Vì vậy, bên cạnhnhững chính sách phát triển kinh tế - xã hội, việc đề ra và thực hiện thành công chính sáchdân số là điều rất quan trọng, vì nó có thể ảnh hưởng đến một hay nhiều thế hệ
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Vai trò của dân số trong các lý thuyết tăng trưởng kinh tế
1.1.1. Quan điểm của R.I.Malthus
1.1.2. Quan điểm của Simon
1.1.3. Quan điểm trung hòa
1.2 Tổng quan về chính sách dân số nhằm phát triển kinh tế
CHƯƠNG 2. SỰ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA TRUNG QUỐC-NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG DỰ ĐOÁN
2.1. Chính sách dân số một con và nguyên nhân dẫn tới chính sách thực hiện chính sách
2.2 Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của chính sách một con
2.2.1. Hệ quả về xã hội
2.2.1.1. Mất cân bằng giới tính
2.2.1.2. Gìa hóa dân số đi kèm với chương trình an sinh xã hội và chăm sóc cho người già tăng cao
2.2.2. Hệ quả về kinh tế
2.3 Dự đoán tác động của chính sách dân số mới của Trung Quốc
2.3.1. Tác động trong ngắn hạn
2.3.2. Tác động trong dài hạn
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
3.1 Kinh nghiệm của các nước trong chính sách dân số
3.1.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
3.1.2. Kinh nghiệm của Đức
3.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách dân số của Trung Quốc
3.2.1 Nhóm giải pháp từ chính quyền Trung Quốc
Trang 23.3 Bài học kinh nghiệm cho chính sách dân số Việt Nam KẾT LUẬN
Trang 3PHỤ LỤC HÌNH
Hình 1 Tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm của Trung Quốc giai đoạn 1961-1995
Hình 2 Dân số Trung Quốc giai đoạn 1961-2005
Hình 3 Tốc độ tăng dân số của Trung Quốc giai đoạn 1961-2011
Hình 4 Biểu đồ chênh lệch giới tính Nam-Nữ của Trung Quốc giai đoạn 1980-2011 và dự đoán đến năm 2020
Hình 5: Sự thay đổi dạng tháp dân số Trung Quốc qua các năm từ 1980-2030 (dự báo năm 2020 và 2030)
Hình 6 Biểu đồ tăng trưởng GDP của Trung Quốc giai đoạn 2008-2014
Hình 7 Một số chỉ số về dân số của Trung Quốc giai đoạn 1975-2015
Hình 8 Biểu đồ dân số trong độ tuổi lao động từ 15-64 tuổi của Trung Quốc giai đoạn 2005-2014
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Dân số và phát triển kinh tế - xã hội có tác động tương hỗ lẫn nhau trên mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội.Thực tế ở nhiều nước cho thấy, với quy mô và cơ cấu dân số thích hợp thìdân số có tác động tích cực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, ngược lại, nó sẽ trở thành lựccản của quá trình này Khi nền kinh tế phát triển, sẽ tạo điều kiện vật chất cho việc chăm lo tớicông tác giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ con người, nâng cao thể lực và trí tuệ conngười và có tác động tốt tới các quá trình dân số Mối quan hệ giữa dân số và phát triển kinh
tế - xã hội là mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại mật thiết với nhau Vì vậy, bên cạnhnhững chính sách phát triển kinh tế - xã hội, việc đề ra và thực hiện thành công chính sáchdân số là điều rất quan trọng, vì nó có thể ảnh hưởng đến một hay nhiều thế hệ công dântương lai, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước
Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất Thế giới đã cung cấp cho Trung Quốc nói riêngmột lực lượng lao động dồi dào, tạo đà cho phát triển kinh tế-xã hội Tuy nhiên, Trung Quốcđang đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn lao động trong tương lai và gần đây đang phải đốimặt với sự suy giảm về kinh tế Đứng trước tình hình đó, cuối tháng 9 /2015 Chính quyềnTrung Quốc đã ban hành chính sách dân số mới : Chính sách hai con thay thế cho chính sáchmột con tồn tại hơn ba thập kỉ qua Để làm rõ hơn về sự thay đổi này, nhóm em với sự giúp đỡ
của thầy giáo : Phạm Xuân Trường chọn nghiên cứu đề tài :“Thay đổi chính sách dân số của Trung Quốc-Nguyên nhân và tác động dự đoán”
Kết cấu bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết Trình bày về vai trò của dân số trong các lý thuyết tăng
trưởng kinh tế và tổng quan về chính sách dân số nhằm tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Sự thay đổi chính sách dân số Trung Quốc-Nguyên nhân và tác động dự
đoán, trình bày về nguyên nhân ban hành chính sách một con sau đó là nguyên nhân của sựthay đổi chính sách từ chính sách một con sang chính sách hai con Từ đó đưa ra những tácđộng dự đoán của chính sách mới này
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách dân số Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam Chương này nhóm tập trung đưa ra kinh nghiệm của một số nước đi trước nhưNhật Bản, Đức Dựa trên những phân tích ở các chương trước cùng với những kinh nghiệmcủa các nước nhóm có đưa ra một giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách dân số của TrungQuốc và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bài tiểu luận là kết quả cùng cộng tác nghiên cứu của nhóm Tuy nhiên do sự hạn chế vềnăng lực, khả năng tổng hợp kiến thức và thời gian nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi
Trang 6những sai sót nhất định Chúng em hi vọng sẽ nhận được sự góp ý từ thầy giáo để bài tiểuluận của mình hoàn thiện hơn.
