Về mặt khoa học, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử cụ thể là nguồn gốc của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay giúp cung cấp một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
-***-
NIÊN LUẬN 2
NGUỒN GỐC CỦA CÁC CHẾ ĐỘ
ĐỘC TÀI Ở ĐÔNG NAM Á
Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Văn Cả Sinh viên thực hiện: Võ Phạm Khánh Đăng
Mã số sinh viên: 1756040018 Ngành: Lịch sử thế giới
Thành phố Hồ Chí Minh, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 4
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Kết cấu của đề tài 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỘC TÀI VÀ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI 10 1.1 Các vấn đề về nguồn gốc và khái niệm 10
1.2 Các vấn đề về phân loại và đặc điểm 15
1.3 Các vấn đề về tác động và ảnh hưởng 21
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 NGUỒN GỐC CỦA CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI Ở ĐÔNG NAM Á 29
2.1 Nguồn gốc chính trị 29
2.2 Nguồn gốc kinh tế 42
2.3 Nguồn gốc lịch sử - văn hóa 52
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 54
CHƯƠNG 3 NGUỒN GỐC CỦA CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI Ở ĐÔNG NAM Á – MỘT VÀI NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 55
3.1 Nhận xét, đánh giá về nguồn gốc của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á 55
3.2 Triển vọng dân chủ ở các nước Đông Nam Á hậu độc tài – Một số trường hợp cụ thể 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 3xã hội chủ nghĩa; hầu hết Trung Đông vẫn không có tự do và hầu hết các quốc gia châu Phi đang ở vào một tình trạng xen kẽ giữa những nền dân chủ chưa hoàn thiện và chủ nghĩa chuyên quyền của di sản độc tài Thực tiễn lịch sử ấy đã buộc các học giả về khoa học chính trị quan tâm nhiều hơn đến các chế độ độc tài và có cái nhìn khác về độc tài Yêu cầu của học thuật về độc tài và các chế độ độc tài trong giai đoạn hiện nay là: Xem xét nó với tư cách là chính nó, chứ không đặt nó vào một phản đề với dân chủ Từ đó và trên cơ
sở đó, chúng ta sẽ có những đánh giá và nhận xét khách quan hơn, khoa học hơn và toàn diện hơn về hiện tượng lịch sử đặc biệt này
Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai là một khu vực đầy bất ổn, bởi những cuộc chiến tranh, xung đột và khủng hoảng an ninh luôn xuất hiện Kết hợp với những yếu
tố ngoại sinh khác như Chiến tranh lạnh và sự can thiệp, ảnh hưởng của các đại cường, tất
cả đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các chế độ độc tài ở khu vực này Các chế độ chính trị phi dân chủ ấy vừa là kết quả của bối cảnh đương thời với những nhân tố nội sinh và ngoại sinh phong phú, đa dạng, vừa là sự kế thừa tất yếu của những di sản lịch sử từ quá khứ thuộc địa và văn minh nông nghiệp nhiều thế kỷ Về mặt bản chất, các chế độ ấy cũng
có thể được xem là sự tổng hòa của hai thành tố dân tộc và giai cấp, tuy nhiên, mức độ đậm nhạt giữa hai thành tố này sẽ tùy thuộc vào đặc trưng riêng của từng quốc gia Cho tới hiện nay, việc tiến hành nghiên cứu về các chế độ độc tài ở Đông Nam Á nói riêng và các chế
độ độc tài trên thế giới nói chung gặp không ít khó khăn, mà nguyên nhân chính của hiện trạng này xuất phát từ tính chất mờ ám, thiếu minh bạch, bảo thủ và khép kín của chính trị độc tài Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập khu vực, các chính thể độc tài dần dần bị thu hẹp, nhưng chúng vẫn tồn tại và đóng một vai trò quan trọng trên chính trị quốc tế, việc nghiên cứu các thể chế ấy, đặc biệt là các thể chế độc tài đã và đang tồn tại ở Đông Nam
Á, càng tỏ ra cần thiết hơn bao giờ hết
Về mặt thực tiễn, hơn nửa thế kỷ hình thành, phát triển và suy vong của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay có ý nghĩa đặt biệt quan
