1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

S diu chnh chinh sach di ngoi ca

114 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt nổi bật lên hơn cả là những thách thức đến từ tham vọng bá chủ toàn cầu của Trung Quốc, biểu hiện rõ nét nhất chính là sáng kiến Một vành đai – Một con đường OBOR, những thuận l

Trang 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH ẢNH

Bảng 1.2.2.1 Tăng trưởng thực của một số nước châu Á

Biểu đồ 1.1.1.1 Biểu đồ thể hiện tổng quan tình hình kinh tế quốc dân nước CHND Trung Hoa năm 2013

Biểu đồ 1.1.1.2 Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân của Trung Quốc năm 2013

Biểu đồ 1.1.1.3 Biểu đồ thể hiện tỷ trọng các nhóm ngành trong cơ cấu GDP của Trung Quốc năm 2013

Biểu đồ 1.1.1.4 Biểu đồ thể hiện tỉ trọng cơ cấu GDP của thế giới từ năm 1700 đến năm 2030

Biểu đồ 1.1.1.5 Biều đổ thể hiện tỉ lệ người sống trong điều kiện nghèo cực độ trong

xã hội từ năm 1980 đến năm 2013

Hình 1.1.2.1 Con đường tơ lụa thế kỷ XXI của Trung Quốc

Hình 1.2.2.1 Bản đồ dự án kết nối Kolkatta – Mizoram qua cảng Sittwee dài 1328 km

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AEC ASEAN Economic Community

Cộng đồng Kinh tế ASEANAEP Act East Policy

Chính sách Hành động Hướng ĐôngARF ASEAN Regional Forum

Diễn đàn Khu vực ASEANASEAN Association of South East Asian Nations

Hiệp hội Các nước Đông Nam ÁBIMSTEC Bangladesh – India – Mianmar – Sri Lanka – Thailand Economics

Kinh tế Bangladesh - Ấn Độ - Mianmar – Sri Lanka – Thái LanCECA Committee for Education and Cultural Action

Hội đồng Hành động Văn hoá và Giáo dụcCHND Cộng hoà Nhân dân

EAS East Asian Community

Cộng đồng Đông ÁFDI Foreign Direct Investment

Đầu tư nước ngoài trực tiếpGDP Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nộiIMF International Monetary Funds

Quỹ Tài chính Thế giớiLEP Look East Policy

Chính sách Hướng ĐôngMGC Mekong – Ganga Coorperation

Hợp tác Mekong – sông HằngMoU Memorandium of Understanding

Bản ghi nhớ MoC Memorandium of Convention

Bản ghi nhớ hợp tácOBOR One Belt and One Road

Trang 3

Một vành đai – Một con đườngSAARC South Asian Association for Regional Coorperation

Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam ÁSAFTA South Asian Free Trade Area

Khu vực thương mại mậu dịch tự do Nam ÁUSD United States dollar

Đô-la Mỹ

Ngân hàng Thế giới

Trang 4

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Nếu thế kỷ XIX được xem là thế kỷ của Địa Trung Hải và châu Âu, thế kỷ XX là thế kỷ của Đại Tây Dương và nước Mỹ, thì thế kỷ XXI được xem là thế kỷ của Thái Bình Dương và châu Á Một trong những nguyên nhân chính cho thấy điều đó chính là

sự trỗi dậy của hàng loạt các quốc gia, nền kinh tế hoá rồng, hoá hổ ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, và Ấn Độ Trong khi các đời Chủ tịch nước CHND Trung Hoa từ Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân đến Hồ Cẩm Đào tuyên bố về sự trỗi dậy “hoà bình”, Tập Cận Bình lại quyết định mở sang một thời kỳ mới, đặt dấu chấm hết cho giai đoạn “ẩn mình chờ thời” của Trung Quốc Đó là giai đoạn thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa” nhằm phục hưng đế chế Trung Hoa rộng lớn đầy

tự hào của Trung Quốc, thông qua sáng kiến Con đường tơ lụa trên biển (MSR), và Vành đai con đường tơ lụa trên bộ qua Nam Á và Tây Á tới châu Âu, sau đó được phát triển thành sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) hay Vành đai và Con đường (BRI) Ra đời trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Trung Quốc có phần chững lại, và ảm đạm với đầy hoài nghi về nợ xấu, bong bóng khủng hoảng cũng như bẫy thu nhập trung bình mà Trung Quốc cần phải vượt qua, sáng kiến Một vành đai – Một con đường vì thế không chỉ nhằm gia tăng sự hiện diện cũng như sức ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực lục địa Á – Âu và châu Phi, mà trên hết nó còn là lối thoát để chính quyền Bắc Kinh giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nhức nhói trong nước đến từ

sự già hoá dân số, lao động, nhu cầu tăng tính tập quyền nhà nước pháp trị, pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng như đến từ cơn khát tài nguyên, nhiên liệu và thị trường lao động đến từ Đông Nam Á nhằm đáp ứng cho nhu cầu và thị trường rộng lớn ở Trung Quốc đang ngày càng gia tăng vượt mức quy mô dân số Trải qua nhiều gia đoạn thực hiện, triển khai từ cuối năm 2013 đầu năm 2014 đến nay, với sự tham gia hỗ trợ từ hàng loạt các cơ chế, chính sách cụ thể cấp nhà nước tới địa phương, sáng kiến Một vành đai – Một con đường cuối cùng cũng đã giành được một số kết quả, thành tựu to lớn nhất định, góp phần củng cố và nâng cao vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế điển hình là sự ra đời của AIIB, ADB và Quỹ Con đường tơ lụa trên biển, những thể chế tổ chức quốc tế được xem như là đối lập hoàn toàn với những tổ chức truyền thống trong trật tự thế giới do Mỹ sáng lập như WB, Quỹ IMF, Quỹ Phục hưng nền kinh tế châu Âu (Marshall), … Và một trong những tác động lớn nhất của sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) của Trung Quốc chính là tác động tới

Trang 5

điều chỉnh chính sách đối ngoại của các nước bị ảnh hưởng như Ấn Độ từ giai đoạn cuồi 2013 đầu 2014 đến nay đối với sáng kiến Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc nói riêng

Với vị trí địa lý tự nhiên tương đối biệt lập với phía Bắc do được che chở bởi dãy Himalaya, Ấn Độ chỉ có thể vươn sức ảnh hưởng của mình ra thế giới bên ngoài qua con đường phía Đông – Nam và phía Tây Trong suốt thời kỳ chiến tranh Lạnh, dựa trên nền tảng những tư tưởng chính trị truyền thống, Nehru và các đời thủ tướng Ấn

Độ sau đó đã chọn cho Ấn Độ một “trung đạo” là lãnh đạo các nước Thế giới Thứ Ba trong phong trào Không Liên Kết Bên cạnh những thành tựu chính trị và quan hệ quốc

tế đem lại cho Ấn Độ trên trường quốc tế, phong trào này cũng gây ra không ít cản trở khiến nền kinh tế xã hội Ấn Độ lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, sâu sắc khi mất đi một chỗ dựa, đồng minh quan trọng là Liên Xô vào năm 1991 Sự cải tổ nhỏ giọt trong suốt thập niên 80 của thế kỷ XX chưa đủ để giải quyết triệt để những vấn đề nội tại nền kinh tế xã hội Ấn Độ đương thời Do đó, từ năm 1991, theo sáng kiến của thủ tướng Narasimha Rao, Ấn Độ bắt đầu đồng hành gần ¼ thế kỷ liền sau đó cùng

chính sách Hướng Đông: không chỉ là một chính sách kinh tế, chính sách đối ngoại, Hướng Đông (Look East Policy – LEP) là sự thay đổi chiến lược của chính phủ Ấn Độ

trên tất cả mọi lĩnh vực, trong đó trọng tâm là kinh tế Cùng với lực lượng lao động tay nghề cao dồi dào, hơn 20 năm cải cách kinh tế toàn diện, sâu sắc theo chính sách

Hướng Đông, sức mạnh kinh tế - công nghệ - quốc phòng – an ninh – viễn thông của

Ấn Độ đã gia tăng đáng kể trên trường quốc tế Bên cạnh đó, quan hệ Ấn Độ - ASEAN cũng bắt đầu gặt hái được nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt là trong hợp tác kinh tế - an ninh – quân sự - năng lượng Song từ khi lên nắm quyền vào tháng 5/2014 đến nay, chính quyền thủ tướng Narenda Modi đã không chỉ dừng lại ở vai trò quan sát viên trong các tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, các cuộc tấn công của chủ nghĩa khủng

bố ở Đông Nam Á, mà còn mở rộng phạm vi hướng Đông ra từ Australia đến Nhật Bản, Trung Quốc, trong đó ASEAN vẫn là hạt nhân Sự chuyển hướng chiến lược này

tạo ra chính sách Hành động Hướng Đông (Act East Policy – AEP) được xem như là

sự phát triển có tính kế thừa, cao hơn chính sách Hướng Đông của các chính quyền

tiền nhiệm Bên cạnh việc Hướng Đông, chính quyền Modi cũng không quên hướng Tây trong lĩnh vực năng lượng và kinh tế, bởi đây là khu vực có hơn 7 triệu Ấn kiều sinh sống, có trữ lượng dầu lửa khí đốt cao, cùng với Nam Á và Đông Nam Á đều là

Trang 6

khu vực chứa lợi ích chiến lược của Ấn Độ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sáng kiến Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc Sự điều chỉnh chiến lược ấy được thể hiện trên đầy đủ bốn cấp quan hệ với nhóm các nước láng giềng trực tiếp (Nam Á), nhóm các nước láng giềng mở rộng (Đông Á – Tây Á – Nam Thái Bình Dương), nhóm các cường quốc (Mỹ - Nhật – Nga – Trung) và nhóm các nước còn lại (châu Âu, châu Phi, châu Mỹ Latin) Tuy nhiên, trên tiến trình thực hiện sự điều chỉnh mang tính chiến lược đó, Ấn Độ cũng gặp phải không ít những khó khăn, thách thức bên cạnh những thuận lợi đến từ chính nội tại quốc gia và cả từ bối quốc tế Đặc biệt nổi bật lên hơn cả

là những thách thức đến từ tham vọng bá chủ toàn cầu của Trung Quốc, biểu hiện rõ nét nhất chính là sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR), những thuận lợi đến từ sự thực dụng hơn trong chính sách đối ngoại mang đậm màu sắc chủ nghĩa dân tộc dân tuý của chính quyền Washington, những thách thức đến từ chủ nghĩa ly khai, tranh chấp chủ quyền và sức ảnh hưởng ở Nam Á và Đông Á trong quan hệ Trung -

Ấn, hay cả những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như chủ nghĩa khủng bố, nạn cướp biển, … đến từ các nước Đông Nam Á Tóm lại, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ dưới thời thủ tướng Narenda Modi từ 2014 đến nay chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nhiều nhân tố như an ninh Đông Nam Á và Nam Á, quan

hệ Ấn Độ - Tây Á, nhân tố Mỹ, nhân tố Nhật Bản, … nhưng quan trọng hơn cả là nhân

tố Trung Quốc, trong đó nổi bật và nắm vai trò quyết định chính là tham vọng bá chủ toàn cầu của Trung Quốc được thể hiện qua hàng loạt hành động trong tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội khoa học mang màu sắc Trung Hoa, trong các mối quan

hệ chiến lược Trung – Ấn, Trung – Nhật và đặc biệt là trong cuộc cạnh tranh chiến lược Trung – Mỹ ở Đông Nam Á Ấn Độ đã dần tiến tới đạt được mục tiêu là một cường quốc kinh tế, cường quốc quân sự, cường quốc vũ khí hạt nhân Vì vậy, một mặt, Ấn Độ phải thể hiện rõ sự tập trung, cương quyết, phân bổ nguồn lực và hướng đến những hành động thiết thực, cấp thiết, hấp dẫn hơn nữa đối với các khu vực chứa đựng lợi ích địa chiến lược của Ấn Độ về kinh tế - thương mại – quân sự - quốc phòng – an ninh như Nam Á, Đông Á và Tây Á; mặt khác, Ấn Độ cũng cần phải thận trọng

và quyết đoán hơn trong quan hệ Trung - Ấn, Mỹ - Ấn để có thể tranh thủ được sự ủng

hộ, hỗ trợ về khoa học kĩ thuật, công nghệ quân sự, từ đó củng cố vị thế cường quốc châu Á – Thái Bình Dương của Ấn Độ mà không gây quá nhiều kích động đến hai nền kinh tế lớn nhất thế giới hiện nay và trong cả 20, 30 năm tới

Trang 7

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) là sáng kiến ngoại giao quan trọng hàng đàu của Tập Cận Bình trong việc biến khu vực Á – Âu – Phi thành khu vực kinh tế thương mại với vai trò lãnh đạo chi phối của Trung Hoa đối trọng với khu vực Đại Tây Dương do Mỹ chi phối Đó là dấu chấm hết cho giai đoạn “ẩn mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình, mở ra giai đoạn khẳng định rõ hơn vai trò lãnh đạo toàn cầu của Trung Hoa Sáng kiến Một vành đai – Một con đường cũng là chìa khóa để Trung Quốc củng cố sự phát triển ổn định nền kinh tế ở phía Tây nước này, để các nước châu

Á tham gia sáng kiến có cơ hội phát triển cơ sở hạ tầng hơn nữa, củng cố đầu tư của Trung Hoa, đồng thời giải quyết các bài toán mâu thuẫn kinh tế - chính trị nội tại quốc gia này