Chúng em chân thành cảm ơn
Trang 7CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1.1 Quan điểm của R.I.Malthus
Thomas Robert Malthus (1766-1834) là mục sư, nhà kinh tế học người Anh, người cha
đẻ của học thuyết mang tên mình Nội dung cơ bản của thuyết như sau:
Dân số tăng theo cấp số nhân (2,4,8,…); còn lương thực, thực phẩm, phương tiện sinhhoạt chỉ tăng theo cấp số cộng (1,2,3,4…).gia tăng dân số diễn ra với nhịp độ không đổi, còn
sự gia tăng về lương thực, thực phẩm là có giới hạn bởi những điều kiện (diện tích, năng suất
…) khó có thể vượt qua
Dân cư trên trái đất phát triển nhanh hơn khả năng nuôi sống nó Từ đó, đói khổ, đạođức xuống cấp, tội ác tất yếu sẽ phát triển
Về các giải pháp, thì thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh … là cứu cánh để giải quyết vấn
đề dân số mà ông gọi là các: "hạn chế mạnh"
Đóng góp của thuyết: Malthus có công đầu trong việc nêu lên và nghiên cứu vấn đề dân
số, đặc biệt lên tiếng báo động cho nhân loại về nguy cơ của sự tăng dân số
Hạn chế của thuyết: cho quy luật phát triển dân số là quy luật tự nhiên, vĩnh viễn, nênông đã đưa ra những giải pháp sai lệch, ấu trĩ để hạn chế nhịp độ tăng dân số
1.1.2 Quan điểm của Simon
Simon và một số nhà kinh tế khác cho rằng: Dân số có tác động tích cực đến kinh tế bởinhững lẽ sau: Quy mô dân số tăng lên kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên, thị trường mở rộngthúc đẩy sản xuất phát triển Sản xuất với quy mô lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao Mặtkhác, để tồn tại được trong môi trường cạnh tranh gay gắt về các cơ hội thì đòi hỏi con ngườiphải có trình độ, kiến thức Điều đó làm tăng sự sáng tạo của con người, làm cho khoa học kĩthuật phát triển dẫn đến tăng năng suất lao động, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, sản lượngbình quân đầu người tăng lên Nghĩa là sản lượng tăng nhanh hơn dân số, điều này đi ngượclại quan điểm của R.I Malthus Cuộc cách mạng xanh (cách mạng trên lĩnh vực nông nghiệp -bằng các biện pháp kĩ thuật, nhất là phân bón và thuốc trừ sâu và việc cung cấp giống mớibằng lai tạo nhằm làm tăng năng suất đáng kể cho các loại cây trồng, nhất là lúa mì và lúagạo) diễn ra ở Ấn Độ là một ví dụ
1.1.3 Quan điểm trung hòa
Do phát triển kinh tế không chỉ phụ thuộc riêng vào vốn nhân lực mà nó còn phù thuộcvào các vốn khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn vật chất kỹ thuật Do đó chúng ta khôngthể lấy việc tác động tích cực hay tiêu cực của dân số đến kinh tế để nói lên sự phát triển của
Trang 8kinh tế trên thế giới, mà phải đánh giá đúng đắn sự tác động của dân số đến kinh tế xem sù giatăng đó xẩy ra ở đâu, trong điều kiện nào và như thế nào đó - giảm tỉ lệ chết, tăng mức sinhhay do nhập cư.
