Triết học Mác – Lênin là một trong ba bộ phận cấu thành của Chủ nghĩa MácLênin – môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo của khối đại học trong cả nước. Triết học Mác Lênin là khoa học về những quy luật phổ biến chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; trang bị cho con người thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới. Bài tập lớn Triết học Mác lenin về đề tài: Động lực (mâu thuẫn biện chứng) của phát triển theo quan điểm biện chứng duy vật ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên
Trang 1Đề tài: “Động lực (mâu thuẫn biện chứng) của phát triển theo quan điểm biện chứng duy vật ý nghĩa của việc nghiên cứu quan
điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên”
1
Trang 2A MỞ ĐẦU
Trong sự vận động và phát triển của thế giới khách quan, quy luật mâu thuẫn được lặp đi lặp lại nhiều nhất và là phổ biến nhất Mâu thuẫn là tồn tại khách quan, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Mâu thuẫn được bắt nguồn từ các mặt đối lập tồn tại khách quan trong mọi sự vật và hiện tượng Quá trình đấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong mỗi sự vật và hiện tượng đã tạo ra động lực cho sự phát triển của các sự vật và hiện tượng Do đó, bất kì một sự vận động phát triển nào ở trong thế giới vật chất đề bắt nguồn từ sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, chỉ là xét ở những phạm vi khác nhau, những thời điểm khác nhau và những hình thức khác nhau
Con người tồn tại trong một thế giới luôn vận động và biến đổi không ngừng, luôn có sự tác động qua lại giữa các sự vật và hiện tượng với nhau Sự đấu tranh
và tác động qua lại giữa các mặt đối lập bên trong sự vật và hiện tượng là động lực của mọi sự phát triển Trong thực tế, con người có thể quan sát và nhận biết được những sự vận động này Và từ sự nhận thức đó, con người có thể nghiên cứu, tìm hiểu và từ đó tìm ra những phương hướng giải quyết để có những tác động tích cực và chính xác lên những mâu thuẫn này
Trên cơ sở nghiên cứu quy luật mâu thuẫn và nhận thức về động lực phát triển, bài tập lớn xin trình bày về vấn đề này: “Động lực (mâu thuẫn biện chứng) của phát triển theo quan điểm biện chứng duy vật ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên” Nội dung nghiên cứu đề tài này sẽ được trình bày qua hai phần:
- Cơ sở lý luận về quan điểm biện chứng duy vật về động lực của phát triển
- Thực tiễn của quan điểm này trong nghiên cứu, học tập
B NỘI DUNG CHÍNH
I Cơ sở lý luận
2
Trang 31 Mâu thuẫn
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Mặt đối lập
Mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Sự tồn tại các
mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật
Ví dụ: Trong tư duy, hai mặt đối lập là tư duy tập trung khi chú ý cao độ vào một vấn đề nào đó với tư duy phân tán khi để tâm trí trôi dạt, tư duy được thư
giãn nghỉ ngơi Hai mặt đối lập là tư duy tập trung và tư duy phân tán tồn tại một cách khách quan bên trong tư duy của con người Một ví dụ khác là trong xã hội, giàu và nghèo là hai mặt đối lập và tồn tại một các khách quan
1.1.2 Mâu thuẫn
- Mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự việc, hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau
Ví dụ: Đồng hóa và dị hóa vừa thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa với nhau trong quá trình trao đổi chất của cơ thể Đồng hóa là tập hợp các phản ứng sinh hóa nhằm mục đích xây dựng các phân tử lớn, phức tạp từ các thành phần nhỏ, đơn giản để tích lũy năng lượng Dị hóa là tập hợp các phản ứng sinh hóa nhằm mục đích phá vỡ các phân tử phức tạp thành các phân tử đơn giản hơn để giải phóng năng lượng cho hoạt động sống Trong tế bào vừa có quá trình tổng hợp xây dựng cấu trúc tế bào, vừa có quá trình phân giải các chất để cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của tế bào Năng lượng giải phóng trong quá trình
dị hóa được sử dụng trong quá trình tổng hợp Do đó không có đồng hóa thì không có dị hóa và ngược lại, không có dị hóa thì không có năng lượng để thực hiện đồng hóa
