1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin

21 157 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 912,36 KB
File đính kèm kinh-tế-chính-trị-Mac-Lenin.rar (859 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9 Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9Bài thảo luận kinh tế chính trị mac lenin nhóm 9

Trang 1

NHÓM 9:

Đỗ Đức Vượng

Trang 2

MỤC LỤC

A-LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN 2

1) Khái niệm về xuất khẩu tư bản: 2

2) Nguyên nhân hình thành của xuất khẩu tư bản: 2

3) Các hình thức của xuất khẩu tư bản: 3

4) Biểu hiện của xuất khẩu tư bản 4

5) Vai trò, ý nghĩa của xuất khẩu tư bản: 7

B-MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM TỪ SAU “ĐỔI MỚI” 9

1) Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ năm 1986 đến nay: 9

2) Thuận lợi, ưu điểm của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ sau đổi mới đến nay: 11

3) Những hạn chế trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ sau “Đổi mới” (1986) đến nay: 13

4) Một số giải pháp thu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 15

5) Thành tựu về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ năm sau “ Đổi Mới” (năm 1986) đến nay: 16

6) Đánh giá tổng quát về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ sau “ Đổi mới” (năm 1986) đến nay: 18

Trang 3

A- LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN

1) Khái niệm về xuất khẩu tư bản:

- Nếu như trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh- giai đoạn cũ thì cácnước tư bản chủ yếu xuất khẩu ra bên ngoài là xuất khẩu hàng hóa nhằm thực hiện giátrị và giá trị thặng dư đã được tạo ra ở trong nước Nhưng đến giai đoạn chủ nghĩa tưbản độc quyền thì họ chủ yếu bên cạnh xuất khẩu hàng hóa còn có xuất khẩu tư bản.Vậy xuất khẩu tư bản là gì?

Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản

2) Nguyên nhân hình thành của xuất khẩu tư bản:

- Lênin khẳng định: “Xuất khẩu tư bản là một quá trình ăn bám bình phương dựa vào khả năng và tính tất yếu của xuất khẩu tư bản” Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỉ XX, xuất khẩu tư bản trở nên phổ biến là bởi:

 Các nước tư bản tích lũy được được khối tư bản lớn dẫn tới “tư bản thừa”tương đối vì trong nước đầu tư thu lợi thấp buộc họ phải đầu tư ra nước ngoài để thuđược lợi nhuận cao hơn

 Các nước lạc hậu cần vốn để phát triển kinh tế, giá cả ruộng đất thấp, tiềnlương thấp, nguyên liệu rẻ nên lợi nhuận cao Hấp dẫn đầu tư tư bản. Hấp dẫn đầu tư tư bản

 Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn kinh tế- xã hội càng gay gắt.Xuất khẩu tư bản trở thành biện pháp làm giảm mức gay gắt đó

 V.I.Lênin đã chỉ rõ tại sao ở các nước thuộc địa, lợi nhuận của tư bản caohơn lợi nhuận ở chính quốc Tư bản “thừa” xuất khẩu chủ yếu sang các nước lạc hậu vì

ở đây tư bản còn ít, giá nguyện liệu, giá ruộng đất, giá cả sức lao động thấp Ngoài ra

tư bản còn được xuất khẩu sang các nước tư bản đang phát triển thiếu vốn hoặc bị tànphá trong chiến tranh Còn có những nước vừa xuất khẩu tư bản vừa nhập khẩu tư abnr

Trang 4

như Anh, Tây Đức, vừa vay tiền của Mỹ, vừa đầu tư tư bản vào Mỹ La-tinh, ChâuPhi, Châu Á.

3) Các hình thức của xuất khẩu tư bản:

- Xét về cách thức đầu tư:

Đầu tư trực tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp

mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó thànhmột chi nhánh của công ty mẹ Các xí nghiệp mới được hình thành thường tồn tại dướidạng hỗn hợp song phương, nhưng cũng có những xí nghiệp mà toàn bộ số vốn là củamột công ty nước ngoài

Ví dụ: công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sảnxuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM

Đầu tư gián tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản dưới dạng cho vay thu lãi.