Nội dung quan điểm trung hoà về mối quan hệ của dân số và kinh tế như sau:
Sự gia tăng dân số không phải là một nguyên nhân chủ yếu hay thậm chí là quan trọngdẫn đến mức sống thấp, sự bất công nghiêm trọng hay quyền tự do lựa chọn bị hạn chế, vốn lànhững đặc thù của thế giới thứ ba
- Vấn đề dân số không chỉ phải đơn giản là vấn đề số lượng mà là chất lượng cuộc sốngcủa con người và lợi ích vật chất của họ
- Sự tăng nhanh dân số thực ra có làm trầm trọng thêm những vấn đề của sự kém pháttriển kinh tế
- Nhiều vấn đề nảy sinh không phải do quy mô dân số mà chính là do sự phân bố dânsố
Mối quan hệ giữa dân số và kinh tế không đơn giản một chiều mà giữa dân số và kinh tế
có mối quan hệ tương hỗ Trong điều kiện này thì sự tăng lên về dân số thì có lợi cho kinh tế.Nhưng trong điêu kiện khác thì nó là điều bất lợi cho sù phát triển kinh tế Do vậy có thểnghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và kinh tế ở hai cấp độ: Vi mô và vĩ mô, ở cả hai chiềuhướng tác động của dân số đến kinh tế và ngược lại
Dân số và phát triển kinh tế - xã hội có tác động tương hỗ lẫn nhau trên mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội Ngày nay, khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đạt tới đỉnh cao của
sự phát triển thì nhân loại cũng đang phải đối mặt với thực tế là sự “bùng nổ dân số” đã gâynhiều sức ép và cản trở đến sự phát triển của mỗi quốc gia Thực tế ở nhiều nước cũng như ởnước ta cho thấy, với quy mô và cơ cấu dân số thích hợp thì dân số có tác động tích cực thúcđẩy kinh tế xã hội phát triển, ngược lại, nó sẽ trở thành lực cản của quá trình này Khi nềnkinh tế phát triển, sẽ tạo điều kiện vật chất cho việc chăm lo tới công tác giáo dục, đào tạo,chăm sóc sức khoẻ con người, nâng cao thể lực và trí tuệ con người và có tác động tốt tới cácquá trình dân số Mối quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội là mối quan hệ nhânquả, tác động qua lại mật thiết với nhau Vì vậy, bên cạnh những chính sách phát triển kinh tế
- xã hội, việc đề ra và thực hiện thành công chính sách dân số là điều rất quan trọng, vì nó cóthể ảnh hưởng đến một hay nhiều thế hệ công dân tương lai, ảnh hưởng đến sự phát triển bềnvững của đất nước
Dân số vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu dùng Bởi vậy, số lượng, cơ cấu dân số
có ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và tích luỹ, ảnh hưởng đến sự pháttriển chung của xã hội Mặt khác, mỗi tiến bộ của khu vực sản xuất nói riêng và toàn bộ nềnkinh tế nói chung sẽ tác động tới một loạt các quá trình dân số Ví dụ, do nền sản xuất được
cơ giới hóa, tự động hóa, nhu cầu về lao động đơn giản giảm xuống, trình độ tay nghề củangười sản xuất cần thiết phải được nâng cao Điều đó buộc người sản xuất phải đầu tư thờigian, vật chất cho sự học hành nâng cao tay nghề chuyên môn để duy trì được việc làm, giảmthiểu sự cạnh tranh công việc Những điều đó thúc đẩy giảm bớt mức sinh Cũng do tiến bộcủa nền sản xuất, mức sống dân cư được nâng cao, mức chết giảm xuống, tuổi thọ sẽ dài hơn
Trang 9Đề cập đến khía cạnh dân số là người tiêu dùng, dân số đông sẽ tạo ra nhu cầu đối với hànghóa hàng hóa lớn, qua đó thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, tạo ra những giá trị cao cho
xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra lượng sảnphẩm lớn cho xã hội Ngược lại, quy mô dân số nhỏ sẽ khiến cho nhu cầu tiêu dùng thấp, qua
đó khiến cho việc sản xuất ra mà không có người tiêu thụ, kìm hãm sự phát triển sản xuất kéotheo sự trì trệ, tụt dốc của nền kinh tế
