Mở đầu Thái Lan là một nước có nền kinh tế gắn liền với kinh tế nông nghiệp lâu đời và mặt hàng lúa gạo luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan về số lượng.. Nă
Trang 1CHÍNH SÁCH LÚA GẠO CỦA THÁI LAN
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng1 Thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Bản quyền tháng 4 năm 2021 Ó
Abstract:
Thailand is among the world-leading rice producer and exporters with a long-time rice industry Since its first market liberalization, Thailand's rice industry has experienced significant changes in terms of economic performance, policy development, and domestic politics The fact that the rice farmer population accounts for over 10% of the country's total population implies both economic and political significances which no Thai policymakers can ever ignore However, the recent trend shows a substantial decline for the Thai rice industry which raises the question of what impacts Thai rice police have on its performance
The article studies the development of the Thai rice policy in connection with the structural problems of Thailand in terms of policy and implementation Its finding
is a modest attempt to improve our understanding of Thai rice policy and the underlying problems of the rice issue as an integral part of Thai people and politics
Keywords: Thailand, rice, policy, politics
1 Nguyễn Huy Hoàng hiện là nghiên cứu viên, Thạc sỹ Quan hệ Quốc tế tại Thái Lan có hơn 4
năm kinh nghiệm làm việc hỗ trợ các chương trình hỗ trợ quốc tế về nhân đạo ở Thái Lan và khu vực Đông Nam Á Tài liệu này là sở hữu trí tuệ hợp pháp và duy nhất thuộc quyền sở hữu của tác giả Nguyễn Huy Hoàng Tất cả mọi việc trích dẫn, truyền tải hoặc sao chép bất kỳ nội dung nào trong tài liệu này đều phải ghi rõ tên tác giả, nguồn tài liệu và cần thiết phải xin phép
sự đồng ý của tác giả bằng văn bản Mọi thông tin đóng góp ý kiến và chi tiết vui lòng liên hệ email huynguyen1504@gmail.com
Trang 2Mở đầu
Thái Lan là một nước có nền kinh tế gắn liền với kinh tế nông nghiệp lâu đời và mặt hàng lúa gạo luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan về số lượng Năm 2020, Thái Lan đạt kim ngạch xuất khẩu tổng số 5.7 triệu tấn gạo giảm 24.5% so với năm trước đó,2 trong bối cảnh kết quả xuất khẩu gạo 3 năm gần đây của Thái Lan giảm đáng kể ở mức khoảng 6 triệu tấn/năm chỉ bằng ½ kim ngạch xuất khẩu trong các giai đoạn trước đó trung bình đạt
9.7-10 triệu tấn/năm chiếm 35% tổng xuất khẩu gạo toàn thế giới, mang lại giá trị xuất khẩu hàng năm đạt 104 tỉ THB.3 Lượng gạo xuất khẩu Thái Lan chiếm 45% tổng lượng gạo sau tiêu dùng nội địa, tổng giá trị mặt hàng gạo bao gồm cả thị trường nội địa đạt 200 tỉ THB liên quan tới tổng số 4.7 triệu hộ gia đình nông dân trồng lúa tương đương với số nông dân khoảng 25 triệu người chiến 35% tổng dân số Thái Lan.4 Uỷ ban Chính sách gạo quốc gia Thái lan dự tính năm 2021 Thái Lan sẽ xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo.5 Tình trạng này khiến dư luận địa bàn thể hiện quan ngại tương lai ngành xuất khẩu gạo Thái Lan có thể mất vị trí trong nhóm các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, đặc biệt trong bối cảnh tình hình kinh tế Thái Lan tiếp tục diễn biến trì trệ, hạn hán và lũ lụt kéo dài bất thường xảy ra ở nhiều nơi trong khi các nguồn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp – thuỷ lợi chưa được quan tâm phù hợp trong thời gian vừa qua đặt biệt ở vùng Đông Bắc và Bắc Thái Lan tập trung cơ sở cử tri ủng hộ các Đảng đối lập không thuộc liên minh cầm quyền
