1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC NGƯỜI VIỆT NAM BỘ

21 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 534,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người Việt ở Nam Bộ có nguồn gốc từ miền Bắc và miền Trung đã di cư đến những vùng đất mới để khai phá, văn hóa nơi đây vừa mang dấu ấn đặc trưng lưu truyền ngàn năm văn hiến Việt Nam vừa có những nét mới do có sự giao lưu văn hóa với nhiều tộc người cùng sinh sống như Hoa, Khmer… trong suốt chiều dài lịch sử của Nam Bộ và sau này là giao lưu với phương Tây. Văn hóa Việt Nam thiên về âm tính, trọng tình, trọng nữ. Hình ảnh người phụ nữ luôn được khắc họa trên mọi lĩnh vực văn hóa Việt Nam. Sinh sống trong một vùng đất mới cùng với nhiều sự biến động lịch sử xã hội, Người phụ nữ Việt Nam Bộ vẫn giữ được những nét truyền thống của người phụ nữ Việt Nam như dịu dàng, nhân hậu, thủy chung nhưng bên trong lại rất thật thà, chất phác, đôn hậu. Hình ảnh về người phụ nữ Nam Bộ đã để lại những vết dầu trong văn hóa, qua “thi, ca, nhạc, họa”, qua những nghiên cứu, bình luận của các nhà văn hóa, tâm lý, xã hội học… Sinh ra tại miền Trung và vào Nam Bộ để học tập, em muốn tìm hiểu về những nét văn hóa của nơi đây, đặc biệt là về người phụ nữ trong văn hóa của người Việt ở Nam Bộ. Vì đề tài về người phụ nữ trong văn hóa rất rộng nên em quyết định lựa chọn tìm hiểu về người phụ nữ trong văn hóa tổ chức của người Việt Nam Bộ.

Trang 1

TIỂU LUẬN CUỐI KÌ

NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC NGƯỜI VIỆT NAM BỘ

TP HCM 11/2020

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU……… 3

1 Lý do chọn đề tài……… 3

2 Mục đích nghiên cứu……… 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 3

4 Phương pháp nghiên cứu……… 3

B NỘI DUNG……….4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN……… 4

1.1 Cơ sở lý luận………4

1.1.1 Định nghĩa văn hóa……… 4

1.1.2 Văn hóa người Việt và người nữ……….4

1.2 Cơ sở thực tiễn……… 4

1.2.1 Nam Bộ nhìn từ không gian……… 4

1.2.2 Nam Bộ nhìn từ thời gian……… 5

1.2.3 Chủ thể văn hóa Nam Bộ……… 5

CHƯƠNG 2: NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC ………… 6

NGƯỜI VIỆT NAM BỘ……… 6

2.1 Văn hóa tổ chức đời sống tập thể……… 6

2.2 Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân……… 7

2.2.1 Tín ngưỡng…… ……… 7

2.2.2 Phong tục……….8

2.2.3 Giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ……… 10

2.2.4 Nghệ thuật thanh sắc……….13

2.2.5 Nghệ thuật hình khối……….17

C KẾT LUẬN……… 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 20

Trang 3

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người Việt ở Nam Bộ có nguồn gốc từ miền Bắc và miền Trung đã di cư đến những vùng đất mới để khai phá, văn hóa nơi đây vừa mang dấu ấn đặc trưng lưu truyền ngàn năm văn hiến Việt Nam vừa có những nét mới do có sự giao lưu văn hóa với nhiều tộc người cùng sinh sống như Hoa, Khmer… trong suốt chiều dài lịch sử của Nam Bộ và sau này là giao lưu với phương Tây

Văn hóa Việt Nam thiên về âm tính, trọng tình, trọng nữ Hình ảnh người phụ nữ luôn được khắc họa trên mọi lĩnh vực văn hóa Việt Nam Sinh sống trong một vùng đất mới cùng với nhiều sự biến động lịch sử - xã hội, Người phụ nữ Việt Nam Bộ vẫn giữ được những nét truyền thống của người phụ nữ Việt Nam như dịu dàng, nhân hậu, thủy chung nhưng bên trong lại rất thật thà, chất phác, đôn hậu Hình ảnh về người phụ nữ Nam Bộ đã để lại những vết dầu trong văn hóa, qua