Ấn Độ là một quốc gia cộng hòa đại nghị ở khu vực Nam Á với số dân đông thứ hai thế giới (sau Trung Quốc), GDP danh nghĩa năm 2017 cao thứ 6 thế giới và là nền kinh tế có tổng số sản phẩm quốc nội đứng thứ 3 thế giới tính theo sức mua tương đương (PPP) Từ cuộc cải cách kinh tế toàn diện năm 1991, Ấn Độ đã trở thành một nước công nghiệp mới với mức tăng trưởng nhanh chóng, một cường quốc khu vực đang nổi lên có trình độ phát triển kinh tế vào bậc nhất ở Nam Á, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng thứ 8 về chi tiêu trên thế giới, đồng thời giúp Ấn Độ trở thành một cường quốc đầy tiềm năng.1

Tuy nhiên, trên thực tế, sáng kiến Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc đang thâu trọn cả hai lục địa Á – Âu và Phi châu, bao trùm những hải cảng, trung tâm trung chuyển, vận tải hàng hải quan trọng nhất thế giới trên tuyến đường biển huyết mạch của nền kinh tế thế giới Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến tiềm lực kinh tế - quân sự, an ninh chính trị cũng như vị thế quốc tế và sức mạnh tổng hợp quốc gia của các nước lớn trên khu vực Vành đai và con đường (BRI) của Trung Quốc trong đó có Ấn Độ

Trước tình hình đó, từ năm 2014 đến nay, các nước lớn như Ấn Độ đã có sự điều chỉnh đáng kể chính sách đối ngoại của mình phù hợp hơn với tình hình mới ở châu Á Thái Bình Dương, sao cho vừa có thể giữ vững cán cân quyền lực trước sự bành trướng ảnh hưởng của Mỹ - Trung ở châu Á vừa thể tiếp tục tăng cường hợp tác, phát

1 Ấn Độ, <url: https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BA%A4n_%C4%90%E1%BB%99 >, truy cập ngày 29/01/2019

Trang 8

triển ổn định trong khu vực có nền kinh tế hoạt động sôi nổi và quan trọng bậc nhất thế

giới Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm tác giả quyết định chọn Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ năm 2014 đến nay trước sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) của Trung Quốc làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên nhằm cung

cấp nguồn tài liệu tham khảo cơ bản về quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của

Ấn Độ đối với các khu vực khác từ năm 2014 đến nay trước sáng kiến Một vành đai – Một con đường đầy tham vọng của Trung Quốc cho các giảng viên, nghiên cứu sinh

và sinh viên các hệ đào tạo của các chuyên ngành Quan hệ quốc tế (Quốc tế học), Đông phương học, Lịch sử thế giới, Châu Á học, Chính trị học, … Tuy nhiên, do thời gian và khả năng truy cứu dữ liệu có hạn nên đề tài không tránh khỏi một vài sai sót, kính mong quý thầy cô, các anh chị sinh viên, và nghiên cứu sinh thông cảm Nhóm tác giả cũng chân thành mong muốn được nhận sự đóng góp ý kiến chân thành từ quý thầy cô và các anh chị sinh viên, nghiên cứu sinh để khắc phục sai sót còn tồn đọng

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ở phạm vi cơ sở lý luận, một số công trình tiêu biểu liên quan đến đối tượng

nghiên cứu của đề tài Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong giai đoạn

từ 2014 đến nay như: Thứ nhất, công trình Quan hệ quốc tế: Những khía cạnh lý thuyết và vấn đề, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 của tác giả Nguyễn Quốc

Hùng với hệ thống những vấn đề khác nhau của quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại, trong đó có sự phân định rạch ròi giữa các cách hiểu cùng một lý thuyết của những trường phái khác nhau, bổ trợ và hoàn thiện lẫn nhau khi nghiên cứu cùng một vấn đề như dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tân tự

do, …Ngoài ra, công trình Một số vấn đề lý luận quan hệ quốc tế dưới góc nhìn lịch sử

(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014) của tác giả Hoàng Khắc Nam cũng đã trình bày những vấn đề lý luận quan hệ quốc tế quan trọng dưới góc nhìn lịch sử như một sự trình bày tổng kết mang tính khoa học lý luận về quan hệ quốc tế thông qua hệ thống kiến thức cơ sở được trình bày theo thứ tự thời gian giúp nhóm tác giả hiểu biết sâu sắc hơn những vấn đề lý thuyết quan hệ quốc tế liên quan đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của một quốc gia dưới phương pháp lịch sử - logic của phương pháp

luận Marxist Thứ ba, phải kể đến như Quan hệ quốc tế trong kỷ nguyên châu Á – Thái Bình Dương, Nhà xuất bản Tri thức của Nguyễn Trường đã nêu ra các tuyến đường

lưu thông hàng hải huyết mạch mới của thế giới được tạo ra bởi tác động của sáng kiến

Trang 9

Một vành đai – Một con đường (OBOR), các phản úng của giới cầm quyền các nơi có Vành đai và con đường (BRI) của Trung Quốc đi qua, và các thay đổi về chính trị - kinh tế của Trung Quốc trước thềm đưa ra sáng kiến Một vành đai – Một con đường cùng với sự thay đổi các cách nhìn của phương Tây với quá trình cải cách toàn diện của Trung Quốc dưới giai đoạn cầm quyền của Tập Cận Bình Kế đến là tác phẩm

Quan hệ quốc tế thời hiện đại: những vấn đề mới đặt ra của Đỗ Thanh Bình, Văn

Ngọc Thành, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật đã cho thấy sự thay đổi đáng

kể vị thế quốc tế của Trung Quốc và một số thành tựu nhất định bên cạnh một vài hạn chế trong chính sách đối ngoại có phần “yếu đuối” của Ấn Độ để từ đó trở thành một nhân tố quan trọng cùng với Nhật Bản cân bằng ảnh hưởng các cường quốc tại ASEAN, đối trọng với Trung Quốc Đặc biệt, tác giả Văn Ngọc Thành còn nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhân tố chính ảnh hưởng đến quan hệ Trung - Ấn đầu thế kỷ XXI

Ở phạm vi cơ sở thực tiễn, nhìn chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chính sách đối ngoại của Ấn Độ, Trung Quốc cũng như về sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) còn tương đối ít, mang tính chậm cập nhật, chưa

đi sâu Từ khi sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) ra đời cuối năm 2013 đầu năm 2014 đến nay, các hội thảo nghiên cứu khoa học chuyên ngành Quan hệ quốc

tế cấp quốc gia và quốc tế, các trang điện tử của các trung tâm – viện nghiên cứu trong

và ngoài nước như Diễn đàn Kinh tế - chính trị - đối ngoại Đông Á

http://www.eastasiaforum.org/, thời báo Nam Trung Hoa https://www.scmp.com/,

website Tạp chí Chính sách đối ngoại https://foreignpolicy.com/, Viện Nghiên cứu Ấn

Độ và Tây Nam Á http://viisas.vass.gov.vn, Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ quốc tế

http://scis.hcmussh.edu.vn, Viện Nghiên cứu Trung Quốc http://vnics.org.vn hay Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á http://www.inas.gov.vn đều đã đăng tải nhiều bài viết đáng quan tâm liên quan đến sáng kiến Một vành đai - Một con đường (OBOR) cùng những tác động đến tình hình địa kinh tế - chính trị khu vực các nước láng giềng Trung Quốc như Ấn Độ của các nhà nghiên cứu Quan hệ quốc tế, Chính trị, An ninh, Kinh tế như Trần Nam Tiến (Chiến lược Chuỗi ngọc trai và mục tiêu trở thành cường quốc biển của Trung Quốc trong thế kỷ XXI, vnics.org.vn) Huỳnh Tâm Sáng (Đông Á và Việt Nam trong thế kỷ XXI: Những vấn đề chính trị - kinh tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tăng Nghị (Thách thức đối với Một vành đai -

Trang 10

Một con đường của Trung Quốc, nghiencuuquocte.org), Vũ Thành Công (Sự trỗi dậy của Đồng Nhân dân tệ và chính trị Trung Quốc, nghiencuuquocte.org), Đồng Xuân Thọ (Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tapchicongsan.org.vn),

Bộ Ngoại giao Việt Nam, Tổng lãnh sự quán Ấn Độ, Nhà xuất bản Giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cũng đã cho phát hành những bộ sách quý báu liên quan đến chiến lược, đường lối, chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Ấn Độ qua các năm từ đầu thế kỷ XXI đến nay của các tác giả như Trình Mưu - Vũ Quang Vinh (Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỉ XXI: Vấn đề - sự kiện - quan điểm, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005), Trần Nam Tiến (Ấn Độ với Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế mới, Nhà xuất bản Văn hoá Văn nghệ, TPHCM, 2016), Nguyễn Xuân Sơn (Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006), Hoàng Khắc Nam (Cục diện châu Á - Thái Bình Dương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006), Phạm Bình Minh (Cục diện thế giới đến năm 2020, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010), Nguyễn Tuấn Khanh (Sự hiện diện của các cường quốc ở biển Đông từ góc nhìn quan hệ quốc

tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2015),

Trong đó, công trình Ấn Độ với Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế mới (Trần Nam

Tiến, 2016) đã nêu bật được những đặc điểm kinh tế - chính trị của Ấn Độ hiện nay trong việc xác lập vị thế một cường quốc khu vực hay cường quốc thế giới và trong mối tương quan những kết quả đạt được từ sự trỗi dậy đó so với những kết quả gặt hái được từ sự vươn mình ra thế giới của quốc gia láng giềng Trung Hoa; qua đó, xác định những yếu tố tác động tích cực và tiêu cực đối với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2014 đến nay tới từ môi trường địa kinh tế, địa chính trị của châu Á nói riêng và thế giới nói chung

Tuy nhiên, các bài nghiên cứu về ảnh hưởng của sáng kiến Một vành đai - Một con đường từ khi ra đời đến nay đối với các nước láng giềng chưa được xem xét dưới góc nhìn sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của quốc gia chịu ảnh hưởng Bên cạnh

đó, nhiều công trình liên quan đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc, Ấn Độ trong giai đoạn từ 2001 đến nay ít đề cập đến sự điều chỉnh những chính sách đó dưới tác động của sáng kiến Một vành đai - Một con đường của Trung Quốc Do đó, nhóm tác

Trang 11

giả đã xây dựng đề tài bằng cách tham khảo, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các nội dung, đặc trưng, bản chất của sáng kiến Một vành đai - Một con đường cũng như của chính sách đối ngoại của Ấn Độ trước sáng kiến Một vành đai - Một con đường qua loạt bài nghiên cứu, báo cáo, luận văn, luận án, khóa luận của các chuyên ngành Quan

hệ quốc tế, Quốc tế học, Lịch sử thế giới, Đông Nam Á học, châu Á học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TPHCM, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Học viện Ngoại giao làm nền tảng cho việc mô tả bản chất, nội dung, ý nghĩa và tác động ảnh hưởng của sáng kiến ngoại giao kinh tế Một vành đai - Một con đường đối với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2014 đến nay

3 Nguồn tài liệu

Sách in của các nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Chính trị quốc gia, Lý luận chính trị,

Các sách in hỗ trợ thu thập tin tức, các văn bản quy phạm pháp luật chính thống liên quan đến việc công bố, triển khai và hiện thực hóa sáng kiến Một vành đai - Một con đường cũng như việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong giai đoạn

Khóa luận, luận án, luận văn chuyên ngành Lịch sử thế giới, Chính trị học, Quốc

tế học (Quan hệ quốc tế) Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Các bài báo điện tử, tạp chí điện tử giúp nhóm tác giả tiếp cận những ý kiến công khai phổ biến cũng như những góc nhìn độc đáo trong một số phạm vi nhỏ liên quan đến sáng kiến Một vành đai - Một con đường và sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ năm 2014 đến nay

4 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu và phân tích bản chất, nội dung cũng như ý nghĩa sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2014 đến nay trước những ảnh hưởng của sáng kiến

Trang 12

ngoại giao kinh tế Một vành đai - Một con đường do Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình khởi xướng.

