Về một phương diện khác, trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt và văn hóa cho người nước ngoài, chúng tôi nhận thấy trong ca dao, tục ngữ chứa đựng vô vàn những tri thức dân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
KHÔNG GIAN VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT ĐỒNG BẰNG
BẮC BỘ QUA TƯ LIỆU CA DAO, TỤC NGỮ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
KHÔNG GIAN VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT ĐỒNG BẰNG
BẮC BỘ QUA TƯ LIỆU CA DAO, TỤC NGỮ
Chuyên ngành : Việt Nam học
Mã số : 62 22 01 13
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TSKH Vũ Minh Giang
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực, chưa từng được
ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện rất nhiều từ Ban lãnh đạo Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐHQGHN, các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp Xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về những sự giúp đỡ vô cùng quý báu ấy
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn GS.TSKH
Vũ Minh Giang Thầy đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận án này bằng sự nghiêm từ và bằng cả những khích lệ quý báu
Tôi đặc biệt cảm ơn những người thân trong gia đình đã sẻ chia, gánh vác mọi khó khăn để tôi có điều kiện chuyên tâm hoàn thành luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6
DANH MỤC SƠ ĐỒ 7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 8
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
3 Mục đích nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Những điểm mới của luận án 15
6 Những đóng góp của luận án 17
7 Kết cấu của luận án 17
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 19
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 19
1.1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đồng bằng Bắc Bộ 19
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ có liên quan đến đồng bằng Bắc Bộ 22
1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu phổ biến về ca dao, tục ngữ từ trước tới nay 24
1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu trực tiếp về ca dao, tục ngữ 29
1.2 Những khái niệm và lý luận cơ bản 36
1.2.1 Văn hóa 36
1.2.2 Không gian văn hóa 38
1.2.3 Khái niệm Người Việt đồng bằng Bắc Bộ 40
1.2.4 Khái niệm ca dao, tục ngữ 42
1.3 Các tiêu chí xác định và phương pháp xử lý, phân loại nguồn tư liệu ca dao, tục ngữ 46
1.3.1 Các tiêu chí xác định nguồn tư liệu và cách thức phân loại 46
1.3.2 Phương pháp xử lý tư liệu ca dao, tục ngữ 49
1.3.3 Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin vào chương trình xử lý tư liệu 50
Chương 2 VĂN HÓA SẢN XUẤT VÀ NHỮNG ỨNG XỬ VỚI ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI 54
2.1 Ứng xử với khí hậu, thời tiết 55
2.1.1 Con người phụ thuộc, nương nhờ vào thiên nhiên 56
2.1.2 Con người chinh phục để làm chủ thiên nhiên 57
Trang 62.1.2.1 Quan sát các hiện tượng tự nhiên 59
2.1.2.2 Dự đoán thời tiết qua quan sát động vật 61
2.1.2.3 Dự đoán thời tiết qua quan sát thực vật 64
2.2 Ứng xử với điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái 67
2.2.1 Với địa hình tự nhiên 68
2.2.2 Với môi trường tự nhiên 72
2.2.2.1 Môi trường nước 72
2.2.2.2 Môi trường đất 74
2.2.2.3 Môi trường ruộng – vườn 75
2.3 Phản ánh hoạt động lao động sản xuất 81
2.3.1 Trồng trọt 82
2.3.2 Chăn nuôi 89
2.2.3 Hoạt động thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ 94
Chương 3 VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 100
3.1 Văn hóa ẩm thực của người Việt 100
3.1.1 Đặc sản ẩm thực 103
3.1.2 Kinh nghiệm ẩm thực 108
3.1.2.1 Kinh nghiệm lựa chọn vật phẩm 109
3.1.2.2 Kinh nghiệm chế biến vật phẩm 111
3.1.2.3 Ẩm thực với việc chăm sóc sức khỏe 112
3.1.2.4 Ẩm thực với quan hệ gia đình, xã hội và luân thường, đạo lý 114
3.2 Văn hóa mặc, ở và đi lại của người Việt đồng bằng Bắc Bộ 118
3.2.1 Mặc 119
3.2.1.1 Chất liệu trang phục 124
3.2.1.2 Kiểu dáng trang phục 124
3.2.1.3 Màu sắc trang phục 128
3.2.1.4 Đồ trang sức và phục trang bổ trợ 129
3.2.1.5 Nội dung khác liên quan đến trang phục 130
3.2.2 Nhà ở 131
3.2.3 Đi lại 137
Chương 4 QUY PHẠM XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA TÂM LINH TÍN, NGƯỠNG CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 142
4.1 Quy phạm và quan hệ xã hội 142
Trang 74.1.1 Quy phạm về quan hệ gia đình 146
4.1.1.1 Quan hệ vợ chồng 146
4.1.1.2 Quy phạm về quan hệ cha mẹ- con cái 152
4.1.1.3 Quy phạm và quan hệ anh chị - em 157
4.1.1.4 Quy phạm và quan hệ họ hàng 160
4.1.2 Quy phạm về quan hệ ngang bậc 162
4.1.2.1 Quy phạm và quan hệ cá nhân với cá nhân nói chung 163
4.1.2.2 Quan hệ bạn bè 166
4.1.2.3 Quan hệ nam- nữ 167
4.1.3 Quy phạm về các quan hệ khác bậc 171
4.1.3.1 Quan hệ già- trẻ 171
4.1.3.2 Quan hệ vua, quan – dân 173
4.1.3.3 Quan hệ thầy – trò 175
4.1.3.4 Quan hệ chủ - người làm thuê 176
4.2 Văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của người Việt đồng bằng Bắc Bộ 178
4.2.1 Phản ánh tôn giáo 178
4.2.1.1 Đối với Nho giáo 180
4.2.1.2 Đối với Phật giáo 182
4.2.2 Tín ngưỡng 182
4.2.2.1 Thờ cúng Thành hoàng làng 184
4.2.2.2 Thờ cúng tổ tiên 184
4.2.2.3 Thờ Mẫu 185
4.2.2.4 Tín ngưỡng thờ cúng thần linh bản thổ 186
4.2.2.5 Tín ngưỡng và lễ hội nông nghiệp khác 187
KẾT LUẬN 190
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 193
TÀI LIỆU THAM KHẢO 194 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nội dung 51
Bảng 1.2: Chủ đề 51
Bảng 1.3: Phân loại theo chủ đề 51
Bảng 1.4: Phân loại theo cấp độ của chủ đề 52
Bảng 2.1: Tần số xuất hiện của ca dao, tục ngữ phản ánh về khí hậu thời tiết 55
Bảng 2.2: Con người làm chủ thiên nhiên qua quan sát trực tiếp và các sự vật trung gian 58
Bảng 2.3: Các hiện tượng tự nhiên tham gia vào dự báo thời tiết 59
Bảng 2.4: Động vật tham gia vào dự báo thời tiết 62
Bảng 2.5: Thực vật tham gia vào dự báo thời tiết 64
Bảng 2.6: Ứng xử với địa hình và môi trường tự nhiên 68
Bảng 2.7: Hoạt động sản xuất của cải vật chất 83
Bảng 2.8: Phản ánh nội dung cây lúa 86
Bảng 2.9: Chăn nuôi 89
Bảng 2.10: Biểu tượng về con trâu 91
Bảng 2.11: Thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ 94
Bảng 2.12: Thương nghiệp 97
Bảng 3.1: Tần số xuất hiện của các thành tố văn hoá đảm bảo đời sống 102
Bảng 3.2: Ca dao, tục ngữ về ẩm thực được thể hiện qua các loại hình 103
Bảng 3.3: Đặc sản ẩm thực 104
Bảng 3.4: Các loại đặc sản ẩm thực phân bố theo địa phương 105
Bảng 3.5: Ca dao, tục ngữ nói về ẩm thực với việc chăm sóc sức khỏe 113
Bảng 3.6: Dùng ẩm thực để phản ánh về quan hệ gia đình và xã hội 115
Bảng 3.7: Ẩm thực với bồi dưỡng luân thường, đạo lý 117
Bảng 3.8: Các thành tố liên quan đến mặc 121
Bảng 3.9: Ca dao, tục ngữ về nhà ở được thể hiện qua các nội dung 132
Bảng 3.10: Kinh nghiệm làm nhà 133
Bảng 3.11: Nhà ở với quan niệm về giá trị cuộc sống 135
Bảng 3.12: Các mặt biểu hiện của đi lại 137
Trang 9Bảng 3.13: Phương tiện giao thông thủy 138
Bảng 3.14: Phương tiện giao thông bộ 138
Bảng 4.1: Quy phạm và quan hệ xã hội 142
Bảng 4.2: Phân tích tỷ lệ trong văn hóa quy phạm và các quan hệ xã hội 146
Bảng 4.3: Quy phạm về quan hệ vợ chồng 148
Bảng 4.4: Quy phạm và quan hệ cha mẹ - con cái 152
Bảng 4.5: Biểu hiện tiên cực của quan hệ cha mẹ - con dâu, con rể 155
Bảng 4.6: Quy phạm về quan hệ anh chị - em 157
Bảng 4.7: Quy phạm về quan hệ họ hàng, dòng họ (thân tộc) 161
Bảng 4.8: Quy phạm về quan hệ ngang bậc 163
Bảng 4.9: Hành vi ứng xử giữa người với người nói chung 163
Bảng 4.10: Các mặt biểu hiện của quan hệ bạn bè 166
Bảng 4.11: Các mặt biểu hiện của quan hệ nam – nữ 168
Bảng 4.12: Quy phạm về các quan hệ khác bậc 171
Bảng 4.13: Thái độ đối với già – trẻ 172
Bảng 4.14: Quan hệ vua, quan – dân 173
Bảng 4.15: Quan hệ thầy – trò 175
Bảng 4.16: Quan hệ chủ – người làm thuê 176
Bảng 4.17: Sự phản ánh về tôn giáo 178
Bảng 4.18: Triết lý và quan điểm đạo đức của Nho giáo, Phật giáo 180
Bảng 4.19: Tín ngưỡng dân gian của người Việt 183
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Biểu thị hành động và đối tượng con người nương nhờ vào thiên nhiên 56
Biểu đồ 2.2: Môi trường tự nhiên liên quan đến ruộng - vườn và các sản phầm nông nghiệp 77
Biểu đồ 2.3: Hoạt động sản xuất của cải vật chất 84
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ nội dung biểu đạt về biểu tượng con trâu 91
Biểu đồ 2.5: Dệt may 88
Biểu đồ 2.6: Đan lát 95
Biểu đồ 2.7 : Các nghề khác 96
Biểu đồ 3.1: Tần số xuất hiện của các thành tố văn hoá đảm bảo đời sống 102
Biểu đồ 3.2: Số lượng các loại đặc sản ẩm thực phân bố theo địa phương 106
Biểu đồ 3.3: Các thành tố liên quan đến trang phục 122
Biểu đồ 3.4: Chất liệu trang phục 122
Biểu đồ 3.5: Kiểu trang phục 123
Biểu đồ 3.6: Màu sắc trang phục 116