Thông qua ngân hàng tư nhân hoặc các trung tâm tín dụng quốc tế và quốc gia, tư nhânhoặc các nhà tư bản cho các nước khác vay vốn theo nhiều hạn định khác nhau để đầu

tư vào các đề án phát triển kinh tế Ngày nay, hình thức này còn được thực hiện bằngviệc mua trái khoán hay cổ phiếu của các công ty ở nước nhập khẩu tư bản

Ví dụ: đầu tư gián tiếp thông qua các quỹ đang hoạt động tại Việt Nam, chẳnghạn các quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund (VEIL), Vietnam Growth Fund(VGF), Vietnam Dragon Fund (VDF), Vietnam Opportunities Fund (VOF)…

- Xét theo chủ sở hữu:

Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà nước tư bản

lấy tư bản từ ngân quỹ của mình đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hoặc viện trợ hoànlại hay không hoàn lại để thực hiện mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự Về kinh

tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường hương vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng đểtạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư bản tư nhân

+ Về chính trị, viện trợ các nhà nước tư sản nhằm cứu vãn chế độ chính trị thân

cận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lâu dài

+ Về quân sự, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vào

các khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải đưa quân tham chiến chốngnước khác, cho nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình hoặc đơnthuần để bán vũ khí

Trang 5

Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu tư bản do tư bản tự nhân

thực hiện Ngày nay, hình thức này chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hànhthông qua hoạt động đầu tư kinh doanh Hình thức xuất khẩu tư bản tư nhân có đặcđiểm là thường được đầu tư vào các ngành kinh tế có vòng quay tư bản ngắn và thuđược lợi nhận độc quyền cao Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức chủ yếu của xuấtkhẩu tư bản, có xu hướng tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng tư bản xuất khẩu.Nếu những năm 70 của thế kỉ XX, xuất khẩu tư bản tư nhận đạt trên 50% thì đếnnhững năng 80 nó đã đạt tỷ lệ 70% trong tổng tư bản xuất khẩu

- Nếu xét về cách thức hoạt động có các chi nhánh của công ty xuyện quốc gia,hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng hay các trung tâm tài chính tín dụng vàchuyển giao công nghệ trong đó hoạt động dưới hình thức chuyển giao công nghệ làbiện pháp chủ yếu mà các nước xuất khẩu tư bản thường sử dụng để khống chế nềnkinh tế các nước nhập khẩu tư bản Xuất khẩu tư bản về thực chất là mở rộng quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi quốc tế, là sự bành chướng của thế lực tư bảntài chính nhằm bóc lột nhận dân lao động thế giới, làm cho các nước nhập khẩu tư bản

bị bóc lột giá trị thặng dư, cơ cấu kinh tế què quặt, lệ thuộc vào nền kinh tế tư bản chủnghĩa Từ đó là mâu thuẫn kinh tế - xã hội gia tăng

- Xuất khẩu tư bản của tư nhân có sớm hơn và chiếm ưu thế trong thời kì trướcchiến tranh thế giới thứ hai, ngày nay nó vẫn chiếm vị trí quan trọng -Xuất khẩu nhà nước được tăng cường sau chiến tranh thế giới thứ hai, nó có đặc điểmlà: nguồn vốn tư bản xuất khẩu lấy từ ngân sách và từ số tiền các tổ chức độc quyềncho nhà nước vay Nhà nước phải xuất khẩu để xây dựng các kết cấu hạ tầng phục vụcho các tổ chức độc quyền đầu tư ra nước ngoài

- Điều quan trọng là phân tích hậu quả của xuất khẩu tư bản Lênin nhấn mạnhrằng xuất khẩu tư bản đẩy nhanh sự phát triển chủ nghĩa tư bản trong các nước thuộcđịa nhưng đồng thời kinh tế của các nước đó mang tính chất què quặt, mất cân đối, cácnước thuộc địa trở thành nơi cung cấp nguyên liệu nông nghiệp cho nước chính quốc

4) Biểu hiện của xuất khẩu tư bản

- Thứ nhất là hướng xuất khẩu tư bản đã có sự thay đổi cơ bản Trước kia, luồng

tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nước kém phát triển( chiếm tỷ trọng trên 70% ) Nhưng những thấp kỷ gần đây đại bộ phận dòng đầu tư lạichảy qua lại giữa các nước tư bản phát triển với nhau Tỷ trọng xuất khẩu tư bản giữa

