1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn kinh tế chính trị mác lênin

12 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 36,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận về hàng hóa sức lao động. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp. Với tư cách là một người lao động (người bán sức lao động cho chủ doanh nghiệp), hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và đối với bản thân?

Trang 1

BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

Đề tài : Lý luận về hàng hóa sức lao động Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp Với tư cách là một người lao động (người bán sức lao động cho chủ doanh nghiệp), hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và đối với bản thân?

Trang 2

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU 3

II NỘI DUNG 4

1 Lý luận về hàng hóa sức lao động 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Hàng hóa 4

1.1.2 Sức lao động 4

1.1.3 Hàng hóa sức lao động 4

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 4

1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 5

1.3.1 Giá trị của hàng hóa sức lao động 5

1.3.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động 6

2 Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp 6

2.1 Khái niệm lợi nhuận 6

2.2 Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp 6

3 Thực tiễn về hàng hóa sức lao động ở Việt Nam 8

4 Trách nhiệm của sinh viên đối với doanh nghiệp và đối với bản thân dưới tư cách là một người lao động 9

III KẾT LUẬN 11

Trang 3

I MỞ ĐẦU

Trong bất cứ một chế độ xã hội nào, sức lao động cũng là nguồn tài sản quý giá và

to lớn đối với một quốc gia, đó là vừa tiền đề vừa là động lực của nền sản xuất Theo C.Mác, lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư, nhưng chính nhờ quá trình lưu thông

mà tư bản được tăng thêm giá trị Nhờ lưu thông mà tư bản mới mua được thứ hàng hóa đặc biệt mà quá trình tiêu dùng nó cũng là quá trình tạo ra giá trị và giá trị thặng

dư Hàng hóa đặc biệt đó chính là hàng hóa sức lao động Hàng hóa sức lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị thặng dư, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Hàng hóa sức lao động đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh

tế của đất nước

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về hàng hóa sức lao động, bài tập lớn xin trình bày

về vấn đề: “Lý luận về hàng hóa sức lao động Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp Với tư cách là một người lao động (người bán sức lao động cho chủ doanh nghiệp), hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và đối với bản thân?” Nội dung nghiên cứu đề tài này sẽ được trình bày qua ba phần:

- Lý luận về hàng hóa sức lao động và vai trò của hàng hóa sức lao động trong

việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp.

- Thực tiễn về hàng hóa sức lao động ở Việt Nam.

- Trách nhiệm của sinh viên đối với doanh nghiệp và đối với bản thân dưới tư cách là một người lao động.

Trang 4

II NỘI DUNG

1 Lý luận về hàng hóa sức lao động

1.1 Một số khái niệm

Để hiểu rõ lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác, trước hết cần tìm hiểu các khái niệm liên quan

1.1.1 Hàng hóa

Theo quan điểm của C.Mác: “Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.”

1.1.2 Sức lao động

Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong mỗi con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó

1.1.3 Hàng hóa sức lao động

Hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, góp phần tạo ra giá trị thặng

dư cho xã hội Theo C.Mác, trong nền kinh tế thị trường, lưu thông hay mua, bán thông thường không tạo ra giá trị xét trên phạm vi thị trường vì mỗi người đều đóng vai trò là người bán và cũng là người mua, nếu được lợi khi bán thì sẽ bị thiệt khi mua Vậy nên, nguồn gốc của giá trị của số tiền được gọi là giá trị thặng dư để chuyển hóa thành tư bản không thể xảy ra trong bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy

ra từ hàng hóa mua vào Hàng hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặc biệt mà trong quá trình sử dụng loại hàng hóa này, giá trị của nó không những được bảo tồn mà còn tạo ra được giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó Đó chính là hàng hóa sức lao động mà nhà tư bản đã mua được trên thị trường

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Trong mọi thời đại kinh tế, sức lao động luôn là một trong ba yếu tố cần thiết cho quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất Tuy nhiên không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa Trong thực tiễn lịch sử cho thấy, sức lao động của người nô lệ không phải hàng hóa, vì bản thân nô lệ thuộc sở hữu của