Thông thường, tỷ lệ gia tăng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người hằngnăm được coi là chỉ tiêu để đánh giá tăng trưởng kinh tế Để tăng được chỉ tiêu này, thì GNPphải tăng nhanh hơn tỷ lệ gia tăng dân số Việc hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số (nếu GNP khôngthay đổi) cũng sẽ làm tăng GNP tính trên đầu người
Trên thế giới có một thực tế là: ở các nước chậm phát triển, trong khi mức bình quânGNP đầu người rất thấp thì tỷ lệ gia tăng dân số lại cao; ngược lại, ở các nước phát triển cómức GNP đầu người rất cao thì lại có tỷ lệ gia tăng dân số rất thấp Vì thế, khoảng cách giữacác nước đang phát triển với các nước phát triển (về chỉ tiêu GNP/đầu người) càng ngày càng
xa Nguyên nhân của tình trạng này là do: Dân số tăng nhanh sẽ hạn chế việc tích luỹ tư bản,hạn chế tăng năng suất lao động do phải đầu tư cho nhu cầu sống và sinh hoạt tăng lên nhanhhơn số sản phẩm làm ra được Khi lực lượng lao động tăng thêm thì máy móc thiết bị cũngphải được đầu tư, chia sẻ cho lực lượng lao động mới Vì vậy, năng suất lao động chungkhông thể tăng lên được Sự gia tăng nhanh dân số làm giảm tỷ lệ tiết kiệm do tỷ lệ trẻ em ăntheo cao Tỷ lệ tiết kiệm trong GNP giảm, ảnh hưởng đến tốc độ tăng sản phẩm
Trình độ phát triển kinh tế ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng dân số Ở các nước phát triển,
tỷ lệ gia tăng dân số thấp hơn nhiều so với các nước chậm phát triển Đó là kết quả đồng thờicủa việc hạ thấp mức sinh và mức chết Bởi vì, khi nền kinh tế phát triển, sẽ tạo điều kiện vậtchất để đẩy mạnh công tác giáo dục, y tế Do đó sẽ nâng cao nhận thức của người dân cũngnhư hiểu biết về “kỹ thuật” hạn chế sinh đẻ, nhờ vậy mà mức sinh được giảm đi Nền kinh tếphát triển, việc áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, buộc người lao động phải cótrình độ Khi đó, cha mẹ sẽ phải chú ý đến việc nâng cao trình độ, chất lượng của con cái hơn
là mặt số lượng Đồng thời, khi nền kinh tế phát triển thì chế độ bảo hiểm và phúc lợi xã hội
sẽ tốt hơn, nên cha mẹ không phải lo dựa nhiều vào các con lúc tuổi già, do vậy các cặp vợchồng cũng không muốn sinh nhiều con Trong khi đó, ở các nước chậm phát triển thì mộttrong số những nguyên nhân dẫn đến mức sinh cao là do chưa có một chế độ bảo hiểm xã hộitin cậy cho người già
Qua phân tích trên cho thấy, để giảm mức sinh thì cần phải có điều kiện vật chất kỹthuật, phải phát triển kinh tế, phát triển giáo dục, y tế và đẩy mạnh chương trình kế hoạch hóagia đình, song để có thể phát triển kinh tế thì lại cần hạn chế tốc độ tăng dân số
Trang 10CHƯƠNG 2 SỰ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA TRUNG NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG DỰ ĐOÁN
chính sách
Từ năm 1959 đến năm 1978 Trung Quốc trải qua 20 năm không ổn định về kinh tế,chính trị, xã hội Với việc thực hiện đường lối “Ba ngọn cờ hồng” nền kinh tế Trung Quốc rơivào tình trạng hỗn loạn, sản xuất giảm sút nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều khókhăn…
Hình 1 Tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm của Trung Quốc giai đoạn 1961-1995
Nguồn: World bank
Qua hình trên ta thấy được trước năm 1978 tăng trưởng GDP của Trung Quốc biến độngmạnh, tăng giảm thất thường thậm chí đạt mức tăng trưởng âm cụ thể năm 1961 với mức tăng
Trang 11trưởng thấp nhất là -27.3%, nền kinh tế bắt đầu phục hồi vào năm 1964 với mức tăng trưởng18.3% Tuy nhiên không lâu sau đó nền kinh tế lại tụt dốc Từ năm 1971-1978 tốc độ tăngtrưởng giảm từ 7% xuống còn-1.6% đạt mức tăng trưởng âm.