Trang 6

3 trung tâm tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, đặc biệt dòng đầu tư chảy mạnh theo hướng

từ Nhật Bản vào Mỹ và Tây Âu, cũng như từ Tây Âu chảy sang Mỹ làm cho luồngxuất khẩu tư bản vào các nước đang phát triển giảm mạnh, thậm chí chỉ còn còn 16,8%(1996) và hiện nay khoảng 30%

- Trước tình hình đó, nhiều nhà lý luận tư sản cho rằng xuất khẩu tư bản khôngcòn là thủ đoạn và phương tiện mà các nước giàu dùng để bóc lột các nước nghèo.Theo họ, xuất khẩu tư bản đã trút bỏ bản chất cũ của nó và trở thành hình thức hợp táccùng có lợi trong mối quan hệ quốc tế Sự hợp tác này diễn ra chủ yếu giữa các nước

tư bản phát triển khác nhau Đó là quan niệm hoàn toàn

- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những biến đổi nhảy vọt trong

sự phát triển của lực lượng sản xuất Vào những năm 80 của thế kỉ XX nhiều ngànhcông nghiệp mới ra đời và phát triển thành các ngành mũi nhọn như: ngành công nghệsinh học, ngành chế tạo vật liệuy mới, ngành bán dẫn và vi điện tử, ngành vũ trụ và đạidương, Những ngành này có thiết bị và quy trình công nghệ hiện đại, tiêu tốn ítnguyên liệu nguyên vật liệu Trong nền kinh tế giữa các nước tư bản phát triển và diễn

ra sự biến đổi cơ cấu các ngành sản xuất mũi nhọn có hàm lượng khoa học kỹ thuậtcao Sự xuất hiện của những ngành nghề mới đã tạo ra nhu cầu đầu tuy hấp dẫn vìtrong thời gian đầu nó tạo ra lợi nhuận siêu ngạch rất cao Việc tiếp nhận kỹ thuật mớichỉ diễn ra ở các nước tư bản phát triển bởi các nước đang phát triển có hạ tầng kinh tế

xã hội lạc hậu, không phù hợp, tính chính trị kém ổn định, sức mua kém, tỷ suất lợinhuận của tư bản đầu tư không còn cao như trước (còn với nước đang phát triển nhưng

đã trở thành Nics thì tỷ trọng của luồng tư bản sản xuất vẫn lớn: chiếm 80% tổng tưbản xuất khẩu của các nước đang phát triển) Mặt khác thời gian này, xu hướng liênkết các nền kinh tế ở trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển rất mạnh Hệ quả của hoạtđộng này bao giờ cũng hình thành các khối kinh tế với những đạo luật bảo hộ rất khắtkhe Để nhanh chống chiếm lĩnh thị trường, các công ty xuyên quốc gia đã biến cácdoanh nghiệp chi nhanh của mình thành một bộ phận cấu thành của khối kinh tế mớinhằm tránh đòn thuế quan nặng của các đạo luật bảo hộ Nhật và Tây Âu đã tích cựcđầu tư vào thị trường Mỹ bằng các đó Sự biến động về địa bàn và tỷ trọng đầu tư củacác nước tư bản phát triển không làm cho bản chất của xuất khẩu tư bản thay đổi, màchỉ làm cho hình thức và xu hướng của xuất khẩu tư bản thêm phong phú và phức tạphơn Sự xuất hiện của các ngành mới có hàm lượng khoa học- công nghệ cao ở các

Trang 7

nước tư bản bao giờ cũng dẫn đến cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng cao và điều đó tấtyếu dẫn đến tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống Hiện tượng thừa tư bản tươngđối, hệ quả của sự phát triển đó là không thể tránh khỏi Bên cạnh đó, sự phát triểnmạnh mẽ của các thiết bị quy trình công nghệ mới đã dẫn đến sự loại bỏ các thiết bị vàcông nghệ lạc hậu ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp (do hao mòn hữu hình và vôhình) Đối với nền kinh tế thế giới đang phát triển, những tư liệu sản xuất này rất cóích và vẫn là kỹ thuật mới mẻ Nhằm mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao, các tậpđoàn tư bản độc quyền đưa các thiết bị đó sang các nước đang phát triển dưới hìnhthức chuyển giao công nghệ Rõ ràng, khi chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại thì xuất khẩu