3
Trang 4- Mâu thuẫn biện chứng, theo quan điểm mácxít, là khách quan vốn có của bất kỳ sự vật, hiện tượng nào Một sự vật chỉ tồn tại, chỉ có sức sống chừng nào
nó bao hàm mâu thuẫn, chứa đựng những mâu thuẫn Mâu thuẫn biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập Mâu thuẫn biện chứng không chỉ là sự phủ định, sự đấu tranh, loại trừ lẫn nhau giữa các mặt đối lập mà nó còn là sự nương tựa, dựa vào nhau giữa các mặt đối lập, vì vậy nó bao gồm cả sự thống nhất giữa chúng Thống nhất là điều kiện của đấu tranh, còn đấu tranh để đi tới giải quyết mâu thuẫn Với ý nghĩa đó , có thể nói mâu thuẫn biện chứng là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển
Ví dụ: Mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa tính tốt và tính xấu bên trong tính cách một con người Tính tốt và xấu hợp thành một chỉnh thể hoàn chỉnh thống nhất bên trong tính cách của con người, cùng giữ vai trò chi phối hoạt động, hành vi của con người Tính tốt và tính xấu không chỉ thống nhất
mà còn luôn đấu tranh với nhau, luôn loại trừ, bài xích và phủ định lẫn nhau Tuy nhiên, hai mặt này bị ảnh hưởng bởi tác động của môi trường Nếu môi trường giáo dục tốt thì tính tốt sẽ lấn át tính xấu và ngược lại Do đó, có thể nói tính tốt
và tính xấu trong tính cách một con người tồn tại trong sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau theo hướng trái ngược nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng
1.2 Phân loại mâu thuẫn
- Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập đối với sự vật được xem xét, có thể phân loại các mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật, hiện tượng và quy định trực tiếp quá trình vận động
và phát triển của sự vật hiện tượng Ví dụ: Mâu thuẫn giữa hoạt động ăn và hoạt động bài tiết là mâu thuẫn bên trong mỗi con người
Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật là mâu thuẫn xuất hiện trong mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác; tuy cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại và
4
Trang 5phát triển của sự vật, nhưng phải thông qua mâu thuẫn bên trong mới có tác dụng
- Căn cứ vào sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật Mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật Ví dụ: mâu thuẫn giữa việc có tiền ít và muốn mua đồ hiệu là mâu thuẫn cơ bản vì nó liên quan đến giá trị sống của con người
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào
đó của sự vật, chỉ quy định sự phát triển, vận động của một hay một số mặt của
sự vật, hiện tượng
- Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng trong một giai đoạn nhất định, có thể phân chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giải đoạn phát triển nhất định của sự vật, và chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong là điều kiện để giải quyết các mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn Việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện cho sự phát triển, chuyển hóa của sự vật, hiện tượng từ hình thức này sang hình thức khác
Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật, không đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của sự vật và hiện tượng
- Căn cứ vào tính chất của lợi ích cơ bản là đối lập nhau trong mối quan hệ giữa các giai cấp ở một giai đoạn lịch sử nhất định, chia mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
5
Trang 6Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau và không thể điều hòa được Ví dụ: Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ trong xã hội phong kiến
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản không đối lập nhau, nên chỉ là mâu thuẫn cục bộ, tạm thời Ví dụ: Mâu thuẫn giữa lao động trí óc với lao động chân tay
1.3 Tính chất chung của mâu thuẫn
- Mâu thuẫn có tính chất khách quan: vì mối liên hệ, sự chuyển hóa, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập là cái vốn có trong sự vật hiện tượng,