Trang 5

chủ nô, nên không có quyền bán sức lao động của mình Một ví dụ khác là người thợ thủ công tự do tuy được tùy ý sử dụng sức lao động của mình, nhưng sức lao động đó cũng không phải hàng hóa, vì người thợ này có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình nên không phải bán sức lao động để sống

Vậy nên, sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện nhất

định sau đây: Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được

sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa

Thứ hai, người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợp với

sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động

Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trở thành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản Tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển đến một mức độ nhất định Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa

tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ bị phá

vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa

1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Khi sức lao động trở thành hàng hóa, nó cũng có hai thuộc tính như hàng hóa thông thường Đó là thuộc tính giá trị và thuộc tính giá trị sử dụng

1.3.1 Giá trị của hàng hóa sức lao động

Giá trị hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định

Xét theo cấu thành, sức lao động chỉ tồn tại trong con người đang sống Muốn sống và tái sản xuất ra sức lao động đó, người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định cho sinh hoạt, học nghề, Ngoài ra, người lao động còn phải cần những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình người lao động đó Chỉ có như vậy thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất một cách liên tục Do vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt mà người lao động tiêu dung Vậy nên về cách tính, giá trị của hàng hóa sức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động

Trang 6

Cấu thành giá trị hàng hóa sức lao động bao gồm: Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết về vật chất và tinh thần để tái sản xuất ra sức lao động Hai là, phí tổn đào tạo người lao động Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết về vật chất

và tinh thần cho gia đình của người lao động

1.3.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị, mà còn có giá trị sử dụng như bất kỳ hàng hóa thông thường nào Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng là để thỏa mãn nhu cầu của người mua Tuy nhiên, khác với nhu cầu thông thường, khi sử dụng hàng hóa sức lao động, người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm

Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, mang yếu tố tinh thần và lịch sử Hơn thế, quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian Trái lại, trong quá trình sử dụng hàng hóa sức lao động, không những giá trị của hàng hóa sức lao động được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn Mục đích của nhà tư bản là muốn giá trị mới được tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động

và việc nhà tư bản tiêu dùng sức lao động đã hàm chứa khả năng này Như vậy, giá trị

sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Vậy nên nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động mà có

2 Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp

2.1 Khái niệm lợi nhuận

Trong thực tế sản xuất kinh doanh, giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất có một khoảng chênh lệch Cho nên sau khi bán hàng hóa, chủ doanh nghiệp không những bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra mà còn thu được số chênh lệch bằng giá trị thặng dư Số chênh lệch này được C.Mác gọi là lợi nhuận Do vậy, lợi nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư trên bề mặt nền kinh tế thị trường

Trang 7

2.2 Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp

Hàng hoá sức lao động là yếu tố quan trọng tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp Đây là phương tiện mà tư bản tạo ra giá trị thặng dư, được sử dụng để sản xuất thêm tư bản Để hiểu được điều này thì cần làm rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư, từ đó thấy được vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp

Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị Để có được giá trị thặng dư, người lao động phải làm việc nhiều hơn phần thời gian lao động mà có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động, và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, thời gian đó là thời gian lao động thặng dư Như vậy, giá trị thặng dư chính là giá trị do người lao động tạo ra ngoài hao phí lao động tất yếu Nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động mà ra

Để làm rõ điều này, cần phân tích vai trò của tư liệu sản xuất trong mối quan hệ với người lao động trong quá trình làm tăng giá trị, hay phân tích về tư bản bất biến và tư bản khả biến

Thứ nhất, theo C.Mác, tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư

liệu sản xuất mà giá trị được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phầm, tức là giá trị không biến đổi trong quá trình sản xuất Tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra Ví dụ như máy móc và nguyên vật liệu

là cần thiết có trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó mới có quá trình sản xuất giá trị thặng dư Bên cạnh đó, khi ứng dụng công nghệ cao vào máy móc thiết bị, năng suất lao động sẽ được nâng cao, vậy nên, máy móc thiết bị hiện đại là cần thiết

trong quá trình làm tăng giá trị Thứ hai, tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại

dưới hình thái sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên, tức là biến đổi về số lượng trong quá trình sản xuất Trong quá trình sản xuất, công nhân làm thuê bằng lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới với lượng lớn hơn giá trị sức lao động Tư bản khả biến là bộ phận cần thiết giúp tạo ra giá trị thặng dư cho doanh nghiệp Như vậy, để tiến hành sản xuất giá trị thặng

dư hay tạo ra lợi nhuận, chủ doanh nghiệp phải mua tư liệu sản xuất và sức lao động

