Việt Nam là đất nước với hệ thống sông ngòi chằng chịt, dọc theo đất liền cứ 23km sẽ có một cửa sông, với khoảng hơn 2360 con sông và kênh rạch lớn nhỏ. Nhờ phù sa của những con sông tạo ra các dãi đất phù sa màu mỡ, có thể nhắc đến là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, nổi bật là vùng sông nước Nam bộ, với mảnh đất Chín Rồng, đồng bằng sông Cửu Long mang đến cho chúng ta với dãy những con sông xanh biếc, với hàng cây xanh ngát. Ở đó, để có thể thả mình giữ màu xanh của thiên nhiên, chúng ta có thể ngồi trên những chiếc xuồng ba lá, tay cầm mái chèo, rẻ từng dòng nước, tận hưởng mây trời. Hoặc có thể ngồi trên chiếc ghe băng băng rẻ nước nước trên khắp mọi con sông. Vì thế, với phương tiện di chuyển đặc biệt của người dân đồng bằng sông Cửu Long
Trang 22
MỤC LỤC
Trang
I/ Phần TỔNG QUAN:
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Dự kiến kết quả sau nghiên cứu .4
II/ Phần NỘI DUNG: Chương 1: Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, 5
Chương 2: Nguồn gốc, xuất xứ, 9
Chương 3: Phân loại, 10
Chương 4: Cấu tạo của ghe xuồng Nam Bộ: 4.1 Vật liệu 11
4.2 Hình dáng 12
Chương 5: Ghe, xuồng trong đời sống văn hóa người Nam Bộ: 5.1 Trong di chuyển, mưu sinh 13
5.1.1 Di chuyển, đi lại trên sông ngòi 13
5.1.2 Nghề làm ghe, xuồng 14
5.1.3 Buôn bán trên sông (Chợ nổi) 16
5.2 Trong đời sống tinh thần và văn hóa truyền thống người Nam Bộ 18
5.2.1 Văn hóa sinh hoạt của cư dân sinh sống trên ghe, xuồng 18
5.2.2 Văn hóa tính ngưỡng và phong tục trên ghe, xuồng 20
5.2.3 Trong ca dao dân ca Tây Nam Bộ 21
Chương 6: Ghe, xuồng hiện nay – bảo tồn và phát triển 23
III/ Phần KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 33
Phần TỔNG QUAN
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là đất nước với hệ thống sông ngòi chằng chịt, dọc theo đất liền cứ 23km
sẽ có một cửa sông, với khoảng hơn 2360 con sông và kênh rạch lớn nhỏ Nhờ phù
sa của những con sông tạo ra các dãi đất phù sa màu mỡ, có thể nhắc đến là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, nổi bật là vùng sông nước Nam bộ, với mảnh đất Chín Rồng, đồng bằng sông Cửu Long mang đến cho chúng ta với dãy những con sông xanh biếc, với hàng cây xanh ngát Ở đó, để có thể thả mình giữ màu xanh của thiên nhiên, chúng ta có thể ngồi trên những chiếc xuồng ba lá, tay cầm mái chèo, rẻ từng dòng nước, tận hưởng mây trời Hoặc có thể ngồi trên chiếc ghe băng băng rẻ nước nước trên khắp mọi con sông Vì thế, với phương tiện di chuyển đặc biệt của người dân đồng bằng sông Cửu Long Đặc biệt, một đồng bằng phù sa màu mỡ được hình thành ở hạ nguồn sông Mê Công với hệ thống sông chính là sông Tiền và sông Hậu do được nhiều con sông ngòi che chở với nhiều sông ngòi kênh rạch nhỏ, người dân sẽ dễ dàng di chuyển trên những con nước đó bằng ghe và xuồng Từ đó, chiếc xuồng, chiếc ghe dần trở nên phổ biến, đi sâu vào tâm thức người Việt ở Nam Bộ, nó gắn bó với người dân Nam Bộ ở trong mọi khía cạnh cuộc sống Ghe - xuồng vừa mang giá trị vật chất
mà còn mang giá trị tinh thần cho người bình dân Nam Bộ, thể hiện nét đẹp Dân gian trong Văn hóa truyền thống của người Việt Đồng thời qua đó, còn thấy được nét đặc trưng của vùng Văn hóa Nam Bộ thông qua hình ảnh chiếc xuồng, chiếc ghe trên sông nước
Từ đó, để có thể tìm hiểu và biết rõ được nét truyền thống mà ghe – xuồng mang lại, ta cần phải đi sâu hơn về những giá trị mà nó mang lại trong cuộc sống của người dân Nam Bộ
Trang 44
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ghe và xuồng - 2 phương tiện di chuyển đặc trưng của người dân Tây Nam Bộ, từ đó làm nổi bật về nét văn hóa trong di chuyển của con người bình dân Việt Nam Qua đó, rút ra những giá trị văn hóa truyền thống của con người Nam
Bộ và phát huy, bảo tồn nét đẹp mộc mạc của văn hóa dân gian Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ghe, xuồng ở Nam Bộ
- Phạm vi nghiên cứu: Ghe xuồng của người bình dân Nam Bộ, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp: Internet, sách, báo,
5 Dự kiến những kế quả sau khi nghiên cứu
- Hiểu thêm những nét đẹp của văn hóa Việt Nam, nhất là văn hóa Nam Bộ
- Ngày biết trân trọng cái đẹp, cái tinh hoa trong chính sự mộc mạc truyền thống của con người Nam Bộ
- Rút ra được cách bảo tồn, quý trọng nét đẹp văn hóa trong xã hội ngày nay
Trang 5Nam, Trần Ngọc Thêm, 1996, tr27)
- Văn hóa Dân gian là gì?