tư bản từ các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển là điều không tránhkhỏi Xét trong một giai đoạn phát triển nhất định có thể điễn ra sự thay đổi tỷ trọng tưbản đầu tư vào khu vực nào đó của thế giới, nhưng phân tích 1 thời kỳ dài hơn của quy

mô thế giới cho thấy: xuất khẩu tư bản vẫn là vũ khí chủ yếu mà tư bản độc quyền sửdụng để bành chướng ra nước ngoài Tình trạng nợ nần của ác nước đang phát triển ởchâu Á, Phi, My La-tinh là thực tế chứng minh cho kết luận trên

- Thứ hai là chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trò các công

ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu tư bản ngày càng to lớn, đặc biệt là FDI Mặt khác,

đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ các nước đang phát triển mà nổi bật làcác NICs châu Á

- Thứ ba là hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan quyện giữa xuất khẩu

tư bản và xuất khẩu hàng hóa tăng lên Chẳng hạn trong đầu tư trực tiếp xuất hiệnnhững hình thức mới như BOT,BT, sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản với các hợpđồng buôn bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám không ngừng tăng lên

- Thứ tư là sự áp đặt mang tính thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được gỡ bỏdần và nguyên tắc cùng có lợi được đề cao Ngày nay, xuất khẩu tư bản luôn thể hiệnkết quả 2 mặt Một mặt nó làm cho các quan hệ tư bản chủ nghĩa được phát triển và

mở rộng ra trên địa bàn quốc tế, góp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân cônglao động và quốc tế hóa đời sống kinh tế của nhiều nước; là một trong những nhân tốcực kì quan trọng tác động từ bên ngoài vào làm cho quá trình công nghiệp hóa và táicông nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước nhập khẩu tư bản phát triển nhanh chóng.Song mặt khác, xuất khẩu tư bản vẫn để lại cho các quốc gia nhập khẩu tư bản, nhất làvới các nước đang phát triển những hậu quả nặng nề như: nền kinh tế phát triển mất

Trang 8

cân đối và lệ thuộc, nợ nần chồng chất do bị bóc lột quá nặng nề Song điều này tuythuộc một phần rất lớn vào vai trò quản lý của nhà nước ở các nước nhập khẩu tư bản.Lợi dụng mặt tích cực của xuất khẩu tư bản, nhiều nước đã mở rộng việc tiếp nhận đầu

tư để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa ở nước mình vấn đề cần đặt ra là phải biếtvận dụng mềm dẻo, linh hoạt, nguyên tắc cùng có lợi, lựa chọn phương án thiết thực,

để khai thác nguồn lực quốc tế hiệu quả

5) Vai trò, ý nghĩa của xuất khẩu tư bản:

- Vai trò tích cực: Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản có nhiều mặt tíchcực đối với sự phát triển sản xuất xã hội, tiêu biểu trong số đó là:

 Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng Quá trình phát triển củachủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ với trình độ kỹthuật và công nghệ ngày càng cao, chuyển từ kỹ thuật lao động thủ công lên kỹ thuật

cơ khí, sang tự động hóa, tin học hóa, cùng với sự phát triển của kỹ thuật và côngnghệ là quá trình giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả khám phá và chinh phục

tự nhiên của con người Ví dụ như: con người tạo ra của cải vật chất, tạo ra giá trị củahàng hóa từ sự giảo phóng sức lao động của bản thân mình Chủ nghĩa tư bản có cônglớn thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp và chuyển nền kinh tế nhân loại bước vàothời đại mới

 Chuyển nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuấ lớn hiện đại Sự ra đời của chủnghĩa tư bản đã đoạt tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, chuyển nền kinh tế hàng hóa đơngiản lên kinh tế hàng hóa tư bản phát triển, chuyển nên sản xuất nhỏ thành nền sảnxuất tập trung quy mô lớn, hiện đại, năng suất cao Dưới tác động của quy luật giá trịthặng dư và các quy luật của nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản khích thích, tăngnăng suất lao động, tạo ra khối lượng hàng hóa khổng lồ Ví dụ như trước kia ViệtNam chỉ chủ yếu là kinh tế nông nghiệp nhờ xuất khẩu tư bản Việt Nam Giai đoạnđầu thế kỉ XXI đã có bước chuyển mình khác đáng kể, tạo ra khối lượng sản phẩm vàtăng năng suất của khối lượng sản phẩm hàng hóa