Ngày 10/2/2021, Thủ tướng Thái Lan đồng thời kiêm nhiệm Trưởng ban chỉ đạo quốc gia về hoạch định và điều hành chính sách lúa gạo quốc gia chủ trì phiên họp lần 1/2021 đánh giá báo cáo về tình hình xuất khẩu gạo, tình hình gạo nội địa và tiến độ thực hiện chiến lược gạo quốc gia, tình hình xả kho trữ gạo
2 Thống kê của Hiệp hội Gạo Thái Lan, 2020
3 Kết quả nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu Paibool Hengsuwan và Atchara
Rakyutitham
4 Tham khảo https://thaipublica.org/2016/11/measures-to-help-farmers-prayuth/
5 Tham khảo https://www.bangkokbiznews.com/news/detail/921785
Trang 3quốc gia Kết quả, Chính phủ phê duyệt dự án bảo hiểm thiên tai cho các vùng sản xuất gạo chính vụ thuộc vụ mùa 2021 và điều chỉnh tăng mức bảo đảm thu nhập cho nông dân trồng lúa vụ mùa 2020-2021 thêm 3.838 tỉ bạt.6 Chính phủ giao các Bộ ban ngành liên quan nghiên cứu đề xuất về việc điều chỉnh cân đối cán cân ngân sách do xu hướng chi tiên ngân sách tiếp tục tăng cao, yêu cầu hạn định sản lượng từng loại lúa gạo tránh gây dư thừa nguồn cung, thúc đẩy xuất khẩu tới các thị trường và thiết lập thị trường trung gian làm thị trường đầu mối phân phối ở cấp khu vực; về vấn đề thiếu hút container đã giao Bộ Giao thông vận tải, Tổng cục Cảng biển, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại phối hợp giải quyết
Chủ tịch Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan Trung tá Charoen Laothammathat báo cáo tình hình ngành công nghiệp gạo Thái Lan đang ở trong tình trạng tồi tệ do sản lượng gạo thấp chỉ đạt mức 350kg/rai (trong khi Việt Nam đạt sản lượng gấp đôi là 700kg/rai), xu hướng xuất khẩu gạo tiếp tục giảm mạnh liên tục chưa từng xảy ra trước đó dưới mức 10 triệu tấn gạo và giảm dần theo từng năm xuống 5.7 triệu tấn năm 2020.7
(Nguồn: Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan)
6 Tham khảo https://www.thaigov.go.th/news/contents/details/39057
7 Tham khảo https://www.bangkokbiznews.com/news/detail/921785
0
2,000,000
4,000,000
6,000,000
8,000,000
10,000,000
12,000,000
14,000,000
Tổng quan thị trường lúa gạo Thái Lan
Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Số lượng xuất khẩu (tấn)
Trang 4Nguyên nhân được nêu ra là do (1) giá gạo Thái Lan ở mức cao trong khi chất lượng không khác biệt nhiều so với các nước xuất khẩu gạo khác như Việt Nam, Campuchia;8 (2) giá đồng bạt tăng, năng suất thấp trong khi các nước cạnh trạnh đạt năng suất cao hơn khiến chi phí đầu vào tăng cao và giá bán ra cao hơn; (3) tình trạng hạn hán và thiên tại diễn biến phức tạo gây ảnh hưởng lớn; (4) các nước xuất khẩu gạo khác nâng cao khả năng cạnh tranh hơn, đặc biệt là Việt Nam
và Trung Quốc.9
(Nguồn: Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan)
8 Theo Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan, giá gạo thơm xuất khẩu trung bình ở mức