Theo cách hiểu của người dân bình dân, Văn hóa Dân gian là những sản phẩm do những người bình dân không qua trường lớp sáng tạo ra Từ đó mà có những giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác bởi những con người bình dị, chân chất
- Ghe, xuồng
Ghe – xuồng là từ ngữ được sử dụng để chỉ loại thuyền đợc thiết kế nhỏ, hẹp, sử dụng sức người để di chuyển với 2 mái hoặc 1 mái chèo, đôi khi thuyền được gắn thêm động cơ để di chuyển được gọi là thuyền máy hay ca-nô
Ghe xuồng ở Nam Bộ có vị trí rất quan trọng trong việc giao thông đường thuỷ, ở một nơi với địa hình bằng phẳng nhưng lại có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Việc sử dụng ghe xuồng làm phương tiện đi lại và mưu sinh đã trở thành nét độc đáo trong đời sống của chính cư dân vùng đất này Có thể nói, cư dân miệt sông nước Nam Bộ ra đến ngõ là gần như phải đi xuồng Ngay từ thời của cha ông ta đời trước, việc đi lại bằng đường thuỷ vẫn tiện lợi và an toàn nhất với chiếc ghe xuồng làm từ những miếng ván gỗ ghép lại với nhau, được chọn lựa kỹ càng cũng như sử dụng nhựa cây để trám vào các khe hở giữ những chiếc ván ghe
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 66
1.2.1 Định vị văn hóa
Nam Bộ là một trong ba vùng lãnh thổ của Việt Nam (bao gồm Bắc Bộ, Trung Bộ
và Nam Bộ), với phần lớn địa hình là đất phù sa tương đối bằng phẳng Với ba mặt giáp biển; hệ thống kênh rạch sông ngòi lớn, chằng chịt; khí hậu nhiệt đới cận Xích đạo tạo ra nét riêng của bản chất văn hóa Nam Bộ Vậy chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn để thấy hết được nét đẹp đó qua những văn hoá con người Nam Bộ
1.2.1.1 Không gian văn hóa Nam Bộ
Về phạm vi, Nam Bộ là khu vực bao gồm 19 tỉnh thành: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long
An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, TP Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau
Về địa lý, với 3 mặt giáp biển (phía Đông, Nam và Đông Nam), đồng thời các con sông trên địa phận Nam Bộ đều có 9 cửa sông lớn nhỏ đổ ra biển, tạo ra điểm thuận lợi cho giao thông đường thủy phát triển Nam Bộ Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu đặc trưng: 2 mùa khô và mưa rõ rệt, với lượng mưa lớn khảng từ
966 – 1325ml, độ ẩm không khí từ 80 – 82% Biên độ nhiệt chênh lệch giữa ngày
và đêm thấp và ổn định quanh năm Cùng với đất đai màu mỡ nhiều phù sa, được cung cấp bởi dòng sông Mê Công tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây lúa nước, những loại cây ăn quả nhiệt đới, phát triển đưa Nam Bộ Việt Nam trở thành vựa lúa lớn nhất và là vùng trồng cây ăn quả nhiều nhất cả nước
Không chỉ vậy, nhắc đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long không thể nhắc đến mùa nước nổi vào dịp tháng 7 đến tháng 10 âm lịch (tháng 8 đến tháng 11 dương lịch), với độ phủ rộng khắp các tỉnh Tây Nam Bộ tạo ra một điều kiện sinh sống, thay đổi phương thức sản xuất phù hợp khi lượng thủy sản mà mùa nước nổi mang đến là vô cùng dồi dào và phong phú, cùng với đó, ngập lụt ở miền Tây Nam
Bộ giúp rửa chua, rửa phèn cho đất, cuốn đi những sâu bệnh gây hại cho cây lương thực Đồng thời nhờ đó, đất canh tác được bồi tụ phù sa sông lắng xuống để lại
