Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng sông nước, xứ sở của những khu rừng ngập mặn được khai phá rất gian khổ trong thời kì đầu khẩn hoang, mở cõi vùng Nam Bộ. Nơi đây ẩn chứa những nét văn hóa rất riêng biệt và độc đáo của tiểu vùng sông nước, rừng ngập mặn. Sau quá trình khai phá đầy gian lao, các vùng có những nét đặc thù về tự nhiên, lịch sử, xã hội, cảnh trí thiên nhiên và môi trường sinh thái đa dạng, những vùng định cư với các tên gọi đều gắn với sông nước như “miệt giồng”, “miệt vườn”, “miệt cù lao”, “miệt thứ”,… Xưa kia khi nói đến miệt thứ, người ta hình dung như một nơi xa xôi, hoang vu không người ở. Nơi đây kênh rạch chằng chịt, ngoằn ngoèo, hai bên bờ cỏ mọc, lá dừa nước um tùm, muốn đi qua phải dùng dao rựa mở đường. trên là rừng tràm, dưới là dừa nước, dưới nữa là cỏ lác, nên ở đây hiếm khi thấy mặt trời, mới chiều xuống đã thấy tối tăm. Ở vùng miệt thứ hoang sơ, hẻo lánh việc khẩn hoang, khai phá vùng đất này từ thời xưa đến nay là cả một quá trình cùng với sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đã dần biến nơi “rừng thiên nước độc” này trở thành một vùng có nét đẹp đặc sắc, có những nét riêng độc đáo của thiên nhiên cũng như con người nơi đây. Vì thế chọn để tài này để tìm hiểu một tiểu vùng văn hóa của vùng Tây Nam Bộ xem vùng đất này đã ảnh hưởng đến đời sống cư dân nơi này như thế nào.
Trang 1- -
NHỮNG NÉT NỔI BẬT CỦA VĂN HÓA DÂN
Trang 2Mục lục:
I TỔNG QUAN:
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3.2 Phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
II CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VÙNG MIỆT THỨ
NAM BỘ
1 Nguồn gốc tên gọi:
2 Vị trí địa lý, tiền đề lịch sử hình thành III CHƯƠNG II: NHỮNG TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
THIÊN NHIÊN ĐỐI VỚI VĂN HÓA VẬT THỂ VÙNG MIỆT THỨ NAM BỘ
1 Ảnh hưởng của thiên nhiên đối với vấn đề ăn uống của người miệt thứ Nam Bộ
2 Ảnh hưởng của thiên nhiên đối với vấn đề ở và đi lại
IV CHƯƠNG III: NHỮNG TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
THIÊN NHIÊN ĐỔI VỚI VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÙNG MIỆT THỨ NAM BỘ
1 Về văn hóa tổ chức cộng đồng của người miệt thứ Nam Bộ
2 Về tín ngưỡng của người dân vùng miệt thứ Nam Bộ
3 Về văn học, nghệ thuật dân gian vùng miệt thứ Nam Bộ
V KẾT LUẬN
VI Tài liệu tham khảo
Trang 3đa dạng, những vùng định cư với các tên gọi đều gắn với sông nước như “miệt giồng”, “miệt vườn”, “miệt cù lao”, “miệt thứ”,…
Xưa kia khi nói đến miệt thứ, người ta hình dung như một nơi xa xôi, hoang vu không người ở Nơi đây kênh rạch chằng chịt, ngoằn ngoèo, hai bên bờ cỏ mọc, lá dừa nước um tùm, muốn đi qua phải dùng dao rựa mở đường trên là rừng tràm, dưới là dừa nước, dưới nữa là cỏ lác, nên ở đây hiếm khi thấy mặt trời, mới chiều xuống đã thấy tối tăm Ở vùng miệt thứ hoang sơ, hẻo lánh việc khẩn hoang, khai phá vùng đất này từ thời xưa đến nay là cả một quá trình cùng với sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đã dần biến nơi “rừng thiên nước độc” này trở thành một vùng có nét đẹp đặc sắc, có những nét riêng độc đáo của thiên nhiên cũng như con người nơi đây Vì thế chọn để tài này để tìm hiểu một tiểu vùng văn hóa của vùng Tây Nam Bộ xem vùng đất này đã ảnh hưởng đến đời sống cư dân nơi này như thế nào