Biểu đồ 3.7: Đồ trang sức 123
Biểu đồ 3.8: Các loại khác 123
Biểu đồ 3.9: Các phương tiện đi lại 138
Biểu đồ 4.1: Tín ngưỡng dân gian của người Việt 183
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu 41
Sơ đồ 4.1: Quy phạm về quan hệ gia đình của người Việt ĐBBB 144
Sơ đồ 4.2: Các mối quan hệ ngang bậc và khác bậc 145
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CSDL : cơ sở dữ liệu ĐBBB : đồng bằng Bắc Bộ ĐHQG : đại học quốc gia
KHXH : khoa học xã hội NVQG : nhân văn quốc gia NXB : nhà xuất bản PGS : phó giáo sư
TS : tiến sĩ TSKH : tiến sĩ khoa học VNH &KHPT: Việt Nam học và Khoa học phát triển
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) là vùng đất tập trung những giá trị văn hoá truyền thống của Việt Nam Sẽ khó có thể hiểu sâu sắc đặc trưng văn hoá của người Việt nếu không nghiên cứu đầy đủ về không gian văn hoá này Để nghiên cứu toàn diện về ĐBBB phải cần đến sự tham gia của rất nhiều lĩnh vực học thuật và những cách tiếp cận khác nhau Đây là một sự nghiệp nghiên cứu lâu dài, không bao giờ dừng lại Chính vì vậy mà cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ĐBBB trên nhiều bình diện và cách tiếp cận khác nhau, nhưng đề tài về ĐBBB chưa bao giờ là xưa cũ Để góp phần hiểu sâu thêm về vùng đất này, tác giả luận án
đã áp dụng một phương pháp tiếp cận mới có phần khác với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành truyền thống Tác giả coi đối tượng như một không gian văn hoá với tổng hòa các mối quan hệ (con người với tự nhiên và con người với những tác động đa chiều khác)
1.2 Trong kho tàng di sản văn hoá của mỗi dân tộc, văn học dân gian luôn
có vị trí quan trọng đặc biệt Vì nó là sáng tạo của quần chúng nhân dân, là những đúc kết của cộng đồng có tính khái quát cao và được truyền từ đời này sang đời khác Đối với Việt Nam giá trị của loại hình di sản này còn cao hơn rất nhiều vì văn học thành văn xuất hiện muộn và trong một thời gian dài, văn tự được sử dụng lại
là chữ Hán, loại chữ tượng hình khó học, khó viết nên khó phổ cập trong dân chúng Hơn thế, về âm vận, chữ Hán không thể ký âm chính xác các thanh điệu phức hợp của tiếng Việt nên có nhiều hạn chế khi chuyển tải tư duy và sáng tạo văn hoá của người Việt Vì vậy chữ Hán không thể là công cụ ghi chép, sáng tác của nhân dân lao động Trong bối cảnh đó, sáng tác dân gian theo lối truyền miệng là kết tinh sáng tạo văn hoá của nhân dân Trong loại hình di sản này, ca dao, tục ngữ có sức lan tỏa mạnh mẽ và có sức sống lâu bền nhất trong đời sống tinh thần của nhân dân Nếu ca dao là nơi người dân gửi gắm vào đó những tâm tư, tình cảm và những ước vọng thì tục ngữ được coi là túi khôn chứa đựng những bài học tổng kết, đúc rút tri thức, kinh nghiệm về mọi mặt của đời sống con người Chính vì vậy, ca dao, tục ngữ có thể xem là một nguồn tư liệu quý để nghiên cứu không gian văn hoá người Việt ĐBBB
Trang 141.3 Do giá trị tự thân, từ lâu ca dao, tục ngữ đã từng được nghiên cứu dưới các góc độ khoa học chuyên ngành như văn học, ngôn ngữ học, văn hóa dân gian…
và đã mang lại những kết quả có giá trị, góp phần nâng cao nhận thức trên nhiều khía cạnh của văn hoá và con người Tuy nhiên, từ tiếp cận chuyên ngành các công trình nghiên cứu chủ yếu chỉ ra những giá trị tự thân và ý nghĩa phản ánh trực tiếp của nó chứ chưa chỉ ra được quan hệ tương tác giữa các yếu tố nên khó nhận diện được những đặc trưng về một không gian văn hóa Ngày nay, trong tiến trình phát triển hiện đại hóa, những yếu tố truyền thống đang bị tác động của cuộc sống hiện đại làm mất đi từng ngày nên việc triển khai nghiên cứu theo hướng tiếp cận khu vực học để có được những nhận thức tổng hợp về một không gian văn hóa qua thể loại văn học dân gian truyền thống không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn là một đề tài có ý nghĩa thực tiễn
1.4 Về một phương diện khác, trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt và văn hóa cho người nước ngoài, chúng tôi nhận thấy trong ca dao, tục ngữ chứa đựng vô vàn những tri thức dân gian của ông cha ta được tích tụ từ bao đời, mà để có thể tìm hiểu, nghiên cứu, giải mã cho không chỉ người Việt mà
cả người nước ngoài học tiếng Việt và hiểu được văn hóa Việt Nam một cách thấu đáo là một việc làm có giá trị Tìm hiểu không gian văn hóa ĐBBB không chỉ cho ta có cái nhìn toàn cảnh về đời sống của con người ở đó mà còn giúp cho chúng ta có cái nhìn khoa học và những chính sách phù hợp góp phần vào việc bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
1.5 Từ những điều phân tích trên đây, có thể thấy bên cạnh giá trị văn học nghệ thuật và đúc rút tri thức dân gian, ca dao, tục ngữ còn là một hệ thống tư liệu
vô giá cung cấp những thông tin về mối quan hệ giữa chủ nhân sáng tạo văn hóa với điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử và quan hệ xã hội Thông qua việc áp dụng phương pháp thống kê để đo “cường độ” tác động của các yếu tố ấy với hành vi ứng
xử của con người Từ đó giúp cho việc hiểu sâu sắc hơn về những đặc trưng văn
hóa Với ý nghĩa đó, Không gian văn hóa của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua
tư liệu ca dao, tục ngữ được chọn làm đề tài của luận án
Trang 152 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu được xác định là không gian văn hóa người Việt
ĐBBB, có nghĩa là những thành tố văn hóa hình thành trong quá trình tương tác giữa con người với thế giới tự nhiên Những thành tố đó bao gồm những sáng tạo của cư dân trong sản xuất, sinh hoạt, quan hệ xã hội và đời sống tâm linh
2.2 Về không gian: Phạm vi không gian được giới hạn trong luận án này là
vùng đồng bằng Bắc Bộ Về phương diện địa lý, tương ứng với tam giác châu được tạo bởi hệ thống sông Hồng (nên đôi khi còn gọi là châu thổ sông Hồng) Phạm vi nói tới ở đây là không gian văn hóa nên không có đường biên cứng thật rõ ràng Về đại thể đây là một không gian đã sản sinh ra kho tàng ca dao, tục ngữ được sử dụng làm tài liệu cho luận án
2.3 Về thời gian: Để đảm bào tính ổn định của những tổng kết dân gian nên kho tàng tư liệu được xử lý, phân tích là những câu ca dao, tục ngữ có từ trước Cách mạng tháng Tám Những câu ca dao, tục ngữ hiện đại không thuộc phạm vi tài liệu được sử dụng trong luận án này
2.4 Về tư liệu: Để nghiên cứu không gian văn hóa vùng ĐBBB, có rất nhiều nguồn tư liệu khác nhau Tuy nhiên, bằng phương pháp tiếp cận mới, luận án đã lấy
ca dao, tục ngữ làm tư liệu chính để nghiên cứu và tập trung phân tích sâu, kết hợp với các nguồn tư liệu khác và kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước để có thêm những nhận thức mới
Kho tư liệu mà tác giả luận án sử dụng chủ yếu đã được tập hợp bởi các
chuyên gia, trong đó quan trọng nhất là bộ sách Kho tàng tục ngữ người Việt (2
tập), của các soạn giả Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân, do Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin công bố vào tháng 12
năm 2002; Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), của các soạn giả Nguyễn Xuân
Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), Phan Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang, do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 1995 Đây được coi là
bộ “Tập đại thành”, dĩ nhiên trong quá trình sưu tầm, biên soạn mỗi nhóm tác giả đều có phong cách riêng Nhưng ca dao, tục ngữ vốn là thành tố bất biến, được lưu
Trang 16sách trước đã được tích hợp vào bộ sách này chứ không phải là sáng tác mới của tác giả Đây là một công trình tập đại thành văn học dân gian của tập thể mà những công trình đi trước có tính chất khai phá mở đường Tất cả các thành tựu tập hợp ấy
đã được tích hợp vào hai bộ Kho tàng ca dao người Việt và Kho tàng, tục ngữ người
Việt Tác giả luận án đã sử dụng hai bộ sách này làm nguồn tư liệu chính vì ở đây số
lượng câu ca dao, tục ngữ thu thập được nhiều nhất từ trước đến nay, bao gồm 12.487 câu ca dao và 16.098 câu tục ngữ cổ của người Việt
2.5 Về thể loại: Ca dao, tục ngữ là thể loại của văn học dân gian nên việc xác định chủ nhân cũng khó có thể chính xác Tuy nhiên với hơn 90% dân số là người Việt (người Kinh), đóng vai trò căn bản trong việc thống nhất quốc gia và trong việc hình thành tính cách người Việt, nên ca dao, tục ngữ sưu tầm được trong dân gian, về cơ bản cũng có thể coi là sản phẩm của người Việt ở ĐBBB
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Tìm ra mức độ quan tâm của cư dân với những sự vật, hiện tượng và các quan hệ xã hội thông qua tần số xuất hiện trong ca dao, tục ngữ Từ mức độ hằng xuyên đó, tác giả luận án đặt mục tiêu tìm ra nhưng đặc trưng trong quan hệ tương tác giữa con người với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân mình