1000 USD/tấn trong khi giá gạo thơm xuất khẩu của Việt Nam chỉ ở mức 700 USD/tấn, chất lượng tương tự nhau, khách hàng nhập khẩu không có lý do gì chọn mua giá bán đắt hơn
9 Thái Lan đánh giá Trung Quốc đang xâm nhập thị trường xuất khẩu gạo thế giới khi đạt sản lượng nội địa tăng cao và nguồn cung sẽ sớm vượt cầu nội địa để có thể xuất khẩu ra bên ngoài Việt Nam đạt sản lượng cao ổn định do nguồn cung nước ở mức tương đối ổn định và
sẽ sớm trở thành nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới
0
2
4
6
8
10
12
14
16
Tình hình xuất khẩu gạo Thái Lan và các nước (triệu tấn)
2017 2018 2019 2020
Trang 5Nguồn: Cục Nông nghiệp Mỹ, 2021 Chủ tịch Hiệp hội Nhà máy lúa gạo Thái Lan đánh giá tình hình gạo nội địa có cải thiện do nhu cầu nội địa tăng, giá nội địa được duy trì do sản lượng vừa qua ở mức thấp các vựa lúa phải cạnh tranh giá để đảm bảo mua đủ số lượng Giá gạo có thể sẽ có biến động tuỳ thuộc kết quả sản lượng gạo trái vụ cuối tháng 4 năm 2021 Về vấn đề xuất khẩu gạo, việc xuất khẩu gạo thơm Thái Lan bị ảnh hưởng lớn do tình trạng thiếu hụt container vận chuyển đường biển.10
Tình trạng trên đặt ra vấn đề tại sao một nền nông nghiệp lâu đời có tính cạnh tranh cao như nền công nghiệp sản xuất, xuất khẩu lúa gạo Thái Lan lại đối mặt với xu hướng suy giảm nghiêm trọng trong thời gian vừa qua? Các chính sách hỗ trợ và khuyến khích ngành công nghiệp lúa gạo đã có biến chuyển như thế nào, có bất cập và tồn tại gì?
Một số nghiên cứu tại Thái Lan có phân tích chuyên sâu về chính sách Lúa gạo của Thái Lan ở nhiều góc độ khác nhau Phó Giáo sư Somporn Isawilanont trong bài nghiên cứu về “Tiến trình thực hiện chính sách đảm bảo giá thu mua lúa gạo” tập trung phân tích về chính sách “Khao Pheu Chiwit” của Chính phủ Bài
10 Tham khảo https://www.bangkokbiznews.com/news/detail/921785
Trang 6cứu đã đánh giá tổng quan về chính sách đảm bảo giá thu mua lúa gạo và quá trình phát triển và thực hiện của các chính sách này nêu ra một số khó khăn, bất cập để có cơ sở đề xuất điều chỉnh chính sách phù hợp hơn (Issawilanont, 2011) Nhà nghiên cứu Makhasiri Chaowakul trong bài viết “Rice farmers’s adaptability
to droughts in irrigation area and project assessment of support program to farmer drought victims” năm 2018 đã tập trung nghiên cứu về khả năng thích nghi của nông dân trồng lúa với các vấn đề thiên tai, thuỷ lợi, hạn hán và đưa ra các phân tích đánh giá đối với các chương trình hỗ trợ của Chính phủ Thái Lan với nhóm đối tượng này Nhà nghiên cứu Chompoonuch Hunnark tìm hiểu về chính sách
và thực tiễn thực thi chính sách lúa gạo của Thái Lan nhận thấy vấn đề bất cập nằm ở việc hoạch định và thực hiện chính sách của chính quyền không chú trọng tới thực trạng, nhu cầu và hoàn cảnh thực tiễn theo từng vùng, đồng thời về tổ chức bộ máy còn chồng chéo và bao gồm các chuyên môn khác nhau không mang lại hiệu quả công việc trong quá trình điều phối, điều hành (Hunnark, 2016) Một
số bài nghiên cứu khác tập trung vào tình hình cụ thể ở cấp địa phương như sản xuất lúa gạo và hoạt động kinh doanh lúa gạo tại tỉnh Sukhothai, Thái Lan.11