Trang 8

Người lao động tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp bằng cách cung cấp hàng hóa sức lao động để đổi lấy tiền công Tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động,

là do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra C.Mác cho rằng lợi nhuận do lao động của người lao động tạo ra Người lao động cung cấp sức lao động của mình cho quá trình sản xuất, họ không được trả công bằng toàn bộ giá trị sức lao động của mình Sự khác biệt giữa tiền lương được trả và giá trị sức lao động

là thứ mang lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp

Như vậy, hàng hoá sức lao động đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp Với những hàng hoá này, sức lao động có thể được tái sản xuất và mở rộng trong xã hội tư bản Chúng không chỉ được sử dụng để tăng sản lượng hàng hóa mà còn để tạo ra thị trường mới và ổn định khách hàng thông qua quảng cáo và tiếp thị Do đó, để tạo ra lợi nhuận, chủ doanh nghiệp phải đầu tư vào máy móc thiết bị và mua sức lao động, đồng thời phải trả một số lượng tiền công tương ứng cho người lao động để họ sử dụng sức lao động của mình trong việc sản xuất và tạo lợi nhuận cho các doanh nghiệp

3 Thực tiễn về hàng hóa sức lao động ở Việt Nam

Hiện nay Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Vấn đề hàng hóa sức lao động ngày càng được quan tâm, nhất là về mặt chất lượng của hàng hóa sức lao động để từ đó hoạch định chính sách

sử dụng hàng hóa sức lao động một cách tốt nhất trong quá trình phát triển đất nước Vấn đề này được thể hiện ở những điểm sau:

Trước hết, về mặt hạn chế, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động ở Việt Nam còn thấp hạn chế phần nào sự cạnh tranh của nước ta trên thị trường thế giới Hệ thống thông tin việc làm cho người lao động chưa được quản lí chặt chẽ, hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đủ khả năng để có thể cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đó, lực lượng lao động của Việt Nam dù là dồi dào nhưng tay nghề còn chưa cao Mặc dù các trường đào tạo nghề được thành lập nhưng nhiều cơ sở hoạt động thiếu hiệu quả Bên cạnh

đó chi phí học nghề còn cao cũng khiến nhiều người do dự trước lựa chọn đi học Ngoài ra, người dân chú trọng đi học đại học, có xu hướng chạy theo những ngành đang nổi khiến những ngành này bị thừa lao động nhưng số lao động có trình độ

Trang 9

chuyên môn cao lại ít, còn những ngành khác thì lại rơi vào tình trạng thiếu lao động Điều này khiến tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam còn cao, minh chứng là năm 2015,

cả nước có hơn 1,1 triệu lao động thất nghiệp từ 15 tuổi trở lên, số thanh niên thất nghiệp đã chiếm tới gần một nửa tổng số lao động thất nghiệp của cả nước Không chỉ vậy, những quy định của nhà nước về thị trường lao động vẫn còn những hạn chế nhất định Việc chi trả tiền lương còn thiếu sự công bằng và bình đẳng giữa người lao động, mức tiền công, tiền lương trả chưa phù hợp với mức lao động của họ Nhiều cơ

sở sản xuất, các khu công nghiệp chưa đủ điều kiện để xây dựng các khu giải trí, nghỉ ngơi cho người lao động do thiếu vốn đầu tư

Bên cạnh những hạn chế, Việt Nam cũng đã làm được nhiều việc làm góp phần nâng cao chất lượng của hàng hóa sức lao động ở nước ta Đời sống của người lao động càng ngày càng được nâng lên nhất là về đời sống tinh thần Người lao động được Công Đoàn tổ chức các hoạt động giao lưu văn nghệ, trao đổi kinh nghiệm, và các hoạt động khuyến khích, khen thưởng khác giúp nâng cao tinh thần của người lao động để họ làm việc tốt hơn Bên cạnh đó nước ta cũng chú tâm hơn vào việc đào tạo trình độ cho người lao động Các doanh nghiệp, nhà máy, xí nghiệp cũng tạo điều kiện cho nhân viên của họ nâng cao trình độ qua các lớp tập huấn, nhằm nâng cao tay nghề từ đó tăng năng suất lao động