Nên kinh tế không ổn định Trong khi các nước không ngừng phát triển thì Trung Quốcthụt lùi, trì trệ và hầu như không còn tìm thấy chỗ đứng của mình trên thế giới Năm 1973,cuộc khủng hoảng dầu mỏ bùng nổ, tiếp theo là những cuộc khủng hoảng về chính trị, kinh tế,tài chính…
Những cuộc khủng hoảng này đặt nhân loại đứng trước những vấn đề bức thiết phải giảiquyết như tình trạng vơi cạn dần nguồn tài nguyên, bùng nổ dân số… nhất là đối với mộtnước lớn như Trung Quốc Dân số Trung Quốc trong những năm 1970 đạt đến con số 1 tỷ,đưa nước này trở thành quốc gia có dân số đông nhất trên thế giới Cũng chính với tốc độ tăngdân số quá nhanh như vậy đã kéo theo rất nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị, xãhội
Để hạn chế việc tiếp tục bùng nổ dân số, chính sách một con hay còn gọi là chính sách
“nhất thai hóa” được chính phủ Trung Quốc đề ra năm 1973 Tên chính thức do Chính phủTrung Quốc đặt là "Chính sách kế hoạch hóa gia đình" Kể từ khi ra đời, chính sách này đã cónhiều thay đổi, mở rộng dần số con được phép sinh ra với một số đối tượng Chính sách nàyhạn chế mỗi một cặp vợ chồng ở thành thị chỉ được sinh một con, những trường hợp ngoại lệ
áp dụng đối với các cặp vợ chồng ở nông thôn có con gái đầu lòng, các dân tộc thiểu số vànhững cặp vợ chồng là con một Chính sách một con không áp dụng với đặc khu hànhchính Hongkong và Macau, nơi được thiết lập chính sách kế hoạch gia đình riêng Nếu viphạm sinh quá số con quy định sẽ phải chịu một khoản tiền phạt rất lớn cùng nhiều biện pháp
Những cặp vợ chồng vi phạm chính sách một con phải đóng một phức phạt cao gấpnhiều lần so với thu nhập bình quân thông thường của họ Năm 2000, chính quyền TrungQuốc gọi mức phạt sinh con thứ hai là "phí đóng góp cho xã hội" chứ không phải tiền phạt,chi phí này nhằm trang trải những "thiệt hại" cho xã hội do đứa con thứ hai của các gia đìnhgây ra Riêng năm 2010, tổng tiền phạt thu về khoảng 20 tỉ nhân dân tệ Mức phạt cho từng
Trang 12cặp vợ chồng được chính quyền các địa phương tự định ra tính theo thu nhập của gia đình viphạm và nhiều yếu tố khác.
Nếu gia đình không đóng khoản phí này, những đứa con ngoài chính sách không đượcđăng kí khai sinh, không có tên trong hộ khẩu, không được cấp chứng minh thư, không đượctham gia vào hệ thống bảo hiểm cũng như không được hưởng hệ thống giáo dục, sức khoẻ củanhà nước Theo số liệu của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc năm 2011, có 13 triệu ngườidân Trung Quốc không được xã hội thừa nhận do không có hộ khẩu Trong trường hợp người
mẹ bị phát hiện đang mang thai ngoài chính sách và không có khả năng đóng tiền phạt sẽ bịcưỡng ép phá thai Một số trường hợp phá thai cưỡng bức dẫn đến thai phụ bị thiệt mạng.Ngoài ra, một số biện pháp khác cũng được thi hành như đặt vòng tránh thai cho phụ nữ cómột con, triệt sản cho phụ nữ có hai con Chính quyền một số tỉnh như Quảng Đông từng đề
ra chiến dịch chống "ba không" (không chứng minh thư, không hộ khẩu, không giấy phép tạmtrú), bao gồm bắt giữ, đánh đập và giam giữ những người công dân không hộ khẩu
Riêng ở một số địa phương kém phát triển, khoản tiền phạt này là một trong nhữngkhoản thu chủ yếu của chính quyền Điều này được cho là lý do của việc mạnh tay chống pháthai nhằm buộc người dân đóng tiền phạt
Trang 13Hình 2 Dân số Trung Quốc giai đoạn 1961-2005
Nguồn WB
Biểu đồ tốc độ gia tăng dân số Trung Quốc cho thấy tỉ lệ gia tăng dân số vẫn tiếp tụccao bất chấp chính sách một con Tuy nhiên tốc độ tăng dân số đã giảm dần kể từ khi áp dụngchính sách một con được thể hiện ở biểu đồ dưới đây
Trang 14Hình 3 Tốc độ tăng dân số của Trung Quốc giai đoạn 1961-2011
Nguồn: World Bank