Bài nghiên cứu này đặt vấn đề sự hình thành và phát triển của chính sách lúa gạo của Thái Lan tồn tại những vấn đề chính sách gì ảnh hưởng tới xu hướng trì trệ của ngành sản xuất và xuất khẩu lúa gạo Thái Lan trong thời gian qua Bài nghiên cứu sẽ tìm hiểu về khía cạnh lịch sử và thể chế của chính sách lúa gạo của Thái Lan qua đó phân tích các góc độ chính trị - kinh tế có ảnh hưởng chi phối tới xu hướng trên và kết luận với việc kiến nghị một số kinh nghiệm thành công quan trọng và vấn đề còn tồn tại về chính sách của Thái Lan đối với khu vực và Việt Nam
1 Sơ lược về thể chế, chính sách lúa gạo của Thái Lan
Chính sách gạo của Thái Lan vừa chú trọng tự do hoá hoạt động thương mại, xuất khẩu gạo đồng thời cũng áp dụng các biện pháp can thiệp thị trường qua các chương trình hỗ trợ thu mua gạo giá cao, hỗ trợ nông nghiệp, tín dụng…
11 Tham khảo http://chm-thai.onep.go.th/chm/data_province/sukothai/images/pdf/ag/rice.pdf
Trang 7Thái Lan đã bắt đầu có sự hoạch định chính sách gạo từ giữa thế kỷ 18 với chính sách tự do hoá thương mại hàng hoá gạo trong giai đoạn thực dân hoá toàn cầu, đặc biệt kể từ sau khi Thái Lan ký kết hiệp định Bowring với Vương quốc Anh năm 1855 trong bối cảnh nhu cầu gạo tăng cao trên thị trường thế giới Chính phủ Thái Lan đã chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng thuỷ lợi với các dự án nạo vét xây dựng hệ thống kênh ngòi phục vụ thuỷ lợi cho trồng lúa, thu hút dân di cư và vận chuyển hàng hoá bằng đường thuỷ Bên cạnh đó, chính quyền bắt đầu áp dụng các chính sách ưu đãi thuế, miễm thuế đối với việc trồng lúa khu vực trung du và vùng đất trũng như miễn thuế 1 năm đầu và 3 năm tiếp sau được giảm thuế 50% (với vùng trung du) và 30% (với vùng trũng), xoá bỏ chế độ nô lệ tự do hoá thị trường lao động Giai đoạn đầu sản lượng gạo tăng nhanh từ năng suất 390 hab/năm lên 1,540 hab/năm và đạt sản lượng gấp 5 lần sau 30 năm đầu cải cách.12 Qua đó giúp mặt hàng gạo trở thành ngành công nghiệp mang lợi ích kinh tế quan trọng của đất nước vửa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng nội địa vừa phục vụ thương mại hoá.13
Giai đoạn sau Thế chiến thứ 2, Chính phủ Thái Lan giao Bộ Kinh tế (tiền thân của Bộ Thương mại ngày nay) thành lập Cơ quan quản lý gạo quốc gia và Kho dự trữ hàng hoá trung ương trực thuộc Vụ Nội thương để điều hành việc sản xuất và bàn giao gạo cho Liên hợp quốc theo điều ước bồi thường thế chiến 1948
và duy trì nguồn cung các mặt hàng thiết yếu khác, giai đoạn đầu Chính phủ cấm
tư nhân tham gia xuất khẩu gạo để đảm bảo đủ số lượng bàn giao và nhu cầu thực phẩm nội địa Sau hiệp ước, Chính phủ dần nới lỏng quy định cho phép tư nhân hoá hoạt động xuất nhập khẩu gạo, tuy nhiên lại áp đặt chế độ hạn ngạch, cấp giấy phép, thu lệ phí đặc biệt do nhà nước quy định trong thời gian khoảng 30 năm sau đó đã huỷ bỏ nhiều quy định do lượng cung lớn, giá gạo giảm mạnh liên tục.14 Chính phủ thông qua Bộ Kinh tế thành lập Tổng Kho vận hàng hoá trung
12 Kết quả nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu Hunnark
13 Kết quả nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu Saysawang
14 Kết quả nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu Issawilanont