3.2 Trên cơ sở thang đo này, phối hợp với các nguồn tư liệu khác và những phân tích định tính, luận án sẽ đưa ra những luận giải về đặc trưng văn hóa vùng ĐBBB 3.3 Từ những kết quả nghiên cứu có thể cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý đưa ra chính sách về việc bảo tồn, khai thác và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống nói chung và di sản văn hóa dân gian nói riêng
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của luận án là áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành khu vực học để thu thập, phân tích và xử lý tư liệu Đặc biệt,
để xử lý 12.487 câu ca dao, tục ngữ (nguồn tư liệu quan trọng của luận án), nếu chỉ dùng phương pháp phân tích truyền thống (khai thác thác trực tiếp ngữ nghĩa và nghệ thuật văn chương) thì khó tránh khỏi những nhận định chủ quan
Luận án cũng đã áp dụng phương pháp định lượng kết hợp với định tính để
phân tích tập hợp các câu ca dao, tục ngữ như một loại tư liệu đám đông (Mass
Trang 17material) Theo đó, thay vì dẫn những câu phù hợp để chứng minh các nhận định có
sẵn thì mọi nhận xét đều được rút ra từ những kết quả thống kê Việc đo đếm nhằm tìm ra những chỉ số thống kê của toàn bộ kho dữ liệu được phân chia theo các thành
tố văn hóa và vi phân ra các cấu phần nhỏ hơn để giúp có được những nhận thức sâu hơn
Những phân tích định lượng luôn được so sánh với nhau và đối chiếu với các phân tích định tính Đích nhắm tới của phương pháp này là làm tăng tính khách quan của các nhận định, kết luận Từ đó có những nhận thức về đặc trưng văn hóa của vùng ĐBBB sẽ sâu sắc hơn
4.1 Phương pháp nghiên cứu Khu vực học
Khu vực học là một khoa học liên ngành lấy Không gian văn hóa làm đối
tượng nghiên cứu
Trong luận án này, chúng tôi đã tiếp cận và vận dụng lý thuyết nghiên cứu Khu vực học để tiến hành nghiên cứu tổng thể không gian địa lý, văn hóa, xã hội với nhiều cấp độ khác nhau để đạt tới nhận thức tổng hợp về một không gian thống nhất, toàn vẹn trên một khu vực địa lý, lịch sử, văn hóa và tìm ra được những giá trị văn hóa mà không gian đó mang lại Đồng thời hiểu được những quan hệ tương tác của các nhân tố trong không gian đó
Để tìm hiểu đặc trưng của một không gian văn hóa cần nghiên cứu những sáng tạo của con người trong quá trình tương tác với điều kiện tự nhiên, môi trường
xã hội và hoàn cảnh lịch sử Trong đó, quan hệ ứng xử của con người với điều kiện
tự nhiên là nhân tố cơ bản tạo nên đặc trưng văn hoá [32, tr 31]
Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử là những nhân tố có tác động trực tiếp đến sự hình thành đặc trưng văn hoá nên khi tìm hiểu bất kỳ một khu vực nào rất cần phải nghiên cứu sâu sắc những nhân tố ấy Tuy nhiên, đây không phải chỉ là những tham số địa lý hay sự kiện lịch sử thuần tuý, mà phải được xem xét trong mối quan hệ với con người và văn hoá, trong quan hệ lịch đại và đồng đại
Chính vì vậy mà trong luận án, những câu ca dao, tục ngữ nói về những nhân
tố này và tác động của chúng đến đời sống cư dân được đặc biệt quan tâm Đo lường sự xuất hiện của chúng trong các tổ hợp sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều nhận định
về mối quan hệ tương tác nói trên
Trang 184.2 Phương pháp phân tích định lượng và định tính
Trong nhận thức của con người, bất cứ một hiện tượng, sự vật cũng biểu hiện ra bên ngoài để người ta nhận thức dưới hai dạng: Dạng tính (tính chất), dạng lượng (số lượng)
Nhận thức dưới dạng định tính đôi khi phản ánh không đúng với bản chất sự vật, hiện tượng nhưng nó lại phản ánh được sự khái quát hóa, cho nên phân tích định lượng nhằm đo đếm đối tượng nghiên cứu để có được cái nhìn cụ thể hơn
Ở luận án này, chúng tôi dùng phương pháp định tính để miêu tả câu ca dao, tục ngữ xem nó phản ánh hình tượng, biểu cảm, ý nghĩa gì và như thế nào? Ví dụ như: thiên nhiên, lao động sản xuất, đồ ăn, thức uống, phương tiện đi lại Những hình tượng biểu trưng này cũng cần phải được lượng hóa ra bằng những con số cụ thể mới có thể hình dung, khái quát được Ví dụ: Khi tổ hợp tất cả các câu ca dao, tục ngữ nói về đi lại chỉ có 170 trên tổng số 2000 câu cho ta một hình dung nó chiếm tỷ lệ ít Ngược lại nếu là 1500 trên tổng số 2000 câu cho ta thấy biểu hiện sự quan tâm của người Việt ĐBBB với nội dung này hay hình tượng đó nhiều hay ít cao hay thấp
Khi xử lý loại tư liệu ca dao, tục ngữ, người viết rất chú trọng đến phương pháp định lượng Trong tập hợp hàng nghìn câu mà chúng tôi đã thu thập được như vậy nếu đem từng câu ra để phân tích lời lẽ văn chương thì đó là đối tượng nghiên
cứu của văn học dân gian Ở đây tư liệu được coi như là sử liệu cho nên phương
pháp phân tích định lượng đóng vai trò rất quan trọng Định lượng bao gồm: phải nhóm gộp lại, quy nó về các chủ đề, tổ hợp nghĩa rồi phân lớp, chia nhỏ ra để nghiên cứu Việc nghiên cứu theo các chủ đề, tổ hợp,… như vậy cho chúng ta hình dung về những tác động của điều kiện tự nhiên và mối quan hệ của con người với thực thể được sử dụng bằng hình tượng như thế nào?
Trong khi phân chia tư liệu, nhóm gộp từng loại, các loại hình này đều được thống kê để có được kích thước của từng tập hợp (loại này có số lượng là bao nhiêu
?) Từng phân nhóm đều được tính toán cụ thể xem nó đóng vai trò tỉ lệ bao nhiêu đối với từng mẫu, với từng tập hợp đã được thống kê Trên cơ sở đó có thể biết được tần
số xuất hiện của mỗi loại hình đó có ý nghĩa như thế nào đối với tổng thể để có thể hiểu
Trang 19được tầm quan trọng của yếu tố ấy trong cuộc sống của con người Chẳng hạn: Đi lại của
người Việt ĐBBB có rất nhiều loại phương tiện, cách thức Thống kê tần số xuất hiện của loại phương tiện giao thông thủy trên tổng số các loại phương tiện giao thông, chúng
ta thấy được tầm quan trọng của môi trường nước đối với đời sống của người Việt Người Việt Nam sinh ra lớn lên, tụ cư ở một môi trường mà nhiều nhà nghiên cứu đã từng chỉ ra là môi trường nước đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt Người Việt đi lại thời cổ chủ yếu bằng phương tiện giao thông trên mặt nước như thuyền, đò, bè, mảng, chứ không phải bằng xe Người Việt giỏi thủy chiến, nên những sáng tạo văn hóa gắn với nước cũng khá phổ biến Theo thống kê có đến 235/328 đơn vị đề cập đến phương tiện đi lại bằng đường thủy
Tỷ lệ của sự phản ánh ấy trong ca dao, tục ngữ với phương tiện giao thông đường bộ cho thấy sự quan trọng của nó trong đời sống con người đến mức nào Quá trình phân tích tần số xuất hiện theo tập hợp chủ đề ở bảng thống kê, chúng tôi luôn dựa trên tiêu chí phân tích chỉ số đặc trưng chung nhất của tập hợp Có nghĩa là những biến số có giá trị cao hơn hoặc thấp hơn chỉ số trung bình thì tác giả luận án đi sâu vào phân tích để thấy được giá trị nổi bật của sự
vật, hiện tượng đó với toàn bộ tập hợp Chẳng hạn: Số liệu ở bảng 2.7: Hoạt
động sản xuất của cải vật chất, ở cột trồng trọt cây lương thực, cây lúa là loại cây
có tần số xuất hiện lớn nhất, cây sắn là loại cây có tần số xuất hiện ít nhất thì chúng tôi đưa vào nội dung để phân tích Với các loại cây trồng khác có tần số xuất hiện thấp hơn hay cao hơn chỉ số trung bình, chúng tôi chỉ đưa vào bảng biểu để so sánh
mà không có điều kiện để đưa vào phân tích tất cả
5 Những điểm mới của luận án
Trong luận án này, cả hai yếu tố: tư liệu và phương pháp đều có những điểm mới:
5.1 Về tư liệu
Ca dao, tục ngữ từng được nghiên cứu nhiều nhưng chủ yếu với tư cách là
đối tượng của văn học hoặc văn hoá học, và chủ yếu được khai thác từ giá trị ngữ
nghĩa và nghệ thuật Trong khi đó, luận án lại sử dụng văn học dân gian như một nguồn tư liệu quan trọng để tìm hiểu đặc trưng văn hoá vùng ĐBBB và được khai thác từ góc độ tương tác biểu hiện qua tần suất
Trang 20Cùng với ca dao, tục ngữ là các nguồn tài liệu khác và những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố đều được sử dụng để phối hợp, so sánh, đối chiếu
và củng cố thêm những nhận định mới
5.2 Về phương pháp
Ngoài những phương pháp và thao tác truyền thống như mô tả, tổng hợp, diễn dịch, bình luận hay phân tích kèm dẫn chứng, luận án đã áp dụng phương pháp
tiếp cận khu vực học, coi ĐBBB như một không gian văn hoá, một phạm vi diễn ra
quá trình sáng tạo của một cộng đồng cư dân Theo đó, luận án có thể khai thác tư liệu một cách có hệ thống và toàn diện về những sáng tạo của cư dân đã được vi phân ra các thành tố văn hoá
Điều mới mẻ của luận án là cùng với việc khai thác trực tiếp nội dung và ý nghĩa của các câu ca dao, tục ngữ (cả nghĩa đen và nghĩa biểu tượng), những thông tin định tính, luận án đã áp dụng phương pháp phân tích định lượng để thông qua các chỉ số thống kê tìm hiểu tác động của ngoại cảnh (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội) và mức độ quan tâm của cộng đồng cư dân đến các yếu tố khác nhau trong quá trình lao động sản xuất, đời sống văn hoá Từ đó có thể khắc họa sắc nét hơn tính cách của con người và đặc trưng văn hoá của người Việt ĐBBB