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu, cung cấp những thông tin cơ bản có liên quan
về vùng miệt Thứ ở Nam Bộ, để từ đó có thể thấy được những giá trị, nét đẹp, đặc trưng và ý nghĩa của văn hóa dân gian của con người nơi đây Bên cạnh đó có thể nhận diện được một số đặc điểm văn hóa dân cư của vùng miệt thứ - một tiểu vùng của đồng bằng sông Cửu Long Nam Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc trưng của văn hóa dân gian vùng Miệt Thứ Nam Bộ Ý nghĩa của nó trong đời sống sinh hoạt của người dân trong vùng
và ảnh hưởng của nó đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng như với vùng đất Nam Bộ
Trang 43.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: khu vực miệt thứ ở các vùng thuộc tỉnh Kiên Giang và rộng hơn là một số vùng sông nước lân cận ở Nam Bộ
- Về thời gian: được giới hạn chủ yếu khoảng từ thế kỉ XIX đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu đề tài là thu thập – xử lý thông tin – phân tích tài liệu
- Đầu tiên là thu thập các thông tin từ các nguồn sách, báo, các website, mạng
xã hội, internet,…có liên quan đến nội dung đề tài
- Sau đó là xử lý và phân tích thông tin sao cho phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài Cuối cùng là tổng hợp và sắp xếp lại các nguồn thông tin và tiến hành viết cho ra sản phẩm cuối cùng
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VÙNG MIỆT THỨ NAM
BỘ
1 Nguồn gốc tên gọi:
Ở miền Tây vùng đồng bằng sông Cửu Long người dân thường gọi khái niệm “vùng” là “miệt” Miệt vườn là vùng có nhiều vườn, miệt cù lao là vùng ở cù lao, miệt kinh là vùng có nhiều con kinh,… còn miệt thứ đặc biệt hơn là vùng có nhiều kênh mà cái tên bắt đầu từ chữ “thứ” Miệt thứ nay thuộc vùng Tứ Giác Long Xuyên, cụ thể hơn là trên địa phận hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau nhưng phía Kiên Giang nhiều hơn với các huyện Vĩnh Thuận, An Minh, An Biên, U Minh Thượng Còn ở Cà Mau chỉ duy nhất huyện U Minh là có “thứ”
Vùng tứ giác Long Xuyên sách Gia Định thành thông chí gọi là Thập cứu
(nay người dân gọi là Thập Câu) tức 10 con rạch, chảy ra vịnh Thái Lan Vùng đất
có nhiều lung lạch chảy ngang dọc như cựa gà Gọi là Thập Câu nhưng trên thực tế
có hơn 10 con kênh, người ta gọi các con kênh bằng những cái tên “nghe cái là biết liền”: Thứ Nhì, Thứ Ba, Thứ Năm, Thứ Sáu Độc đáo ở chỗ là con kênh giữa các thứ người ta kêu bằng từ “rưỡi” như giữa kênh Thứ Chín và Thứ Mười người ta kêu bằng kênh “Thứ Chín Rưỡi”
