Việt Nam là một trong những đát nước được biết đến là nơi sở hữu kho tàng văn hóa vô cùng phong phú, đặc sắc mang đậm dấu ấn bản sắc dân tộc Việt. Điều đặc biệt đã góp phần tô điểm thêm màu sắc rực rỡ cho bức tranh văn hóa Việt Nam, đó chính là các di sản văn hóa nổi tiếng được UNESCO công nhận trên khắp thế giới. Trong đó nổi bật nhất là văn hóa Quan họ Bắc Ninh với những làn điệu độc đáo in được dấu ấn sâu đậm với những ai đã từng nghe qua, tựa như: “Người ơi người ở đừng về Người về em vẫn khóc thầm Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa Người ơi người ở đừng về Người về em vẫn trông theo, Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi Người đi người ở đừng về Người về em nhắn tái hồi Yêu em xin chờ đừng ngồi với ai” (Người ở đừng về, Xuân Tú) Quan họ như một làn điệu hội tụ “khí chất” của rất nhiều dân ca. Cái trong sáng, rộn ràng của chèo. Cái thổn thức, mặn mà của hát dặm. Cái khoan nhịp, sâu lắng của ca trù. Cái khỏe khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam Bộ. Nhưng trên hết, Quan họ mang “khí chất” của chính Quan họ, là hồn xứ sở Quan họ, là đặc sản tinh thần của Kinh Bắc – Bắc Ninh. Dân ca Quan họ quả là một tài sản vô giá của dân tốc Việt Nam, nó cần được nuôi dưỡng, gìn giữ và lưu truyền cho các thế hệ mai sau. Nhận thức được tầm ảnh hưởng và nét đẹp độc đáo đó, tôi đã chọn đề tài “Quan họ Bắc Ninh, làn điệu dân ca độc đáo và khí chất” là đề tài tiểu luận cuối kỳ môn Văn hóa dân gian của mình.
Trang 1
MÔN HỌC: VĂN HÓA DÂN GIAN
TÌM HIỂU DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA
QUAN HỌ BẮC NINH
Trang 2
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
……….………
………
………
………
………
………
………
Điểm: ………
KÝ TÊN
Trang 3MỤC LỤC
Phần TỔNG QUAN……… 3
Phần NỘI DUNG……… 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận……… 5
1.2 Cơ sở thực tiễn……… 5
1.2.1 Cái nôi của quan họ cũ………5
1.2.2 Vùng đất mới của quan họ nay………6
CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÍA CẠNH CƠ BẢN CỦA QUAN HỌ BẮC NINH 2.1 Nét duyên trang phục quan họ………8
2.2 Quan họ - một dân ca có lề luật rất chặt chẽ………10
2.3 Cấu trúc giai điệu đặc biệt của Quan họ……… 11
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA QUAN HỌ TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY- NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM 3.1 Sinh hoạt văn hóa Quan họ đã biến đổi nhiều……… 13
3.2 Tính thương mại hóa Quan họ ngày càng tăng….……….……… 14
3.3 Sự phổ biến của Quan họ đồng thời với sự giảm chất lượng văn hóa Quan họ……….16
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DÂN CA QUAN HỌ TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI 4.1 Xác định rõ chủ thể Quan họ………17
4.2 Xây dựng kế hoạch và tích cực quan tâm đến việc truyền dạy Quan họ.….18 4.3 Củng cố xây dựng đoàn Dân ca Quan họ và nâng cao chất lượng các cuộc hội thi, hội diễn theo định kỳ……… 19
Phần KẾT LUẬN………21
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 22
Trang 4Phần TỔNG QUAN
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những đát nước được biết đến là nơi sở hữu kho tàng văn hóa vô cùng phong phú, đặc sắc mang đậm dấu ấn bản sắc dân tộc Việt Điều đặc biệt đã góp phần tô điểm thêm màu sắc rực rỡ cho bức tranh văn hóa Việt Nam, đó chính là các di sản văn hóa nổi tiếng được UNESCO công nhận trên khắp thế giới Trong đó nổi bật nhất là văn hóa Quan họ Bắc Ninh với những làn điệu độc đáo in được dấu ấn sâu đậm với những ai đã từng nghe qua, tựa như:
“Người ơi người ở đừng về Người về em vẫn khóc thầm Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn trông theo, Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi Người đi người ở đừng về
Người về em nhắn tái hồi Yêu em xin chờ đừng ngồi với ai”
(Người ở đừng về, Xuân Tú) Quan họ như một làn điệu hội tụ “khí chất” của rất nhiều dân ca Cái trong sáng, rộn ràng của chèo Cái thổn thức, mặn mà của hát dặm Cái khoan nhịp, sâu lắng của ca trù Cái khỏe khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam Bộ Nhưng trên hết, Quan họ mang “khí chất” của chính Quan họ, là hồn xứ sở Quan họ, là đặc sản tinh thần của Kinh Bắc – Bắc Ninh Dân ca Quan họ quả là một tài sản vô giá của dân tốc Việt Nam, nó cần được nuôi dưỡng, gìn giữ và lưu truyền cho các thế hệ mai sau
Nhận thức được tầm ảnh hưởng và nét đẹp độc đáo đó, tôi đã chọn đề tài
“Quan họ Bắc Ninh, làn điệu dân ca độc đáo và khí chất” là đề tài tiểu luận
cuối kỳ môn Văn hóa dân gian của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 5Tìm hiểu rõ hơn về các khía cạnh giúp cho mọi người thấy được nét đặc sắc
và độc đáo của Quan họ Bắc Ninh và từ đó đưa ra các phương pháp phát huy và
bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
3 Đối tượng nghiên cứu
Di sản văn hóa quan họ Bắc Ninh
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các yêu cầu đặt ra với chủ đề, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên:
- Phương pháp tìm kiếm và chọn lọc tài liệu thông qua sách, báo để làm rõ mục tiêu nghiên cứu
- Phương pháp phân tích để nghiên cứu một cách tổng quát tìm ra được bản chất vốn có của các vấn đề cần tìm hiểu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu thông tin với các hoạt động thực tiến
- Hệ thống và sắp xếp các tài liệu theo chủ đề và đơn vị kiến thức để nội dung của bài tiểu luận dễ nhận viết và nghiên cứu
5 Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu
- Góp phần nhận diện một cách khá toàn diện về Quan họ trong bối cạnh xã hội truyền thống và hiện nay
- Góp phần khẳng định Quan họ là “báu vật” của quốc gia
- Việc chỉ ra xu thế biến đổi của quan họ trong giai đoạn hiện nay và đưa ra các giải pháp giúp các nhà quản lí văn hóa có thể tìm ra được những chinh sách hợp lý nhằm thúc đẩy việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa quan họ đạt kết quả tốt hơn trong tương lai
Trang 6Phần NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Theo giáo sư Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, trong “Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam”, có thể chia hát Quan họ thành những dạng sau:
- Hát quan họ ở hội, còn gọi là hát Hội
- Hát quan họ ở đám, còn gọi là hát Mừng
- Hát quan họ ở cửa đình, cửa đền, còn gọi là hát Thờ cát Hầu
- Hát quan họ tại nhà giữa hai nhóm quan họ trai gái mời nhau, còn gọi là hát Canh
Trong các dạng hát quan họ kể trên, hát Hội và hát Canh là hai hình thức hát quan họ nổi bật có giá trị văn hóa cao.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Cái nôi của Quan họ cũ
Cho đến nay, tuy có nhiều công trình nghiên cứu kỹ lưỡng về Quan họ, nhưng chúng ta vẫn chưa xác định được nguồn gốc của nó Có rất nhiều quan điểm nói về nguồn gốc của quan họ, chúng ta có thể điểm qua vài điểm như sau:
Ý nghĩa của từ “quan họ” thường được tách thánh hai từ rồi lý giải nghĩa đen
về mặt từ nguyên của “quan” và “họ” Điều này dẫn đến những kiến giải về Quan
họ xuất phát từ “âm nhạc cung đình”, hay gắn với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng
Trang 7bước để thưởng thức (“họ”) Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết duyên thành
vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối dử dụng từ ngữ đối nhau
về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian
Một số quan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo mang yếu tố phồn thực chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình Hoặc có quan điểm nhận đinh diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn hóa
“Quan họ” bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian cung đình rồi trở lại với dân gian
Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là “quan hệ” của một nhóm những người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc
Còn nhiều quan điểm khác, nhưng cái chung của đa số các quan điểm đó là lối hát đối đáp giữa hai họ, hai làng, hai đối tượng Về thời điểm phát sinh của quan họ cũng có khác nhau như: thời Thượng cổ, thời Lý, thời Trần, thời Lê,… Song chúng ta cũng nhận thấy rằng đa số Quan họ được hát với tính chất lễ nghi trong các dịp tế lễ ở đình làng, miếu, chùa, mừng thọ, khao lão… Dần dần, tính chất trữ tình được tăng cường đã trả nó về cuộc sống đời thường để trở thành một lối sinh hoạt rộng rãi trên nhiều địa điểm khác nhau: trong nhà, trên đồi, trên sông… Trong đó, Quan họ cũng dựa vào những dịp ngày hội cúng tế, nhưng đó chỉ
là cái dịp mà người ta tổ chức hát giao duyên chứ không phải với nội dung nghi lễ
Vì thế mà trong đời sống dân Kinh Bắc có rất nhiều lễ hội hát Quan họ như: “Hội Lim”, “Hội Ớ”, “Hội Hiếu ở Lăng Nhai – Tam Sơn”, “Hội trên thuyền ở Bùi”…
1.2.2 Vùng đất mới của quan họ nay
Không chỉ là lối hát giao duyên giữa “liền anh” và “liền chị”, Quan họ ngày nay còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa liền anh, liền chị với khán giả và được tồn tại trong cả không gian cũ và mới Quan họ mới được biểu diễn trên sân khấu,
Trang 8trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch và vươn ra ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên thế giới
H 1: Lớp quan họ mới Nguồn: http://thegioidisan.vn/vi/net-duyen-quan-ho-xua-va-nay.html
Cùng với hình thức biểu diễn phong phú hơn như hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa , Quan họ mới cải biên các bài truyền thống với lời mới được nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là Quan họ truyền thống như bài “Sông Cầu nước chảy lơ thơ” do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống “Nhất quế nhị lan”, hay như bài “Người ơi người ở đừng về” nhạc sỹ Xuân Tứ được cải biên câu Quan họ cổ “Chuông vàng gác cửa tam quan” Ngoài ra, có thể kể ra những cái tên tiêu biểu như: Nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi, các nhạc sĩ Hồng Thao, Dân Huyền, Đức Miêng…với những bài ca quan họ lời mới được đông đảo quần chúng mến mộ
Khác với Quan họ cổ chủ yếu biểu diễn vào dịp lễ hội xuân ở các làng quê, Quan họ nay có thể ca hát ở bất cứ thời gian nào, không gian nào, người ca hát Quan họ không phải chỉ là quần chúng không chuyên mà bao gồm cả đội ngũ những nghệ sỹ chuyên nghiệp Thực tế, đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh nay là Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, gìn giữ và phát triển dân ca Quan họ Đến nay, từ 44 làng quan họ gốc, tỉnh Bắc Ninh đã nhân lên thành 329 làng quan họ mới
Trang 9H 2: Biểu diễn Quan họ trên sân khấu hiện nay
Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=DoTViSuKCkQ