Sau gần 30 năm áp dụng, chính sách đã đem lại nhiều kết quả thành tựu không thể phủnhận.Chính phủ Trung Quốc cho rằng việc áp dụng chính sách này đã giúp quốc gia đông dânnhất thế giới này có được tình trạng tương đối phồn vinh, thịnh vượng ngày hôm nay Thậtvậy, có thể quan sát hình 1, tốc độ tăng trưởng GDP đã có sự ổn định trở lại và dần tăng saunhững năm áp dụng chính sách một con, đây chính là một trong những thành tựu mà chínhsách một con của Trưng Quốc đạt được
Bên cạnh đó, theo ước tính của các chuyên gia dân số Bắc Kinh nếu không có chínhsách này dân số Trung Quốc hiện nay sẽ ở mức 1 tỉ 700 triệu người thay vì 1 tỉ 300 triệungười như hiện nay Kết quả của chính sách này đem lại là hiện nay Trung Quốc là quốc gia
có đà tăng trưởng dân số thấp nhất trong thế giới đang phát triển là 6 phần 10 của 1% mỗinăm Từ khi thực hiện chính sách tỉ lệ tăng dân số đã giảm đáng kể từ 1,439% năm 1990xuống còn 0,601% năm 2003 Đặc biệt trong 20 năm đầu thực hiện chính sách từ năm 1970đến năm 1990 tỉ lệ sinh đã giảm 2,754 lần, từ 5,8 con trên một phụ nữ trong năm 1970 xuống2,7 con trên một phụ nữ vào năm 1978 Đó quả là những thành công to lớn mà chính sách đãđem lại Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Chính phủ, Trung Quốcđang nỗ lực lớn hơn nữa nhằm ngăn chặn sự bùng nổ dân số; duy trì tỷ lệ sinh thấp sẽ là ưu
Trang 15tiên hàng đầu của đất nước trong 4 năm tới Chính phủ dự định sẽ hạn chế dân số ở đại lụcdưới 1,36 tỷ vào năm 2010 và dưới 1,45 tỷ năm 2020.
Tính đến năm 2015, Trung Quốc đang là nước đông dân nhất thế giới với khoảng 1,4 tỉngười, chiếm hơn 19% dân số thế giới1 Từ những năm 50 của thế kỉ XX, dân số của TrungQuốc bắt đầu tăng đột biến, chỉ sau 30 năm từ năm 1950 đến 1980 dân số Trung Quốc đã tăngthêm hơn 400 triệu người Dân số đông là một lợi thế để Trung Quốc phát triển kinh tế, nhưngviệc tăng dân số quá nhanh cùng quy mô dân số lớn khiến cho đông dân trở thành một gánhnặng của nền kinh tế Chính vì vậy, năm 1980, Trung Quốc đã ban hành chính sách một connhằm kiểm soát dân số Chính sách này đã thể hiện hiệu quả của nó, đến năm 2000, tốc độtăng dân số của Trung Quốc chỉ còn 0,68%/năm2 Tuy nhiên, trong dài hạn chính sách này dầnbộc lộ những hạn chế, nhược điểm của mình Để làm giảm tính quá khắc nghiệt của chínhsách, Trung Quốc đã có những điều chỉnh nới lỏng chính sách (VD: Năm 1984, cho phépnhiều gia đình ở nông thôn có con thứ hai nếu đứa con đầu tiên là con gái; năm 2001, chophép sinh con nếu nộp tiền phạt theo quy định của chính quyền địa phương; năm 2013, chophép gia đình trẻ có 2 con nếu cha hoặc mẹ là con một…) Sau nhiều lần sửa đổi trong suốt 3thập kỉ, năm 2015, Trung Quốc chính thức bỏ chính sách một con và thay bằng chính sáchcho phép các cặp vợ chồng được có hai con
Nguyên nhân của sự thay đổi này là để ngăn chặn hoặc làm giảm bớt những hậu quả rấtnghiêm trọng trong dài hạn về cả kinh tế và xã hội mà nó đã mang đến cho Trung Quốc đượcphân tích sau đây
2.2.1 Hệ quả về xã hội
Chính sách một con ngay từ lúc mới bắt đầu đã bộc lộ những nhược điểm có thể gâytình trạng mất ổn định trong xã hội, và thực tế đã chứng minh, sau hơn 3 thập kỉ chính sáchnày đã gây ra một số các vấn đề nghiêm trọng
2.2.1.1 Mất cân bằng giới tính
Năm 1979, khi Trung Quốc mới đang thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chuẩn bị bắtđầu thực hiện chính sách một con, tỉ lệ số bé trai trên số bé gái là 106:100 Tỉ lệ này ngày một
1 Theo "Triển vọng dân số thế giới: Bản điều chỉnh năm 2015" của Liên Hợp Quốc
2 Theo Tổng cục thống kế Trung Quốc
Trang 16tăng mà đỉnh điểm là năm 2008 với tỉ lệ là 120:100 Tỉ lệ giới tính trẻ sơ sinh năm 2014 là115,88 bé trai/100 bé gái3, trong khi tỉ lệ giới tính trẻ sơ sinh toàn cầu là 107 bé trai/100 bégái4, với tỉ lệ này Trung Quốc đang là một trong những nước mất cân bằng giới tính cao nhấtthế giới.