Từ biển ngược vào đất liền thì thì bắt đầu với kênh Xẻo Rô rồi đến Thứ Nhì cho đến Thứ Mười Một Miệt thứ còn gắn liền với rừng U Minh, nới đây nhà văn
Sơn Nam đã đặc biệt “quan tâm” đến trong tác phẩm Lịch sử khẩn hoang miền
Trang 5Nam thì “ U Minh là tên khu vực có từ xa xưa đã được hiểu là vùng đen tối, mù
mịt U Minh là mờ, u ám, thí dụ như cõi u minh chốn địa ngục…”
H1: vùng miệt thứ Kiên Giang (Nguồn: https://images.app.goo.gl/Tb4BJU3qvYBidDqW8)
2 Vị trí địa lý, tiền đề lịch sử hình thành:
Miệt thứ bao gồm vùng đất thuộc địa bàn huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thượng (Kiên Giang) nằm cặp con sông Cái Lớn, chạy ra vịnh Rạch Giá rồi quẹo trái xuống huyện U Minh (Cà Mau)
Những khám phá khảo cổ học trên đất Nam Bộ cho biết rằng từ thuở xa xưa, cách ngày nay khoảng từ 4000 năm đến 2500 năm, con người ta đã có mặt trên vùng đất này và phạm vi cư trú hoạt động của lớp cư dân đầu tiên bao quát ở một địa bàn rộng lớn, với những mật độ dân cư khác nhau Lúc bấy giờ vùng cư trú đông đúc nhất là vùng phù sa cổ, vùng tiếp giáp giữa cao nguyên đất đỏ và châu thổ đồng bằng sông Cửu Long Mãi đến những thế kỉ đầu công nguyên mới có những vết tích cư trú của con người ở vùng tứ giác Long Xuyên, vùng U Minh Thượng ngày nay
Từ cuối thế kỉ XVII trở đi lưu dân người Việt, người Hoa đã đến khẩn đất, gieo trồng, sinh sống cùng với cư dân tại chỗ - người Khmer ở khu vực vùng Rạch Giá, Cà Mau Còn về phía mũi Cà Mau, tuy đất thấp và đang trong quá trình bồi tụ vẫn có nhiều giồng ở ven bờ các sông Cái Lớn, Cái Bé,…vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ mặc dù là vùng ngập nước bao la nhưng bên trong cũng có những gò đất cao ráo mà người ta vẫn có thể đến ở, làm ăn sinh sống
Ở thời kì khẩn hoang thế kỉ XVII – XVIII là rừng hoang cỏ rậm, trũng thấp
Trang 6địa hình thiên nhiên còn phải lo chống lại các loại thú dữ như: cọp, cá sấu muỗi mòng, rắn rết,… cùng với nhiều căn bệnh hiểm ác Nhiều câu ca dao truyền miệng
đã nói lên nỗi lo sợ của lưu dân thời bấy giờ trước khung cảnh nhiên nhiên vô cùng hoang vu, bí hiểm
“Tới đây xứ sở lạ lùng, con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh” hay
“Chèo ghe sợ sấu cắn chưn Xuống bưng sợ đĩa lên rừng sợ ma”
Hay những câu hát như:
“Muỗi kêu như sao thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”
Như vậy, để tiến hành công việc mưu sinh trên vùng đất hoang sơ hẻo lánh như thế, lưu dân đã phải khắc phục muôn vàn khó khăn gian khổ, đổ mồ hôi sôi nước mắt trong nhiều năm tháng để chinh phục và cải tạo môi trường tự nhiên để tạo lâp nên cuộc sống mới Trong điều kiện thiên nhiên độc địa, đầy rẫy thú dữ, khó khăn người dân không thể nào sống đơn độc một mình, họ có ý thức cộng đồng, tương thân tương trọ đã nhanh chóng kết thành chòm xóm để dựa vào nhau
mà sinh sống, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau khi khó khăn Dần dần đã để lại nhiều dấu
ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cũng như hình thành tính cách của con người sống ở đây