Trang 77
Con người Nam Bộ cũng dần dần hình thành cách để ứng phó, sống chung với ngập lụt ở đây, như cách sử dụng ghe xuồng để di chuyển khi đường xá đều ngập trong nước Qua đó tạo ra những nét đặc trưng mà chỉ có Nam Bộ Việt Nam mới
có Dần dần, chiếc ghe, chiếc xuồng trở thành phương tiện di chuyển chủ yếu của người dân nơi đây không chỉ trong những ngày thường mà còn vào dịp mùa nước nổi đến Nó trở thành thứ không thể thiếu đối với con người Nam Bộ xưa, nó đi vào trong đời sống hàng ngày của con người bình dân một cách đơn giản, mộc mạc như bản thân chính nó vậy Ghe xuồng Nam Bộ đã trở thành một thứ thiết yếu giúp con người trong di chuyển, hỗ trợ trong công cuộc mưu sinh trên những con kênh, con rạch; nó không chỉ mang lại giá trị vật chất mà còn về giá trị tinh thần không thể thiếu đối với người dân nơi đây
1.2.1.2 Thời gian văn hóa Nam Bộ
Địa phận Nam Bộ Việt Nam trước kia thuộc về lãnh thổ của nước Chân Lạp
và Phù Nam Mãi đến năm 1623, chúa Nguyễn mới chính thức yêu cầu vua nước Chân lạp cho người Việt đến những nơi vắng người để khai hoang, mở rộng bờ cõi
Nhưng mãi đến năm 1845, các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có Camphuchia đã ký các văn bản pháp lý, chính thức công nhận địa phận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, con người Nam Bộ cũng dần dần tạo ra những nét đặc sắc riêng biệt của cin người nơi đây Trong lịch sử Việt Nam,
từ năm 1869, thực dân Pháp tấn công Gia Định, mở đầu cho cuộc chiếm đóng miền Nam Việt Nam Trải qua thời kỳ chiến tranh đầy gian khổ với gần 100 năm đẫm máu và nước mắt, con người ở đây đã rèn luyện cho mình cho mình một sự kiên cường, dũng cảm, quyết hi sinh vì độc lập dân tộc Không chỉ chịu ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật cũng đã vào đàn áp nước ta trong những năm 40 của thế kỷ XX, khi Chiến tranh Thế giới lần II bùng nổ Sau đó, thực dân Pháp lại một lần nữa xâm lược nước ta làn nữa, mà nơi chịu ảnh hưởng đầu tiên vẫn là Nam Bộ,
Trang 88
đánh đuổi giặc Pháp một lần nữa, người dân miền Nam vẫn chưa hết vui mừng đã bắt đầu chuẩn bị chiến đấu với âm mưu của đế quốc Mỹ muốn chiếm đóng nước ta
Vì vậy trải qua hơn 1 thế kỷ dưới ách đô hộ của thực dân, đất và nước Nam
Bộ thấm đỏ tinh thần bất khuất, nó tồn tại không chỉ ở con người mà còn những vật dụng linh thiêng của con người, của vạn vật sống tại miền đất này Từng hàng cao, lũy tre làng, bến đò, mái nhà tranh, rồi cả chiếc ghe chiếc xuồng nhỏ, những vật linh thiêng góp phần tạo dựng lên một lịch sửa uy hùng của dân tộc
Từ đó, sau khi giành được thống nhất hoàn toàn, đất và người Nam Bộ đã cùng phấn đấu đi lên, phát triển vì một tương lai mới trên nền tảng những giá trị văn hóa cốt lỗi tạo nên mảnh đất nơi này
1.2.1.3 Chủ thể văn hóa Nam Bộ
Hiện nay, Nam Bộ là nơi cư trú của người Việt, và các tộc người bản địa: Stiêng, Chrau, Mạ, hoặc di dân: Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thổ
+ Người Stiêng đa số cư trú tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Lâm Đồng, Đắk Lắk,
+ Người Chrau cư trú ở Đồng Nai, Bình Phước, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu
+ Người Mạ cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, ở Đồng Nai thuộc Đông Nam Bộ
+ Người Khmer cư trú chủ yếu ở Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Bạc Liêu,
Vĩnh Long, Kiên Giang, Tây Ninh ,
+ Người Hoa cư trú ở thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc
Trăng, Cần Thơ, Kiên Giang, Bạc Liêu
+ Người Chăm cư trú chủ yếu Nam Trung Bộ, nhưng ở An Giang, thành phố
Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Kiên Giang, Bình Dương thuộc địa bàn Nam Bộ cũng có người Chăm sinh sống
Trang 9Do vậy, có thể nói Nam Bộ cũng là một vùng đất đa tộc người Tuy nhiên, chủ thể văn hoá chính của toàn vùng vẫn là người Việt Ngoài ra còn có người Khmer và người Hoa, cũng góp phần tạo nên nét đẹp của vùng đất văn hóa tốt đẹp này
Chương 2: NGUỒN GỐC, XUẤT XỨ
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam thì chiếc xuồng đã có lâu đời - ngay từ thời Đông Sơn - mà chúng ta còn thấy được ở các hoa văn trang trí trên mặt trống đồng Nối tiếp truyền thống ấy, ở những điều kiện khác nhau, người Việt Nam đã thích ứng
và sáng tạo nên những kiểu ghe, xuồng đa dạng, phù hợp với điều kiện từng vùng Nếu như ở Bắc và Trung bộ, chiếc thuyền nan đan bằng tre là phổ biến thì ở Nam
bộ, lợi thế về gỗ và sông rộng, ít thác ghềnh, chiếc thuyền bằng gỗ được sử dụng rất nhiều Để đóng xuồng, người dân vùng đất này thường dùng gỗ sao và kiền kiền có đặc tính bền chắc, không bị mục khi ở dưới nước
Trải dài suốt quá trình lịch sử dân tộc, từ thời đi khai khẩn đất hoang miền Nam
Bộ, con người đã sử dụng thuyền ghe nhỏ để đi dọc theo các con sông, con nước; đến thời kỳ xây dựng đất đai, con người cũng sử dụng ghe xuồng để đi lại, vận chuyển; thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ xuồng ghe chở vũ khí, lương thực, thuốc men, thậm chí là cả người lính đến nơi tiền tuyến, không chỉ vậy, không ít lần trong những cuốn phim lịch sử cách mạng, người lính Việt trong những lần chạy trốn quân thù đã sử dụng ghe - xuồng để ẩn thân, để bảo vệ cả tính mạng mình và đồng đội,
Trang 1010
Chương 3: PHÂN LOẠI
Xuồng mang đến nhiều giá trị trong cuộc sống hằng ngày của người dân, ở đây chúng ta có thể đề cập đến một số loại xuồng được ứng dụng khá phổ biến trong cuộc sống hằng ngày của người bình dân Nam Bộ
Hình : Xuồng ba lá Nam Bộ Tác giả: Đăng Tấn lộc Xuồng ba lá có chiều dài trung bình 4m, rộng 1m, sức chở từ 4-6 người Xuồng
làm bằng ba tấm ván gỗ dài ghép lại, các đường nối được trét bằng nhựa chai, mũi
và lái đều nhọn Dùng sào nạng và bơi chèo để đi lại Riêng Cần Thơ có xuồng 5
lá
Xuồng tam bản giống như ghe câu, nhưng lớn hơn, có 4 bơi chèo, dùng để chuyên
chở nhẹ Có loại thon dài, lại thêm mui ống, dáng đẹp Số lượng tấm ván be không chỉ có 3 mà có thể là 5, 7, hoặc 9 tấm Các điền chủ hạng nhỏ và vừa thường sử dụng để đi lại trên sông rạch Ở Vĩnh Long, xuồng tam bản còn dùng để đi câu tôm, câu rổi hoặc dùng làm xuồng cào tôm cá
Xuồng vở gòn (giống vỏ trái gòn) kích thước nhỏ, kết cấu đơn giản (giàn đà, cong
và ván be), kiểu dáng gọn nhẹ, chủ yếu để đi lại, chuyên chở, trao đổi, buôn bán
Xuồng độc mộc (ghe lườn) do người Khmer làm bằng cách chẻ dọc thân cây thốt