6 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm tác giả sử dụng hai phương pháp luận cơ bản trong phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp luận Marxist và phương pháp luận Quốc tế học

Phương pháp luận Marxist bao gồm phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp duy vật biện chứng giúp đảm bảo tính logic khách quan, tính quy luật trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng được nghiên cứu hướng đến, cụ thể ở đây là sáng kiến ngoại giao kinh tế Một vành đai - Một con đường Trong

đó, phương pháp lịch sử được sử dụng để xem xét sự vật, hiện tượng được nghiên cứu hướng đến qua các giai đoạn hình thành, phát triển và tiêu vong, vận động và biến đổi, phát triển trong những điều kiện cụ thể với tính chất nhất định Phương pháp logic được áp dụng để nghiên cứu sự vật, hiện tượng được đề tài nghiên cứu theo hình thức tổng quát để vạch ra được bản chất, quy luật và khuynh hướng vận động của sự vật, hiện tượng khách quan được nhận thức, kể cả khi sự vật, hiện tượng đó phát triển đến giai đoạn phát sinh và phải thay thế bằng một sự vật, hiện tượng mới khác

Phương pháp luận Quốc tế học bao gồm phương pháp chính trị học so sánh, pháp nghiên cứu hệ thống - cấu trúc và phương pháp nghiên cứu liên ngành giúp đảm bảo tính toàn diện, tổng hợp, tính hệ thống của vấn đề được nghiên cứu dưới những góc nhin khoa học có liên hệ chặt chẽ, mật thiết, hữu cơ với nhau như Kinh tế - Chính trị -

An ninh - Quyền lực Trong đó, phương pháp nghiên cứu liên ngành đặc biệt giúp đảm bảo tính khách quan, cập nhật, thời sự khi khảo cứu kết hợp dưới nhiều góc nhìn, nhãn quan khoa học khác nhau có được từ những tri thức văn hoá, lịch sử, chính trị, quan hệ quốc tế … để có lăng kính đa chiều, rõ ràng hơn về vấn đề nghiên cứu

7 Đóng góp của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Trang 13

Thứ nhất, nhóm tác giả hi vọng sẽ đóng góp một công trình nghiên cứu xây dựng

và vận dụng tương đối đầy đủ nhũng hiểu biết về sáng kiến Một vành đai - Một con dường của Trung Quốc cũng như về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong giai đoạn từ 2014 đến nay dưới tác động của sáng kiến Một vành đai - Một con đường Qua đó, cung cấp bổ sung một cách hệ thống nhất những hiểu biết mang tính thời sự nhất trong tiếp cận, học tập và nghiên cứu các môn học chuyên ngành như Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Ấn Độ, Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Trung Quốc, Chiến lược của các cường quốc ở châu Á - Thái Bình Dương, Nhập môn Quan hệ quốc tế và quan hệ quốc tế phương Đông

Thứ hai, nhóm tác giả trình bày chi tiết và phân tich sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ trước tác động của sáng kiến Một vành đai - Một con đường, qua đó

hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích và rút ra những nhận xét riêng về các nội dung liên quan đến sáng kiến Một vành đai - Một con đường cũng như đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2014 đến nay

7.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Bên cạnh đó, nhóm tác giả hi vọng có thể đóng góp một phần công sức vào việc tìm hiểu chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong giai đoạn từ 2014 đến nay dưới tác động của sáng kiến ngoại giao kinh tế Một vành đai - Một con đường, từ đó đóng góp thêm vào nguồn tư liệu ít ỏi về ảnh hưởng của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của

Ấn Độ từ 2014 đến nay trước sáng kiến Một vành đai - Một con đường (OBOR) Từ

đó, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cơ bản cho sinh viên, nghiên cứu sinh và giảng viên các chuyên ngành Đông phương học, Quốc tế học, Châu Á học tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc hơn về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Ấn Độ và Trung Quốc

Trang 14

Đồng thời, trình bày khái lược những nội dung chính trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong hai giai đoạn từ sau khi giành độc lập từ chính quyền Anh (ngày 15/8/1947) tới khi bắt đầu triển khai chính sách đối ngoại Hướng Đông (Look East) (1991-1992) và quá trình triển khai chính sách Hướng Đông đó của Ấn Độ tới khi nhìn lại 10 năm, 15 năm thực hiện chính sách Hướng Đông trước khi bắt đầu một trang sử mới với việc nâng cấp thành chính sách Hành động Hướng Đông (Act East Policy) của chính quyền thủ tướng Modi nhiệm kỳ 2014-2019

Chương 2 Những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ trước sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) từ 2014 đến nay

Thông qua việc trình bày quá trình thay đổi nhận thức về Trung Quốc trong chính sách đối ngoại từ 2014 đến nay của Ấn Độ, nhóm tác giả đi sâu vào phân tích những nội dung cơ bản trong sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2014 đến nay đối với từng khu vực cụ thể chịu tác động do nhận thức của Ấn Độ về phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc như các nước Nam Á, Đông Nam Á, Đông Á, và cả khu vực bờ Đông châu Á Thái Bình Dương

Chương 3 Nhận xét

Từ sự phân tích có hệ thống những nội dung cơ bản trong sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2014 đến nay trong tương quan bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay, nhóm tác giả đi vào trình bày những thuận lợi, khó khăn và kết quả của những điều chỉnh chính sách đối ngoại đó, cũng như những tác động quyết định tới việc hình thành, xác lập và củng cố một cường quốc khu vực hay cường quốc thế giới

Ấn Độ, và những triển vọng thuận lợi và thách thức đặt ra cho sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong tương lai

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ TRƯỚC SÁNG KIẾN MỘT VÀNH ĐAI –

MỘT CON ĐƯỜNG 1.1 Tổng quan về sáng kiến Một vành đai - Một con đường

1.1.1 Bối cảnh ra đời sáng kiến Một vành đai - Một con đường

Thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng đều đang đứng trước ngưỡng cửa của quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá phát triển đồng hành cùng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ mọi mặt đời sống của xã hội, trên các lĩnh vực công nghệ mới, đặc biệt được chú trọng phát triển như các lĩnh vực Big Data, Alternative Intelligence, v.v Bên cạnh đó, xu thế tăng cường hợp tác phát triển kinh tế, thông qua các hiệp định thương mại tự do (FTA) ngày một nhiều cho thấy sự chuyển mình của nền kinh tế thế giới, sự xuất hiện thêm nhiều hình thức mới của chủ nghĩa bảo hộ kinh doanh và tính gia tăng gay gắt trong cạnh tranh giữa các chủ thể phi quốc gia, xuyên quốc gia như Apple – Google – Samsung – Grab – Sumatra, v.v

Tuy nhiên, thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng cũng đang đứng trước những thách thức vô cùng nan giải, đòi hỏi phải nghiên cứu trong tổng thể hệ thống lợi ích quốc gia với các lĩnh vực liên đới như vấn đề khan hiếm dần tài nguyên năng lượng, dẫn đến nhu cầu tìm kiếm các nguồn năng lượng sạch, có khả năng tái tạo mới

ở châu Phi, Trung Đông, Đông Nam Á như băng cháy, v.v; vấn đề cấm vận của Mỹ và các quốc gia phương Tây đối với Nga, Syria, Iran, Triều Tiên, đều là những quốc gia

có lợi ích hợp tác tương đối đáng kể trong khu vực láng giềng gần 20 nước của Trung Quốc; vấn đề tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, dầu mỏ, khí đốt thay thế cho nguồn cung cấp khổng lồ từ Nga và Iran do bị chính các nước phương Tây và

Mỹ cấm vận; cũng như vấn đề trỗi dậy của các cường quốc khu vực, cường quốc kinh

tế, các trung tâm kinh tế thế giới mới, các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia đến từ châu

Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Huawei, Jack Ma, Weibo, Tik Tok, v.v Chính những vấn đề đó cùng với sự suy giảm bất ổn đáng kể về tiềm lực kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 2013-2014 đã là động lực để chính quyền Bắc Kinh thêm gia tăng quyết tâm trỗi dậy, phục hồi nền kinh tế và độc chiếm biển Đông

Bên cạnh đó, về mặt xã hội, Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung đều đang phải đối mặt với một loạt những mối đe doạ từ chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực

Trang 16

đoan nói chung và người Hồi ở Tân Cương nói riêng, từ chủ nghĩa ly khai khắp nơi trên thế giới (từ bán đảo Crưm, Bachelonia, Makedonia đến những vùng lãnh thổ như Nam Sudan, Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, v.v) cùng với hàng loạt những mối đe doạ an ninh phi truyền thống khác như (hacker an ninh mạng, thách thức an ninh lương thực ở những khu vực dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa phía Tây Trung Quốc, châu Phi, phía Bắc Ấn Độ, miền Bắc Úc, v.v) Đồng thời, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Trung Quốc cũng trỗi lên sự phát triển của Chủ nghĩa Dân tộc hay

xu hướng dân tộc chủ nghĩa ngày một cao, là một điều kiện thuận lợi để chính quyền Bắc Kinh sử dụng như một công cụ phục vụ tiến trình tăng cường các biện pháp phát triển kinh tế, cải cách chính trị cũng như gia tăng sức ảnh hưởng, tư tưởng bành trướng trên biển Đông nói riêng và trên thế giới nói chung dưới màu sắc Dân tộc chủ nghĩa tương tự như các hiện tượng Make America Great Again (MAGA), Brexist, v.v Tuy nhiên, sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng gặp tương đối những thuận lợi đến từ chính trường thế giới như sự rút lui dần khỏi những tranh chấp, xung đột trên biển Đông để củng cố kinh tế - an ninh quân sự - quốc phòng của các nước lớn như Mỹ, Nhật, Úc, v.v đã vô tình tạo ra một khoảng trống quyền lực ở Đông Nam Á và Nam Á, hay sự hình thành ngày càng rõ nét một cục diện thế giới mới “nhất siêu đa cường” (Mỹ - Trung – Nga – Nhật - Ấn – EU) cho Trung Quốc mở rộng các hoạt động bành trướng, đáp ứng nhu cầu tài nguyên – lao động – lương thực khổng lồ cho hơn 1,3 tỷ dân Trung Quốc đại lục

Cục diện thế giới mới “nhất siêu đa cường” (nhất siêu cường quốc Mỹ và hàng loạt cường quốc thế giới như Trung – Nga – Nhật – Ấn – EU) ngày càng hình thành rõ nét, xu hướng sử dụng quyền lực mềm hay sức mạnh mềm, tiếp cận đa phương hóa –

đa dạng hóa trong quan hệ đối tác chiến lược giữa các nước lớn ngày càng định hình Trung Quốc như một đối thủ mới nổi, vượt qua Nga và Nhật Bản để trở lại vị thế cường quốc khu vực cũng như cường quốc thế giới mới đối trọng với Mỹ Ngoài ra, kéo theo sự xuất hiện cục diện thế giới mới đó là sự hình thành những mối quan hệ tay

ba, các trục xoay mới trong quan hệ quốc tế trên thế giới như trục Nga – Trung – Ấn,

Ấn – Úc – Nhật, Mỹ – Úc – Nhật đã trở thành một cơ sở chín muồi tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc sử dụng Chủ nghĩa Dân tộc Dân túy vào công cuộc phục hưng Trung Hoa, từ đó tạo lớp vỏ bọc hoàn hảo cho tư tưởng bành trướng Đại Hán của

Trang 17

Trung Quốc, tiến đến thực hiện Chủ nghĩa xã hội khoa học mang đậm bản sắc văn hóa Trung Quốc.

Sau hơn 40 năm cải cách và mở cửa, Trung Quốc đã thành công phát triển kinh

tế, nâng cao sức mạnh tổng hợp, trở thành một cường quốc mới nổi hàng đầu thế giới

về sức mạnh kinh tế Trong 30 năm đầu cải cách và phát triển (1980 - 2010), một

trong những thành tựu to lớn được công bố là GDP tăng trưởng bình quân hằng năm của Trung Quốc đạt 9,8%/năm Nhật Bản và “4 con rồng châu Á” (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Xin-ga-po) sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng đã có chu kỳ tăng trưởng kinh tế cao kéo dài nhưng không đạt tới thời gian dài 30 năm như Trung Quốc.Dựa trên đà tăng trưởng nổi bật nói trên, cùng với những chủ trương trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần thứ XII (2011-2015), nền kinh tế Trung Quốc trong năm tài khoán 2013-2014 đã có nhiều chuyển biến quan trọng tạo cơ sở cho sự ra đời của sáng kiến “Một vành đai-Một con đường”

Năm 2013 là một năm u ám với nền kinh tế Trung Quốc Trong đó, hai quý đầu tiên của năm 2013 chứng kiến sự sụt giảm liên tục tiếp nối đà suy giảm từ cuối năm

2012 Theo số liệu của Cơ quan Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS), Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới chỉ tăng 7,7%, mức tăng chậm nhất trong 14 năm qua Trong khi đó, theo kiểm toán cuối tháng 12/2013, nợ công của nước này tăng đến 67% trong vòng hai năm, do chính quyền các nơi thoải mái vay nợ cho các dự án đầu tư không hiệu quả Tỷ lệ nợ trên GDP Trung Quốc đã lên cao khi tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt tăng trưởng kinh tế Cũng theo cơ quan

thống kê quốc gia Trung Quốc, trong 9 tháng đầu năm 2013 “Tổng khối lượng tài sản của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cấp trung ương, doanh nghiệp nhà nước tại địa phương lần lượt đạt 87.925,5 tỷ Nhân Dân Tệ, 47.049,2 tỷ Nhân Dân

Tệ, 40.876,3 tỷ Nhân Dân Tệ tăng lần lượt 13,2%, 10,8%, 16,1% so với cùng kì năm trước; trong khi đó, nợ tích lũy của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cấp trung ương, doanh nghiệp nhà nước tại địa phương lần lượt đạt 57.425,9 tỷ Nhân Dân Tệ, 30.867,2 tỷ Nhân Dân Tệ, 26.558,6 tỷ Nhân Dân Tệ tăng lần lượt 13,8% 11,2%, 17,1% so với cùng kì năm trước; còn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cấp trung ương, doanh nghiệp nhà nước tại địa phương

Trang 18

lần lượt chỉ là 30.526,6 tỷ Nhân Dân Tệ, 16.181,9 tỷ Nhân Dân Tệ 14337,5 tỷ Nhân Dân Tệ tăng 12%, 10,1% 14,3% so với cùng kì năm trước” 2

Biểu đồ 1.1.1.1 Biểu đồ thể hiện tổng quan tình hình kinh tế quốc dân nước CHND Trung Hoa năm 2013 (Nguồn: Cổng thông tin điện tử Quốc vụ viện Trung

Quốc: http://www.gov.cn/gzdt/2013-10/21/content_2511005.htm)