 Thực hiện xã hội hóa sản xuất, thúc đẩy hàng hóa phát triển mạnh và đạt tớimức điển hình trong lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội hóa sản xuất về cả chiềurộng và chiều sâu Đó là sự phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất tậptrung với các quy mô lớn, hợp lí, chuyên môn hóa và hợp tác lao động sâu sắc Cácmối liên hệ giữa các quốc gia, đơn vị, ngành, các lĩnh vũ cũng ngày càng chặt chẽ hơn

Trang 9

 Mặt khác, các công ty cũng không am hiểu sâu sắc về phong tục tập quán,luật pháp của thị trường nơi công ty thâm nhập nên cũng dễ bị mất thị trường.

- Ảnh hưởng của xuất khẩu tư bản trong giai đoạn mới:

o Thúc đẩy sản xuất hàng hóa công nghiệp phát triên

o Làm chuyển biến, thay đổi nền công nghiệp của 1 quốc gia

o Là nấc thang để phát triển chủ nghĩa tư bản độc quyền

o Lực lượng sản xuất phát triển kích thích giá trị tiêu hao sức lao động để tạo

ra giá trị hàng hóa tăng lên

Trang 10

B- MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

CỦA VIỆT NAM TỪ SAU “ĐỔI MỚI”

1) Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ năm

1986 đến nay:

-Với điều kiện địa lý thuận lợi, lý tưởng, vị trí nước ta tiếp giáp với nhiều nước,

có đường bờ biển dài, nhiều hải cảng thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa đường biển,các dịch vụ tàu biển , trung chuyển xuất nhập khẩu, du lịch biển, nghỉ dưỡng, … thuhút được nhiều nhà đầu tư doanh nghiệp nước ngoài rót vốn để phát triển

- Điều kiện tự nhiên và khí hậu đa dạng từng vùng miền, vì vậy mà thu hút được

đa dạng các ngành nghề đầu tư, lĩnh vực đầu tư như dịch vụ, du lịch , thương mại, thựcphẩm,cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thời trang, phụ kiện ,… mở rộng thị trườngđầu tư, khai thác hiệu quả nguồn nhân lực, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp

- Sự phát triển của các cơ sở hạ tầng, trình độ xã hội và GDP trung bình hàngnăm của nước ta theo giai đoạn 2000 – 2010 tăng 7,26 %, thu hẹp khoảng cách kinh tếtrong khu vực, thu hút nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài như : dự ánđường sắt Cát linh Đông anh hà nội, dự án Vinhtex với tổng vốn đầu tư đăng ký 200triệu USD do Royal Pagoda Private Limited (Singapore) tại Nghệ An để sản xuất vải

và nhuộm vải dệt kim hay dự án Cao ốc phức hợp - Công ty cổ phần đầu tư GoldenHill (Quần đảo Virgin thuộc Anh ), tổng vốn đầu tư đăng ký 147,5 triệu USD với mụctiêu xây dựng khu nhà ở cao tầng để bán cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về nhà ởtại TP HCM,…

- Các chính sách thu hút FDI của nước ta được thực hiện ngay từ khi Việt Nam cảicách kinh tế và được thể chế hóa thông qua ban hành Luật đầu tư nước ngoài năm 1987.Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi theo từng năm 1990, 1992, 1996, 2000, 2005 đểphù hợp và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, thu hẹp sự khác biệt giữa đầu tư nước ngoài

và đàu tư trong nước , có nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư

- Theo Báo cáo Tổng kết 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Namcủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 2 năm 2013 nước ta đã thu hút được14,550 dự án có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng kýđặt 211 tỷ USD

- Trong giai đoạn 2005-2017, Việt Nam đã thu hút được trên 20.000 dự án, vốnđầu tư bình quân khoảng 7 triệu USD/dự án Riêng năm 2018, ghi nhận những thành

Ngày đăng: 15/07/2020, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w