Tiếp đến là những phát hiện (có căn cứ thống kê) về mức độ quan tâm của người Việt ĐBBB đến các loại sự vật và hiện tượng, những vật phẩm được
ưa chuộng, những tác động ngoại cảnh đến cuộc sống hàng ngày của người Việt Điều này tăng cường sự hiểu biết sâu sắc về các đặc trưng văn hóa của không gian tinh hoa ĐBBB
Trang 216 Những đóng góp của luận án
6.1 Về khoa học
Luận án đã sử dụng nguồn tư liệu là ca dao, tục ngữ truyền thống nhưng lại
áp dụng lý thuyết, phương pháp phân tích cùng với việc định dạng đối tượng theo hướng tiếp cận mới là Khu vực học
Đề tài tập hợp được một hệ thống các đơn vị ca dao, tục ngữ có liên quan đến đời sống của người Việt ở ĐBBB từ một kho tàng ca dao, tục ngữ phong phú nhất cho đến nay
Nghiên cứu, góp phần nhận diện sâu sắc hơn đặc trưng văn hóa của vùng ĐBBB, góp phần vào việc xác định, lưu giữ những đặc điểm, tư duy, lối sống và những tri thức văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc
6.2 Về thực tiễn
Việc khảo sát và nghiên cứu một cách có hệ thống về không gian văn hóa của người Việt ĐBBB đối với môi trường tự nhiên và xã hội góp phần nhất định vào sự nghiệp nghiên cứu văn hóa dân gian nói riêng cũng như trong việc gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể áp dụng vào việc giảng dạy, nghiên cứu không gian văn hóa qua khai thác tư liệu văn học dân gian, ca dao, tục ngữ người Việt nói riêng theo hướng tiếp cận liên ngành khu vực học nói chung
Kết quả nghiên cứu, đặc biệt là tập hợp tư liệu có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu biên soạn từ điển điện tử ca dao, tục ngữ về không gian văn hóa của người Việt ĐBBB
7 Kết cấu của luận án
Kết cấu luận án ngoài phần mở đầu, kết luận gồm có 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản
Chương 2: Văn hóa sản xuất và những ứng xử với điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái
Chương 3: Văn hóa đảm bảo đời sống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ
Trang 22Chương 4: Qui phạm xã hội và văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của người Việt đồng bằng Bắc Bộ
Ngoài phân tích chính văn, luận án còn có một chương trình xử lý tư liệu (bao gồm toàn bộ tư liệu đã được hệ thống hóa và phân loại để có thể dễ dàng tra cứu)
Trang 23Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đồng bằng Bắc Bộ
ĐBBB có vị trí quan trọng như đã nói ở trên nên vùng đất này luôn là chủ đề hấp dẫn và được nghiên cứu từ rất sớm bởi cả những học giả trong và ngoài nước Chủ đề này đã thu hút và làm nổi danh nhiều học giả nghiên cứu khoa học xã hội nói chung trên khắp thế giới như: Pierre Gourou, David G Marr, James C Scott, Keith Taylor, Sakurai Yumio, Lương Văn Hy (Việt kiều ở Canada), Momoki Shiro,…
Có thể nói người nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam nói chung và về ĐBBB nói riêng đã có một bề dày lịch sử Theo kết quả thống kê của tác giả David
G Marr trong 1038 đầu sách, bài báo, tư liệu nghiên cứu về ĐBBB thì có đến 477 công trình là của các tác giả nước ngoài [139, tr.78] Những số liệu này đủ cho thấy mức độ quan tâm của người nước ngoài suốt gần hai thế kỷ qua đối với các vấn đề
về ĐBBB là rất đáng nể
Trong số những công trình nghiên cứu đó có không ít nghiên cứu tập trung vào văn hóa của làng Việt ĐBBB Ban đầu là những ghi chép, khảo tả, sau đó là những phân tích, đánh giá và những phát hiện khoa học có giá trị
Có lẽ nghiên cứu về ĐBBB và người nông dân nơi đây sớm hơn cả bằng
cách tiếp cận địa lý nhân văn là công trình của Pierre Gourou Người nông dân châu
thổ Bắc Kỳ (1936) Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt không chỉ ở
tính khoa học của nội dung nghiên cứu, tính hiệu quả của phương pháp điều tra thực địa, tính sắc sảo của những phân tích đánh giá mà còn ở tính cập nhật các vấn đề nghiên cứu Có thể nói những kết quả nghiên cứu, những dự báo của Pierre Gourou
từ 70 năm trước cho đến nay vẫn còn tính thời sự như vấn đề đất đai, dân số và lực lượng lao động, công nghiệp và trao đổi thương mại,… ở nông thôn châu thổ Bắc
Kỳ Đây là công trình mà sau này hầu như bất kì học giả nào nghiên cứu về nông thôn châu thổ sông Hồng cũng đều sử dụng làm tư liệu tham khảo
Trang 24Phải đến sau thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ những năm 90, học giả nước ngoài từ nhiều quốc gia, nhiều chuyên ngành, nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đến Việt Nam nghiên cứu về các làng quê ĐBBB Chưa bao giờ khu vực này lại hấp dẫn đông đảo học giả nước ngoài đến thế Họ đến từ khắp năm châu tiêu biểu là từ Nhật,
Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc….Đặc biệt giai đoạn này còn có sự trở lại của đội ngũ các nhà nghiên cứu Việt kiều vốn trước kia bởi bối cảnh chính trị đã hạn chế sự trở về của họ, đặc biệt là rất khó để tiếp cận nghiên cứu ở vùng ĐBBB
Đi thực địa ở các làng ĐBBB của Việt Nam ngay từ những năm đầu sau Đổi mới, học giả Lương Văn Hy đã liên tiếp có những nghiên cứu có giá trị về sự thay đổi của người nông dân, của làng quê trong quá trình xây dựng nông thôn mới và
chuyển đổi cơ cấu kinh tế Đáng chú ý là cuốn Cuộc Cách mạng ở làng: truyền
thống và biến đổi ở miền Bắc Việt Nam (1992) tập trung vào nghiên cứu những thay
đổi về chính trị, xã hội đến đời sống văn hóa của làng Sơn Dương, tỉnh Phú Thọ
Cùng thời kỳ với Lương Văn Hy, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài khác cũng có những tìm hiểu thú vị về làng Việt và nông dân ĐBBB như Nguyễn Tùng (Việt kiều Pháp) với nghiên cứu thực địa 8 thôn ở xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Tây (nay là Hà Nội) từ năm 1992 và đến năm 1999 ông cùng một số đồng nghiệp hoàn
thành cuốn Mông Phụ: một làng Việt ở châu thổ sông Hồng
Trong suốt 4 năm (1996 -1999), Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã phối hợp với Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (Nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) trong một chương trình nghiên cứu lớn về ĐBBB Một phần
kết quả nghiên cứu đó được in trong cuốn Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề
còn bỏ ngỏ (2002) của một số học giả Pháp với tên tuổi quen thuộc đã từng nghiên
cứu về châu thổ Bắc Bộ Việt Nam như: Nguyễn Tùng quan tâm đến không gian làng thông qua khái niệm làng, không gian hành chính, không gian cư trú, không gian canh tác và đặc biệt là gắn kết không gian làng với không gian quốc gia trong sự nối kết, hòa nhập và phát triển; Olivier Tessier tìm hiểu về phong tục tập quán, lịch sử làng và đặc biệt là sự di cư tạm thời của dân làng với mong muốn cải thiện cuộc sống và tình cảm gắn bó với làng quê; Nelly Krowolski lại khám phá ra sự phục hồi và phát triển của mạng lưới chợ quê, Alain Fioruci
Trang 25nghiên cứu về dòng họ trong những sự liên quan đến tập tục cưới hỏi ở quá khứ
và hiện tại của một làng quê ĐBBB điển hình là làng Mộ Trạch…
Từ những kết quả nghiên cứu của các học giả nước ngoài dưới nhiều góc độ khác nhau, một điều không thể phủ nhận được là những nghiên cứu của họ đã đóng góp đáng kể cho ngành Việt Nam học cả về nội dung các vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận cũng như việc tạo ra các lý thuyết hoặc vận dụng lý thuyết vào các nghiên cứu trường hợp cụ thể Từ những nghiên cứu của học giả nước ngoài, các nhà khoa học Việt Nam có dịp nhìn nhận lại những nghiên cứu của mình và thông qua các cơ hội hợp tác để học hỏi nhằm có được cái nhìn khách quan hơn về Việt Nam nói chung, về ĐBBB nói riêng
Với các nhà nghiên cứu Việt Nam, lưu giữ văn bản về phong tục tập quán của làng Việt ở ĐBBB đã xuất hiện từ khá sớm trong các ghi chép của các nhà Nho
từ thế kỷ thứ 19, phổ biến ở đời vua Tự Đức, Thành Thái Sang đến những năm đầu
thế kỷ 20 xuất hiện tác phẩm của Phan Kế Bính: Việt Nam phong tục; Toan Ánh:
Nếp cũ, Hội hè đình đám …và một số bài viết ngắn giới thiệu về phong tục ở làng
được in trên tạp chí nghiên cứu Việt Nam của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp
Giai đoạn sau đổi mới, những nghiên cứu về làng Việt ĐBBB tập trung vào hai xu hướng cơ bản: một là những nghiên cứu mang tính chất khái quát về nông thôn trong đó lấy làng làm đơn vị khảo sát và phân tích chính; hai là những nghiên cứu trường hợp cụ thể của từng làng
Ở xu hướng thứ nhất, trước hết phải kể đến các công trình: Cơ cấu tổ chức
của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (Nguyễn Từ Chi, 1984); Làng Việt Nam- một số vấn đề kinh tế xã hội (Phan Đại Doãn, 1992); Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc
Bộ thế kỷ 18 - 19 (Nguyễn Quang Ngọc, 1993), Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Hải Kế, 1996),… và nhiều bài nghiên cứu có giá trị của các
tác giả Diệp Đình Hoa (1998), Đào Thế Tuấn (1991), Bùi Xuân Đính (1994),…
Sau này có một số chương trình nghiên cứu lớn tiêu biểu như: Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước của GS Phan Huy Lê và GS.TSKH Vũ Minh Giang, chủ biên
(1996): Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay; Chương trình nghiên cứu về Làng xã ở đồng bằng sông Hồng (1996 -1999) do Viện Viễn Đông
Trang 26Bác Cổ Pháp tại Hà Nội phối hợp với Trung tâm KHXH và NVQG (nay là Viện Hàn lâm KHXHVN) thực hiện Đây là những chương trình nghiên cứu lớn, có giá trị thu hút một lực lượng đáng kể các nhà khoa học từ các trường Đại học, các Viện nghiên cứu đầu ngành tham gia
Ở xu hướng thứ hai, nghiên cứu theo hướng tiếp cận khu vực học, đặc biệt phải kể đến chương trình nghiên cứu Bách Cốc, với sự hợp tác của Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa, ĐHQG (nay là Viện VNH&KHPT) với các học giả Nhật Bản về nông thôn, nông nghiệp châu thổ sông Hồng đã thu hút được nhiều nhất các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau cùng tham gia (hơn 200 các nhà khoa học), thời gian chương trình nghiên cứu dài nhất (14 năm) Điểm mới và khác của chương trình nghiên cứu Bách Cốc trước hết là ở chỗ áp
dụng triệt để phương pháp tiếp cận liên ngành (Interdisciplinary approach method),
sử dụng các phương pháp, thiết bị kỹ thuật hiện đại để đo đạc, triển khai theo một
kế hoạch, nhất quán chặt chẽ
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ có liên quan đến đồng bằng Bắc Bộ
Một trong những sáng tạo có giá trị của vùng ĐBBB là văn học dân gian Văn học dân gian là sự phản ánh sinh động cuộc sống qua ngôn ngữ văn học với những điệu ca, vần thơ, hò vè đến những câu ca dao, tục ngữ Mỗi khúc quanh của lịch sử Việt Nam lại rộ lên các loại hình sáng tác văn học dân gian Điều đó thể hiện thái độ, ứng xử của nhân dân đối với tất cả quan hệ xã hội thông qua các thể loại đó Chính vì vậy văn học dân gian nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới học giả Việt Nam
Là một chất liệu quý thể hiện rõ tâm lý tình cảm của người Việt nên từ lâu các tác giả lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, đều sử dụng ca dao, tục ngữ trong các sáng tác Trong sách về địa lý, thiên văn, các loại địa phương chí, ký văn, ca dao tục ngữ được các tác giả dẫn chứng để minh họa cho ý kiến của mình khi đề cập đến tính cách con người, lý giải sự kiện hay hiện tượng nào đó, coi ca dao, tục ngữ như những tổng kết kinh nghiệm, khái quát thế ứng xử mang tính thuyết phục cao
Trang 27Cùng với các tác phẩm chữ Nôm, ca dao, tục ngữ còn được tập hợp, ghi lại
bằng chữ quốc ngữ và kèm theo đó là khảo cứu, chú giải Tục ngữ cổ ngữ gia ngôn
là cuốn sách sưu tầm ca dao tục ngữ sớm nhất hiện được viết bằng chữ quốc ngữ Sách do Huỳnh Tịnh Của biên soạn, xuất bản vào năm 1896 Tác giả đã sưu tầm cả
ca dao, tục ngữ, thành ngữ và sắp xếp theo vần chữ cái đầu câu Đây là cuốn sách nhỏ, số lượng trang không nhiều nhưng tác giả đã cố gắng tích hợp nhiều đầu việc như sưu tầm, biên soạn, giải thích từng câu là một đóng góp lớn
Từ sau đó cho đến năm 1945, xuất hiện thêm một số công trình bằng chữ
quốc ngữ sưu tầm, biên soạn ca dao, tục ngữ Có thể kể đến: Nam ngạn chích cẩm (Phạm Quang Sán, 1918), Việt Nam ngạn ngữ phương ngôn thư (Nguyễn Văn Lễ, 1931), Tục ngữ ca dao (Phạm Quỳnh, 1932), An Nam tục ngữ (Vũ Như Lâm và Nguyễn Đa Giang,1933), Ngạn ngữ Phong dao (Nguyễn Can Mộng, 1936), Trong giai đoạn này, có thể coi cuốn sách Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc là
công trình sưu tầm, hệ thống và khảo cứu đồ sộ nhất
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), việc sưu tầm ca dao, tục ngữ vẫn được nhiều
tác giả quan tâm Nổi bật nhất là cuốn Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan
xuất bản lần đầu năm 1956 (cuốn sách này cho đến nay đã tái bản đến 12 lần và đến lần
xuất bản thứ 7 (1971) được đổi tên là Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
Đến năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, các ngành khoa học xã hội và nhân văn có bước phát triển vượt bậc Cũng trong tình hình chung đó, ngành văn học dân gian nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng đã có được sự quan tâm thích đáng Từ thời gian này ngoài các sách sưu tầm, biên soạn ca dao, tục ngữ nói chung
còn có các sách giải nghĩa tục ngữ mang tính chất từ điển (Từ điển thành ngữ tục
ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ tục ngữ, ca dao Việt Nam của
Việt Chương, Tục ngữ ca dao Việt Nam của Mã Giang Lân, Tục ngữ ca dao chọn
lọc của Trần Mạnh Thường, Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ của Hoàng Văn
Trang 28Nội, Văn học dân gian Thái Bình, Phương ngôn tục ngữ ca dao Hà Nam Ninh, Tục ngữ ca dao dân ca Vĩnh Phú, …
Mặc dù, như đã nói ở trên, ca dao, tục ngữ là tấm gương phản chiếu cuộc sống, nhưng cho đến nay loại hình này vẫn chủ yếu là đối tượng nghiên cứu của ngành Ngữ văn, nghĩa là xem xét từ góc độ văn học và ngôn ngữ Việc coi văn học dân gian như một tư liệu, một ngả tiếp cận để nhận thức về cả không gian văn hóa ở vùng ĐBBB chưa có bao nhiêu Các bài viết, các công trình nghiên cứu đi vào nội dung của ca dao, tục ngữ rất phong phú nhưng hầu hết là đề cập đến vấn đề bản chất thể loại, vấn đề khai thác, sưu tầm, phân tích thi pháp, cấu trúc, vấn đề so sánh ca dao, tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác hoặc so sánh ca dao, tục ngữ Việt với ca dao, tục ngữ các dân tộc khác
1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu phổ biến về ca dao, tục ngữ từ trước tới nay
Các công trình nghiên cứu phổ biến về ca dao, tục ngữ từ trước tới nay đã có khá nhiều nhưng chủ yếu đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật, kết cấu ngôn từ và đặc biệt
là tính biểu trưng, biểu tượng của ca dao, tục ngữ như: Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và
thi pháp của tác giả Nguyễn Thái Hòa, Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của tác
giả Phan Thị Đào, Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt của Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ của Trần Văn Nam hay
Thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ (Luận án tiến sĩ) của Trần Thị Diễm
Thúy, chủ yếu bàn về nghệ thuật Khác với các nghiên cứu về ca dao, tục ngữ người Việt phản ánh tri thức dân gian đời sống, văn hóa ẩm thực, sản xuất nông nghiệp đã
có đề cập đến một vài phương diện nghệ thuật ít đề cập đến vấn đề nội dung, chúng tôi sẽ chỉ tập trung khảo sát các công trình nghiên cứu chủ yếu về nội dung
Trước tiên là cuốn sách Tiếng nói của đồng ruộng, ra đời năm 1949 [70] Cuốn sách này đã đề cập đến một số vấn đề về tri thức trong tục ngữ Tác giả đã chia những câu ca dao, tục ngữ thành nhiều nhóm Nhóm nói về công việc đồng áng của người dân quê Nhóm nói riêng về từng hoạt động của người làm nông nghiệp Nhóm nói về thiên văn khí hậu, thời tiết để người dân biết tổ chức, điều khiển công việc đồng áng Họ không có đồng hồ hoặc máy móc tinh xảo để đo thời giờ hay phỏng đoán thời tiết, nhưng vì hàng ngày đã sống ở giữa tạo hóa nên người dân quê
Trang 29quan sát những hiện tượng của giới tự nhiên những hoạt động của loài vật hay sự biến chuyển của cây cối mà tiên đoán được thời tiết sắp đến Họ tin vào những kinh nghiệm ấy khi làm công việc đồng áng Người làm ruộng vẫn biết rằng muốn được hoa lợi thì không cứ chăm chỉ là đủ mà phải trông vào ông trời nữa, nghĩa là về thời tiết Từ đó tác giả đã khái quát ca dao, tục ngữ là tinh hoa của đất nước Nhiều câu miêu tả đặc sắc tâm tính người Việt, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân, những điều chiêm nghiệm mà người dân đã mắt thấy tai nghe từ đời này sang đời khác về những hiện tượng của tạo hóa nữa Những câu tục ngữ ấy có thể áp dụng vào nhiều ngành nghề khác nhau trong cộng đồng xã hội
Cũng trong hướng nghiên cứu này, cuốn sách Tục ngữ Việt Nam của ba tác
giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1975) là cuốn chuyên luận cung cấp khá nhiều vấn đề liên quan đến tri thức tục ngữ về văn hóa sản xuất nông
nghiệp Trong phần tiểu luận về tục ngữ Việt Nam, tác giả Chu Xuân Diên đã đề cập
đến việc nghiên cứu tục ngữ theo các hướng khác nhau là : Hướng nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học và hướng nghiên cứu tục ngữ về nhận thức luận Hướng nghiên cứu tục ngữ về nhận thức luận nghiên cứu tục ngữ một sản phẩm của hoạt động tư duy trong nhân dân lao động Từ những khái quát đó tác giả khẳng định: Tục ngữ là một hiện tượng văn hóa tinh thần của nhân dân lao động, trong đó biểu hiện nhận thức của nhân dân về cuộc sống, phản ánh khá rõ ràng thế giới quan và nhân sinh quan của nhân dân lao động trong thời kỳ lịch sử nhất định Khi nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học người ta có thể tìm thấy trong kho tàng tri thức dân gian bức tranh lịch sử xã hội của thời đại được phản ánh Ở đó có những kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân trong lao động, trong cuộc sống cộng đồng, trong đấu tranh giai cấp và dân tộc