Việc tỉ lệ tăng nợ tích luỹ tăng nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng tổng khối lượng tài sản và tốc độ tăng vốn sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước tại địa phương khiến nhà đầu tư thêm lo ngại về tình trạng nợ xấu Theo số liệu chính thức, 5 ngân hàng lớn nhất Trung Quốc đã nợ thêm 22,4 tỷ Nhân Dân Tệ, nâng tổng số nợ xấu của ngân hàng Trung Quốc lên đạt 305 tỷ Nhân Dân Tệ Ngân hàng Goldman Sachs ước tính trong 4 năm 2010-2013 Trung Quốc đã phát sinh thêm khoảng 3.000 tỷ USD nợ xấu Chính phủ trung ương đã cố gắng hạn chế nợ công, chặn nạn đầu cơ và vay nợ bừa bãi cũng như tín dụng đen Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc cũng đã hạn chế bơm tiền vào hệ thống tài chính, duy trì áp lực lên các hoạt động kinh tế Tỉ lệ đầu tư của các ngân hàng Trung Quốc trong năm 2013

đã chiếm đến 54,4% GDP của Trung Quốc, trong khi tỉ lệ chi tiêu ngày càng sụt giảm

3Mặc dù đã có dấu hiệu phục hồi từ cuối 2013, nhưng tình hình sản xuất công nghiệp của Trung Quốc vẫn còn trong giai đoạn suy giảm kể từ 2010 đến nay Tăng trưởng sản xuất công nghiệp cả năm 2013 đạt 9,7%, giảm 1 điểm phần trăm so với mức tăng của 2012 Sản xuất công nghiệp suy giảm, một số ngành xuất hiện sản lượng dư thừa

do sản xuất vượt lượng tiềm năng Thị trường vốn của Trung Quốc tập trung vào kiểm

2 Cổng thông tin điện tử Quốc vụ viện Trung Quốc: http://www.gov.cn/gzdt/2013-10/21/content_2511005.htm

3 nh%E1%BA%A5t-trong-13-nam-qua.html

Trang 19

http://www.vietinfo.eu/tin-tuc/tang-truong-kinh-te-trung-quoc-nam-2013-th%E1%BA%A5p-soát rủi ro, tỷ giá tiếp tục xu hướng tăng nhưng biên độ tăng không cao bằng nửa 2012 Thị trường bất động sản bắt đầu phục hồi, đầu tư tăng trở lại Đó là những dấu hiệu tích cực, báo hiệu bức tranh tươi sáng mới với nền kinh tế Trung Quốc.

Theo “Công báo thống kê tình hình phát triển kinh tế và xã hội quốc dân Trung Quốc năm 2013”, GDP cả năm đạt 56.884,5 tỷ Nhân Dân Tệ, tăng 7,7% so với năm

2012 Trong đó, tỉ trọng trong cơ cấu GDP, giá trị và tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành nghề khu vực III (dịch vụ) (46%, 26.220,4 tỷ Nhân Dân Tệ, 8,3%) cao hơn tỉ trọng trong cơ cấu GDP, giá trị và tốc độ tăng trưởng của hai nhóm ngành còn lại là nhóm ngành nghề khu vực II (công nghiệp và xây dựng) (44%, 24.968,4 tỷ Nhân Dân

Tệ, 7,8%) và nhóm ngành khu vực I (nông-lâm-ngư nghiệp) (10%, 5.695,7 tỷ Nhân Dân Tệ, tăng 4,0%) Dự trữ ngoại tệ quốc gia của Trung Quốc tính đến cuối năm 2013 đạt 3.843 tỷ USD, tăng 21,7 tỷ USD so với cuối năm 2012 Tỉ giá hối đoái đồng Nhân Dân Tệ bình quân cả năm 2013 là 5,6877 Nhân Dân Tệ/1 USD.4

Biểu đồ 1.1.1.2 Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân của Trung Quốc năm 2013 (Nguồn: Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (26/2/2015), “Công báo thống kê tình hình phát triển kinh tế - xã hội quốc dân nước CHDCND Trung Hoa”,

Cục Thống kê Quốc gia CHDCND Trung Hoa, Bắc Kinh, <url:

http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:XQh11uKbzeYJ:www.stats.gov.cn/tjsj/zxfb/201502/t20150226_685799.html+&cd=1&hl=vi&ct=clnk&gl=vn>)

4 Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (26/2/2015), “Công báo thống kê tình hình phát triển kinh tế - xã hội quốc dân nước CHDCND Trung Hoa”, Cục Thống kê Quốc gia CHDCND Trung Hoa, Bắc Kinh, <url: http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:XQh11uKbzeYJ:www.stats.gov.cn/tjsj/zxfb/201502/t20 150226_685799.html+&cd=1&hl=vi&ct=clnk&gl=vn>, truy cập ngày 31/03/2019

Trang 20

Biểu đồ 1.1.1.3 Biểu đồ thể hiện tỷ trọng các nhóm ngành trong cơ cấu GDP của Trung Quốc năm 2013 (Nguồn: Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (26/2/2015),

“Công báo thống kê tình hình phát triển kinh tế - xã hội quốc dân nước CHDCND Trung Hoa”, Cục Thống kê Quốc gia CHDCND Trung Hoa, Bắc Kinh, <url:

http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:XQh11uKbzeYJ:www.stats.gov.cn/tjsj/zxfb/201502/t20150226_685799.html+&cd=1&hl=vi&ct=clnk&gl=vn>) Với cơ cấu kinh tế trong nước như vậy, Trung Quốc bấy giờ đang trong giai đoạn tăng trưởng chững lại, các chỉ số cốt lõi của nền kinh tế có xu hướng suy giảm, nền kinh tế Trung Quốc vẫn chưa thể vượt qua được giới hạn của một nền kinh tế “đang phát triển”, vì trong khi tổng khối lượng kinh tế đứng thứ 2 thế giới, chất lượng của nền kinh tế còn thấp GDP bình quân đầu người vẫn không thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình đầu người cao (năm 2014 mới đạt khoảng 7.400 USD/năm đứng ở vị trí 77 trên thế giới), nên những vấn đề và khó khăn trong tầng sâu của nền kinh tế vẫn chưa thể giải quyết được, nhất là kết cấu kinh tế chưa hợp lý, tăng trưởng kinh tế chưa hài hòa với phát triển bền vững xã hội Để giải quyết được những vấn đề trên, Trung Quốc đang tìm kiếm cho mình những giải pháp, con đường mới để vực dậy nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới của mình, thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, một mục tiêu quan trọng của “Một vành đai-Một con đường”

Trang 21

Biểu đồ 1.1.1.4 Biểu đồ thể hiện tỉ trọng cơ cấu GDP của thế giới từ năm 1700

đến năm 2030 (đơn vị tính: %)(Nguồn: weforum.org/agenda/2016/06/8-facts-about-chinas-economy/)

Biểu đồ 1.1.1.5 Biều đổ thể hiện tỉ lệ người sống trong điều kiện nghèo cực độ

trong xã hội từ năm 1980 đến năm 2013 (Nguồn: weforum.org/agenda/2016/06/8-facts-about-chinas-economy/) Trong khi bối cảnh kinh tế có nhiều diễn biến bất lợi, Hội nghị lần thứ ba Đại hội Đại biểu toàn quốc khóa XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra từ ngày 09 đến ngày 12-11-2013, tại Thủ đô Bắc Kinh, với chủ đề: “Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định một số vấn đề trọng đại về cải cách sâu sắc và toàn diện” nhằm mục đích phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (sau đây gọi tắt là Hội nghị Trung ương 3) diễn ra sau một năm từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVIII Đồng thời, cũng là một năm sau khi thế hệ lãnh đạo thứ 5 lên lãnh đạo đất nước mà đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình Sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc (2012), Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII ĐCS Trung Quốc (tháng 11 năm 2013) đã nêu một số nội dung nhằm thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc Đây được coi là những cải cách doanh nghiệp nhà nước trong

Trang 22

bối cảnh Trung Quốc đang siết chặt kỷ luật Đảng, chống tham nhũng quyết liệt, nâng cao vai trò cầm quyền của Đảng, chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, giải quyết sản xuất dư thừa trong nước và thực hiện chiến lược “Một vành đai-Một con đường”.Các nước cận Đông vì không sẵn sàng cải cách thể chế chính trị và từ chối thừa nhận sức mạnh của kinh tế nên đã xoay trục sang Đông Á với sự gia tăng chóng mặt các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, Nga và Brazil (năm 2006 đã hợp thành nhóm được gọi là BRICS như một hàm ý các quốc gia nằm tách biệt hoàn toàn với sự kiểm soát của đồng dollar, đồng Euro của phương Tây và các diễn đàn như G7 phải được cải tổ, phát triển thành G20 với cấp độ từ diễn đàn của các bộ trưởng tài chính thành diễn đàn của người đứng đầu chính phủ Còn IMF, WB cũng cần phải cải cách mạnh mẽ với sự tăng cường tham dự của các nước đang phát triển như BRICS, qua đó, đưa Trung Quốc lên nhóm nền kinh tế hạng 3 ngang hàng với Nhật Bản, Cộng hoà Liên bang Đức Dưới sự chỉ đạo của Tập Cận Bình, Trung Quốc có khuynh hướng phát triển kinh tế ít lệ thuộc hơn vào xuất khẩu và đầu tư vào công nghiệp nặng – một lãnh vực đang quá tải nghiêm trọng, và chú trọng đến tiêu dùng nội địa Chính sách tái cân bằng này nhắm vào lợi ích dài hạn, nhưng trước mắt

có thể làm tăng trưởng chậm lại Chính phủ Trung Quốc đã chủ động hạ chỉ tiêu tăng trưởng GDP, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ XII (2011 - 2015) quy định chỉ tiêu tăng trưởng bình quân hằng năm là 7% do phải tính đến yêu cầu của cải cách thể chế, nhưng để đạt được chỉ tiêu đó cũng không hề dễ dàng Điều này làm dấy lên các quan ngại về việc Trung Quốc cần thực thi các cải cách sâu sắc hơn nữa Theo Hội nghị Trung ương 3, nền kinh tế Trung Quốc sẽ tập trung cải cách thị trường hàng hóa, cải cách doanh nghiệp nhà nước và chống độc quyền tự nhiên, cải cách hệ thống tài chính – ngân hàng, cải cách thuế, cải cách thể chế kinh tế nông thôn…

Bước sang năm 2014, Trung Quốc đã kết thúc thời kỳ “im lặng chờ thời”, “trỗi dậy hòa bình” do Đặng Tiểu Bình đề ra từ thập kỷ 1980, và hiện nay đã chuyển sang giai đoạn mới thực hiện ngoại giao nước lớn, chủ động đề xuất sáng kiến mới, nhằm

mở rộng tầm ảnh hưởng của mình ở khu vực và trên thế giới Do hiện nay, Trung Quốc có nhiều mâu thuẫn, xung đột nội tại đất nước như mâu thuẫn trong cách thực hiện công cuộc chống tham nhũng “đả hổ, diệt ruồi”, mâu thuẫn về hệ lụy phát triển đất nước, chênh lệch giữa nông thôn – thành thị, vùng ven biển – vùng nội địa, đặc biệt vùng phía Đông và Tây Nam, giữa công nghiệp với nông nghiệp, các vấn đề ly

Trang 23

khai ở Tây Tạng, Tân Cương, vấn đề về việc làm, ô nhiễm môi trường, già hóa dân số, phân tầng xã hội, phân hóa giàu - nghèo, văn hóa xã hội, người nhập cư và người yếu thế trong xã hội v.v… Những thuận lợi và thách thức khó khăn kể trên đã thúc đẩy Trung Quốc phải chuyển đổi chính sách đối ngoại mới nhằm thúc đẩy hoàn thành nhanh chóng sự nghiệp cải cách mở cửa đất nước, thực hiện chấn hưng Trung Hoa, hoàn thành "giấc mộng Trung Hoa" do Tập Cận Bình khởi xướng.

Từ Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII thông qua Nghị quyết về cải cách toàn diện và sâu rộng, thực hiện

“giấc mộng Trung Quốc”, “Phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại” Tổng Bí thư Tập Cận Bình với tư cách là “hạt nhân lãnh đạo” đã kế thừa, phát huy và hoàn thiện cương lĩnh, đường lối phát triển của Trung Quốc, hình thành nên “Bố cục tổng thể”: phát triển “5 trong 1” (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường) và bố cục chiến lược “Bốn toàn diện”( Xây dựng xã hội khá giả toàn diện, Cải cách sâu sắc toàn diện, Quản lý đất nước bằng pháp luật toàn diện, Quản lý Đảng nghiêm khắc toàn diện) Kinh tế bước vào giai đoạn “trạng thái bình thường mới”, “Made in China 2025” tìm kiếm chuyển đổi phương thức tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và động lực phát triển mới Sáng kiến “Vành đai và Con đường” được xem là giải pháp chiến lược, vừa thúc đẩy cải cách trong nước, vừa phát huy vai trò ngoại giao nước lớn của Trung Quốc trong giai đoạn mới “Phục hung dân tộc Trung Hoa vĩ đại”

Như vậy, sáng kiến “Một vành đai-Một con đường” được xem là chiến lược “Tây tiến” của Trung Quốc, với hai “dải lụa” nối thông châu Á với châu Âu, cả trên bộ lẫn trên biển, bằng các mối liên kết toàn diện, đa chiều và dài hạn Mục tiêu chiến lược lâu dài của “Một vành đai-Một con đường” là kết nối Trung Quốc với toàn bộ các châu lục, các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia dọc tuyến đường, trên tất cả các phương diện: xây dựng hạ tầng, đầu tư thương mại, văn hóa du lịch, an ninh chính trị, quân sự, ngoại giao v.v… “Một vành đai-Một con đường” men theo các tuyến đường quốc tế lớn, lấy các thành phố trung tâm ven biển làm trụ cột, dùng các khu công nghiệp kinh

tế thương mại trọng điểm làm kênh hợp tác, tạo dựng những hành lang hợp tác kinh tế lớn quan trọng như: Trung Quốc – Pakistan; Trung Quốc – Bangladesh –Myanmar -