Trang 8ương (O.K.S) dưới hình thức doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Kinh tế tham gia các hoạt động kinh doanh gạo và các mặt hàng nông nghiệp Chính phủ thông qua Bộ Nông nghiệp đồng thời thành lập Tổng công ty phát triển thị trường hàng hoá nông nghiệp (O.K.T) năm 1974 trực thuộc Vụ Nghiên cứu Nông nghiệp hỗ trợ thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại và phát triển thị trường cho các mặt hàng nông nghiệp trong đó có gạo Trước năm 2005, việc quản lý nhà nước
về lúa gạo của Thái Lan tương đối phân tán liên quan tới nhiều Bộ ban ngành khác nhau như vụ lúa gạo, vụ nghiên cứu nông nghiệp, vụ khuyến nông vụ lúa gạo thành lập từ năm 1958 tới năm 1962, được sát nhập cùng với vụ trồng trọt thành vụ nghiên cứu nông nghiệp (bao gồm phòng lúa gạo) Tới năm 1967, phòng lúa gạo đực chuyển đổi thành lập Viện nghiên cứu lúa gạo quản lý 6 trung tâm nghiên cứu lúa gạo và 21 vùng trồng thử nghiệm giống lúa.15
Kể từ sau năm 1975, Chính phủ Thái Lan bắt đầu áp dụng chính sách trợ giá mặt hàng gạo với chính sách bảo đảm giá mua gạo tối thiểu Giai đoạn đầu không ảnh hưởng lớn tới thị trường gạo do giá bảo đảm tối thiếu thấp hơn giá thị trường Giai đoạn sau khi hệ thống chính trị Thái Lan dần mở rộng dân chủ hoá thông qua bầu cử tự do, các chính đảng cạnh tranh nhau với các chính sách dân tuý cam kết áp dụng chính sách đảm bảo giá gạo tối thiểu ở mức cao hơn giá thị trường đối với gạo thu hoạch chính vụ qua 2 cơ chế chính: (1) Bộ Thương mại qua Tổng kho O.K.S tổ chức mua gạo giá thấp từ các đầu mối nhà máy gạo qua nguồn ngân sách bán gạo theo hiệp định mua bán gạo liên chính phủ G-to-G; (2)
Bộ Nông nghiệp qua Tổng công ty phát triển thị trường hàng hoá nông nghiệp (O.T.K) tổ chức mua lúa sau thu hoạch từ nguồn Quỹ Xã hội hỗ trợ nông dân (Siamwalla, 1987).16 Về chính sách đảm báo giá mua lúa gạo, Chính phủ Thái
15 Kết quả nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu Paibool Hengsuwan và Atchara
Rakyutitham
16 Năm 1991, Tổng kho O.K.S tiếp nhận tài sản và quỹ đất của Nhà máy bao bì trực thuộc Vụ Nhà máy Công nghiệp Năm 1997, O.K.S được điều chỉnh Nghị định về quy định tổ chức O.K.S năm 1997 mở rộng phạm vi hoạt động thêm các mặt hàng tiêu dùng, các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp và tiêu dùng cho phù hợp với tình hình mới Cổng thông tin Vụ Kho dự trữ hàng hoá quốc gia, tham khảo http://www.pwo.co.th/ewt_news.php?nid=243
Trang 9Lan bắt đầu áp dụng từ năm 1981 tiếp tục duy trì trong hơn 30 năm qua Giai đoạn đầu Chính phủ phân bổ ngân sách 5 tỉ THB trong năm tài khoá 1986-1987
tổ chức thu mua lúa qua Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã, cho phép nông dân dự trữ gạo tại kho từng hộ gia đình để tiết kiệm chi phí vận chuyển Tới năm
1990 – 1991, Chính phủ lập Quỹ Hỗ trợ Nông dân trực thuộc Vụ Ngân sách Trung ương, Bộ Tài chính để cung cấp hỗ trợ cho các mặt hàng nông nghiệp chưa thuộc diện được hỗ trợ trước đó 17
Giai đoạn những năm 2000, chiến lược gạo Thái Lan tập trung tới 80% trọng tâm chính sách vào mục tiêu phát triển khu vực sản xuất lúa gạo được đánh giá là một trong 3 khâu chính của ngành công nghiệp lúa gạo Thái Lan và là một khâu yếu nhất, trong đó tập trung vào các nội dung như: nâng cao năng lực sản xuất tăng sản lượng, tạo thêm các giá trị gia tăng, xúc tiến phát tiển thị trường thế giới, cung cấp thông tin kiến thức và giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng lúa gạo, theo Cố vấn Chủ tịch Hiệp hội các nhà máy gạo Thái Lan năm 2004 (Paibool Hengsuwan và Atchara Rakyutitham, 2008) Năm 2002, Chính phủ điều chuyển các bộ phận cấp địa phương trực thuộc Viện nghiên cứu lúa gạo trung ương sang trực thuộc Viện nghiên cứu lúa gạo cấp vùng, tỉnh tuy nhiên, cơ cấu này gây nhiều bất cập nên sau đó vào năm 2005, Thái Lan đã thành lập Uỷ ban lúa gạo quốc gia tập trung quản lý chính sách và thực hiện chính sách về lúa gạo như hiện nay
