ là chợ bán sỉ (bán buôn); chợ bán lẻ cũng có nhiều người mua sỉ để buôn lại, cho nên một số lượng lớn người mua là chính các khách thương hồ Bên cạnh khách thương hồ, luôn có người địa phương
đi chợ mua bán phục vụ sinh hoạt hằng ngày Gần đây, khách du lịch ngày càng tăng lên, nhưng họ không phải là khách hàng chính của chợ nổi Chỗ khác biệt cơ bản của chợ nổi Tây Nam Bộ so với chợ nổi Thái Lan nằm ở chỗ khách hàng của
Trang 99
chợ nổi Thái Lan tuyệt đại bộ phận đều là dân du lịch chứ không phải là người địa phương
Mặt hàng hóa phổ biến nhất ở chợ nổi Tây Nam Bộ là trái cây, rau củ các loại Ở vùng nhiệt đới gió mùa sông nước này, trái cây, rau củ vô cùng đa dạng và phong phú quanh năm Đó chính là đặc sản số một của miệt vườn Thương lái theo kênh gạch len lỏi vào các ngõ ngách tìm mua tại vườn các loại nông sản rẻ để đưa ra các chợ bán Ngoài nông sản ra, chợ Nam Bộ còn mua bán các loại thủy sản như tôm, cua, cá, rắn…và có hàng chục các ghe xuồng bán tạp phẩm, nước giải khát, có cả ghe bán xăng dầu, bán vé số đa dạng, đầy màu sắc không kém gì với chợ trên bờ
H2 Ghe bán hủ tiếu tại chợ nổi Nguồn: https://www.pinterest.com/pin/835347430855125062/
2.3 Cách thức mua bán của chợ nổi:
Trên mỗi ghe hàng đều cắm một vài cây sào, trên sào treo lủng lẳng những người
mà ghe mình có bán Người ta gọi đó là cây bẹo Hình thức “cây bẹo” ở hầu hết các thuyền, các ghe bán hàng là sự sáng tạo của người dân nơi đây trong việc quảng cáo hàng hóa, vừa thay cho bảng hiệu, để thuyền di chuyển thuận lợi mà không bị chắn gió Cây bẹo thường là cây sào tre dài 5-7m treo các thứ hàng hóa
có trên thuyền, ghe để khách hàng biết trên thuyền có bán các loại hàng hóa nào, sản phẩm gì Cây bẹo được treo với độ cao trung bình, không quá cao cũng không quá thấp, vừa tầm nhìn của khách hàng, bởi tính chất phù hợp của nó mà cây bẹo trở thành tín hiệu cụ thể nhất để các thương hồ quảng cáo các loại hàng muốn bán Người đi chợ thì chỉ càn nhìn cây bẹo sẽ biết ghe nào bán thứ mình muốn mua Xét
ở góc độ sâu xa và nguồn gốc, hình thức cây bẹo trước hết được xuất phát từ yếu tố
Trang 1010
cạnh tranh, nhu cầu tiếp thị, quảng bá của hoạt động mua bán trên sông Cây bẹo hầu như được sử dụng để chào hàng các loại trái cây, hàng tạp hóa, rau củ…
Tuy người dân treo gì bán nấy thông qua những cây bẹo, nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ:
-“Có những thứ treo mà không bán" - đó là quần áo Vì sống bằng nghề thương
hồ, chiếc ghe vừa là phương tiện làm ăn, vừa là nhà ở của họ, họ sinh hoạt, nghỉ ngơi trên chính chiếc ghe của mình Cứ mỗi lần quần áo được giặt xong là họ phơi ngay bên ngoài chiếc ghe của mình để kịp nắng kịp gió, sớm mai có quần áo để mặc Do đó quần áo thường được treo ngoài ghe nhưng không bán
-“Có những cái bán mà không treo” – Chính là các thuyền bán đồ ăn uống, nước giải khát Những thứ này không thể treo lên được, một phần vì chúng rất khó để treo lên bởi vì rất dễ vỡ và một phần cũng vì không có vật gì thay thế (hủ tiếu, bún riêu…) để biểu thị cho thứ mình đang bán cho khách thấy được Các ghe bán hàng
ăn uống dạo thường thay các bẹo hình bẹo dạng bằng bẹo âm thanh Có người bấm kèn bằng tay, có người vừa chèo ghe vừa dung chân đạp lên kèn (loại kèn lớn, gọi
là kèn cóc)
-“Treo cái này, bán cái khác”- đây là hình thức “bẹo lá bán ghe”, chính là treo lá dừa nhưng lại bán thuyền, người dân muốn bán ghe xuồng của họ thường treo lên thuyền một cây sào, trên đó có gắn một miếng lá dừa Vì cây dừa là loại cây đặc trưng cho vùng đất Nam Bộ, nên mái nhà của người dân thường được lợp bằng lá dừa Vì vậy treo lá dừa có nghĩa là họ muốn bán thuyền, muốn bán ngôi nhà trên sông của mình
H3: Cây bẹo