Trang 4trọng không chỉ với chính những quốc gia từng trải qua mô hình chính trị này, mà còn trở thành một trong những chủ đề đáng quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong nhiều lĩnh vực đa dạng (như sử học, chính trị học, xã hội học và quan hệ quốc tế), cũng như đối với những quốc gia chưa từng phải trải qua thời kỳ độc tài Các chế độ độc tài ở Đông Nam Á và những bài học lịch sử từ thực tiễn của các chế độ này để lại đã trở thành biểu tượng cho một thời đại đầy bất ổn, khủng hoảng và tang thương, một thời đại tranh tối tranh sáng với ý thức hệ và đấu tranh giai cấp được đặt lên trên thịnh vượng và phát triển Từ thực tế của các quốc gia trải qua chế độ độc tài, chúng ta đều thấy được vai trò của quần chúng nhân dân trong các hoạt động của chính trị độc tài – dù cho họ bị hạn chế
về nhiều mặt, nhưng những hoạt động tích cực của các nhóm, các tổ chức xã hội dân sự, các đảng phái chính trị luôn sôi nổi và mạnh mẽ Nhân dân chính là trung tâm, là động lực của cả quá trình chuyển đổi các xã hội độc tài sang dân chủ trong tương lai không xa Tuy nhiên, bản thân hiện tượng lịch sử nào cũng có tranh cãi cần minh định, đặc biệt là chế độ độc tài, chúng cũng không thể tránh khỏi những tranh luận xung quanh, cụ thể là những tranh luận về nguồn gốc và bản chất vẫn còn nhiều điều chưa được làm rõ và hiểu đúng,
do nhiều nguyên nhân – cả chủ quan lẫn khách quan của thời đại Điều đó đã cho thấy tính chất phức tạp của các chế độ độc tài và do đó nếu không có các nghiên cứu một cách hệ thống, các đánh giá dựa trên những quan niệm biện chứng và khoa học thì không thể giải quyết triệt để được Do đó, việc nghiên cứu về nguồn gốc của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á, một lần nữa, được chúng tôi nhấn mạnh là vô cùng cần thiết
Về mặt khoa học, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử (cụ thể là nguồn gốc) của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay giúp cung cấp một góc nhìn tổng quan khi luận giải về sự vận động đi lên và bản chất của nền chính trị đương đại ở các nước trong khu vực này, về xu thế phát triển của các mô hình chính trị mới, dân chủ và tự do hơn, cũng như mở ra những hướng tiếp cận mới về dân chủ
và độc tài, tìm ra cơ hội và thách thức cho triển vọng dân chủ ở những nơi còn đang loay hoay trong vòng xoáy của bất ổn và khủng hoảng, … Là một quốc gia đang phát triển, đang trải qua những thay đổi quan trọng về cơ chế, hoạt động theo hướng hội nhập hơn với khu vực và thế giới, trong suốt lịch sử của mình, đặc biệt là trong những năm khói lửa chiến tranh, Việt Nam chắc chắn không thể không chịu tác động từ các mô hình chính trị độc tài, chuyên chính, với những mặt trái và phải nhập nhằng, không phân định Do đó, việc hiểu
rõ về những nguồn gốc đã kiến tạo nên các chế độ chính trị đã và đang tồn tại ở nước mình
và những nước xung quanh trong khu vực sẽ cung cấp cho Việt Nam những quan điểm lý luận và thực tiễn quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện con đường phát triển của quốc gia dân tộc mình, tránh lặp lại những sai lầm trong quá khứ, rút kinh nghiệm từ quá khứ để vững tin hơn vào những quyết định của hiện tại và tương lai
Từ những lý do trên cùng với những định hướng nghiên cứu lâu dài của bản thân đối với lịch sử thế giới nói chung và lịch sử Đông Nam Á nói riêng, tôi quyết định lựa chọn
“NGUỒN GỐC CỦA CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI Ở ĐÔNG NAM Á” làm đề tài Niên luận
2 hệ Cử nhân tài năng, chuyên ngành Lịch sử thế giới
Trang 52 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thông qua những nguồn tư liệu mà chúng tôi tiếp cận, có thể khái quát tình hình nghiên cứu của đề tài như sau:
2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, các nghiên cứu về các chế độ độc tài nói chung và các chế độ độc tài ở Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay nói riêng ít được quan tâm và nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống Các công trình về những vấn đề trên đều được trình bày với tư cách là những nội dung thứ yếu, khi được nhắc cùng với đối tượng chính là các vấn đề có liên quan đến dân chủ và pháp quyền chính trị Thậm chí, nhiều công trình còn tỏ ra khá phiến diện, phê phán một cách gay gắt các chế độ độc tài mà không nhìn nhận các đóng góp nhất định của mô hình này trong những trường hợp như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, …
Công trình có hệ thống và đầy đủ nhất hiện nay về chế độ độc tài ở Đông Nam Á mà
chúng tôi có dịp tiếp cận được là: “Một số vấn đề về dân chủ, độc tài và phát triển” của