H2: Vùng miệt thứ Kiên Giang
(Nguồn: https://images.app.goo.gl/tvhUu9pNq9UBCWwZ8)
Trang 7CHƯƠNG II: NHỮNG TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN NHIÊN ĐỐI VỚI VĂN HÓA VẬT THỂ VÙNG MIỆT THỨ NAM BỘ
Giá trị của tri thức dân gian về cách ứng xử với môi trường tự nhiên ở vùng miệt thứ thể hiện từ thích ứng hòa hợp rồi tới biến đổi Cách ứng xử này được thể hiện ở cách ăn, mặc, ở, đi lại, quan hệ cộng đồng trong quá trình sinh sống
1 Ảnh hưởng của thiên nhiên đối với vấn đề ăn uống của người miệt thứ Nam Bộ:
Người dân ở đây thích ứng và ứng xử với môi trường tự nhiên ở đây thể hiện
rõ ở bữa ăn của họ Mọi thứ cây củ hoang mà không độc sẽ được dùng làm rau ăn như: rau đắng, rau má, rau trai, bồn bồn, hẹ nước,…mà ngày nay đã trở thành những món ăn đặc sản hấp dẫn Động vật cũng rất phong phú từ trên cạn đến dưới nước đặc biệt là các loại cá Có những loại mà ở nơi khác người ta sẽ không thích
ăn hoặc không ăn thì ở đây lại được xem là những món ăn ngon như: rắn, rùa, ếch, nhái, chim, chuột, lòng cá,…Nói đến vùng miệt thứ thì có trữ lượng cá rất lớn, thời xưa khi ruộng đất còn chưa được khai phá với quy mô lớn như ngày nay và việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu chưa nhiều, cá đầy sông rạch, đầy bưng, đầy đồng
“Chuyện kể ở rừng U Minh, nơi và mùa khô cá chết để lại lớp xương dày hàng mấy tấc là điêu có thật Có những giai thoại kể rằng khách đến nhà, chủ bắc nồi lên bếp rồi móc mồi thả câu bên cạnh, khi nước sôi thì chủ đã giựt được mấy con
cá, bỏ và nồi nấu món ăn đãi khách; hoặc gặp năm trúng mùa đìa, tát nước giữa chừng phải dừng tay gàu để rạch cá ra mà múc nước.” (Thạch Phương – Hồ Lê –
Huỳnh Lứa – Nguyễn Quang Vinh, 2014: 71)
Từ cá, người dân ở đây có thể chế biến thành hàng chục, hàng trăm món khác nhau Chế biến để ăn ngay thì có nhiều món như: luộc, hấp, kho, chiên, nướng, nấu chua, nấu ngọt, om, làm gỏi, làm chả,…từ mỗi loại nguyên liệu người dân sẽ tìm ra cách thức chế biến sao cho phù hợp với hoàn cảnh khí hậu địa phương Người ta hay ăn rau để giải nhiệt có thể nấu canh, xào, luộc hay ăn sống Món canh chua là một trong những món ăn quen thuộc của người dân Ở miền Bắc hay miền Trung người ta thường ăn canh chua vào những ngày hè nóng bức còn người miền Nam thì ăn quanh năm suốt tháng Để nấu một nồi canh chua thật sự rất công phu, nguyên liệu để nấu canh chua thường thì có cá( cá lóc, cá tra, cá bông lau, cá hú, cá chạch,,,), bạc hà, giá, khóm, bắp chuối, rau om,… và thứ không thể thiếu chính là cái tạo vị chua Thường người ta dùng me chua, xoài, bần, thơm, khế, cơm mẻ… riêng trái bần hay còn gọi với một cái tên sang hơn là “thủy liễu”
Trang 8được dùng ở vùng này nhiều vì dọc các con kênh, rạch loại cây này mọc nhiều vô
kể
H3: mâm cơm dân dã vùng miệt thứ với món canh chua cá lóc
Nguồn: facebook Đặc sản miền sông nước