Ấn Độ; Trung Quốc – Trung Á – Tây Á và Trung Quốc – bán đảo Đông Dương Trong ý tưởng của mình, Trung Quốc coi “Một vành đai-Một con đường” là hai “cây cầu” lớn, “kết nối” Á - Âu, với một đầu là vành đai kinh tế Đông Á đầy năng động,

Trang 24

một đầu là vành đai kinh tế châu Âu phát triển, giữa nó là các nước có tiềm năng kinh

tế lớn Các mục tiêu cụ thể của “Một vành đai-Một con đường” là:

Thứ nhất, thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, xây dựng Trung Quốc là trung tâm địa chính trị - kinh tế toàn cầu, độc chiếm biển Đông, thực hiện đường lưỡi bò

Thứ hai, chống lại “chiến lược xoay trục” của Mỹ, đối trọng với TPP và TTIP của Mỹ, do Mỹ chi phối, giành lấy vị trí lãnh đạo số 1 thế giới từ tay Mỹ

Thứ ba, khuếch trương thanh thế, mở rộng lợi ích, phá thế cô lập, gia tăng ảnh hưởng ra khu vực, thế giới

Thứ tư, để phục vụ nhu cầu tăng cường tìm kiếm khai thác các thị trường mới cho hàng hóa “made in China”, giải quyết vấn đề năng lực sản xuất dư thừa của Trung Quốc, mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên nhiên liệu từ nước ngoài nằm trên “Vành đai và con đường”, thúc đẩy kinh tế, ngăn đà thiểu phát, khai thác chiều sâu chiến lược khai phá miền Tây, phát triển cân bằng vùng - miền và tăng cường an ninh quốc gia, tăng khả năng chi phối việc hình thành các hiệp định thương mại tự do

và các thiết chế tài chính mới trong thương mại khu vực và toàn cầu do Trung Quốc chi phối Trung Quốc trực tiếp cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ, giành quyền chủ đạo thương mại toàn cầu trong thế kỷ XXI

Thứ năm, nhằm làm sống lại “Giấc mơ Trung Hoa”, khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, gắn kết dân tộc Trung Quốc trong bối cảnh quốc gia này đang đối mặt với những thách thức lớn, cả ở trong và ngoài nước

Thứ sáu, để thúc đẩy phát triển ở các tỉnh nghèo khó trên biên giới bộ nhằm tạo

cơ hội phát triển thịnh vượng; đồng thời, kích thích tăng trưởng kinh tế đối với các tỉnh nằm sâu trong nội địa và ở phía Tây vốn đã tụt hậu trong những thập kỷ mở cửa vừa qua

Cuối cùng, để chứng tỏ sự cương quyết dứt bỏ chiến lược “giấu mình, chờ thời”, góp phần kết nối kinh tế, vì sự thịnh vượng chung của mỗi nước và xoa dịu cộng đồng quốc tế

Nếu đạt được những mục tiêu trên, “Một vành đai-Một con đường” có thể giúp Trung Quốc gia tăng quan hệ với nhiều quốc gia khác nhau, kể cả những quốc gia có trình độ phát triển thấp, mở rộng và đi sâu phát triển ngoại giao láng giềng, thúc đẩy quan hệ nhiều mặt với các nước Đông Nam Á, từ đó mở rộng hệ thống các quốc gia thân tín Điều này sẽ giúp Trung Quốc giảm tải được phần nào sức ép cạnh tranh từ

Trang 25

phía Mỹ và đồng minh trong khu vực, con đường vươn lên vị thế dẫn dắt toàn cầu của Trung Quốc cũng sẽ rộng mở hơn Trung Quốc cũng muốn “tạo dấu ấn riêng” bằng cách từ một “kẻ đi theo” trở thành “người dẫn dắt” luật chơi quốc tế, thông qua triển khai thực hiện chiến lược này để đưa ra và áp dụng những quy tắc đầu tư, thương mại mới đối với các nước xung quanh vừa phù hợp với lợi ích bản thân, vừa khẳng định mình với vai trò là một nước lớn “có trách nhiệm” trong khu vực.

1.1.2 Tiến trình thực hiện triển khai sáng kiến Một vành đai - Một con đường

Sáng kiến “Một vàng đai- Một con đường” là một siêu dự án đầy tham vọng của siêu cường khu vực châu Á- Trung Quốc Để hiện thức hóa dự án này hay nói cách khác là hiện thực hóa tham vọng từ một siêu cường thế giới, đối trọng với Mỹ, Trung Quốc đã vạch ra và thực hiện những dự án thành phần, những bước đi nhỏ tạo thành bước tiến lớn của họ Theo tuyên bố của Bắc Kinh, “Vành đai và Con đường” sẽ đi qua ba châu lục: Á - Âu - Phi, để kết nối các vòng tròn kinh tế sôi động, nhất là với các nền kinh tế phát triển ở châu Âu

“Vành đai” sẽ tập trung kết nối theo các hướng: Trung Quốc với Trung Á, vùng Ban-tích; Trung Quốc với Vịnh Ba Tư và Địa Trung Hải; Trung Quốc với Đông Nam

Á, Nam Á và Ấn Độ Dương

“Con đường” sẽ thực hiện kết nối đường biển của Trung Quốc theo hai hướng: một là, sang châu Âu qua Biển Đông và Ấn Độ Dương; hai là, qua Biển Đông tới Nam Thái Bình Dương

Sáng kiến này sẽ tập trung xây dựng các kết nối đường bộ Á - Âu mới và phát triển các hành lang kinh tế Trung Quốc - Mông Cổ - Nga; Trung Quốc - Trung Á - Tây Á; Trung Quốc - Đông Dương, các cảng biển, cơ sở hậu cần tại các nước dọc theo Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương

Trang 26

Hình 1.1.2.1 Con đường tơ lụa thế kỷ XXI của Trung Quốc (Nguồn: Reuters)

Để hiện thực hóa dự án “Một hành lang,một con đường”, Trung Quốc đã tạo ra các thiết chế, tổ chức đa quốc gia, lôi kéo các nước tham gia nhưng Trung Quốc vẫn nắm quyền kiểm soát lớn nhất trong các tổ chức ấy Việc thực hiện cơ chế hợp tác đa phương mà cụ thể là các tổ chức quốc tế do Trung Quốc nắm vai trò chủ chốt là để tạo

ra sự đối trọng với Mỹ

Mục tiêu cốt lõi của chiến lược “Một vành đai-Một con đường” chính là tạo dựng đầy đủ thế và lực cho Trung Quốc, nhằm cạnh tranh chiến lược “trở lại châu Á – Thái Bình Dương” của Mỹ, từng bước hiện thực hóa ý đồ “dẫn dắt” khu vực, lập lại trật tự thế giới Trung Quốc không ngừng nhấn mạnh nguyên tắc hợp tác “mở”, “hài hòa bao dung” của chiến lược “Một vành đai-Một con đường” Cũng có nghĩa, đây không phải

là khung hợp tác loại trừ, mà là hợp tác xuyên khu vực, không phân biệt các quốc gia

có thể chế chính trị và mô hình, trình độ phát triển khác nhau, không rào cản về đặc thù văn hóa dân tộc, “cầu đồng tồn dị”, bao dung độ lượng, chung sống hòa bình Tháng 8-2014 trong chuyến thăm Mông Cổ, Tập Cận Bình bày tỏ “hoan nghênh” các nước cùng đi chuyến tàu phát triển của Trung Quốc, dù cho đó là tàu nhanh hay tàu chậm, với “mong muốn” mang đến nhiều cơ hội và không gian phát triển cho các quốc gia khác Điều này cho thấy, đi kèm với chiến lược “Một vành đai-Một con đường” sẽ là hàng loạt các quy tắc ứng xử cũng như các định chế về thương mại đầu tư mới được áp dụng với các nước tham gia Các cơ chế hợp tác mà Trung Quốc đã và

Trang 27

đang phát triển là: Đối thoại hợp tác Châu Á (ACD), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam

Á và Trung Quốc (ASEAN-China); Hội nghị Á-Âu (ASEM); Hội nghị Thượng đỉnh

về Phối hợp hành động và Các biện pháp xây dựng lòng tin ở châu Á (CICA); Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS); Hợp tác Mekong-Lan Thương, Sáng kiến Greater Tumen (GTI); Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO); Bản ghi nhớ Tổng Công ty Điện Quốc gia Trung Quốc với Cơ quan Quản lý Cảng Mongla tháng 7/2015 đầu tư 250 triệu USD nâng cấp cảng thứ 2 của Bangladesh có sự tham gia của Trung Quốc; Gói đầu tư cơ sở hạ tầng dự kiến hoàn thành năm 2020 với 10 dự án trị giá 8,5 tỷ USD lãi suất 1,5% của Trung Quốc vào Bangladesh, trong đó, quan trọng nhất là 2 dự án cảng Payra và đường sắt Dhaka – Chitagong trị giá 4 tỷ USD; Siêu dự án Hành lang CPEC trị giá 46 tỷ USD của Trung Quốc vào Pakistan, và hai thỏa thuận tháng 4 và tháng 12/2015 của Pakistan cho phép Trung Quốc vận hành cảng Gwadar trong 40 năm và được thuê 8000m2 đất xây dựng đặc khu kinh tế do Trung Quốc toàn quyền quản lý;

Để vận động các nước ủng hộ và tham gia BRI, từ năm 2013 đến nay, Chính phủ Trung Quốc đã đẩy mạnh hoạt động ngoại giao và tuyên truyền để vận động các nước khác tham gia; khẳng định BRI được triển khai dựa trên nguyên tắc cùng bàn bạc, cùng làm và cùng hưởng lợi, hướng tới xây dựng các cộng đồng chung trách nhiệm, chung lợi ích và chung vận mệnh Chính phủ Trung Quốc cũng nhấn mạnh việc triển khai BRI dựa trên nền tảng tin tưởng lẫn nhau về chính trị, hợp tác kinh tế sâu rộng và bao dung về văn hóa, đồng thời đảm bảo các giá trị như hòa bình, hợp tác, mở cửa, cùng phát triển, cùng có lợi, chia sẻ và giám sát lẫn nhau

Đến nay, BRI đã nhận được sự hưởng ứng tích cực và tham gia sâu rộng hơn của hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế, kể cả các nước lớn như Nga và các nền kinh tế phát triển của phương Tây như Pháp, Đức và Anh Tính đến tháng 4/2018, Trung Quốc đã cùng với 86 quốc gia và tổ chức quốc tế ký kết 101 thỏa thuận triển khai các dự án hợp tác trên nhiều lĩnh vực thuộc khuôn khổ BRI Trung Quốc cũng đã cùng với 24 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Pakistan, ASEAN, Peru, Chile… ký 16 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) Tổng kim ngạch thương mại

Trang 28

giữa Trung Quốc với các nước dọc các tuyến BRI trong 5 năm đã (từ 2013-2018) vượt trên 5.000 tỉ USD.5

Những bước đi đầu tiên của chính quyền Bắc Kinh là việc thành lập các định chế tài chính mới mà họ là người nắm giữ vai trò trung tâm, điều khiển luật chơi định chế tài chính do Trung Quốc khởi xướng là:

Theo một báo cáo năm 2016 của Viện Kinh tế Quốc tế Peterson (Mỹ), tại khu vực Nam Á, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan, trong đó cơ bản là hệ thống đường sắt trị giá 46 tỉ USD Ngoài ra, các ngân hàng Trung Quốc cấp vốn cho BRI đang thương thảo với nhiều quốc gia để xây dựng cho các quốc gia này 5.000 km đường sắt cao tốc, với tổng số vốn đầu tư trên 160 tỉ USD

Tập trung vào phát triển các tuyến đường bộ và đường sắt, xây dựng các đặc khu (khu kinh tế đặc biệt) và các cảng biển nhằm tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong chiến lược trở thành cường quốc biển hàng đầu, thay thế Hoa Kỳ chi phối toàn bộ thế giới

Quỹ đầu tư Con đường tơ lụa thì đầu tư vào nhiều dự án xây dựng đường ống dẫn dầu từ Vịnh Bengal tới tỉnh Côn Minh (Trung Quốc)

Một số chính sách cấp Trung ương phục vụ sáng kiến Một vành đai – Một con đường

- Năm 2014: Báo cáo Hội nghị Tiểu ban lãnh đạo Kinh tế Trung ương Trung Quốc

- Tháng 3/2015: văn kiện “Tầm nhìn và Hành động cùng xây dựng vành đai kinh

tế Con đường tơ lụa (SREB) và Con đường tơ lụa trên biển (MSR) thế kỉ XXI”

- Năm 2016: Báo cáo Hội nghị Công tác Chính phủ CHND Trung Hoa

- Tháng 3/2016: văn kiện “Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội quốc gia 5 năm lần thứ 13 của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”

*Biện pháp

- Vận động cấp cao qua các chuyến thăm chính thức kêu gọi ủng hộ của các nước

từ tháng 9/2013 – 2015

5 Nguyễn Thị Hồng (31/07/2018), “Nhìn lại chặng đường 5 năm Trung Quốc triển khai sáng kiến Vành đai – con

đường”, Tạp chí Tài chính, <url: duong-5-nam-trung-quoc-trien-khai-sang-kien-vanh-dai-con-duong-142134.html >, truy cập ngày 29/04/2019

Trang 29

http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-quoc-te/nhan-dinh-du-bao/nhin-lai-chang Lồng ghép nội dung tuyên truyền vào các diễn đàn quốc tế, hội chợ http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-quoc-te/nhan-dinh-du-bao/nhin-lai-chang triển lãm quốc tế Trung Quốc tham gia hoặc tổ chức chủ trì.