Hồ Sĩ Quý (NXB Lý luận chính trị, 2014) gồm 3 chương – cung cấp một góc nhìn tổng quan về những vấn đề lý luận về độc tài, dân chủ và phát triển; những trường hợp điển hình
ở Liên Xô – Liên Bang Nga, Hàn Quốc, Đài Loan, Đông Nam Á và Mỹ Latinh trong mối quan hệ giữa ba phạm trù khái niệm trên; đồng thời, đặt ra những vấn đề mới liên quan đến tương lai của các nước trong kỷ nguyên hậu độc tài và triển vọng dân chủ Ngoài ra, chúng tôi cũng tiếp cận đến các công trình có nội dung đi vào những trường hợp độc tài cụ thể ở
từng nước, như những công trình của Nguyễn Công Bình (“Bàn về bản chất chế độ độc
tài, phát xít, gia đình trị Ngô Đình Diệm với những mâu thuẫn bế tắc của nó”, 1961, tạp
chí Nghiên cứu Lịch sử, số 22) và Cao Văn Lượng (“Bản chất giai cấp của chính quyền
Ngô Đình Diệm”, 1961, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 24) về chế độ Ngô Đình Diệm ở
miền Nam Việt Nam; Đỗ Văn Nhung (“Lịch sử Campuchia”, 1983) và Trần Hùng Minh Phương (“Vấn đề Campuchia trong quan hệ Việt Nam – ASEAN”, 2019) về chế độ Khmer
Đỏ ở Campuchia; Lê Văn Quang (“Lịch sử Vương quốc Thái Lan”, 1995) và Huỳnh Thế
Du (“Zích-zắc tiến trình dân chủ ở Thái Lan”, 2018) về các chế độ quân sự ở Thái Lan
Bên cạnh đó, để cung cấp những nội dung có liên quan khác, chúng tôi đã sử dụng các
công trình về “Văn hóa Đông Nam Á” của các tác giả Mai Ngọc Chừ (1999) và Nguyễn
Tấn Đắc (2005)
Như vậy, nhìn chung, từ những gì đã khái quát được, chúng tôi cho rằng, các nghiên cứu trong nước về các chế độ độc tài cũng như nguồn gốc của chúng ở Đông Nam Á không nhiều, nếu không muốn nói là quá ít Trong khi đó, ở nước ngoài, các nguồn tư liệu tỏ ra dồi dào hơn và đa dạng hơn tình hình nghiên cứu trong nước rất nhiều
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nếu như ở Việt Nam kết quả nghiên cứu về đề tài này còn khá khiêm tốn thì ở nước ngoài, các công trình khoa học chuyên sâu về cùng vấn đề lại khá đa dạng cả về số lượng
Trang 6và chất lượng Đặc điểm trên được phản ánh cụ thể thông qua các nhóm nghiên cứu sau đây:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về những vấn đề có tính chất lý luận liên quan đến độc tài và chế độ độc tài : Với cấp độ này, nổi bật hơn cả là các công trình như “The Origins of Totalitarianism” (New York: Harvest Books, 1951) của Hannah Arendt,
“Totalitarian Dictatorship and Autocracy” (Cambridge, MA: Harvard University Press,
1956) của Carl Friedrich & Zbigniew Brzezinski, “The Theory of Social and Economic
Organization” (New York: The Free Press, 1964) của MaxWeber và “Totalitarian and Authoritarian Regimes” (MA: Addison Wesley Publishing Company, 1975) của Juan Linz
– Có thể xem đây đều là những công trình khoa học đã đặt nền móng vững chắc cho các nghiên cứu về chính trị độc tài nói riêng cũng như chính trị học so sánh nói chung Bằng cách tiếp cận liên ngành (sử học, xã hội học và chính trị học), các học giả trên đã cung cấp một góc nhìn sâu sắc, toàn diện, tương đối khách quan về những vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm và tác động của các chế độ độc tài trong lịch sử
Cụ thể hơn, chúng tôi còn có dịp tham khảo được những công trình chuyên khảo về từng loại hình độc tài đã và đang tồn tại trong đời sống chính trị thế giới, hiểu được sự phức tạp trong việc luận giải và phân loại chúng, cũng như những tranh cãi không hồi kết
về việc liệu một trường hợp độc tài sẽ được xếp vào nhóm nào khi chúng có những đặc
trưng rất riêng mà không một nơi nào có được Các công trình đó là: “Authoritarian Politics
in Modern Society: The Dynamics of Established One-Party Systems” (New York: Basic
Books, 1970) của Samuel P Huntington & Clement H Moore, “Political Order and
One-Party Rule” (Annual Review of Political Science 13: 123 – 43, 2010) của Beatriz Magaloni
& Ruth Kricheli về các chế độ độc tài đảng phái; “Soldiers in Politics: Military Coups and
Governments” (Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall, 1977) của Eric A Nordlinger và
“Military and Politics in Modern Times: Professionals, Praetorians and Revolutionary Soldiers” (New Haven, CT: Yale University Press, 1977) của Amos Perlmutter về các chế