“thi, ca, nhạc, họa”, qua những nghiên cứu, bình luận của các nhà văn hóa, tâm lý,

xã hội học…

Sinh ra tại miền Trung và vào Nam Bộ để học tập, em muốn tìm hiểu về những nét văn hóa của nơi đây, đặc biệt là về người phụ nữ trong văn hóa của người Việt ở Nam Bộ Vì đề tài về người phụ nữ trong văn hóa rất rộng nên em quyết định lựa chọn tìm hiểu về người phụ nữ trong văn hóa tổ chức của người Việt Nam Bộ

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về người phụ nữ trong văn hóa Việt Nam Bộ và những nét đăc trưng của người phụ nữ Nam Bộ

3 Đối tượng nghiên cứu

Người nữ trong văn hóa Việt Nam Bộ với những đăc trưng riêng

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp liên ngành

- Phương pháp lịch sử

Trang 4

- Phương pháp so sánh

B NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Định nghĩa văn hóa

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (Trích Trần Ngọc Thêm)

1.1.2 Văn hóa người Việt và người nữ

Văn hóa người Việt là văn hóa vật chất và tinh thần ( hay gọi theo UNESCO

là văn hóa vật thể và phi vật thể ) do người Việt kế thừa của ông cha, sáng tạo cái mới và giao lưu văn hóa với các dân tộc khác, đất nước khác Nước ta có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Việt chiếm đa số Trong ngành Dân tộc học thì thuật ngữ dân tộc có hai nghĩa : toàn thể con người Việt Nam và dân tộc - tộc người

Người nữ là toàn bộ phụ nữ nói chung Nghiên cứu người nữ trong văn hóa

tổ chức của người Việt Nam Bộ tức là nghiên cứu người phụ nữ Việt ở Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học Từ đó nổi bật lên vai trò, vị trí, nét đẹp, tính cách của người phụ nữ Việt Nam Bộ qua các thời kỳ

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nam Bộ nhìn từ không gian

Nam Bộ gồm hai tiểu vùng: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, là nơi gặp gỡ của nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi: gần xích đạo nhưng mùa hè không quá nóng và ẩm như miền Bắc ở sâu trong lục địa, không quá khô và quanh năm không bao giờ bị bão lớn như miền Trung Nam Bộ còn là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế: Việt Nam với Đông Nam Á; Việt Nam với phương Tây; ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương

Nam Bộ có hai mùa mưa và khô với mênh mông sông nước và kênh rạch, nền văn hoá ở đây còn gọi là văn hoá miệt vườn, văn hoá sông nước Hai hệ thống sông lớn nhất trong vùng là sông Đồng Nai và sông Cửu Long Do những điều kiện

Trang 5

tự nhiên, lịch sử, xã hội đã dẫn đến sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long ít nhiều có những nét khác biệt với các vùng khác trên đất nước ta

1.2.2 Nam Bộ nhìn từ thời gian

Nam Bộ là tên gọi khu vực phía cực nam của Việt Nam thay cho tên gọi Nam Kỳ sau khi Việt Nam giành được độc lập (năm 1945) Nam Bộ là một trong

ba vùng chính của lãnh thổ Việt Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ)

Thời chúa Nguyễn, vùng đất này là xứ Gia Định (Gia Định thành), mới được khai khẩn từ thế kỷ 17 Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định Năm 1862, triều đình Huế cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp Sau cuộc kháng chiến chống Pháp bền bỉ, nhân dân Nam Bộ tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ Năm 1975, Nam Bộ được hoàn toàn giải phóng sau 20 năm kháng chiến chống Mĩ

Đất mới, con người cũng mới, trên vai không trĩu nặng truyền thống hàng ngàn năm và sau này chịu ảnh hưởng phương Tây manh mẽ nên con người trở nên mạnh bạo, năng động, cởi mở, phóng khoáng…