Hình 4 Biểu đồ chênh lệch giới tính Nam-Nữ của Trung Quốc giai đoạn 1980-2011
và dự đoán đến năm 2020
(Nguồn: United Nations Development Programme)
Số liệu công bố tháng 2 năm 2015 của Cục Thống kê Trung Quốc, dẫn bởi tờ ChinaDaily, cho biết hiện số lượng nam giới tại Trung Quốc nhiều hơn nữ giới khoảng 33 triệungười Ước tính đến năm 2030-2045 sẽ có gần 20% nam giới Trung Quốc không thể cướiđược vợ Số lượng đàn ông Trung Quốc trưởng thành không thể kiếm được vợ ngày càng mộtđông Ước tính nửa cuối thế kỉ 21, số lượng đàn ông độc thân của quốc gia này sẽ tăng mạnh,
tử 40 đến 50 triệu người
3 Theo Ủy ban Kế hoạch hóa Gia đình và Sức khỏe Quốc gia Trung Quốc
4 Theo ước tính của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA)
Trang 17Xét một cách khách quan, bản thân chính sách một con không phải là nguyên nhân trựctiếp gây nên tình trạng mất cân bằng giới tính trầm trọng đang diễn ra ở Trung Quốc Mứcsinh giảm không tự nó làm tỉ lệ giới tính bị chênh lệch, có thể thấy qua một ví dụ điển hình làNhật Bản; tỉ lệ sinh của nhật Bản luôn nằm trong nhóm những nước có tỉ lệ sinh thấp nhất thếgiới, tuy nhiên, ở Nhật Bản lại không xảy ra tình trạng chênh lệch giới tính như Trung Quốc.Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao lại có sự khác biệt này?
Thực ra, sự khác biệt này xuất phát từ một nguyên nhân rất đơn giản là do quan niệmtruyền thống của người Trung Quốc “trọng nam khinh nữ” Gia đình nào cũng muốn có mộtđứa con trai để “nối dõi tông đường” mà mỗi cặp vợ chồng lại chỉ được phép có một con nên
họ sẽ làm mọi cách để đứa con một ấy là con trai, và điều tất yếu xảy ra là giới tính nam sẽ sẽnhiều hơn giới tính nữ Có rất nhiều phụ nữ Trung Quốc đã phá thai khi biết được họ sắp sinhcon gái Trong nỗ lực ngăn chặn các ông bố bà mẹ phá bỏ thai nhi nữ, chính quyền TrungQuốc đã cấm việc xác định giới tính của thai nhi chưa sinh Theo Nam Phương Đô thị nhậtbáo, hơn 300 phụ nữ mang thai đã tìm đến các cơ sở kinh doanh ngầm thông qua kênh truyềnthông xã hội để xác định giới tính của thai nhi; với mỗi lần như vậy, họ phải trả từ 5.800 đến7.500 nhân dân tệ (khoảng 930-1200 USD) Có thể thấy, chính sách một con giống như mộtchất hóa học kết hợp cùng quan niệm truyền thống cổ hủ phản ứng dữ dội và kết quả là tìnhtrạng mất cân bằng giới tính như trên
Tỉ lệ giới tính mất cân bằng cũng dẫn đến một loạt các vấn đề xã hội và hoạt động tộiphạm, trong đó có việc buôn người Phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ đến từ Triều Tiên haycác nước trong khu vực Đông Nam Á, đang bị bắt cóc hoặc ép bán với giá cao cho nhữngngười đàn ông chưa vợ ở Trung Quốc
Sự mất cân bằng về giới tính tại Trung Quốc khi kết hợp cùng các nhân tố bất ổn khácnhư tình trạng đối xử bất công giữa người làm công thôn quê và thành thị sẽ góp phần làm giatăng tình trạng bất ổn xã hội tại nước này Hệ quả là số lượng các băng nhóm tội phạm có tổchức, tình trạng bạo lực xã hội, chủ nghĩa dân tộc tiêu cực, các mạng lưới mại dâm và nạnbuôn bán phụ nữ và trẻ em ngày một gia tăng khó kiểm soát Những viễn cảnh này đã buộcchính quyền Trung Quốc bãi bỏ chính sách một con