Song song tồn tại với Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Dân ca Quan họ tại Bắc Ninh thì tại Bắc Giang, nơi có 5 làng quan họ gốc ở huyện Việt Yên, khi được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới phi vật thể, tỉnh Bắc Giang đã xây dựng Chương trình hành động để bảo tồn và chú trọng tập trung cho việc truyền dạy dân ca Quan họ tại các làng xã Đặc biệt vào năm 2014, Trung tâm Văn hóa Quan họ truyền thống khu vực Bắc Giang đã được thành lập
CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÍA CẠNH CƠ BẢN CỦA QUAN HỌ BẮC NINH
2.1 Nét duyên trang phục Quan họ
Trong văn hoa xứ sở Kinh Bắc – Bắc Ninh, sự sang trọng, tao nhã của trang phục Quan họ không chỉ tôn vinh sự thanh lịch của liền anh, vẻ duyên dáng của liền chị, mà còn góp phần tô điểm thêm những giá trị đặc sắc của dân ca Quan họ -
Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Với liền anh, trang phục gồm một cặp áo dài, trong là gấm trắng hoặc gấm vàng in hoa văn hình chữ thọ, ngoài là áo the đen, dưới mặc quần trắng, đầu đội khăn xếp đen, chân đi giầy Gia Định, tay cầm ô Lục Soạn tạo vẻ lịch lãm Liền chị với áo dài ba lớp lồng vào nhau (gọi là áo mớ ba), lớp trong màu xanh lá mạ, lớp giữa màu đỏ hồng hay màu hoa hiên, màu cánh sen; áo ngoài là lớp the đen mỏng phủ lên màu hồng đỏ tạo thành màu nâu cánh gián Trong ba lớp áo thấp thoáng lộ
Trang 10ra cái cổ yếm đào, hai dải yếm buộc sau gáy, vắt qua vai kết hợp với khăn vấn nhung, khăn đen mỏ quạ đội đầu, chít khéo thành hình búp hoa sen Thêm một
“phụ kiện” không thể thiếu là hai cái thắt lưng thắt khéo tạo hình cánh hoa trước bụng Liền chị chân đi đôi dép cong, đeo thêm đôi xà tích, vai mang nón ba tầm,
tất cả hòa quện với nhau, tạo nên nét văn hoá y phục riêng của vùng Kinh Bắc
Chiếc khăn vấn đầu của liền chị quấn đằng trước to, đằng sau nhỏ lại, khi đội lên tạo khuôn mặt trái xoan và khi đội thêm khăn vuông mỏ quạ sẽ tạo hình khuôn mặt búp sen Với liền anh, khăn xếp có thể xếp 7 hoặc 9 theo luật âm dương, chiều cao phù hợp để khi đội, khuôn mặt liền anh trông thanh tú và sang trọng Chất liệu tạo nên nét thanh tao của trang phục Quan họ chủ yếu bằng the, lụa
tơ tằm Hà Đông, váy may bằng vải Lĩnh tía hoặc sa tanh đen, khăn vuông mỏ quạ
từ vải Láng đen hoặc Chéo go
Ngày nay, trang phục Quan họ được cải tiến hoàn thiện hơn cả về thẩm mỹ, chất liệu và kiểu dáng Chủng loại vải may phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc hơn Khổ vải rộng nên không phải chắp 4 mảnh như xưa, chỉ còn vạt trước, vạt sau cùng một vạt con bên trong, bỏ đi đường can sống lưng sau và đường can giữa thân trước để chiếc áo mềm mại và thanh thoát hơn Đặc biệt, việc cách điệu sáng tạo cái “lá lật” trước ngực bằng màu xanh lá mạ tạo cảm giác cho người nhìn vẫn tưởng như áo ba lớp Cái “lá lật” màu xanh chính là thay cho chiếc áo xanh bên trong, giữa vẫn là áo màu đỏ cánh sen, bên ngoài là lớp the đen tạo gam màu cánh gián Riêng “lá lật” màu xanh trước ngực kết hợp màu đỏ thẫm của cổ yếm tạo điểm nhấn nổi bật trong bộ trang phục của liền chị
Liền anh liền chị với bộ trang phục giàu tính thẩm mỹ đã góp phần làm nên những chương trình, tiết mục nghệ thuật truyền thống đặc sắc, mang đậm sắc thái vùng quê Kinh Bắc “Dân ca Quan họ và phục trang Quan họ gắn kết như hình với bóng bởi cái hay của giai điệu, lời ca thiết tha nghĩa tình cùng trang phục duyên dáng, nền nã hồn quê đã tạo nên nét đẹp của văn hóa Quan họ trường tồn với thời gian.” (1)
Trang 11H 3: Độc đáo trang phục quan họ Nguồn: https://mytour.vn/location/6481-doc-dao-trang-phuc-quan-ho.html
2.2 Quan họ - một dân ca có lề luật rất chặt chẽ