1.2.3 Chủ thể văn hóa Nam Bộ

Nam Bộ là một vùng địa lý có nhiều nét riêng biệt, ở vào vị trí mở về thiên nhiên, kinh tế và văn hóa Với một vị trí địa lý thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi

về tài nguyên, đất, nước và khí hậu, Nam Bộ đã trở thành vùng đất hứa của những người đi mở đất, mở nước 300 năm qua.So với vùng đất Bắc Bộ và Trung Bộ thì Nam Bộ là nơi dễ sống Đất trống, người thưa, người dân có cuộc sống thảnh thơi

“Vừa làm vừa chơi cũng đủ ăn” [Sơn Nam, 2009:79] Nhưng vốn là vùng đất hoang, trước đó nhiều thế kỷ chưa được khai phá, nên thiên nhiên Nam Bộ cũng hết sức khắc nghiệt, nhất là trong buổi đầu khai hoang mở đất.Quá trình khai phá Nam Bộ là một quá trình lao động vất vả lâu dài của nhiều thế hệ nối tiếp nhau, là kết quả của sự nỗ lực lớn lao và những sáng kiến phong phú trong lao động

Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến đông, người dân Nam Bộ đã tạo dựng một nếp sống tinh thần ấm áp, bình đẳng, sống tình nghĩa… Cá tính của người Nam Bộ chịu ảnh hưởng của “ khí hậu, đất trời, môi trường sinh sống” mới, cởi mở trong giao lưu, nhạy bén với cái mới, giản dị, thiết thực, vượt ra khỏi những ràng buộc, gò bó của khuôn mẫu…

Vậy chủ thể của vùng Nam Bộ vẫn là người Việt nhưng là “người Việt mới” Họ vẫn giữ được truyền thống hàng ngàn năm của người Việt như trọng đức,

Trang 6

trọng văn, trọng phụ nữ nhưng ở người Việt Nam Bộ, trong quá trình lịch sử đi khai hoang mở đất, đứng trước bao nguy hiểm, khó khan đã tạo nên con người nơi đây mạnh mẽ, táo bạo, phóng khoáng những cũng rất đoàn kết, hòa hợp, chân chất

Chương 2: Người phụ nữ trong văn hóa tổ chức người Việt Nam Bộ

2.1 Văn hóa tổ chức đời sống tập thể

Người phụ nữ trong gia đình Việt Nam Bộ lúc đầu được xem là một trụ cột chính, cùng chồng bươn chải, vượt hiểm thoát nguy, do đó không bị quá phụ thuộc

và lép vế như ở nhiều vùng khác Tại đây, truyền thống “nhất nam viết hữu, thập

nữ viết vô” hầu như không bám rễ sâu được trong dân dã, mà thay vào đó là câu

“Trai mà chị gái mà chi, sanh ra có ngãi có nghì là hơn” Nhà văn Sơn Nam trong “ Truyền thống gia đình Nam Bộ” có ghi nhận xét về vị trí, vai trò của người phụ nữ như sau: “Trên lý thuyết, xã hội ta theo phụ hệ nhưng ở người Nam Bộ, người con gái, người đàn bà nắm khá nhiều quyền hạn “Phu tử tòng tử” chỉ là lý thuyết Trong thực tế, cha mất mẹ cầm quyền, trừ trường hợp đặc biệt mẹ nhường quyền cho con Mua bán nhà đất, cưới vợ gả chồng cho con cái, trường hợp vắng cha vẫn

do mẹ quyết định con mà được mẹ yêu thương nhất định được chia phần gia tài nhiều hơn đứa khác Ngày giỗ trong gia đình, người mẹ hay người vợ có phận sự nhắc nhở và quyết định cách tổ chức lớn hay nhỏ Khi đặt tên con, người chồng luôn tham khảo ý kiến vợ… Việc bố trí bàn thờ thánh thần và Phật trong nhà thường là người đàn ông nhường quyền cho vợ Lắm khi trong việc chia gia tài, giành tựu tiên cho chị và em gái Người chồng thường vui vẻ làm lễ Giỗ cho cha

mẹ vợ tại nhà mình Tiềm lực kinh tế từ phía họ ngoại tại Nam Bộ: “thắng về nội, thối về ngoại” nêu lên được hậu phương vững chắc từ họ hàng bên vợ, giúp phát triển kinh tế gia đình một khi gia đình bên nội thất thế sa cơ Vị trí người phụ nữ Nam Bộ trong kinh tế gia đình cũng được đề cao, họ đứng ngang hàng với nam giới trong giao dịch, trao đổi, mua bán” Tính tôn trọng phụ nữ còn được thấy ngay

cả trong phần đặt họ tên Trong quá khứ, phần họ của một người luôn luôn thuộc

về phía người cha thì tại Nam Bộ, do ảnh hưởng tinh thần dân chủ của phương Tây, việc dùng họ mẹ làm tên đệm khá phổ biến