nốt, khoét rỗng ruột hoặc mua xuồng độc mộc thân gỗ sao, sến ở Campuchia và Lào
Trang 1111
Xuồng câu tôm: giống kiểu kiểu ghe độc mộc của người Khmer dùng giăng câu thả
lưới ở ven sông cạn rạch nhỏ
Về ghe dùng để vận chuyển hàng hóa thường là những chiếc ghe có kích thước
lớn, sức chở nặng, đi được đường dài Một số loại ghe có thể nhắc đến như:
Ghe bầu là loại ghe lớn nhất, mũi và lái nhọn, bụng phình to, có tải trọng tương đối
lớn, chạy buồm (từ 1 đến 3 buồm), lướt sóng tốt và đi nhanh, có nhiều chèo để đi sông và đi biển dài ngày, thường dùng đi đường biển Loại ghe bầu lớn thường gọi
là ghe trường đà
Ghe cửa: nhỏ, mũi nhọn, nhảy sóng tốt, chạy buồm vững vàng; có thể ra vào các
cửa sông dễ dàng, hay chở hàng đi men theo bờ biển
Ghe lồng (hay ghe bản lồng): loại ghe lớn, đầu mũi dài, có mui che mưa nắng, lòng
ghe được ngăn thành từng khoang nhỏ để chứa các loại hàng hóa khác nhau Loại ghe này dùng vận chuyển hàng hóa đi dọc bờ biển
Ghe hàng bo là loại ghe lồng nhỏ, đi đường ngắn trong nội địa
Đồng thời cong khá nhiều loại ghe và xuồng khác nhau sử dụng cho những mục đích cụ thể cho người dân, từ đó ta có thể thấy ở Nam Bộ, người dân sử dụng các ghe xuồng trong đi lại, mưu sinh hằng ngày là nét đặc trưng riêng mà chỉ nơi sông nước này mới có
Chương 4: CẤU TẠO GHE XUỒNG NAM BỘ
4.1 Vật liệu:
Người thợ đóng ghe xuồng ở Nam Bộ ngày xưa thường sử dụng nhiều loại
gỗ khác nhau để đóng ghe xuồng như: sao (sao rừng, sao vườn), sến, dầu, vên vên, kiền kiền,… làm ván be; thủy mai (mù u) làm xà cong và lái, cây bàn lân (bằng lăng) làm mái chèo, cây hồng du (xoài) làm neo, cây sơn cảm nhảm (bùi nhùi hay cây tram ở núi) trộn chung với dầu rái để trét ghe… Đây là những loại cây ở địa phương và đã được đưa vào sử dụng để đóng ghe thuyền từ bao đời nay mà ông cha ta truyền lại
Trang 1212
Sau khi chọn được gỗ để đóng ghe xuồng, người thợ thường ngâm gỗ vào nước để gỗ có thể hòa nhập, thích nghi vào một hoàn cảnh mới, khi sau này những chiếc ghe chiếc xuồng đó sẽ được sử dụng trong môi trường nước, tránh ẩm móc hay mục giúp ghe xuồng sử dụng trong thời gian dài
4.2 Hình dáng:
Mỗi nơi đóng thuyền sẽ cho ra các kiểu thuyền khác nhau, tùy theo bàn tay người thợ chế tác, nhưng đa số sẽ có một loại hình dạng nhất định là một hình bầu cong được kết bằng hcasc tấm ván be lại với nhau, tùy thuộc vào số tấm ván làm ghe, xuồng mà ta có tên gọi khác nhau Cũng như vậy, xuồng ba lá mang đến một nét đặc trưng khá phổ biến tại Nam Bộ
Hình : Hình dáng xuồng Tác giả: Kim Phụng
Xuồng ba lá là tên gọi dựa trên cấu tạo của loại xuồng được ghép bởi ba tấm ván Gồm có hai tấm ván be và một tấm ván đáy Để xuồng được cứng chắc, người
ta dùng những chiếc “cong” tạo thành bộ khung mô phỏng bộ xương sườn của cá
Bộ cong này có nhiệm vụ cố định thân xuồng, chống đỡ sức ép của nước từ bên ngoài vào, đồng thời giữ chặt ván xuồng, giúp xuồng không bị biến dạng
Dưới các thanh cong, người thợ đóng xuồng nghĩ ra cách khoét lõm hình bán nguyệt gọi là những "lỗ lù" Chúng có nhiệm vụ thông nước giữa các khoang xuồng với nhau để giúp cho việc tát nước dễ dàng, không mất công tát nước theo từng khoang