Ngoài để ăn ra người dân còn phát hiện ra nhiều công dụng của trái bần như một vị thuốc nam như: dùng vỏ và lá của bần chua để cầm máu, làm tan vết bầm tím; dùng quả để tiêu viêm, giải nhiệt, giảm đau; dùng rễ và thân bần điều trị nhứt mỏi; lên men quả để ngăn chặn xuất huyết, điều trị sỏi thận,…
Tiếp theo là món nướng, một kiểu món ăn có nguồn gốc từ rất xa xưa, thì về miệt thứ cũng có nhiều cách nướng mà đặc biệt là kiểu nướng trui Nướng trui nghĩa là bắt cá lên xong nướng ngay tại chỗ, thường thì cá lóc nướng trui là phổ biến nhất Người ta bắt cá lên, chuốt nhọn một thanh tre, sậy đâm xuyên thân cá từ đầu tới đuôi rồi lấy rơm rạ, cỏ khô, cành cây khô đốt lên nướng cho chín Khi cá chín thì gỡ lớp cháy đen bên ngoài ra ăn ngay thịt cá hoặc ăn với các loại rau dân
dã như rau đắng, chuối sống, bần chua, món này lớn bé đều mê, nhất là mấy chú mấy bác sau một ngày làm việc mệt mỏi, nhấm cùng vài chung rượu đế nói chuyện thiên hạ là quên hết mệt mỏi âu sầu Nhà văn Sơn Nam có nhắc đến rằng ở vùng miệt thứ ruộng xấu năng xuất kém, đất thấp nhiều muỗi mòng, nhưng được một cái
ở miệt thứ những thức ăn như kỳ đà, rắn, lươn, cua, cá lóc, tôm, đuông chà là nhiều đến mức ê hề, người sành điệu tha hồ mà chế biến, có lẽ dân miền tây nhậu giỏi cũng nhờ “mồi nhậu” chế biến từ những đặc sản này
Trang 9H4: cá lóc nướng trui (Nguồn:https://images.app.goo.gl/1jigPCZreUJByjLV9) Với nguồn thủy sản dồi dào từ hệ thống kênh rạch chằng chịt, cá tôm nhiều
ăn không hết thì người ta bảo quản bằng các hình thức như làm cá muối, cá khô,
mắm các loại “Từ xa xưa, người lưu dân đã biết tận dụng những thủy, hải sản dồi
dào và phong phú ở đây, kết hợp với kinh nghiệm cổ truyền, chế biến thành hàng chục thứ mắm có chất lượng ca Hầu như trên mâm cơm của người giàu cũng như của người nghèo đều không thể vắng mặt món mắm Có khác chăng thì món mắm của người giàu thì được pha chế cầu kì hơn.” (Thạch Phương – Hồ Lê – Huỳnh
Lứa – Nguyễn Quang Vinh, 2014: 75) Mắm được chế biến từ cá thì hàng chục hằng trăm loại như: mắm cá lóc, mắm cá linh, mắm cá chốt, mắm cá sặc,… theo đó
là các món ăn thơm ngon hấp dẫn: mắm chưng, mắm sống, mắm kho, lẩu mắm,…
có đủ hương vị mặn nồng chua cay ăn cùng với rau sống là hết sẩy Ngoài mắm cá
ra còn có các loại mắm khác như : mắm tôm, mắm tép, mắm còng, ba khía,… Ở vùng U Minh ngập mặn có rất nhiều còng và ba khía, người ta bắt về ủ làm mắm, lúc ăn lấy ra trộn với gia vị như: chanh, tắc, ớt,… rồi ăn cùng với rau sống, đặc biệt
ăn cùng bồn bồn rất ngon
Trang 10
H5: Món mắm kho
(Nguồn:https://images.app.goo.gl/sJmogwoi5DJ1oFwo7) Trên cạn, trên rừng, các loài chim, thú, bò sát cũng là những loại thức ăn yêu thích của người miệt thứ Con gà nước hay còn gọi là cúm núm, thuộc họ chim sống trong các bụi tràm được người ta chế biến thành những món ăn vô cùng hấp dẫn như nướng, khìa nước dừa hay xào với bầu để ăn cơm Rắn là loài bò sát mà
đa số người ta sợ hãi khi gặp phải Ở miệt thứ rắn sinh sống rất nhiều ở vùng này