Quan niệm “trọng nam khinh nữ”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, thói gia trưởng cũng đã giảm đi nhiều Vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài

xã hội ngày càng được nâng cao Bà Châu Vĩnh Tế quê ở An Giang được Vua Minh Mạng truy phong bà là “Nhàn Tĩnh phu nhân”, lấy tên bà đặt tên cho con kinh Châu Đốc - Hà Tiên, núi Vĩnh Tế ( núi Sam ), thôn Vĩnh Tế Điều đó quả thật là hiếm có trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ Ở TP.HCM, cũng như các vùng đất khác ở Nam Bộ có rất nhiều tên đường, tên địa danh mang tên phụ nữ

Trang 7

Cùng với gia đình vào miền đất mới sinh cơ lập nghiệp, người phụ nữ Nam Bộ kế thừa truyền thống phụ nữ Việt Nam với các đức tính đảm đang, nhân hậu, chịu thương chịu khó, hết lòng lo cho gia đình: “Trong cuộc khai hoang có thể xem là đại quy mô đó, sự hợp lực giữa vợ với chồng, con cái với gia đình gắn bó với nhau

Ở Nam Bộ đồng ruộng mênh mông nhưng không ai cấy riêng gặt riêng từng người

mà cấy gặt từng vạn đông đảo Tuyệt đại đa số là phụ nữ chuyển từ xóm làng này sang xóm làng khác chuyên lo cấy gặt” [Tổ sử phụ nữ Nam Bộ 1995: 22 ]

Chính từ phương thức giúp đỡ nhau trong sản xuất đã ăn sâu vào lối sống của người phụ nữ Nam Bộ mà họ đã tạo nên sự đoàn kết trong cuộc chiến đấu chống các thế lực xâm lược Sương Nguyệt Anh là con gái thứ 4 của Nguyễn Đình Chiểu, tại Bến Tre có câu ca ngợi:

“Đem chuông lên đánh Sài Gòn,

để cho nữ giới biết con ông Đồ”

Ngày nay, phụ nữ miền Nam cũng có những đóng góp quan trọng trong sự nghiêp xây dựng, đổi mới đất nước, giữ những vị trí quan trọng trong những cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, quản lý văn hóa, doanh nghiệp,…

2.2 Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân

2.2.1 Tín ngưỡng

Tín là tin theo, Ngưỡng là ngửa trông lên trời Như vậy, tín ngưỡng là thứ vô hình, nhưng thiêng liêng và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa xã hội của người nông dân Tín ngưỡng gồm có: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái

tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người [http://www.vanhoahoc.edu.vn]

Ở Nam Bộ cũng như các vùng miền khác của cả nước, người phụ nữ được tôn trọng, kính nể, thờ phụng Văn hóa Việt Nam vốn là văn hóa trọng tình, trọng

nữ, thiên về âm tính Cái đích mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực, cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp mà là các Bà Mẹ, các Mẫu

Về tín ngưỡng sùng bái tự nhiên thì ở Nam Bộ chủ yếu thờ là Mẹ Đất như:

Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Diêu Trì Phật Mẫu Ông địa ở Nam Bộ cũng là một dạng

mẹ Đất Về tín ngưỡng sùng bái con người (nhân thần) ở Nam Bộ thì bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên thì ở chủ yếu thờ các Bà Cô là những người có thật và rất linh ứng Người dân Nam Bộ thờ các nữ thần như : Bà Chúa Xứ, Phật Bà, thờ Cô, Linh Sơn Thánh Mẫu, lăng Ông Bà Chiểu, thờ bà Phi Yến Đạo Cao Đài có thờ Diêu Trì