Qua việc phân tích một số câu tục ngữ tiêu biểu, tác giả đã rút ra kết luận lối nghĩ bằng tục ngữ là lối nghĩ dựa vào kinh nghiệm Tri thức dân gian trong tục ngữ
là tri thức kinh nghiệm Trong các thể loại sáng tác dân gian, tục ngữ là thể loại diễn đạt được trực tiếp đầy đủ kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử của nhân dân lao động nước ta thời xưa Lối nghĩ bằng tục ngữ, tuy về cơ bản là lối nghĩ dựa vào kinh nghiệm, nhưng đã có mầm mống của tư duy khoa học, tư duy lý luận Những
tư duy ấy được thể hiện trong một hình thức ngôn ngữ cực kỳ súc tích
Trang 30Tác giả Ngô Xuân Minh và Trần Văn Doãn trong cuốn sách Kinh nghiệm
làm chiêm qua ca dao tục ngữ (1961) đã đề cập đến các vấn đề về canh tác cây
lúa chiêm từ kỹ thuật làm mạ chiêm, cầy bừa ruộng chiêm, kỹ thuật cấy chiêm, chăm bón lúa chiêm, tìm hiểu sâu bệnh, thu hoạch lúa chiêm Đó cũng là những biểu hiện cụ thể của tri thức về kỹ thuật nông nghiệp được thể hiện trong tục ngữ Từ đó tác giả kết luận: Qua thực tế sản xuất từ bao đời nay, bà con nông dân đã rút ra nhiều kinh nghiệm đúc thành những câu ca dao, tục ngữ truyền tụng
từ đời này sang đời khác về công việc làm chiêm Đó là kho tàng kinh nghiệm rất phong phú phản ánh tính chất quần chúng của khoa học, tính chất lao động sáng tạo của bà con nông dân
Tác giả Hoàng Hữu Triết trong cuốn sách Bước đầu tìm hiểu về khí tượng
dân gian Việt Nam (1973) đã nghiên cứu ca dao, tục ngữ nói về khí hậu, thời tiết
trong năm của nước ta qua các mùa Tình hình thời tiết và khí hậu là một trong những nhân tố của ngoại cảnh có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến năng suất mùa màng Cần phải biết đặc điểm của thời tiết và khí hậu địa phương thì mới chủ động tận dụng được những thuận lợi và hạn chế bất lợi Từ đó có kế hoạch cải tạo, điều chỉnh khí hậu theo hướng có lợi cho sản xuất và đời sống Những dự đoán theo kinh nghiệm có nhiều điểm phù hợp với lý luận khoa học sẽ có tác dụng nhất định trong việc đấu tranh với những điều kiện bất lợi của thiên nhiên để bảo vệ đời sống sản xuất Mây, mưa, gió, dông là những yếu tố thời tiết có ý nghĩa quyết định trong công tác nông nghiệp Vì thế những yếu tố rất được quan tâm chú ý
Đi qua những hiện tượng thực tế, tác giả đưa ra kết luận: Ca dao, tục ngữ của dân tộc ta nói về khí tượng có giá trị nhất định về mặt khoa học Nó chứng tỏ rằng: Trong thực tiễn lao động sản xuất đấu tranh gian khổ với thiên nhiên, dân tộc ta có nhận thức tương đối vững vàng về quy luật khí hậu và thời tiết Những câu ca dao, tục ngữ mà tác giả trình bày được vận dụng tương đối phổ biến ở các vùng nông thôn đồng bằng và duyên hải nước ta để đoán thời tiết Nhưng việc vận dụng ca dao, tục ngữ để dự đoán thời tiết phải có sự phân tích khoa học, chọn lọc và kiểm nghiệm nhiều trong thực tế và bằng các số liệu quan sát khí tượng Phải chú ý tới tính địa phương, tính quy luật theo mùa, phải phân tích tổng hợp nhiều nguyên nhân gây nên một hiện tượng
Trang 31Tác giả Bùi Huy Đáp trong cuốn Ca dao tục ngữ với khoa học nông nghiệp
(1999) đã đi vào phân tích những câu tục ngữ về chủ đề đất đai và lao động, thời tiết
và mùa vụ nông nghiệp trong xã hội Thông qua những câu tục ngữ cụ thể, tác giả nhằm chứng minh cho một kho tàng kinh nghiệm về nông nghiệp được đúc kết trong kỹ thuật sản xuất Ở công trình này, tác giả đưa ra những nhận xét về cây trồng, vật nuôi và hoàn cảnh sản xuất về mùa vụ, thời tiết và cả vị trí của nông nghiệp trong đời sống kinh tế xã hội nước ta từ hàng vạn năm trước
Như vậy, các công trình nghiên cứu về tục ngữ nói chung đã có thể khoanh vào hai hướng nghiên cứu chính Hướng nghiên cứu của các nhà ngữ văn học và hướng nghiên cứu tục ngữ của các nhà khoa học kỹ thuật
Các nhà khoa học kỹ thuật nghiên cứu tri thức trong tục ngữ chủ yếu để chỉ
ra sự ứng dụng trong thực tế lao động sản xuất Suốt thời kỳ xã hội phong kiến lịch
sử sản xuất của nông dân đa phần là lao động nông nghiệp Về mặt kỹ năng lao động, nhân dân ta chủ yếu dựa vào hiểu biết và những phát minh có tính chất kinh nghiệm đã được tổng kết lại trong những câu tục ngữ Do đó có thể thấy được vai trò, sự phổ biến rộng rãi của tục ngữ nói về thiên nhiên, thời tiết, nói về kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi và những điều được đúc rút trong cuộc sống hàng ngày của dân nhân ta
Các nhà khoa học tự nhiên khẳng định tục ngữ là vốn khoa học vô cùng quý báu của dân tộc Họ đề xuất khai thác, vận dụng vốn tri thức sẵn có này trên tinh
thần”Gạn đục khơi trong” để ứng dụng trong cuộc sống canh tác nông nghiệp của
nhân dân ta Các nhà Ngữ văn lại nghiên cứu tục ngữ trên những đặc điểm với tư cách là một thông báo có tính nghệ thuật để thấy được lối tư duy của dân tộc qua tri thức dân gian tục ngữ Nghiên cứu tục ngữ về mặt ngữ văn đồng thời còn là nghiên cứu nội dung phản ánh trong tục ngữ, cách sử dụng chúng trong ngôn ngữ văn học
Cả hai cách cứu này đều nhằm mục đích phát hiện những giá trị của tục ngữ với tư cách là một phương tiện ngôn ngữ, kho tư liệu quý giá do nhân dân lao động sáng tạo, tích lũy từ hàng ngàn năm, trong đó kết tinh được cơ bản nhất lối nói của dân gian, lối nghĩ của dân tộc Tất cả những điều đó đã phản ánh một cách chân thực và sinh động văn hóa nông nghiệp của người Việt ĐBBB
Trang 32Gần đây, vấn đề “văn hóa ứng xử”, “thiên nhiên và con người”, “hình tượng thiên nhiên” qua ca dao, tục ngữ được nhiều nhà nghiên cứu đề cập trong nhiều công trình khoa học ở những khía cạnh khác nhau Nhưng dù ở bất cứ góc độ nào,
xu hướng chung của các tác giả vẫn đi vào hướng nghiên cứu chuyên ngành như: văn hóa học, ngôn ngữ học, văn học, địa lí học, xã hội học, tâm lý học, … Với ý nghĩa đa diện của vấn đề như vậy nên sẽ thật khó để có thể nắm bắt và liệt kê đầy
đủ các công trình Chúng tôi cố gắng điểm qua nội dung chính của một số công trình tiêu biểu mà tác giả đã ít nhiều khai thác đề tài này qua nguồn tư liệu văn học dân gian là ca dao, tục ngữ
Tiếp cận từ góc độ văn hóa học, PGS.TS Trần Thúy Anh tác giả công trình
nghiên cứu “Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc
Bộ qua ca dao, tục ngữ” đã dựng lên một mô hình ứng xử xã hội cổ truyền của
người Việt ở châu thổ Bắc Bộ xác định hệ giá trị của thế ứng xử Viêt Nam là lưỡng đoan (hay đa đoan) với những giá trị tinh thần, bao gồm sự hòa hiếu - khoan dung - giản dị vui vẻ Mô hình ứng xử mà tác giả muốn định danh và định tính là “mô hình tình nghĩa” Tác giả đã đưa ra những kết luận xác đáng Điều mới mẻ trong công trình này mà chúng tôi nhận thấy là tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu địa văn hóa, đã phân ra các tiểu vùng ở châu thổ Bắc Bộ như: Đông, Nam, Đoài, Bắc [4, tr 47] Tuy nhiên tác giả không tập trung đi vào phân tích từng đặc trưng thế ứng xử của mỗi vùng miền mà chủ yếu đề cập đến phương diện văn hóa vật thể Tác giả viết: “Bắc là vùng châu thổ cao, đồng mùa nhiều, làng nghề, làng buôn, mạng lưới chợ quê sinh động, dày đặc, vô vàn lễ hội chùa, đền đình phân chia Nét bản sắc là “cỗ ba tầng”, “nón ba tầm”, “áo mớ ba mớ bảy”, “quan họ”,
“hội Gióng”, “Ăn Bắc mặc Kinh” Nam là vùng chiêm trũng, với mắm tôm, mắm tép (tép riu), thợ đấu, đào vượt thổ, múa rối nước (Nguyên Xá), làm ăn khắc khổ,
“Xắn váy quai cồng”, “Sống ngâm da, chết ngâm xương” nhưng được an ủi tâm linh là có Mẫu Liễu Hạnh, tiên Chử Đồng Tử, hầu bóng, hát chầu văn,…” [4, tr 148] Sử dụng ca dao, tục ngữ làm “công cụ” (từ của tác giả), hướng tiếp cận chủ yếu của công trình nghiên cứu này nghiêng về lịch sử và văn hóa nhiều hơn
Do vậy, tính bao quát của công trình nghiên cứu là rất cao, đặc biệt ở góc độ lịch sử, văn hóa học và xã hội học
Trang 33Tiếp đó, tác giả Đặng Thị Diệu Trang với công trình “Thiên nhiên trong ca
dao dân ca trữ tình đồng bằng Bắc Bộ” bước đầu đã đi vào thống kê các câu ca dao
dân ca trữ tình ĐBBB theo các chủ đề: thiên nhiên với hình thức biểu đạt nội dung:đất nước con người, lao động sản xuất, chống phong kiến thực dân, tình yêu hôn nhân và gia đình; Thiên nhiên với thế giới nghệ thuật: nghệ thuật so sánh, ngôn