từ trên cạn, trên cây tới dưới nước, cư dân ở đây gặp rắn không sợ nữa mà còn bắt
về làm thức ăn Có nhiều món được chế biến từ rắn như rắn nước xào sả ớt, rắn xào lá cách, cháo rắn đậu xanh, rắn nướng muối ớt, rắn hầm sả, được người dân rất ưa chuộng Ngoài ra còn có nhiều loại động vật khác được người dân săn bắt và chế biến thành các món ăn đặc sản như: rùa (rùa rang muối, rùa xé phay, rùa hấp ), bìm bịp (bìm bịp nướng, bìm bịp hầm đu đủ)…
Ngoài làm thức ăn ra một số loại động vật được đem ngâm rượu như một vị thuốc, mỗi loại rượu thuốc có một mùi vị, tính năng khác nhau, tùy theo nhu cầu , mục đích sử dụng có thể lựa chọn nguyên liệu khác nhau Các loài mà người ta thường ngâm rượu như: bìm bịp, rắn, tắc kè, rết,… có những công dụng trị bệnh, bồi bổ sức khỏe như: bổ phế, bình suyễn, trị đau lưng nhứt mỏi, tê thấp, đau nhứt xương khớp,… Nhưng không phải ai cũng có thể làm được rượu thuốc đúng cách, tùy vào kinh nghiệm mà người ta cho ra những sản phẩm tốt, chất lượng phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày
Trang 11Các nguồn thực phẩm ở vùng này cũng ảnh hưởng đến mặt khẩu vị của người dân, trên đại khái thì người Nam Bộ nói chung và người miệt thứ nói riêng thích ăn cay nồng (gừng, ớt, tiêu, sả,… có tác dụng làm giảm bớt mùi tanh của cá, lươn, ếch, rắn, ) Thích ăn vị mặn ( mắm sống, mắm kho, cá kho quẹt, cá khô,…) theo như các cụ lớn tuổi bảo rằng ngày xưa khó khăn, dự trữ đồ ăn lâu thì muối chua, làm dưa làm khô, mắm, các món ăn thì nêm cho mặn để ăn tiết kiệm, đỡ hao hơn Người ta còn thích ăn chua ( canh chua, dưa chua, ngâm giấm,…), ưa ăn chát ( bần, chuối sống, bắp chuối,…), thích ăn đắng ( khổ qua, rau đắng, mật cá lóc,…)
để giải nhiệt, mát mẻ hay chỉ là họ đã quen với cái mùi vị đậm đà của sự dân dã, khó khăn của cái thời kì đầu khai hoang vùng đất này
Những điều kiện tự nhiên vùng miệt thứ đã ảnh hưởng đến việc sử dụng chế biến những thức ăn phổ biến, tạo nên đặc sản dân gian của riêng vùng miền So với các vùng đất khác, miệt thứ là vùng được khai hoang sau cùng nên các nguồn thức
ăn đa dạng, phong phú nhưng không dễ dàng sử dụng được một cách ngon lành Người dân nơi đây biết rõ những đặc điểm, tính chất, chất lượng của từng loại, vào mùa nào phát triển, ngon nhất mà ứng phó, chế biến, nấu nướng thành những món ngon có giá trị và trở thành đặc sản có giá trị độc đáo, đặc biệt
2 Ảnh hưởng của thiên nhiên đối với vấn đề ở và đi lại của người miệt thứ Nam Bộ:
2.1 Vấn đề ở:
Xét về góc độ mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên thì việc lựa chọn
vị trí và hình thức quần cư như thế nào là một phương thức thích nghi với với môi
trường sống “Về cư trú, người Việt Nam Bộ có ba loại nhà ở chính: nhà đất cất
dọc theo ven lộ, nhà sàn cất dọc theo kinh rạch, và nhà nổi trên sông nước Nhà nổi trên sông nước là nơi cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vận chuyển đường sông, buôn bán ở các chợ nổi, bán sỉ