là bản chất chung của mọi sự vật, hiện tượng Sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất biện chứng chứa đựng các mặt đối lập, tức là chứa đựng những mâu thuẫn tự thân của nó; do đó mâu thuẫn tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào
ý thức của con người
- Mâu thuẫn có tính phổ biến: bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên,
xã hội, tư duy và trong từng giai đoạn, quá trình cũng tồn tại mâu thuẫn, vận động trên cơ sở các mâu thuẫn nội tại của các mặt đối lập của nó hoặc giữa nó với các sự vật, hiện tượng khác
- Mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử, cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng; trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sự biểu hiện của mâu thuẫn
2 Quá trình vận động của mâu thuẫn
6
Trang 72.1 Một số khái niệm
2.1.1 Sự thống nhất giữa các mặt đối lập
Sự thống nhất giữa các mặt đối lập: dùng để chỉ sự liên hệ ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại Không có sự thống nhất thì không tạo thành sự vật Sự thống nhất này bị phá hủy thì sự vật không tồn tại nữa Sự thống nhất này là sự thống nhất
từ bên trong, do nhu cầu tồn tại, nhu cầu vận động và phát triển của chính bản thân các mặt đối lập
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập Vậy nên, sự thống nhất của các mặt đối lập cũng bao hàm sự đồng nhất, sự phù hợp, tác động ngang nhau Trong trường hợp này, thống nhất được hiểu là trạng thái mà những yếu tố chung của hai mặt đối lập giữ vai trò chi phối; đó là trạng thái cân bằng của mâu thuẫn
Ví dụ: Trong mỗi con người, hoạt động ăn và hoạt động bài tiết là hai mặt đối lập, nhưng phải nương tựa nhau, không tách rời nhau bên trong cơ thể con người Nếu có hoạt động ăn mà không có hoạt động bài tiết thì con người không thể sống được Một ví dụ khác, các điện tích âm và các điện tích dương là hai mặt đối lập nhưng được liên kết với nhau để bảo toàn các lớp điện tử vòng ngoài hay các nhu cầu khác của các nguyên tử, của các vật mang điện
2.1.2 Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập: là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập, diễn ra trong thể thống nhất của chúng và trải qua các giai đoạn thời kỳ khác nhau Đấu tranh giữa các mặt đối lập có nhiều hình thức, phụ thuộc vào bản chất và trình độ phát triển của mâu thuẫn, cũng như hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi giải quyết mâu thuẫn Đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành các chất vô cơ khác hẳn cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập của các cơ thể sống Đấu tranh trong lĩnh vực tự nhiên hoàn toàn
7
Trang 8khác với đấu tranh trong xã hội Tuy nhiên, tính chất chung, cơ bản của một cuộc đấu tranh là đưa đến xóa bỏ những cái cũ, cái không phù hợp, cái lỗi thời để tạo thành những cái mới Vì vậy, đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển Lênin khẳng định : “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập.” Ví dụ: Trong xã hội phong kiến, kẻ bóc lột
và người bị bóc lột là hai mặt đối lập và luôn đấu tranh để bài trừ nhau, dành quyền lợi về mình
2.1.3 Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập
Các mặt đối lập không chỉ thống nhất và đấu tranh với nhau mà chúng còn chuyển hóa lẫn nhau Đó là quá trình thẩm thấu những nhân tố, những thuộc tính của nhau Sự chuyển hóa này là kết quả của những tác động qua lại thường xuyên giữa các mặt đối lập, là do sự thống nhất và đấu tranh giữa chúng
2.2 Các giai đoạn của quá trình vận động của mâu thuẫn
- Khi mâu thuẫn mới xuất hiện, nó biểu hiện ở sự khác biệt không bản chất, mâu thuẫn sau đó chuyển sang giai đoạn khác biệt bản chất
- Những khác biệt bản chất trong những điều kiện phù hợp đều phát triển thành sự đối lập
- Tiếp tục phát triển, chúng chuyển thành các thái cực xung đột với nhau trong mâu thuẫn, “chuyển hóa vào nhau” và bằng cách nào đó đòi hỏi được giải quyết
- Sau sự giải quyết mâu thuẫn, đối tượng chuyển sang trạng thái chất mới với những mâu thuẫn mới
3 Vai trò của mâu thuẫn đối với sự phát triển