2.2.1.2 Gìa hóa dân số đi kèm với chương trình an sinh xã hội và chăm sóc cho người già tăng cao
Trang 18Trên thực tế, Trung Quốc đã trở thành một nước có dân số già từ năm 1999, và xu thế
đó không thể đảo ngược trong các năm sau đó Trung Quốc hiện đang là nước có tỉ lệ dân sốgià tăng nhanh hơn bất kì quốc gia nào trên thế giới Đây là quốc gia có số người già chiếmhơn một nửa tổng số người già tại châu Á Theo một phân tích của China Business Times,cách đây 35 năm cứ 6 trẻ em có một người già, còn hiện nay tỉ lệ này là 2 người già/1 trẻ em.Điều này cho thấy tốc độ dân số già đi nhanh chóng của Trung Quốc trong những năm gầnđây
Số người trẻ ngày càng ít đi trong khi số người già tăng lên khiến cấu trúc tuổi của dân
số Trung Quốc sẽ giống như hình kim tự tháp ngược Sự già hóa ở Trung Quốc đặc trưng bởitốc độ tăng nhanh, quy mô lớn, và tình trạng người dân sẽ “già trước khi giàu” Nguyên nhânchính đặt Trung Quốc trước nguy cơ trên là do những hậu quả chính sách một con và kếhoạch hoá gia đình gắt gao của chính phủ từ năm 1973
Trang 19Hình 5: Sự thay đổi dạng tháp dân số Trung Quốc qua các năm từ 1980-2030 (dự báo năm 2020 và 2030)
(Nguồn: The World Bank Health, Nutrition and Population (HNP))
Dân số già sẽ kéo theo hàng loạt hệ lụy kinh tế xã hội như thiếu hụt lực lượng lao động,trợ cấp cho người cao tuổi và giá trị gia đình truyền thống bị mai một
Dân số già cỗi có tác động mạnh tới tăng trưởng kinh tế Với thực trạng dân số già ngàycàng tăng hiện nay đang trở thành gánh nặng lên hệ thống tài chính và bảo hiểm y tế của đấtnước Số người cao tuổi gia tăng khiến cho sức ép chi trả cho hệ thống trợ cấp càng tăng Tỉ lệngười lao động so với người về hưu giảm nhanh, từ 13,1:1 vào năm 1980 xuống chỉ còn 3:1năm 2003 và ước tính sẽ là 2,5:1 vào năm 20205 Thiếu hụt lực lượng lao động trên dẫn đếnnguồn phúc lợi xã hội cũng giảm theo Do đó sẽ hạn chế khả năng trợ cấp cho dân số già
5Theo UN (2007)
Trang 20Đối với chính phủ, vấn đề đau đầu nhất của tình trạng dân số già là sức ép chi trả choquỹ lương hưu ngày càng tăng Có tới hơn nửa số người cao tuổi ở thành thị lựa chọn trợ cấpphúc lợi xã hội là nguồn thu nhập chính sau khi nghỉ hưu Còn ở nông thôn con số là 11,8%,cao hơn tỉ lệ 6,7% của năm 2000 Nhưng chỉ có khoảng 4,8% nhận được trợ cấp từ hệ thốnglương hưu đó
2.2.2 Hệ quả về kinh tế
Nhiều thập kỉ qua, Trung Quốc được biết đến như là một công xưởng của thế giới vớilợi thế về nguồn lao động dồi dào, giá rẻ Trung Quốc nhanh chóng trở thành một quốc gia vớinền kinh tế đầy triển vọng với những bước phát triển thần kỳ mà chưa có một quốc gia nàotrên thế giới có thể vượt qua Tuy nhiên, với chính sách một con duy trì trong nhiều thập kỉ đãdẫn đến tình trạng thiếu hụt lực lượng lao động trong tương lai một cách nghiêm trọng, laođộng giá rẻ không còn là lợi thế của Trung Quốc, chính vì thế các nguồn vốn nước ngoài cũngđang có xu hướng dịch chuyển sang các thị trường lao động mới Đây cũng chính là một trongnhững nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình hình tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trongnhững năm gần đây có xu hướng chững lại
Hình 6 Biểu đồ tăng trưởng GDP của Trung Quốc giai đoạn 2008-2014