và bán lẻ trên sông.” (Lý Tùng Hiếu, 2016: 173)
“Muốn có nơi ở phù hợp, cư dân phải dựa vào tri thức về môi trường tự nhiên nơi
cư trú, học hỏi cái hay của nhau về cách ở để tạo dựng một ngôi nhà phù hợp với điều kiện thực tế Sự linh hoạt, biến đổi từ buổi đầu tiên khai hoang là “nhà ghe” đến nhà sàn, nhà sàn – nền đất, nhà nền đất, nhà cuốn nền, nhà tầng hiện đại ngày nay thể hiện tính thích ứng nhanh chóng của người dân vùng U Minh Thượng Không chỉ riêng kiểu thức ngôi nhà mà cả vật liệu để làm nhà cách thức bài trí trong nhà cũng phải phù hợp với điều kiện kinh tế và phù hợp với môi trường sinh thái nơi cư trú Cách chọn địa hình để cư trú phải luôn đáp ứng được yêu cầu đầu tiên là thuận tiện cho việc đi lại, lao động sản xuất, buôn bán, làm nghề, sau
Trang 12đó mới đến nhu cầu sinh hoạt cá nhân của các thành viên trong gia đình.” (Ngô
Đức Thịnh,2010 :170; 171)
Người ta đến miệt thứ sẽ nhận thấy những ngôi nhà cột gỗ - mái lá mang tính truyền thống Nam Bộ, phù hợp với điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết của vùng Do cấu trúc địa hình và để thuận tiện cho việc đi lại, làm ăn nên ở đây có các loại hình nhà ở phổ biến đó là: nhà dọc ven lộ, nhà nổi trên sông và nhà dọc theo kênh rạch Dựa vào thuộc tính của từng loại cây họ chọn ra những loại cây tròn, nhỏ như tràm, đước, vẹt, mắm phù hợp với môi trường nóng ẩm, nhiều mối mọt, ngập nước để dựng khung nhà Lá dùng để lợp mái và dựng vách là lá dừa nước, loài cây này mọc khắp nơi ở Nam Bộ, có khả năng thích nghi ở cả môi trường nước ngọt hoặc nước lợ Lá dừa nước tương đối bền trước sự thay đổi của thời tiết
và khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa ở vùng Nam Bộ, nếu chọn lọc và lợp kĩ, trung bình 5 năm thì thay lá mới Vào mùa khô nắng nóng, lá dừa nước xốp, thông khí, cách nhiệt rất rốt, ở nhà lá sẽ cảm thấy mát mẻ hơn, cái nóng sẽ dịu đi rõ rệt, vào buổi trưa không khí trong nhà luôn thông thoáng mát mẽ Về cách thức cất một căn nhà lá thì người dân chỉ dựng đơn giản, chủ yếu là để che nắng che mưa, không yêu cầu kiên cố bởi lúc đầu khẩn hoang người ta cũng chưa chắc ở định cư lâu dài Trong quyển “ Đặc trưng và sắc thái văn hóa vùng – tiểu vùng ở Việt Nam, tiến sĩ Huỳnh Công Bá có mô tả quá trình dựng một căn nhà lá cơ bản như sau:
“Cư dân đi khai hoang tự làm lấy nhà nên có kết cấu đơn giản, thô sơ, kích thước nhỏ bé, đó là loại hình “nhà nọc ngựa” theo lối nói dân gian Đây là loại nhà phổ biến của nông dân nghèo, gồm một gian, có thể kèm thêm chái ngỏ ở bên cạnh hay phía sau: mỗi vì có 3 hàng cột; một cột cái, hai cột con Bộ sườn gồm 6 cột: hai cột cái ở hai đầu hồi, dựng từ nền lên đỉnh mái, đỡ cây đòn dông Bốn cột con cungc gắn vào đòn dông Toàn bộ sườn gắn chặt vào nhau bởi những miếng nêm, mộng tự nhiên, buộc bằng giây lạt dừa Vách trước nhà dựng phên bằng lá dừa, bên trên che tấm liếp có chống, khi cần đóng sập lại thì lấy cây chống xuống.”