- Thành lập các thể chế đối trọng phương Tây (WB, IMF, ADB) do Trung Quốc chi phối, nắm giữ ưu thế và phát huy hiệu quả (Ví dụ: AIIB, NDB, SRF, Qũy Hợp tác đầu tư Trung Quốc – Trung và Tây Âu, Qũy Hợp tác đầu tư Trung Quốc – ASEAN) Đến tháng 11 năm 2014, Trung Hoa tuyên bố thành lập Quỹ Con Đường Tơ lụa (Silk Road Fund) trị giá 40 tỉ USD

Năm 2015, Trung Hoa đã hoàn tất kế hoạch cho Ngân hàng Đầu tư Hạ Tầng Cơ

sở Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank – AIIB), với số vốn ban đầu được nhắm tới là 100 tỉ USD

Với quy mô và phạm vi có tính then chốt kết nối này, Trung Quốc đã thiết lập quỹ cho Con đường tơ lụa khoảng 40 tỷ USD, phần còn lại (khoảng 100 tỷ USD) do Ngân hàng Đầu tư hạ tầng châu Á (AIIB) đảm nhiệm

Mặc dù có sự phản đối từ Hoa Kỳ, ngân hàng đầu tư AIIB đã lôi cuốn được năm mươi bảy thành viên sáng lập, gồm cả các đồng minh của Hoa Kỳ như Anh, Đức và Úc

- Triển khai xây dựng hệ thống cảng biển, đường sắt cao tốt Bắc Nam, Đông – Tây, liên kết với Nam Á – Tây Âu – châu Phi và Bắc Mỹ

Năm 2014, Tập Cận Bình đã kết thúc các thỏa thuận trị giá 30 tỉ USD với Kazakhstan, 15 tỉ USD với Uzbekistan, và 3 tỉ USD với Kyrgyzstan, ngoài ra còn chi thêm 1.4 tỉ USD để tân trang hải cảng Colombo, Sri Lanka

Trung Quốc đã thành lập 118 khu hợp tác kinh tế và thương mại ở trên 50 quốc gia, trong đó 77 khu hợp tác thuộc phạm vi của 23 quốc gia nằm trên “Vành đai, con đường” Tính đến nay, đã có 2.790 công ty Trung Quốc đi vào hoạt động tại các khu hợp tác này, với số vốn đầu tư 12 tỷ USD, tạo ra giá trị hàng hóa lên đến 48 tỷ USD.Một số chính sách cấp địa phương phục vụ sáng kiến Một vành đai – Một con đường

- Tháng 3/2016, theo Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia Trung Quốc (NDRC), đã có 28 tỉnh và thành phố hoàn thành kế hoạch triển khai thực hiện OBOR

ở địa phương của mình

Nội dung của sáng kiến “Vành đai và Con đường” tập trung vào năm lĩnh vực kết nối, gồm: chính sách, cơ sở hạ tầng, thương mại, tiền tệ và ngoại giao nhân dân Chính

Trang 30

phủ Trung Quốc cũng đưa ra các cổng kết nối cụ thể từ Trung Quốc tới các nền kinh

tế, gồm: khu tự trị Tân Cương, Tây Tạng, và các tỉnh: Hắc Long Giang, Quảng Tây, Vân Nam

1.1.3 Kết quả triển khai và tác động của sáng kiến Một vành đai – Một con đường (OBOR) của Trung Quốc tới kinh tế - chính trị - an ninh – ngoại giao Ấn Độ

Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI chạy từ bờ biển phía Đông Trung Quốc qua Biển Đông và Ấn Độ Dương sang châu Âu và đến Nam Thái Bình Dương mang hàm ý xây dựng các hành lang kinh tế qua Ấn Độ Dương, kết nối Trung Quốc với Nam Á, Trung Đông, châu Phi và Địa Trung Hải Hiện nay, nhiều dự án đã được thực hiện ở nhiều nước châu Á - Thái Bình Dương, Trung Á, Nam Á, châu Âu và châu Phi Một số dự án chiến lược hoặc trung chuyển then chốt đã được triển khai và Trung Quốc dường như đã nắm được quyền chi phối đáng kể các dự án này

Chủ tịch Tập Cận Bình cho biết tại Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 19 vào tháng

10 năm 2017, quốc gia Trung Quốc, với một tư thế hoàn toàn mới, bây giờ đứng cao

và vững chắc ở phía Đông Ông cũng tuyên bố, đó sẽ là một kỷ nguyên nhìn thấy Trung Quốc đang di chuyển gần hơn với giai đoạn trung tâm và đóng góp lớn hơn cho nhân loại.6 Phản ứng của các nước quan tâm hoặc có liên quan trực tiếp đến “Vành đai, con đường” cũng có thể chia làm ba nhóm chính: Nhóm ủng hộ và không muốn bị gạt

ra ngoài, chủ yếu là các nước vừa và nhỏ ở Nam Á, Trung Đông, châu Phi; Nhóm quan tâm nhưng còn một số lo ngại, chủ yếu là các nước vừa và lớn trong khu vực

“Vành đai, con đường” đi qua (Ấn Độ, Nga và Liên minh châu Âu (EU); Nhóm chủ yếu bày tỏ lo ngại về dự án này, gồm các nước lớn không tham gia “Vành đai, con đường” và lo lắng về cạnh tranh ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực cũng như trên thế giới (Mỹ, Nhật Bản)

Ngoài những tranh chấp lãnh thổ nổi bật trước đây, các khoản đầu tư cho BRI đang thách thức những tuyên bố chủ quyền của Ấn Độ ở Kashmir Trung Quốc đã tài trợ cho sự phát triển dọc Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan (CPEC) xuyên qua lãnh thổ ở Kashmir mà Pakistan kiểm soát và Ấn Độ tuyên bố chủ quyền Theo quan điểm của Ấn Độ, Trung Quốc đã từ bỏ lập trường trung lập về tranh chấp này để đứng

về phía Pakistan và vi phạm chủ quyền của Ấn Độ Thất bại của Trung Quốc trong

6 Neelam Deo (12/07/2018), “India in a changing global order”, Gateway House, Indian Council on Global Relations, <url: https://www.gatewayhouse.in/india-changing-global-order/ >, truy cập ngày 31/03/2019

Trang 31

việc giải quyết các mối quan ngại của Ấn Độ là nguyên nhân ban đầu khiến New Delhi không sẵn sàng tham gia Sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

Trong lĩnh vực thương mại, Trung Quốc thực hiện chính sách cạnh tranh thiếu lành mạnh Điều này biến các nước Nam Á bị đẩy vào thế nhập siêu, cung cấp nguyên liệu thô, tài nguyên, năng lượng giá trị thấp cho Trung Quốc, đồng thời lại nhập về thiết bị, máy móc, đồ gia dụng gây độc hại sức khỏe, tác động rất tiêu cực đến sản xuất nội địa, ảnh hưởng tới chất lượng đời sống của nhân dân và làm gia tăng nạn thất nghiệp; gây lo lắng bất bình, làm mất ổn định chính trị Sáng kiến Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc không chỉ bao vây Ấn Độ bởi hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan, trở thành một dự án kết nối khu vực đầy tham vọng mà còn là một sáng kiến đang phải đối diện với hàng loạt thách thức từ việc nợ nần buộc Sri Lanka phải bàn giao cảng Hambantota cho Trung Quốc trong 99 năm đến việc cung cấp các đảo nổi của Maldives cho Trung Quốc, cũng như chiến lược ngoại giao đu dây của Bangladesh nhằm cân bằng các mối quan hệ chiến lược với Ấn Độ - Nhật Bản – Trung Quốc, …

1.2 Khái quát chính sách đối ngoại của Ấn Độ trước khi sáng kiến Một vành đai - Một con đường ra đời

1.2.1 Khái quát chính sách đối ngoại của Ấn Độ giai đoạn 1947 – 1991

Là một bán đảo trải trên cả ba khu vực địa hình khí hậu ôn đới (phía Bắc), hàn đới (Đông Bắc) và nhiệt đới gió mùa; Ấn Độ rộng hơn 3000.000 km2 với ba mặt Đông – Tây – Nam đều tiếp giáp lần lượt vịnh Belgal, biển Ả Rập, và Ấn Độ Dương Đồng thời, được che chắn phía Bắc bởi dãy Himalaya hùng vĩ hình thành từ Kỉ Đệ Tam, chỉ

có hai con đường duy nhất dễ tiếp xúc và mở rộng ảnh hưởng của Ấn Độ qua các đợt giao lưu văn hoá với văn minh Đông Nam Á và văn minh Ả Rập là con đường qua những ngọn đèo phía sườn Tây và con đường qua vùng đồng bằng ven biển phía Đông Nam

Chính sách đối ngoại được hiểu là một hệ thống các kế hoạch, chủ trương, biện pháp, mục tiêu hướng đến các hoạt động và quan hệ của một quốc gia đối với các chủ thể quan hệ quốc tế khác, nhằm mục đích ngoại giao giải quyết các vấn đề đối ngoại

và bảo vệ lợi ích quốc gia của quốc gia đó trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Trong lĩnh vực chính trị và quan hệ quốc tế, hệ thống con người và vật chất được huy động

để vận hành chính sách bao gồm công cụ kinh tế, công cụ tuyên truyền, công cụ ngoại

Trang 32

giao, công cụ luật pháp quốc tế, … Tuỳ theo tình hình đối nội trong nước và bối cảnh thế giới bên ngoài, mỗi chính phủ quốc gia có thể điều chỉnh, kế thừa, phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế chính sách đối ngoại của nhà nước theo thực tế và năng lực của chủ thể sáng tạo, bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại quốc gia, từ đó áp dụng những công cụ thích hợp để bảo vệ lợi ích quốc gia, từ đó định vị vị thế quốc gia trên trường quốc tế, tạo điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện vào các tổ chức quốc tế, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển lợi ích quốc gia của đất nước.7 Dựa trên những cơ sở hiểu biết đó về Ấn Độ và khái niệm “chính sách đối ngoại”, đề tài sẽ trình bày khái quát về chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong giai đoạn đầu sau khi giành độc lập, từ 1947 đến 1991.

Sau khi nắm quyền quản lý đất nước năm 1947, Chính phủ Ấn Độ đã tiến hành cuộc cải cách lãnh thổ hành chính đầu tiên Từ tháng 4 - 1948, Chính phủ Ấn Độ công

bố quyết định về chính sách kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế “hỗn hợp”, Nhà nước sẽ nắm quyền một số ngành như sản xuất vũ khí, năng lượng nguyên tử và đường sắt Đồng thời, chính phủ cũng quyết định về chính sách đối ngoại theo đuổi năm mục tiêu cơ bản là: bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia; tạo môi trường hoà bình,

ổn định để phát triển kinh tế; tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các cường quốc – trung tâm kinh tế nhằm tranh thủ vốn đầu tư và kĩ thuật công nghệ; đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế; nâng cao vai trò – vị thế của Ấn Độ trên trường quốc tế, trở thành cường quốc khu vực ở châu Á và gặt được vị trí mới trong trật tự thế giới mới.8Theo đó, chính sách đối ngoại của Ấn Độ giai đoạn từ 1947-1991 sẽ bao gồm những nội dung chính lần lượt là: thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng của thế giới, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa, cùng tồn tại hòa bình giữa các quốc gia có sự khác biệt về hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội, giải quyết các xung đột quốc tế bằng biện pháp hòa bình, và là trụ cột đề ra mười nguyên tắc Bandung trong phong trào Không Liên Kết Ngoài ra, những nguyên tắc cơ bản được xác định đối với chính sách đối ngoại của Ấn Độ giai đoạn 1947 – 1991 là: độc lập – trung lập – hoà bình – hữu nghị giữa các dân tộc, ủng hộ Liên Hợp Quốc, không can thiệp công

7 Đoàn Văn Thắng (2001), “Một vài nhận thức về chính sách đối ngoại”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 38,

tr.41

8 Trần Thị Lý (2002), Sự điều chỉnh chính sách của cộng hoà Ấn Độ từ 1991 đến 2000, Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, Hà Nội, tr.114

Trang 33

việc nội bộ của nhau, và bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình9 Những nguyên tắc đặt ra những quy định mới và giá trị chuẩn mực cho quan hệ quốc tế bấy giờ này

đã được phát triển thành Mười nguyên tắc Bandung (1955), và trở thành một đóng góp

to lớn của Ấn Độ trong việc xây dựng khối đại đoàn kết Á – Phi

Những phương hướng và nội dung triển khai chinh sách đối ngoại cơ bản của Ấn

Độ giai đoạn 1947 – 1991 là tôn trọng toàn bộ lãnh thổ, chủ quyền của nhau; chung sống hoà bình; không tấn công nhau; không can thiệp công việc nội bộ của nhau; không liên kết; tự lực tự cường hợp tác; ủng hộ phi thực dân hoá; giải trừ vũ khí; xây dựng trật tự kinh tế thế giới công bằng và đấu tranh chống phân biệt chủng tộc toàn cầu

Những nội dung chính sách đối ngoại Ấn Độ giai đoạn 1947 – 1991 tiêu biểu là:

đẩy mạnh công nghiệp hoá, ưu tiên công nghiệp nặng là điều kiện cơ bản của công nghiệp hoá; công nghiệp nhẹ được phát triển rộng khắp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước; thực hiện đường lối độc lập, tự lực cánh sinh, chính sách đóng cửa

và chính sách thay thế nhập khẩu

Mặc dù Ấn Độ đã chọn cho mình một con đường “trung đạo” và đứng trên vũ đài quốc tế như một nước lãnh đạo các nước thế giới Thứ Ba, nhưng Ấn Độ vẫn có xu hướng gần gũi và gắn bó với Liên Xô, lạnh nhạt với Mỹ và căng thẳng với Trung Quốc.10 Với Trung Quốc, từ quan hệ thân thiện dựa trên lợi ích chung với Trung Quốc chuyển dần sang căng thẳng và thậm chí thù địch dẫn đến chiến tranh Trung - Ấn

1962 Trong bối cảnh đó, chính sách Nam Á được đặt ở vị trí ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ do mong muốn củng cố vị trí trên trường quốc tế Trong đó, việc chủ động kí kết các hiệp ước song phương với các nước láng giềng nhỏ vừa ràng buộc

họ với Ấn Độ vừa nhằm vận dụng chiến lược đối thoại song phương trong giải quyết các bất đồng tranh chấp với từng nước Trong thời gian này, mặc dù Ấn Độ không cố gắng đóng vai trò “anh cả” trong khu vực nhưng những ưu thế vượt trội đem lại cho

Ấn Độ cơ hội không thể chối bỏ vị trí “anh cả” của khu vực này Do đó, những chính sách đối với Nam Á thời kỳ này của Ấn Độ còn mang dáng dấp tư tưởng Đại Hindu

9 Cùng tồn tại hoà bình là nguyên tắc được Ấn Độ xác lập từ ngày đầu giành độc lập khỏi thực dân Anh dựa trên

cơ sở tư tưởng của Ashoka Đại đế Ấn Độ rât tin tưởng nguyên tắc này trong mối quan hệ giữa các nước khác nhau về ý thức hệ, lợi ích quốc gia, …

10 Trần Thị Lý (2002), Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ 1991 đến 2000, Nhà xuất bản Khoa

học xã hội, Hà Nội, tr.166

Trang 34

lãnh đạo các nước Nam Á trong quỹ đạo ảnh hưởng của Ấn Độ, cản trở quá trình mở rộng quan hệ của các nước này với các khu vực khác trên thế giới Sau khi J Nehru qua đời (27/5/1964), giai đoạn ổn định tương đối của Ấn Độ chấm dứt Ấn Độ lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội gay gắt Kinh tế Ấn Độ bị cô lập với các thị trường thế giới nhằm bảo hộ nền kinh tế còn mong manh của mình và cũng để tự cung tự cấp.

1.2.2 Khái quát chính sách đối ngoại của Ấn Độ giai đoạn 1991 – 2014

Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ từ đây Ấn Độ mất đi một chỗ dựa vững chắc, một đồng minh chiến lược quan trọng Bên cạnh đó, Ấn Độ còn phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, toàn diện, sâu sắc nhất từ khi giành độc lập Lạm phát ngày càng leo thang, ngân sách dành cho các ngành đầu tư không sinh lợi nhuận lại gia tăng đáng kể, chẳng hạn: ngân sách quốc phòng tăng lên thành 19% tổng ngân sách vào năm tài khoá 1990-1991, ngân sách phúc lợi xã hội của nhà nước tăng lên thành 11,4% tổng ngân sách vào năm tài khoá 1989-1990, … Tỉ lệ xuất nhập khẩu của Ấn Độ giảm xuống còn 0,4% tổng thương mại toàn cầu vào năm tài khoá 1990-1991 Trong suốt thập niên 1980-1989, tăng trưởng GDP của Ấn Độ chỉ đạt 5,4%/năm, tăng trưởng nhóm ngành khu vực II (công nghiệp – xây dựng) cũng chỉ đạt 7%/năm Đồng thời lượng kiều hối từ các nước vùng Vịnh và khu vực Đông Á giảm mạnh trong những năm 1980, 1990 do chiến tranh vùng Vịnh 1991 và vấn đề Campuchia (1979-1989)11 Do đó, cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước đã đặt ra nhu cầu cấp thiết buộc Ấn Độ phải nhìn nhận lại mô hình kinh tế - chính trị định hướng XHCN đang xây dựng, song không như chủ nghĩa xét lại cực đoan ở Đông Âu, phủ nhận hoàn toàn thành quả & mối quan hệ với Liên Xô, sau này là Nga Trên thế giới, không còn trật tự lưỡng cực đối đầu Yalta nên sự tồn tại của Phong trào Không Liên Kết mang tính trung lập trở nên dư thừa, giảm ý nghĩa quan trọng trên trường quốc tế Trong khi đó, Trung Quốc ngày càng trỗi dậy sau đại cải cách Đặng Tiểu Bình thành công Sau hơn 20 năm cải cách, GDP của Trung Quốc đại lục đã chiếm từ 1% lên 4% GDP của cả thế giới, vươn lên vị trí thứ 6 trên thế giới với 1981 tỷ USD, dự trữ ngoại

tệ của Trung Quốc cũng vươn lên đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ, Nhật Bản Tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới 9-10%/năm Trong vòng 8 năm từ 1988-1995, chi phí quân sự của Trung Quốc đã tăng gấp ba lần,

11 Bùi Thị Đào (2012), Quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử

Trường Đại học Sư phạm, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.26

Trang 35

đặc biệt cho lực lượng hải quân và không quân.12 Sự trỗi dậy này của quốc gia láng giềng Trung Quốc đã đặt vị thế Ấn Độ trở nên bị suy yếu, lu mờ trên trường quốc tế.

Khu vực/nước Số liệu hiện tại và dự báo năm 2016

Bảng 1.2.2.1 Tăng trưởng thực của một số nước châu Á (Nguồn: IMF (2015),

“Tổng quan kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương: ổn định và phát triển vượt

trội các khu vực khác”, Tôn Sinh Thành (2017), Hợp tác khu vực châu Á: Nhân tố ASEAN và Ấn Độ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.88)

12 Bùi Thị Đào (2012), Quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử

Trường Đại học Sư phạm, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.25.

Trang 36

Chủ nghĩa ly khai, khủng bố và các xung đột sắc tộc giữa các địa phương trong khu vực Nam Á trở nên bất ổn hơn bao giờ hết, đặc biệt ở những bang Đông Bắc Ấn

Độ tiếp giáp với biên giới Trung Quốc và Mianmar Trong đó, 9863 kẻ khủng bố cùng nhiều vũ khí, thuốc nổ bị bắt giữ trong 14542 vụ khủng bố nổ ra tại các vùng Punjab, Jammu, và Kashmir bởi các lực lượng cảnh sát an ninh Ấn Độ Sự bao vây kinh tế, cô lập chính trị của hàng loạt các chính phủ Nam Á láng giềng ngày càng thân cận với

Mỹ - Trung cũng đặt ra nhu cầu cấp thiết phải vực dậy nền kinh tế, kìm hãm và hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc ở khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của Ấn Độ

Xuất phát từ tiểu lục địa Ấn Độ tương đối biệt lập với những biên giới tự nhiên

vô hình trung ngăn cản quá trình mở rộng ra bên ngoài, Ấn Độ đã và luôn có xu hướng tập trung nguồn lực sẵn có để đạt được những thành tựu rực rỡ nhất định, trở thành động lực cho quá trình giao thương và giao lưu văn hoá – tôn giáo, phổ biến các giá trị dân chủ tự do của phương Tây, từ đó gia tăng ảnh hưởng của Ấn Độ ra bên ngoài Sau khi giành độc lập từ thực dân Anh năm 1947, thực hiện cải cách kinh tế toàn diện năm

1991, lại toạ lạc ở trung tâm giao thương hàng hải quốc tế của Ấn Độ Dương với ba mặt giáp biển, Ấn Độ hoàn toàn có thể lựa chọn quá trình liên kết với các khu vực châu Phi, Trung Đông hay Đông Nam Á Song do những khác biệt văn hoá, khác biệt

về giá trị châu Á những cuộc xung đột tôn giáo, tác động của khủng hoảng năng lượng dầu mỏ 1973, và nhiều vấn đề xung đột tộc người khác ở châu Phi, và để đáp trả quá trình mở rộng hoạt động của Trung Quốc tại Nam Á là sân nhà – khu vực ảnh hưởng

truyền thống của Ấn Độ, nên Ấn Độ đã quyết định đề ra chính sách Hướng Đông

(Look East Policy) tập trung vào khu vực Đông Á và Đông Nam Á vốn là sân nhà – khu vực ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc để đến với những cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác cấp độ liên khu vực với nền kinh tế Đông Nam Á phát triển năng động bậc nhất thế giới và là những quốc gia có tương đồng văn hoá, cùng chung giá trị châu

Á với Ấn Độ ở Đông Nam Á nói riêng và châu Á – Thái Bình Dương nói chung, nhằm xây dựng hình ảnh một “cường quốc thân thiện” dựa trên tinh thần “không phân biệt đối xử” và “khoan dung tôn giáo” của hoàng đế A Dục (Ashoka) cũng như tinh thần

“bất bạo động” của Mahatma Gandhi, từ đó không chỉ duy trì và gia tăng lợi ích kinh

tế thương mại của Ấn Độ ở Đông Nam Á và Đông Á mà còn góp phần củng cố ưu thế

Trang 37

địa chiến lược cho Ấn Độ trong quá trình hướng tới cân bằng ảnh hưởng với Trung Quốc tại khu vực.

Với những thay đổi trên trong tình hình khu vực và thế giới, cùng nhu cầu vực dậy nền kinh tế, Ấn Độ đã có những điều chỉnh bước ngoặt để cho ra đời chính sách

Hướng Đông Đây là một chính sách không được nêu cụ thể hoá thành văn bản, kế

hoạch hay chiến lược chính thức của chính phủ Ấn Độ, nó chỉ được thể hiện thông qua các bản báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Ấn Độ, các phát biểu chính thức của quan chức lãnh đạo cấp cao của Ấn Độ về quá trình đáp ứng nhu cầu phát triển liên tục của Ấn Độ với tình hình khu vực và thế giới Kể từ sau khi được chính quyền

Narasimha Rao đưa ra vào đầu những năm 1990, chính sách Hướng Đông đã ngày

càng được bổ sung, hoàn thiện trên từng nét rõ rệt

Thứ nhất, về mục tiêu chung của chính sách Hướng Đông giai đoạn 1991 – 2014

được xác định là: bảo vê độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia; tạo môi trường phát triển kinh tế hoà bình, ổn định; tăng cường sức cạnh tranh của các công ty, sản phẩm

và toàn bộ nền kinh tế của Ấn Độ; tăng cường mở rộng quan hệ nước lớn, tranh thủ vốn đầu tư và kĩ thuật công nghệ; và nâng cao vị thế cường quốc khu vực của Ấn Độ trong trật tự thế giới mới, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của các nước lớn tại Nam Á Trong đó, ba mục tiêu cụ thể chính được xác định trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ giai đoạn này là: đẩy mạnh thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của 7 bang Đông Bắc Ấn Độ tạo tiền đê ổn định xã hội khu vực biên giới với Pakistan, Trung Quốc và Mianmar; tăng cường quá trình tham gia và hội nhập tích cực vào các sáng kiến, vành đai, hành lang kinh tế chiến lược của khu vực như sáng kiến kết nối Guwahatti và Kolkatta, hay Kolkatta và Mizoram (qua cảng Sittwe của Mianmar); đồng thời tìm cách củng cố và mở rộng ảnh hưởng của Ấn Độ trên toàn khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương (Indian-Pacific Ocean).13 Trong suốt 10 năm đầu triển

khai thực hiện chính sách Hướng Đông, Ấn Độ chủ trương tập trung khôi phục và phát

triển mối quan hệ tốt đẹp với các nước thành viên ASEAN, nhất là quan hệ thương mại song phương, hướng đến hội nhập kinh tế thế giới sâu rộng và toàn diện, từ đó chủ

13 Nguyễn Thị Minh Thảo (2015), “Ấn Độ: từ chính sách Hướng Đông sang chính sách Hành động ở phía Đông”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 12/2015, tr.108 - 109

Trang 38

động mở các chiến lược ngoại giao với Đông Nam Á, lấy chính sách ngoại giao kinh

tế làm trụ cột chính trong chính sách đối ngoại.14

Hình 1.2.2.1 Bản đồ dự án kết nối Kolkatta – Mizoram qua cảng Sittwee dài

1328 km (Nguồn: Partakson Romun Chiru (2017), “Socio-economic impact of Act

East Policy In Northeastern Region”, International Journal of Development Research,

vol.07, no.10, p.16083-16088)

Thứ hai, với bốn phương hướng triển khai cơ bản chính sách Hướng Đông giai

đoạn 1991-2014 lần lượt là: Chấp nhận mô hình nền kinh tế thị trường; đoạn tuyệt tư tưởng bài Tây phản Mỹ; chuyển từ ngoại giao chú trọng thể chế chính trị sang chú trọng ngoại giao kinh tế, văn hóa, hợp tác quân sự (điển hình là việc Ấn Độ đã ký kết Hiệp định khuôn khổ về hợp tác kinh tế toàn diện CECA với ASEAN vào năm 2003, việc biển Nam Trung Hoa đã được chủ thuyết về biển của Hải Quân Ấn Độ xếp vị trí quan trọng thứ hai sau Ấn Độ Dương vào năm 2007, hay việc Ấn Độ đã đạt hơn 80 tỷ USD thương mại song phương với khu vực Đông Á và tổ chức thành công cuộc tập trận Milan trên vịnh Bengal với 7 quốc gia Đông Nam Á là Brunei, Philippines, Mianmar, Thailand, Indonesia, Singapore, Malaysia cùng trong năm 2012, …); từ theo