từ, biểu tượng, kết cấu Tác giả sử dụng các lý thuyết vùng văn hóa để lý giải sự xuất hiện của các hình tượng thiên nhiên trong ca dao dân ca ĐBBB không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà là kết quả quá trình thích ứng của cư dân nơi đây với môi trường tự nhiên và xã hội Tác giả đã lấy dẫn chứng để phân tích và minh họa vai trò nghệ thuật của các hình tượng trong quá trình xây dựng công thức kết cấu truyền thống để biểu đạt thế giới tâm hồn phong phú của người dân lao động Chẳng hạn: không gian làng quê ĐBBB bình lặng, trữ tình với khung cảnh đặc trưng của rặng tre, cây đa, bến nước, sân đình… được coi là nơi hẹn hò, gặp gỡ, trao duyên của các đôi trai gái, là nơi diễn ra mọi sinh hoạt cộng đồng làng xã của người nông dân trong xã hội cổ truyền
1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu trực tiếp về ca dao, tục ngữ
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, khoa nghiên cứu văn học dân gian nước ta chưa ra đời Chỉ đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, đặc biệt là sau hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, trong khung cảnh
ổn định các nhà nghiên cứu có điều kiện cần thiết xây dựng bộ môn khoa học này
Từ cuối những năm 1950, việc giảng dạy văn học dân gian một cách hệ thống được triển khai ở bậc đại học, đến những năm 70 của thế kỷ XX phương pháp nghiên cứu văn học dân gian đã có những bước trưởng thành rõ rệt Chính vì lẽ đó mà một loạt các bài viết nghiên cứu về ca dao, tục ngữ đã ra đời Trong những bài nghiên cứu, các tác giả phần nào đã đề cập tới đời sống văn hóa của cư dân nông nghiệp được thể hiện trong ca dao, tục ngữ Tiêu biểu là nhóm các bài nghiên cứu sau đây:
Các công trình nghiên cứu về ẩm thực
Nói đến vấn đề ẩm thực/ăn uống cũng là nói đến cách ứng xử của con người với sản phẩm nông nghiệp Về vấn đề này đáng chú ý là nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Xuân Kính “Qua tục ngữ ca dao tìm hiểu sự sành ăn khéo mặc của người
Trang 34Thăng Long Hà Nội” (1990) Ở bài viết này, tác giả đề cập đến hai nét văn hóa ăn
và mặc của người dân Thăng Long – Hà Nội [55, tr 27-29]
Nguyễn Xuân Hòa là tác giả của bài viết”Đôi nét về văn hóa ăn uống qua
thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt”(1997) Người viết đã khẳng định: Trong việc ăn
uống, không phải chỉ có ăn và uống tách bạch một mình với tư cách cá nhân Sự ăn uống có văn hóa, hàm ý có lời mời chào, nó bao hàm sự ứng xử giữa con người cá nhân với con người xã hội Nó là cả một nếp sống, một phép ứng xử, một phong tục tập quán và đạo lý làm người của từng cá nhân và dân tộc [40, tr 22-23], đây cũng
là những biểu hiện cụ thể của việc ứng xử với sản phẩm nông nghiệp được thể hiện qua tục ngữ
Tác giả Trí Sơn có bài “Sản vật xứ Nghệ còn lưu giữ trong thành ngữ, tục
ngữ ca dao” (1999), tác giả Lăm phonxay Xana và Nguyễn Văn Thông công bố bài
viết “Đặc trưng đa dạng của ẩm thực Việt Nam qua mảng tục ngữ về văn hóa ẩm
thực” [133, tr 50-52] Các tác giả đều khái quát tính đa dạng của văn hóa ăn uống
của người Việt là xuất phát từ sự đa dạng về vùng lãnh thổ và có nền tảng cơ bản từ nền nông nghiệp trồng lúa nước
Các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với
sản xuất nông nghiệp
Tác giả Hoàng Hữu Triết trong bài viết: “Tìm hiểu giá trị của tư duy triết
học duy vật trong tục ngữ ca dao Việt Nam” (1997) đã khẳng định: Trong thực tiễn
sản xuất, ông cha ta đã tích lũy được nhiều kiến thức về thiên nhiên thời tiết (khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, động thực vật ) Những kiến thức này là những viên gạch đầu tiên xây nền cho các ngành khoa học tự nhiên trên đất nước ta Điều đó cũng phù hợp với nhận định của chủ nghĩa Mác “Khoa học được bắt nguồn từ khái niệm lao động” [116, tr 73]
Nguyễn Quốc Siêu (1997) trong bài viết :”Qua một số câu tục ngữ viết về
thời tiết”, tác giả giải thích câu tục ngữ”Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa”
đã đưa ra kinh nghiệm rằng: khi giải thích những câu tục ngữ về thiên nhiên cần phải liên hệ đối chiếu với hiện tượng Từ sự giải thích để hiểu đúng câu tục ngữ,
Trang 35chúng ta sẽ vững tin vào những kinh nghiệm của cha ông nhằm ứng dụng hữu hiệu trong lao động sản xuất [95, tr 12]
Tác giả Trần Quang Nhật (1997) trong bài viết: Con trâu đi vào tục ngữ ca
dao xưa” đã tìm hiểu hình tượng con trâu theo cả nghĩa đen, nghĩa bóng Từ đó, tác
giả đi đến khẳng định: Việt Nam là nước nông nghiệp, con trâu từ rất sớm đã được thuần hóa để phục vụ cuộc sống của nhân dân Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, con trâu luôn gắn bó mật thiết với con người Hình ảnh con trâu xuất hiện trong tục ngữ
đã phác thảo những nét chấm phá về cuộc sống lao động cần cù, gian lao, vất vả nhưng vẫn lạc quan yêu đời của người dân lao động [81, tr 69-72]
Cùng với chủ đề về con trâu, tác giả Nguyễn Thanh Lợi (1997) đã lập ra một
bảng “ Từ điển mini thành ngữ, tục ngữ về trâu” Tác giả đã đề cập đến 30 câu
thành ngữ và tục ngữ về trâu Hình ảnh con trâu ngoài việc phản ánh những đặc tính của con vật gần gũi với nhà nông như sức lực bền bỉ, chịu đựng gian khổ thì đa
số được dùng để so sánh ví von về cách đối nhân xử thế của con người với con người [68, tr 7-8]
Nguyễn Duy Cách (2001) là tác giả của bài viết “Tri thức về lao động sản
xuất qua ca dao, tục ngữ” Trong bài viết này tác giả đã khẳng định nhân dân Việt
Nam đã trải qua bao đời lao động sản xuất và tích lũy được nhiều kinh nghiệm phong phú Vốn tri thức quý báu đó lại được đúc kết trong nhiều câu ca dao, tục ngữ của người Việt từ thuở các vua Hùng dựng nước Có cả một kho ca dao, tục ngữ về canh tác nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm Nó được đánh giá như kim chỉ nam về sản xuất nông nghiệp của nhân dân lao động người Việt xưa Nghề nông trông vào thời tiết vì thời tiết có ảnh hưởng quyết định đến cây trồng Trong khi chưa có khoa học khí tượng thì người nông dân đã dựa vào những tri thức thu lượm được trong quá trình quan sát thời tiết mà đúc rút ra những câu tục ngữ ngắn gọn, báo trước những biến động gió bão, nắng mưa
Tìm hiểu tri thức về lao động sản xuất nông nghiệp qua ca dao, tục ngữ của người Việt xưa, chúng ta hiểu sâu sắc hơn hoàn cảnh mưu sinh và những kinh nghiệm quý báu của cha ông ta trong lao động sản xuất, dù rằng trong nguồn tri
Trang 36thức xa xưa ấy, cũng có một số điều không còn thích hợp với nền nông nghiệp hiện đại của chúng ta hôm nay [13, tr 15]
Tác giả Đỗ Kim Liên (2006) trong bài viết”Trường ngữ nghĩa về cây lúa và
các sản phẩm từ lúa phản ánh đặc trưng văn hóa lúa nước trong tục ngữ người Việt” đã đi vào tìm hiểu ngữ nghĩa của các phát ngôn tục ngữ phản ánh văn hóa lúa
nước Tác giả đã đưa ra những số liệu cụ thể trong việc khảo sát Tục ngữ Việt Nam
chọn lọc của Vương Trung Hiếu với 96 chủ đề và 2400 phát ngôn tục ngữ, tác giả
đã thống kê có đến 446 phát ngôn chứa các từ ngữ xuất hiện thành trường từ vựng
đề cập đến cây lúa và sản phẩm cây lúa cũng như kinh nghiệm trồng lúa Kho tàng
tục ngữ người Việt do Nguyễn Xuân Kính chủ biên, trong 9000 câu có 609 câu viết
về cây lúa Con số nói lên người Việt trồng lúa và canh tác lúa nước từ lâu đời, để
lại dấu ấn qua lớp từ ngữ, phản ánh nền văn hóa lúa nước của người Việt Tác giả
đã tìm hiểu ngữ nghĩa của các phát ngôn tục ngữ phản ánh văn hóa lúa nước như: các từ gọi tên cây lúa và sản phẩm từ cây lúa, các từ gọi tên thực phẩm chế biến từ hạt lúa, các từ gọi tên thời tiết, thời vụ gắn với việc trồng lúa, các từ gọi tên kinh nghiệm trồng lúa và canh tác lúa nước, các từ gọi tên giá trị hàng hóa lấy thóc lúa làm đơn vị so sánh Khảo sát các phát ngôn tục ngữ Việt, tác giả đi đến kết luận: Đây là những từ ra đời từ sớm, đa số đơn tiết, phản ánh đặc thù văn hóa lúa nước của người Việt khá rõ mà qua nhiều biến đổi của thời gian chúng được lưu giữ như những nhân chứng in đậm dấu ấn lịch sử [63, tr 34-39]
Các công trình nghiên cứu về quan hệ gia đình, xã hội của người Việt
Nghiên cứu về phong tục tập quán và quan hệ trong gia đình, xã hội người Việt gồm có một số công trình cơ bản sau đây:
Nguyễn Từ Chi trong “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người” có Cơ
cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ và nhận xét bước đầu gia đình của người Việt [15] đi sâu nghiên cứu cơ cấu tổ chức của làng xã, gia đình cổ truyền và chú ý
đến một số mối quan hệ trong gia đình, đến vai trò người phụ nữ trong gia đình ấy Đây là một công trình khoa học thực sự giá trị, hết sức lôi cuốn
Tác giả Trần Đình Hượu dành hai chuyên mục trong cuốn sách Đến hiện đại
từ truyền thống để bàn luận về gia đình Việt Nam [45] Đó là gia đình truyền thống
Trang 37Việt Nam với ảnh hưởng của Nho giáo; Đổi mới cách quan niệm giải phóng phụ nữ; Nhìn lại gia đình truyền thống để chuẩn bị thiết thực cho các thiếu nữ bước vào đời
Tác giả Phạm Vũ Dũng với nghiên cứu “Văn hóa ứng xử của người phụ