Trang 8

Phật Mẫu Các lễ hội liên quan như lễ hội Bà Chúa Xứ, lễ hội nghinh Cô, lễ vía Bà Chúa Xứ - Châu Đốc - An Giang, bà Chúa Ngọc (thờ ở các miếu thần Nam Bộ), Linh Sơn Thánh Mẫu (Tây Ninh )…

Tượng Bà Chúa Xứ núi Sam (http://quehuongonline.vn/)

Hình ảnh các Bà có tài lực, chức sắc đều có công với cộng đồng, đều được cộng đồng ghi nhớ, tôn trọng, phong tặng qua các địa danh (tên sông, tên núi, tên cầu, tên làng, tên đường, tên tỉnh ) như Bà Đen, Bà Rịa, Bà Ba, Bà Chín, Bà Om Ngay trên địa bàn TP.HCM theo thống kê của Lê Trung Hoa đã có 254 địa danh mang tên “Bà” với nhiều nguồn tích, công trạng khác nhau [Lê Trung Hoa 2003:228] Ví dụ như : cầu Thị Nghè, chợ Bà Chiểu, khu vực Bà Quẹo, rạch Bà Đô, sông Bà Cả Bảy ở Củ Chi Gia Định thành thông chí từng ghi lại tâm lý người Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XIX “ Kính trọng nữ thần như bà Chúa Ngọc, bà Chúa Động, quen gọi các phu nhân tôn quý bằng bà Hỏa tinh, bà Thủy Long và cô Hồng,

cô Hạnh ” [ Trịnh Hoài Đức 1972: 4]

Việc nhân dân thờ phụng các vị thần nữ không ngoài mục đích bày tỏ lòng biết ơn thần linh, cầu mong các vị thần chở che, bảo vệ, ban cho người an vật thịnh Các vị thần quan trọng trong đời sống cư dân nông nghiệp xưa như: thần mặt trời, thần mặt trăng, thần lửa, thần nước đều là các nữ thần Nữ thần được tôn thờ

là những nhân thần rất gần gũi với cuộc sống đời thường của nhân dân, là linh thần được nhân dân tin tưởng, gởi gắm những ước nguyện, lời cầu mong về một cuộc sống ấm no, bình an

2.2.2 Phong tục

Phong tục là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo, (phong: gió; tục: thói quen) [Trần Ngọc Thêm 2006: 256]

Trang 9

Những phong tục liên quan đến phụ nữ thường liên quan đến việc cưới hỏi, tang ma, sanh đẻ, nuôi con Ở Nam Bộ, hiện tượng ở rể, trọng họ ngoại diễn ra khá phổ biến Việc đặt tên họ cho con cái cũng giữ lại họ mẹ, người con gái nếu có

ở bên chồng thì khi sanh nở cũng về nhà mẹ đẻ vài tháng để dễ bề chăm sóc Có thể nói, đất Nam Bộ là nơi tồn tại trường hợp người con trai sẵn sàng ưng thuận và được gia đình cha mẹ vợ cho ở rể nhiều nhất so với các vùng khác trên cả nước ta Khởi đầu từ hoàn cảnh một mình tha phương đi lập nghiệp của nhiều lớp cha ông thuở trước, nên vùng đất này đã sản sinh ra quan niệm mới về vợ chồng, khác với quan niệm “Thuyền theo lái gái theo chồng" (Xuất giá tòng phu) của Nho giáo Miền Nam có câu tục ngữ: “ Nước theo sông, chồng theo vợ”

Người con trai trên đất Nam Bộ luôn sẵn sàng theo về bên vợ, nên họ chẳng tỏ ra gượng gạo, lấp lửng khi buông lời tỏ tình hết sức thật thà, chân chất:

“Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát, xuồng câu tôm đậu sát mé nga

Thấy em có một mẹ già, muốn vô hoạn dưỡng có mà được không?”