14 Luận Thuỳ Dương (19/6/2007), “Ấn Độ trong những thập niên đầu thế kỷ XXI”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học

Sự nổi lên của Ấn Độ và triển vọng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, Hà Nội

Trang 39

đuổi chủ nghĩa lý tưởng sang theo đuổi chủ nghĩa hiện thực trong hoạch định chính sách đối ngoại; thay dổi cách thức trở thành một cường quốc được thế giới công nhận

từ nỗ lực làm lực lượng lãnh đạo, thúc đẩy chính cho một khối càng nhiều quốc gia càng tốt (điển hình như việc sáng lập Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á SAARC tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất các quốc gia Nam Á tháng 12/1985 nhằm không chỉ củng cố các hoạt động hợp tác mà còn hình thành thể chế khu vực, liên khu vực từ đó hạn chế ảnh hưởng sự phụ thuộc vào các cường quốc bên ngoài, hiện thực hoá phương

châm Xây dựng một Ấn Độ hùng mạnh, khôn ngoan và vĩ đại, một ngọn lửa hoà bình

và khoan dung của cố thủ tướng Rajiv Gandhi; hay việc Ngoại trưởng Ấn Độ

I.K.Gujiral đưa ra Tuyên bố 5 điểm thể hiện thiện chí hỗ trợ lẫn nhau với các nước Nam Á của Ấn Độ vào năm 1997 trong tư cách cường quốc khu vực lớn mạnh nhất, đánh dấu sự thành công trong việc cải thiện quan hệ với các nước láng giềng, tạo nền tảng tiềm lực vững chắc cho quốc gia, hướng đến mở rộng vững chắc ảnh hưởng ra các khu vực láng giềng mở rộng như Đông Nam Á, …) sang phấn đấu cải cách gia tăng không ngừng sức mạnh kinh tế - quân sự - khoa học kĩ thuật để trở thành một quốc gia giàu mạnh toàn diện; Ấn Độ đã gia tăng đáng kể sức ảnh hưởng, sự can thiệp

và mở rộng tham gia vào các khu vực trung tâm đầu não của thế giới Từ 2002 – 2014,

chính sách Hướng Đông được củng cố chặt chẽ nhờ hàng loạt sáng kiến đa phương

giữa Ấn Độ và các nước châu Á Thái Bình Dương trải từ Australia đến Trung Quốc, song ASEAN vẫn là hạt nhân trung tâm, như: hành trình con tàu Shudarshini thăm hầu hết các cảng biển tồn tại từ trong lịch sử đến mới được xây dựng (mặc dù hành trình con tàu Shudarshini là hành trình mang tính khơi gợi văn hoá nhưng nó cũng có thể được xem như là sự quay trở lại về một thời kỳ Ấn Độ sẽ gia tăng sự hiện diện của mình trong khu vực với những nền tảng lợi ích địa chiến lược không dễ gì rời bỏ), Tổ chức hợp tác vành đai Ấn Độ Dương (IOR-ARC)15, Sáng kiến vùng Vịnh Bengal về hợp tác kinh tế và kĩ thuật khu vực vành đai Ấn Độ Dương (BIMSTEC)16, Đối thoại toàn diện Ấn Độ - ASEAN (1995), Diễn đàn An ninh ASEAN (1996), Hợp tác sông

15 IOR-ARC: tổ chức được thành lập tháng 3/1995, với 4 thành viên ASEAN là Singapore (1995), Indonesia (1996), Malaysia (1996), Thailand (1999)

16 BIMSTEC: tổ chức được thành lập tháng 6/1997 tập trung vào lĩnh vực hợp tác công nghệ liên khu vực, gồm 7 thành viên là Bangladesh, Ấn Độ, Mianmar, Sri Lanka, Thailand, Nepal, Bhutan

Trang 40

Mekong – Sông Hằng (MGC)17, Hội nghị Cấp cao Đông Á (2005)18, Hiệp định về Khu vực thương mại tự do (2010), Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Ấn Độ (2002), Bản Kế hoạch “Đối tác vì hòa bình, tiến bộ và thịnh vượng” (2004) giữa ASEAN-Ấn Độ …

Thứ ba, những nền tảng chính của chính sách Hướng Đông từ 1991 đến 2014

được Ấn Độ xác định là chuyển từ thù địch mạnh mẽ sang vừa hợp tác vừa đấu tranh với Mỹ, Trung và các nước phương Tây; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế với 3 nhóm nước: láng giềng trực tiếp, cường quốc thế giới và các nước còn lại trên thế giới không phân biệt hệ thống chính trị xã hội; giữ vững môi trường khu vực và quốc tế hòa bình, ổn định để tập trung phát triển kinh tế, nâng cao vị thế quốc tế trên trường thế giới; và duy trì hòa bình hợp tác để phát triển, chống chiến tranh, không bạo

lực Như vậy, sự triển khai chính sách Hướng Đông sau hàng loạt những rào cản với

các nước thành viên ASEAN do chiến tranh Lạnh cũng như vấn đề Cambodia

(1979-1989) đã “không chỉ đơn thuần là một chính sách kinh tế đối ngoại mà còn là một sự thay đổi chiến lược trong tầm nhìn của Ấn Độ về thế giới và vị trí của Ấn Độ trong nền kinh tế toàn cầu đang phát triển Trên tất cả, đó là sự tiếp cận các nước láng giềng mở rộng đồng chủng đồng văn của chúng ta ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á”19

Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ được khởi xướng từ loạt những thất bại: thất bại trong chiến lược kinh tế chỉ huy không đủ để cứu vớt Ấn Độ ra khỏi cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1989-1990 cũng như chiến lược cố gắng chơi với cả hai khối nước

tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa nhưng vẫn đồng thời nghiêng về phía Liên Xô hơn Đồng thời, chính sự sụp đổ của Liên Xô đã rời New Delhi khỏi Moscow để tìm kiếm một chiến lược kinh tế và đối ngoại mới Chính sách Hướng Đông đã như một cứu cánh khắc phục được cả hai thất bại lớn trên Tuy nhiên chính sự nghiêng về phía Liên Xô nhiều hơn của Ấn Độ giai đoạn 1947-1991, cũng như nỗi ám ảnh về làn sóng chủ nghĩa cộng sản theo Liên Xô lan xuống khu vực Đông Nam Á sau thắng lợi của cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm cho sự can dự của Ấn Độ vào ASEAN giai đoạn

17 MGC: tổ chức được thành lập tháng 11/2000, với 6 thành viên là Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Cambodia, Mianmar, Thailand nhằm hợp tác tiểu vùng để giảm chênh lệch giữa các vùng Nam Á và Đông Nam Á.

18 EAS: là diễn đàn của các lãnh đạo đối thoại về các vấn đề chiến lược nhằm hỗ trợ mục tiêu xây dựng cộng đồng chung khu vực Đông Á, được tổ chức lần đầu tiên tại Kuala Lumpur, Malaysia với 10 thành viên ASEAN

và 6 nước láng giềng mở rộng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand

19 “‘Make 21st Century truly an Asian Century’: PM, Keynote address at special leaders dialogue of Asean Business Advisory Council,” Press Information Bureau, December 12, 2005, <url:

http://pib.nic.in/newsite/erelease.aspx?relid=14102 >, truy cập ngày 29/04/2019

Ngày đăng: 23/12/2021, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thanh Bình – Văn Ngọc Thành (2012), Quan hệ quốc tế thời hiện đại: những vấn đề mới đặt ra, Nhà xuât bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, Tr.62 - 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ quốc tế thời hiện đại: "những vấn đề mới đặt ra
Tác giả: Đỗ Thanh Bình – Văn Ngọc Thành
Năm: 2012
2. Phạm Hoàng Bảo Châu (2015), Cạnh tranh ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng hàng hải giữa Ấn Độ và Trung Quốc trên con đường tơ lụa trên biển tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á, Công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Trường, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Tr.21 – 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng hàng hải giữa Ấn Độ và Trung Quốc trên con đường tơ lụa trên biển tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Hoàng Bảo Châu
Năm: 2015
3. Vũ Thành Công (2017), Con đường tơ lụa qua Đông Nam Á và Nam Á : So sánh cục diện khu vực thông qua hệ thống cảng biển do Trung Quốc đầu tư, Kỷ yếu hội thảo Việt Nam và trật tự thế giới mới, Trường Đại học Eotvos Loránd, Hungary Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường tơ lụa qua Đông Nam Á và Nam Á : So sánh cục diện khu vực thông qua hệ thống cảng biển do Trung Quốc đầu tư
Tác giả: Vũ Thành Công
Năm: 2017
4. Nguyễn Hoàng Giáp (2013), “Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, Tr.166 – 181, Tr.226 – 248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay”, Nhà xuất bản "Chính trị quốc gia – Sự thật
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản "Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2013
6. Nghiêm Văn Hoàn (2016), Sáng kiến Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc và tác động tới cạnh tranh Trung – Mỹ, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế Trường Học viện Ngoại giao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng kiến Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc và tác động tới cạnh tranh Trung – Mỹ
Tác giả: Nghiêm Văn Hoàn
Năm: 2016
7. Trần Quốc Hùng (2006), Dân chủ và phát triển: Kinh nghiệm Ấn Độ và Trung Quốc, Kỷ yếu Hội thảo hè 2006 Dân chủ và Phát triển (28-29/7/2006), California, Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và phát triển: Kinh nghiệm Ấn Độ và Trung Quốc
Tác giả: Trần Quốc Hùng
Năm: 2006
8. Trần Khánh (2007), Những vấn đề chính trị, kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Tr.17 – 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chính trị, kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2007
9. Trần Thị Lý (2002), Sự điều chỉnh chính sách của Ấn Độ từ 1991 đến 2000, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự điều chỉnh chính sách của Ấn Độ từ 1991 đến 2000
Tác giả: Trần Thị Lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2002
11. Trình Mưu – Nguyễn Hoàng Giáp (2006), Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, Tr.94 – 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trình Mưu – Nguyễn Hoàng Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2006
12. Trình Mưu – Vũ Quang Vinh (2005), Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI: Vấn đề, sự kiện và quan điểm, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI: Vấn đề, sự kiện và quan điểm
Tác giả: Trình Mưu – Vũ Quang Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2005
13. Lưu Minh Phúc (2010), Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Thông tấn xã Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ
Tác giả: Lưu Minh Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2010
14. Nguyễn Thị Quế (2015), Chính sách đối ngoại của các nước lớn trong giai đoạn hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của các nước lớn trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
15. Phạm Sỹ Thành (2016), Kinh tế Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình, Tài liệu phục vụ Hội thảo khoa học Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình: Cạnh tranh chiến lược mới tại khu vực, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.02-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình
Tác giả: Phạm Sỹ Thành
Năm: 2016
16. Tôn Sinh Thành (2017), Hợp tác khu vực châu Á: Nhân tố ASEAN và Ấn Độ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác khu vực châu Á: Nhân tố ASEAN và Ấn Độ
Tác giả: Tôn Sinh Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2017
17. Phùng Thị Thảo (2017), Chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Đông Nam Á giai đoạn từ 1947 đến 1964, Luận án tiến sĩ Đông Nam Á học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Đông Nam Á giai đoạn từ 1947 đến 1964
Tác giả: Phùng Thị Thảo
Năm: 2017
18. Ngô Thanh Thắng (2015), Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động của nó đối với quan hệ Trung - Nhật thập niên đầu thế kỷ XXI, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động của nó đối với quan hệ Trung - Nhật thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Ngô Thanh Thắng
Năm: 2015
19. Thông tấn xã Việt Nam, Ấn Độ - Những xu hướng mới trong chính sách đối ngoại, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 05/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ - Những xu hướng mới trong chính sách đối ngoại
20. Phạm Tiến (2016), Những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Mỹ kể từ sau năm 2012 và hệ luỵ đối với các quốc gia trong khu vực, Tài liệu phục vụ Hội thảo khoa học Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình: Cạnh tranh chiến lược mới tại khu vực, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.75-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Mỹ kể từ sau năm 2012 và hệ luỵ đối với các quốc gia trong khu vực
Tác giả: Phạm Tiến
Năm: 2016
21. Trần Nam Tiến (2016), Ấn Độ với Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế mới, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ với Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế mới
Tác giả: Trần Nam Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ
Năm: 2016
22. Titarenko (2012), Ý nghĩa địa chính trị vùng viễn đông, nước Nga, Trung Quốc và các nước châu Á khác (Đỗ Minh Cao dịch), Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa địa chính trị vùng viễn đông, nước Nga, Trung Quốc và các nước châu Á khác
Tác giả: Titarenko
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.2.1. Con đường tơ lụa thế kỷ XXI của Trung Quốc (Nguồn: Reuters) - S diu chnh chinh sach di ngoi ca
Hình 1.1.2.1. Con đường tơ lụa thế kỷ XXI của Trung Quốc (Nguồn: Reuters) (Trang 26)
Bảng 1.2.2.1. Tăng trưởng thực của một số nước châu Á (Nguồn: IMF (2015), - S diu chnh chinh sach di ngoi ca
Bảng 1.2.2.1. Tăng trưởng thực của một số nước châu Á (Nguồn: IMF (2015), (Trang 35)
Hình 1.2.2.1. Bản đồ dự án kết nối Kolkatta – Mizoram qua cảng Sittwee dài - S diu chnh chinh sach di ngoi ca
Hình 1.2.2.1. Bản đồ dự án kết nối Kolkatta – Mizoram qua cảng Sittwee dài (Trang 38)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w