nữ qua kho tàng ca dao người Việt” đã đi sâu vào một đối tượng cụ thể là người
phụ nữ “Tập trung đầy đủ đặc trưng vốn có của người Việt cũng như văn hóa Việt trong suốt lịch sử hình thành và phát triển đất nước [29, tr 39, 43] Tác giả cũng nhấn mạnh đến một số nội dung, những đức tính nổi bật của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam “đó là lòng yêu nước, tính cần cù, tính cộng đồng và tính đoàn kết dân tộc; tính hài hòa, chừng mực; tính kiên định nhưng không bảo thủ mà dễ dung hợp, tính sáng tạo và sự nhạy bén; giàu tình cảm, trọng nhân nghĩa; tính chất duy tình trong sinh hoạt và ứng xử; sự bao dung và hòa đồng…”
Nhà nghiên cứu Đỗ Thị Bảy có bài “Sự phản ánh quan hệ gia đình, xã hội
trong tục ngữ, ca dao” [12, tr 35] đã nêu lên các mối quan hệ gia đình người Việt
được phản ánh trong tục ngữ bao gồm: quan hệ ông bà và cháu, cha mẹ và con cái; quan hệ vợ chồng; quan hệ anh chị - em; quan hệ mẹ chồng – nàng dâu, bố mẹ vợ - chàng rể, dì ghẻ con chồng, bố dượng – con riêng của vợ; quan hệ họ hàng: chú bác, cậu mợ, cô dì Các mối quan hệ xã hội bao gồm quan hệ thầy trò, quan hệ bạn bè, quan hệ đồng bào; quan hệ giữa chủ và người làm thuê, quan hệ vua, quan và dân Nhìn chung, nghiên cứu này đã phản ánh khá toàn diện các mối quan hệ gia đình và
xã hội của người Việt Chính vì rộng như vậy mà tác giả chưa đi sâu phân tích thật
kỹ lưỡng quan hệ nào là chủ đạo và đặc điểm ứng xử xã hội của người Việt cũng chưa được tập trung làm rõ
Tác giả Phạm Việt Long với công trình nghiên cứu: “Tục ngữ, ca dao về
quan hệ gia đình” đã chỉ ra trong tục ngữ có bốn mối quan hệ gia đình cơ bản:
quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ-con, quan hệ anh em, chị em ruột; quan hệ dâu rể với gia đình “Nhìn tổng quan về quan hệ gia đình người Việt, ngoài mối quan hệ có phần căng thẳng giữa nàng dâu, mẹ chồng, còn lại các mối quan hệ khác được tục ngữ phản ánh với cái nhìn ấm áp, làm nổi bật sự gắn bó, hòa thuận, có trách nhiệm, coi đó là tiêu chí để xây dựng gia đình êm ấm và bền
Trang 38nên âm hưởng của chủ nghĩa nhân đạo, cổ vũ cho tình yêu thương, găn bó giữa con người với nhau” [66, tr 34, 111]
Tập hợp các công trình nghiên cứu về đặc trưng của ca dao tục ngữ
Nói đến đặc trưng của ca dao, tục ngữ là nói đến cái hay, cái đẹp hàm chứa
cả về nội dung và nghệ thuật trong đó Nội dung mà ca dao tục ngữ biểu hiện ít nhiều đã phản ánh về đời sống văn hóa và hoạt động sản xuất nông nghiệp hay chí ít
là về tư duy sản xuất nông nghiệp Chính vì thế mà những bài nghiên cứu viết về sức sống của tục ngữ cũng là những bài đã phần nào phản ánh tri thức dân gian về văn hóa sản xuất nông nghiệp được thể hiện trong ca dao, tục ngữ
Với bài viết “Thử bàn về việc giữ gìn và phát huy vốn tục ngữ giàu đẹp của
dân tộc”(1997), tác giả Vũ Dung đã đặt vấn đề: Tục ngữ là một trong những đối
tượng cần được giữ gìn và phát huy Tục ngữ không chỉ là một kho tàng kinh nghiệm sống, mà còn là ngữ nghệ (nghệ thuật ngôn ngữ) của dân tộc Tác giả cho rằng muốn cho lời nói, câu văn của chúng ta ngày nay có được dáng điệu, bản sắc, cái chất Việt Nam không thể không trau dồi sự hiểu biết về vốn liếng tục ngữ dân tộc [27, tr.58-62]
Bùi Văn Nguyên trong bài”Sức sống dân tộc và tục ngữ Việt Nam”(1983),
tiếp tục khẳng định những giá trị của tục ngữ Tục ngữ người Việt có màu sắc Việt, mang tiếng nói, vần nhịp thơ ca Việt, đậm đà tâm hồn Việt, in sâu trí tuệ người Việt
từ thuở rạng đông của loài người Tục ngữ đã thể hiện được một vùng đất nước với sức sống kỳ diệu và phi thường nơi cửa ngõ Đông Nam Á Tục ngữ ấy không riêng
gì là vốn quý của dân tộc ta, mà còn là thành tố đáng kể trong kho tàng văn hóa thế giới hiện nay [80, tr 83-93]
Trong bài viết “Đạo lý và thi pháp dân gian trong tục ngữ Việt Nam”
(1985), tác giả Hồ Tôn Trinh dưới góc độ thi pháp cho rằng: Khi nói đến tục ngữ là nói đến một hình thức phán xét, răn dạy, đề xuất “một đạo lý” Đó là những kinh nghiệm thu thập được trong cuộc sống, được tổng hợp, khái quát hóa bằng một số
từ theo những quy tắc nào đó, nhằm khẳng định hay phủ định và cuối cùng là để truyền bá, để răn dạy một điều gì đó trong cuộc sống [117, tr 13-14]
Trang 39Với bài viết”Đạo lý trong tục ngữ” (1987), tác giả Nguyễn Nghĩa Dân đã
khẳng định: Nhân sinh quan, đạo lý tồn tại trong thể loại tục ngữ một cách đặc sắc
Nó đề cao phạm trù tập thể, phạm trù trí tuệ, tri thức được xếp cao hơn nhiều phạm trù khác như của cải, địa vị đề cao những phạm trù biểu hiện giá trị tinh thần như đạo đức, ân nghĩa, trung thực trong cuộc sống, tục ngữ luôn đề cao quan hệ tốt với lân bang, xóm giềng [19]
Tác giả Vũ Quang Hào trong bài viết: “Thành ngữ, tục ngữ cũ với lớp người
mới” (1993) đã khẳng định nội dung của tục ngữ cần phải được hiểu đúng, cần phải
được tiếp thu và sử dụng ở lớp người mới [35, tr 53-55]
Trong bài viết “Dấu ấn văn hóa trong tục ngữ” (1998) tác giả Nguyễn Quý
Thành đã khẳng định: Việt Nam là một trong những nước ở khu vực Đông Nam Á
có nền nông nghiệp lúa nước Nền sản xuất này kéo theo việc tổ chức cộng đồng và chi phối nhiều mặt của đời sống xã hội: Nhận thức, ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội Tục ngữ Việt, với tư cách là loại hình văn học dân gian và với tư cách là phương tiện ngôn ngữ diễn đạt kết quả của tư duy, in đậm dấu ấn của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, mang nét riêng so với văn hóa dân tộc khác
Là một loại hình văn học dân gian, nếu như tục ngữ của nhiều nước phương Tây có nền văn hóa du mục, văn minh đô thị, thương mại như Anh, Nga, Pháp, Đức chủ yếu nói về các quan hệ xã hội thì trong kho tàng ca dao, tục ngữ người Việt, số câu nói về kinh nghiệm trong đời sống hàng ngày của nhân dân, các hiện tượng thiên nhiên, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, chiếm số lượng đáng kể Những công trình sưu tầm và phân loại tục ngữ theo chủ đề hầu như đều có các tổ hợp về thiên nhiên, kinh nghiệm sản xuất liên quan đến nghề trồng lúa nước
Từ kết quả khảo sát, tác giả cho thấy đời sống sản xuất nông nghiệp lúa nước
đã chi phối cách thức tổ chức cộng đồng: cách ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, cách nhận thức và lối diễn đạt của người Việt làm nên bản sắc văn hóa Việt, điều này được phản ánh khá rõ trong tục ngữ Nghiên cứu tục ngữ Việt một cách có hệ thống chắc chắn sẽ rút ra nhiều điều thú vị về bản sắc văn hóa dân tộc trên nền chung của văn hóa khu vực và văn hóa nhân loại [99, tr 76]
Trang 40Như vậy theo dòng chảy thời gian, các công trình nghiên cứu và biên soạn về
ca dao tục ngữ được thực hiện rất nhiều, trải rộng trên các lĩnh vực như thể loại ngôn ngữ, thơ ca, vần điệu, hình tượng và tìm hiểu tri thức dân gian ở một số khía cạnh của đời sống… nhưng nghiên cứu tổng thể về không gian văn hóa của người Việt ĐBBB được nhân dân gửi gắm vào đó vẫn còn là mảnh đất mới Qua khảo sát cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào ở trong và ngoài nước lấy ca dao, tục ngữ làm tư liệu nghiên cứu theo hướng Khu vực học nhằm tìm ra những đặc trưng của một không gian văn hóa vùng, miền với các thành tố văn hóa cấu thành nên, làm đối
tượng nghiên cứu Luận án Không gian văn hóa của người Việt đồng bằng Bắc Bộ
qua tư liệu ca dao, tục ngữ ít nhiều được kế thừa từ những thành quả nghiên cứu của
các học giả đi trước Với thông tin có tính chất gợi mở nhiều ý kiến quý báu, chúng tôi vững tin để đi sâu tìm hiểu về không gian văn hóa người Việt ở ĐBBB, cố gắng giải mã đề tài khoa học này theo hướng tiếp cận liên ngành Khu vực học
Công trình mà chúng tôi được kế thừa trực tiếp nhất về phương pháp nghiên
cứu phải kể đến là: Biểu hiện của truyền thống Việt Nam qua phân tích thống kê:
Tục ngữ phong dao [31, tr 38] của GS.TSKH Vũ Minh Giang và PGS TS Vũ Văn
Quân các Các tác giả đã sử dụng triệt để phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để phân tích và mô tả số liệu thống kê theo từng nhóm tổ hợp nghĩa để thấy được tần số xuất hiện có tỉ lệ cao hay thấp, phản ánh sự quan tâm của dân gian tới từng mặt của đời sống xã hội và những biểu hiện của con người đối với các giá trị truyền thống của dân tộc Tuy đây mới chỉ là một khía cạnh mà tác giả đi sâu vào nghiên cứu nhưng lại gợi ý hết sức quan trọng và quý báu cho tác giả đi vào thực hiện nghiên cứu luận án này
1.2 Những khái niệm và lý luận cơ bản
1.2.1 Văn hóa
Một trong những khái niệm căn bản cần được làm rõ trong luận án là Văn hóa Đây là một phạm trù rộng lớn với nhiều tầng và đa nghĩa nên đã có không ít định nghĩa Có thể gộp lại thành một số nhóm định nghĩa về văn hóa sau đây:
Định nghĩa theo hình thái giá trị của văn hóa:
“Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội; các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người [127 tr.61]