Ở Nam Bộ, thường thì người con gái đã có chồng, sống riêng, nhưng khi sinh con so thường được nuôi tại nhà bà ngoại, có khi đến thôi nôi hoặc sau đó nữa, “Con so nhà má, con rạ nhà chồng” Cũng có không ít trường hợp, khi sinh con rạ rồi mà vẫn được nhà bà ngoại nuôi dưỡng chăm sóc Điều đó giải thích vì sao có câu tục ngữ trên và vì sao tình cảm cũng như quan hệ giữa những đứa bé với bên ngoại (bà ngoại, ông ngoại, cậu, dì ) rất thân thiết

“Con chim se sẻ nó đẻ cột đình

Bà ngoại đẻ má, má đẻ mình em ơi”

[Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền, 2003:9]

Khi mang bầu và ở cữ, người phụ nữ Nam Bộ cũng có những kiêng kỵ riêng

mà ông bà ta đã truyền qua bao đời như: không ngồi trên ngạch cửa, không nhìn những hình ảnh ghê rợn, không đi đám tang cũng như đám cưới, cúng 12 bà Mụ , đầy tháng, thôi nôi Những kiêng kỵ này cũng tùy từng địa phương nhưng cũng không quá khắc khe

Trang 10

Chuyện kế thừa hương hỏa, gia tài không còn thuộc trách nhiệm và quyền lợi của duy nhất người con trai trưởng Có câu “giàu út ăn nghèo út chịu” Người anh lớn sớm có được bản lĩnh lập nghiệp, khi lập gia đình ra riêng thì thường không về “giành” gia tài với các em nhỏ Không chỉ các anh em trai được hưởng gia tài, mà chị em gái cũng có phần Cha mẹ đối với con cái “đứa nào nghèo thì giúp đỡ nó nhiều hơn, đứa nào khá thì bớt phần lo lắng”

Ngoài ra, người phụ nữ cũng chủ động tích cực trong việc lễ lạt, thờ cúng, tham gia các lễ hội dân gian truyền thống Ngoài việc thờ cúng trong nhà, phụ nữ cũng thường quan tâm đến việc hiếu hỷ, tang ma, mồ mả, dòng họ tổ tiên, chăm sóc phần mộ những người đã khuất [Lê Quý Đức, Vũ Thy Huệ 2003:164]

2.2.3 Giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ

Hình ảnh người phụ nữ được khắc họa rất đậm nét trong văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ như: ngôn ngữ, văn thơ, ca dao, tục ngữ

Trong cách xưng hô của người Việt Nam Bộ khi muốn thể hiện tình thân mật và kính trọng đối với những người chưa quen hoặc chưa rõ mối quan hệ nhưng

có tuổi tác lớn hơn thì thường thiên về những từ chỉ quan hệ bên mẹ:

+ Đối với người phụ nữ lớn hơn mình một cấp thì thường gọi bằng dì và xưng con hoặc tui Nếu biết rõ thứ thì gọi đúng thứ Nếu không biết rõ thứ thì thường gọi bằng dì Hai để tăng thêm phần kính trọng Với người phụ nữ lớn mình hai cấp thì gọi bằng bà, bà Hai hoặc gọi đúng thứ Khi thể hiện tình cảm thân mật và kính trọng hơn nữa thì gọi là ngoại, bà ngoại và xưng là con ( không nên gọi thứ như bà

Ba , bà Tư, nếu không biết rõ thứ, ở những trường hợp này không nên xưng tui

vì như vậy là vô phép) Kiêng gọi bà nội, vì gọi vậy là không kính trọng

+ Đối với nam giới lớn hơn một cấp thì thường gọi bằng bác, chú, cậu và tự xưng con hoặc tui Nếu biết rõ thứ thì gọi đúng thứ Nếu không biết rõ thứ thì thường gọi bác Hai, chú Hai, cậu Hai để tăng thêm phần kính trọng (điều đáng lưu ý là thiên

về những từ chỉ bậc dưới của cha mẹ như chú, cậu thường được sử dụng nhiều hơn) Đối với nam giới lớn hơn mình hai cấp, thì gọi bằng ông, ông Hai hoặc gọi đúng thứ Để thể hiện tình thân mật và kính trọng hơn nữa thì gọi là ngoại, ông ngoại và xưng là con (không nên gọi thứ như ông Năm, ông Sáu, nếu không biết

rõ thứ và cũng không nên xưng tui vì như vậy là vô phép ) Kiêng gọi ông nội, vì gọi vậy là không kính trọng

Ngày đăng: 12/03/2022, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w