Mâu thuẫn giữ vai trò là nguồn gốc, động lực cơ bản của quá trình phát triển bởi:
8
Trang 9- Phát triển được hiểu là một quá trình sự vật này chuyển thành sự vật khác, giai đoạn này chuyển thành giai đoạn khác bên trong một sự vật; hay đó là một quá trình đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ
- Mỗi sự vật đều bao hàm trong nó nhiều mâu thuẫn: bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và không chủ yếu… Giữa các mặt đối lập đó vừa có tính thống nhất với nhau vừa diễn ra quá trình đấu tranh với nhau; tức là, trong sự thống nhất có sự đấu tranh, và đấu tranh trong tính thống nhất
- Tính chất thống nhất giữa các mặt đối lập trong mỗi mâu thuẫn có tác dụng làm cho sự vật còn ổn định tương đối ở một chất nhất định, chưa biến đổi thành chất mới
- Tuy nhiên, giữa chúng không chỉ có sự thống nhất tương đối mà còn luôn diễn ra sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, đấu tranh giữa chúng có tính chất tuyệt đối Đấu tranh giữa các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động lên sự vật và làm cho mâu thuẫn phát triển Chính sự đấu tranh đó dẫn tới sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập Có thể hiểu là, hai mặt đối lập luôn tồn tại sự khác nhau, khi sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển đi đến đối lập, hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau Nhờ đó thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới;
sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế Sự chuyển hóa này đã trực tiếp làm cho vật chất chuyển hóa thành cái khác, sự vật khác hay giai đoạn khác… Theo nghĩa đó, phát triển được hiểu là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập
- Khi mâu thuẫn cũ đã được giải quyết thì sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời lại bao hàm mâu thuẫn mới, mâu thuẫn mới lại được triển khai, phát triển và lại được giải quyết làm cho sự vật mới luôn luôn xuất hiện thay thế sự vật cũ Nếu mâu thuẫn không được giải quyết, các mặt đối lập không được chuyển hóa, thì không có sự phát triển
9
Trang 104 Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng mang tính khách quan, phổ biến nên phải tôn trọng mâu thuẫn Thứ hai, phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn để tìm ra cách giải quyết phù hợp; xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa các mâu thuẫn và điều kiện chuyển hóa giữa chúng, tránh rập khuôn, máy móc Thứ
ba, phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các mặt đối lập, không điều hòa mâu thuẫn cũng không nóng vội hay bảo thủ, phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín muồi
II Ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm trong nghiên cứu, học tập của sinh viên
1 Vấn đề mâu thuẫn trong bản thân sinh viên: mâu thuẫn giữa suy nghĩ lười học và mong muốn có thêm kiến thức mới
Trước khi giải quyết được mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập này trong bản thân sinh viên, cần dựa trên mâu thuẫn biện chứng theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật để hiểu rõ hơn về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa hai mặt đối lập này:
- Trong bản thân mỗi sinh viên luôn tồn tại hai mặt đối lập, đó là suy nghĩ lười học và suy nghĩ muốn có thêm kiến thức mới Hai mặt đối lập này biến đổi trái ngược nhau, tồn tại khách quan bên trong suy nghĩ của bản thân sinh viên Hai mặt đối lập này càng thể hiện rõ nét hơn khi sinh viên mới bước chân vào môi trường đại học, không còn sự ước thúc từ thầy cô và cha mẹ Lười học là không chăm chỉ, cần cù, không chịu suy nghĩ trong học tập và luôn cảm thấy chán nản khi phải học Có nhiều lý do dẫn đến những suy nghĩ lười học, tuy nhiên có thể nói rằng một phần là do sinh viên bước vào môi trường đại học, một môi trường hoàn toàn mới và khác xa với môi trường cấp 3, khi đó sinh viên có cuộc sống độc lập, không còn sự ước thúc nên có thể sa vào những việc khác mà
bỏ bê việc học tập của bản thân Suy nghĩ lười học khiến bản thân không còn
10