Hàng hóa sức lao động đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp nói riêng và đóng góp cho sự phát triển của đất nước nói chung Vì vậy,

để đạt được mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Việt Nam cần chú trọng vào việc nâng cao chất lượng của hàng hóa sức lao động Nước ta cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao về mọi trình độ tay nghề về mọi mặt cho người lao động dưới nhiều hình thức, cần chú trọng đến chính sách tiền lương và các hoạt động về cả thể chất lẫn tinh thần của người lao động Đồng thời, nước ta cần phát triển hệ thống thông ti

và kết nối việc làm tốt hơn nữa để không xảy ra tình trạng người lao động không tìm được việc trong khi đó các doanh nghiệp lại thiếu những người có trình độ chuyên môn cao Vậy nên, để hàng hóa sức lao động của Việt Nam được chất lượng cũng như để thực hiện được các mục tiêu kinh tế của đất nước, cần nắm vững lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác để đưa ra những định hướng và quyết định đúng đắn nhất

Trang 10

4 Trách nhiệm của sinh viên đối với doanh nghiệp và đối với bản thân dưới tư cách là một người lao động

Với tư cách là một người lao động, chúng ta phải có trách nhiệm với doanh nghiệp

đã thuê mình và đặc biệt phải có trách nhiệm đối với bản thân mình

Trước hết đối với doanh nghiệp, chúng ta phải có trách nhiệm đóng góp cho sự phát triển và tạo ra lợi nhuận cho công ty Chúng ta cần cung cấp kiến thức, năng lực của bản thân để đóng góp cho các hoạt động và công việc của doanh nghiệp Chúng

ta cần trau dồi kiến thức chuyên môn và những kiến thức liên quan đến công việc để

có thể hoàn thành công việc của bản thân một cách tốt nhất Đồng thời chúng ta cũng cần nâng cao các kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cũng như những kỹ năng mềm khác

để đóng góp vào sự phát triển của công ty Bên cạnh đó, là một người lao động thì chúng ta cần có thái độ đúng đắn đối với công ty Thái độ tích cực có thể được thể hiện qua những việc như tôn trọng các giá trị của doanh nghiệp, tôn trọng môi trường làm việc và duy trì các chính sách và thủ tục của công ty, lao động tích cực và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, chúng ta không chỉ đơn phương là cống hiến hết sức mình cho doanh nghiệp mà chúng ta còn phải đảm bảo bản thân mình được nhận một mức lương tương xứng với năng lực và khả năng làm việc của bản thân Chúng ta phải có trách nhiệm trong công việc và trong các hoạt động của công

ty, không được có ý muốn làm ít nhưng được hưởng nhiều hơn những gì bản thân làm, đồng thời cũng không nên chấp nhận hưởng ít hơn so với năng lực, khả năng cũng như những gì bản thân đã làm Chúng ta cần đảm bảo làm tốt công việc và cũng nhận lại được tương xứng với những việc chúng ta làm

Không chỉ có trách nhiệm với doanh nghiệp đã thuê mình mà ta cũng cần có trách nhiệm với chính bản thân mình Trước hết, chúng ta phải hiểu rằng doanh nghiệp chỉ thuê những người lao động mà có thể tạo ra giá trị và lợi nhuận cho họ, vậy nên chúng ta phải biết tự tạo ra giá trị cho chính bản thân mình và cũng là thể hiện rằng mình có khả năng giúp doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận Để tạo giá trị cho bản thân, chúng ta cần phải nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc Chúng ta phải trau dồi kiến thức chuyên môn và những kiến thức có ích khác, học hỏi từ mọi nguồn kiến thức Bên cạnh đó hãy nâng cao các kỹ năng cứng và các kỹ năng mềm khác cần thiết cho công việc và cho các hoạt động khác trong cuộc sống chúng ta Đồng thời, luôn tạo cho mình một thái độ tích cực trong cuộc sống và nghiêm túc trong công việc Mỗi chúng ta phải đặt được cho mình mục tiêu rõ ràng và lên kế hoạch cụ thể để đạt

Ngày đăng: 22/12/2021, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w