(Huỳnh Công Bá, 2015: 895)
Có lẽ vì vậy mà hiện nay, khi đời sống vật chất đã được cải thiện hơn, nhiều ngôi nhà mới, xây bằng gạch, đá, xi măng chắc chắn hơn mọc lên ở vùng miệt thứ nhưng người ta vẫn cất thêm một mái lá để nghỉ trưa như một kiểu nhà hóng mát
Người ta hay nói “Lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng nam”, là kinh nghiệm đúc kết
của người xưa nhưng ở vùng này thì điều đó là không nhất thiết phải tuân thủ Mặc
dù vẫn còn rất nhiều ngôi nhà xây về hướng nam hay đông nam, còn ở vùng này người xa phụ thuộc vào sự thuận tiện hay bất tiện của các hoạt động hàng ngày Ví
dụ như phía trước là mặt lộ hay sông, rạch thì cất nhà hướng ra lộ ra sông dù đó
Trang 13việc đi lại, buôn bán, mưu sinh của người dân vì ở vùng này đa số các hoạt động hàng ngày đều diễn ra trên sông nước Ngoài ra ở miệt thứ còn có loại hình nhà nổi trên sông và nhà sàn Nhà nổi hay còn gọi là nhà bè, nhà thuyền là nhà được thiết
kế đặc biệt, nó giống với các loại nhà bình thường như được làm từ gạch, nhựa, gỗ hay các loại vật liệu nhẹ hơn giúp dễ nổi trên mặt nước Dưới nền nhà là một miếng phao to hoặc xốp dày, cứng, giúp nhà nổi lên mặt nước Nhà thường được
cố định bằng dây thừng hoặc neo lại tại một chỗ, nó có thể di chuyển dễ dàng bằng cách chèo hay gắn thêm động cơ vào, phù hợp với thiên nhiên và thuận tiện cho việc đi chuyển, đi lại Nhà sàn ở đây về cấu trúc cũng gần giống với nhà sàn ở miền núi nhưng đơn giản, dễ xây dễ dựng hơn Ngoài ra còn có loại nhà sàn một nửa trên bờ một nửa dưới mé sông, phù hợp với điều kiện tự nhiên, tiết kiệm được diện tích đất nhiều hơn
H6: nhà lá truyền thống
(Nguồn:https://images.app.goo.gl/AxMFkHqyyqkf1Cwj6)
2.2 Vấn đề đi lại:
Lưu dân đến vùng miệt thứ đã chuyển đổi cách di chuyển từ đường bộ sang
di chuyển bằng đường thủy để phù hợp với địa hình sông ngòi chằng chịt Việc di chuyển bằng đường sông thì không thể nào thiếu hình ảnh những chiếc xuồng, ghe, xuồng ba lá, tắc ráng, vỏ lãi, tàu, bè, phà,… Từ những chiếc thuyền truyền thống,
họ kết hợp với kiểu thuyền của người Khmer, người Chăm tạo ra những chiếc thuyền kiểu mới phù hợp với vùng sông nước bao la phức tạp, đây là sự sáng tạo từ kinh nghiệm thực tiễn của của người dân, thể hiện được sự kinh hoạt của con
người nơi đây trong việc thích nghi với môi trường tự nhiên “Xuồng ba lá được
cải biên từ hình dạng mũi bằng, đáy nhọn hoặc bầu phù hợp với vùng nước sâu,