Không nghiên cứu quan họ, người ta dễ nghĩ quan họ là hát giao duyên Thực ra không chỉ có thế, cùng với giao duyên, tại các làng quan họ còn có hát trong tang lễ, hát cúng hồn người chết, hát cầu mưa, cầu may, cầu phúc, cầu dân an vật thịnh, hát khi cưới xin, khao lão,… như nhiều loại dân ca nghi lễ hoặc dân ca hội hè, giao duyên khác Tuy nhiên, so với các lối hát dân ca khác như xoan ghẹo Phú Thọ, ví phường vải Nghệ Tĩnh, giậm Hà Nam,…“khó có lối hát nào mà lề luật hát lại đầy đủ, tươm tất và chặt chẽ như hát quan họ” (2) Trong các loại hát trên,
có loại có điểm hát cố định thì lề lối hát, trang phục hát, các chặng hát lại không chặt chẽ (hát chèo tàu Hà Tây, hát xoan ghẹo Phú Thọ), có loại có lề lối hát khá chặt chẽ nhưng địa điểm hát lại lỏng lẻo (ví phường vải Nghệ Tĩnh), có loại lại khá
tự do không có lề luật gì rõ ràng (đúm Hải Phòng, trống quân Vĩnh Phúc) Hát quan họ với các loại trên thì có lề luật đầy đủ hơn
Hát quan họ có địa điểm hát khá là cụ thể, có thể là hát trong nhà và hát ở chùa, hát trên đồi Lim và hát trên thuyền Các điểm hát sẽ chi phối phần nào nội dung của bài ca
Hát quan họ có lề lối hát rõ ràng: đối đáp nam- nữ, đối giọng, đối lời và đối hát đôi nam - nữ Đối nam - nữ bao giờ nữ cũng được hát trước một bài, sau đó bên nam đối lại, cứ thế kéo dài đến hết canh hát (nếu là canh thi thì bên nào không đối được tức là bên ấy bị thua) Khi đối phải tuân thủ trước tiên là đối giọng, tức là bên
Trang 12nữ hát có làn điệu âm nhạc nào, thì bên nam phải đối giọng theo làn điệu âm nhạc
ấy Còn đối lời, khác với đối giọng ở chỗ, đối giọng thuộc linh vực âm nhạc, còn đối lời thuộc lĩnh vực đối thơ ca Ví dụ, nếu bên hát trước ra một lời ca nào (một bài hát hay một đoạn thơ) thì bên đối sau cũng phải sử dụng cả làn điệu âm nhạc như thế nhưng lời ca phải khác, nhưng vẫn thể hiện được việc đối có tình, có ý lại với bên vừa đối Hát đối nam nữ, đối cả giọng lẫn lời được coi là đối đáp hoàn chỉnh Hát đối Quan họ thường thể hiện ở bậc cao vì âm nhạc và lời đều đòi hỏi sự sáng tạo và nâng cao dần của người hát đối về vốn âm nhạc, thơ ca, trình độ sáng tạo và kỹ năng, nghệ thuật hát
Một cuộc hát có thể kéo dài tới mấy ngày hoặc chỉ diễn ra tầm nửa buổi hay một ngày, nhưng đã cuộc hát thì phải có ba chặng chính: Gặp gỡ - Se kết - Giã bạn Mỗi chặng chính lại có một số chặng nhỏ Ví dụ như, hát gặp gỡ có hát chào, hát mừng, hát mời Hát se kết có hát hỏi, hát đố, hát thương, hát trách, Dù người hát rất thân nhau thì mở đầu cuộc hát vẫn phải hát những câu làm quen, hai bên phải ứng xử với nhau theo cách ước lệ như mới gặp nhau lần đầu vậy
Hát lề lối ở các làng quan họ khác nhau thì cũng có những quy định khác nhau, nhưng thông thường cuộc hát nào cũng có năm làn điệu bắt buộc phải hát:
“hừ la, la rằng, bạn lan, cây gạo, tình tang”(3) Những làn điệu quan họ đó được hát trong những dịp sinh hoạt quan trọng, đồng thời cũng để chứng tỏ tài nghệ của người chơi quan họ
Tôi xin được dẫn lại nhận định của cố nhạc sĩ Hồng Thao, một người nhiều năm nghiên cứu và sưu tầm dân ca quan họ: “Âm nhạc dân ca quan họ đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật dân gian mà chúng tôi đã phân tích, đã tạo cho nó có một giá trị lớn, khiến nhiều người yêu thích” Âm nhạc vừa giữ được cái nguyên gốc, nhưng đồng thời lại thu lượm rồi quan họ hóa khá nhiều bài bản của các vùng miền khác Tất cả những điều nói trên có lẽ đều là do điều kiện tự nhiên, môi trường và con người vùng Kinh Bắc tạo nên
2.3 Cấu trúc giai điệu đặc biệt của Quan họ