Thay đổi chính sách lúa gạo lớn được thực hiện dưới trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Thaksin Shinawatra năm 2001, Chính phủ Thaksin đã phân bổ nguồn sách 1,500 tỉ bạt hỗ trợ thu mua lúa giá cao trong 8 vụ mùa trong 4 năm (TDRI, 2018) tiếp nhận thu mua lúa gạo từ nông dân nhập kho qua 2 kênh gồm Tổng kho vận O.K.S, Bộ Thương mại và Tổng công ty phát triển thị trường hàng hoá nông nghiệp (O.K.S), Bộ Nông nghiệp Nông dân chuyển lúa tới các nhà máy đảm bảo
độ ẩm tối đa dưới 15% và được phép mua lại để bán ra thị trường trong trường
17 Kết quả nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu Chitrakorn Charupong và Nipon
Puapongsakorn
Trang 10hợp giá thị trường cao hơn giá đảm bảo của nhà nước (Hunnark, 2016) Nông dân được OKS và OKT cấp giấy nhập kho theo số lượng tương ứng để tới làm thủ tục tín dụng và tài chính tại Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã (Prakaimaniwongse, 2012) Chính phủ đã nâng mức thu mua lúa gạo ở mức bằng mức giá thị trường và dần tăng mức giá thu mua thậm chí cao hơn mức giá thị trường,có thời điểm cao hơn 30%-35% với loại gạo thường và 40% với loại gạo hương nhài Việc này dẫn tới số lượng thu mua lúa gạo của Chính phủ nhập kho
dự trữ quốc gia chiếm 1/3 tổng sản lượng lúa gạo trên toàn quốc (Hunnark, 2016) tăng từ 2.7 triệu tấn vào thời điểm bắt đầu triển khai chính sách lên tới khoảng 9 triệu tấn lúa sau 2 năm thực hiện (Prakaimaniwongse, 2012), tương ứng với tổng trị giá thu mua lúa gạo vụ mùa đầu ở mức 12.4 tỉ bạt tăng lên tới 71.7 tỉ bạt trong vòng 3 năm thực hiện Trong khi đó, chỉ có dưới 10% số lượng gạo thu mua được nông dân mua lại khi giá thị trường cao hơn, ước tính khoảng 4 triệu tấn trong tổng số 401.5 tấn.18
Sau đảo chính, Chính phủ Surayuth Chulanont tiếp tục áp dụng chính sách thu mua lúa gạo từ nông dân với giá ưu đãi nhưng giảm mục tiêu từ 9 triệu tấn xuống dưới 8 triệu tấn để đạt mục tiêu chung đặt ra là giảm 10% hàng năm, giá lúa gạo trở lại mức gần với giá thị trường trong giai đoạn năm 2006 – 2008 Chính phủ dân cử mới của Thủ tướng Samak áp dụng chính sách đảm bảo giá thu mua lúa gạo với giá cao đạt ngưỡng gần 500 USD/tấn tại thời điểm đó trong bối cảnh khủng hoảng lương thực và năng lượng thế giới Chính sách thu mua lúa gạo giá cao tiếp tục duy trì dưới thời Chính phủ Somchai Wongsawat ở mức cao hơn giá thị trường thế giới khoảng 40% và sau đó có xu hướng giảm xuống còn dưới 400 USD/tấn dưới thời Thủ tướng Abhisit
Chính phủ Abhisit phân bổ ngân sách hỗ trợ bảo đảm thu nhập nông dân trị giá 120 tỉ Bạt trong 4 vụ mùa trong 3 năm (TDRI, 2018) Bên cạnh đó, Chính phủ Abhisit còn triển khai chính sách bảo hiểm thiên tai nông nghiệp đối với các
18 Kết quả nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu Prakaimaniwongse