độ độc tài quân sự; “Personal Rule in Black Africa: Prince, Autocrat, Prophet, Tyrant”
(Berkeley, CA: University of California Press, 1982) của Robert H Jackson & Carl G
Rosberg, “Explaining Transitions from Neopatrimonial Dictatorships” (Comparative Politics 24(October): 379 – 99, 1992) của Richard Snyder, “Democratic Experiments in
Africa: Regime Transitions in Comparative Perspective” (New York: Cambridge
University Press, 1997) của Michael Bratton & Nicolas Van de Walle về các chế độ độc tài cá nhân
Ngoài ra, trong xu thế hiện nay, khi mà làn sóng dân chủ hóa thứ ba đang gặp phải những khó khăn, các nhà nước dân chủ lâm vào suy thoái, chủ nghĩa độc tài và chế độ độc tài lại có cơ hộ trỗi dậy một cách mạnh mẽ, chính vì thế, các nghiên cứu gần đây về loại hình chính trị phi dân chủ này trở nên vô cùng giá trị, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Trong
số đó, chúng tôi tâm đắc nhất là những công trình như “What Do We Know about
Democratization after Twenty Years?” (Annual Review of Political Science 2: 115 – 44,
1999) của Barbara Geddes, “Political Institutions under Dictatorship” (New York:
Trang 7Cambridge University Press, 2008) của Jennifer Gandhi, “Rule by Law: The Politics of
Courts in Authoritarian Regimes” (New York: Cambridge University Press, 2008) của
Tom Ginsburg & Tamir Moustafa “Dictators and Dictatorships – Understanding
Authoritarian Regimes and Their Leaders” (New York: Sheridan Books, 2011) của
Natasha M Ezrow & Erica Frantz và công trình gần nhất của Bill Jordan –
“Authoritarianism and How to Counter It” (Switzerland: Palgrave Macmillan, 2019) Đặc
biệt hơn cả, chúng tôi đánh giá khá cao công trình “The Politics of Authoritarian Rule”
(UK: Cambridge University Press, 2012) của Milan W Svolik Công trình này đã chỉ ra được những vấn đề có ý nghĩa nền tảng để hiểu về một chế độ độc tài – Chẳng hạn như những xung đột và mâu thuẫn trong chính trị độc tài, vai trò của các nhân tố nội sinh và ngoại sinh trong việc củng cố hoặc thủ tiêu chính trị độc tài, …
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về các chế độ độc tài ở Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay: Với cấp độ này, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới các
công trình của G.A Martysheva (“Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai”, Hà Nội: NXB Sự thật, 1962), J.C Kwok (“Explaining civilmilitary relations in Southeast Asia”,
Massachusetts Institute of Technology, 2010) và Muhammad Indrawan Jatmika
(“Rethinking the Emergence and the Practice of Three Praetorian States in Southeast Asia:
A Comparative Study between Indonesia, Myanmar and Thailand”, Global South Review,
Vol 2, No 1, 2020) Ba công trình này, cùng với rất nhiều những công trình khác nữa có liên quan đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về Đông Nam Á những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, với những biến cố chính trị, những rào cản kinh tế và những di sản của lịch sử đã ươm mầm và nuôi dưỡng chính trị độc tài
Bên cạnh đó, với từng trường hợp cụ thể, chúng tôi đã tiếp cận được những công trình
có đề cập đến nguồn gốc của các chế độ độc tài ở: Indonesia với “A History of Modern
Indonesia: c.1300 to the Present” (Basingstoke: Macmillan Distribution, 1981) của M C
Ricklefs, “Rethinking Indonesia: Postcolonial Theory, Authoritarianism and Identity” (London: Macmillan Press, 2000) của Simon Philpott và “The army and politics in
Indonesia” (Sheffield: Equinox Publishing, 2007) của H Crouch; Myanmar với “The split story: an account of recent political upheaval in Burma: with emphasis on AFPFL”
(London: The Guardian, 1959) của S Win, “Myanmar under the military rule 1962-1988”
(International Research Journal of Social Sciences, Vol 3, No 10, 2014) của K S Devi và
“Building the Tatmadaw: Myanmar armed forces since 1948” (Institute of Southeast Asian
Studies, 2009) của M A Myoe; Philippines với “The Rise and Fall of Ferdinand Marcos” (Asian Survey, Vol 26, No 11, 1986) của William H Overholt, “Philippine Politics and
Society in the Twentieth Century – Colonial legacies, post-colonial trajectories” (London:
Routledge, 2000) của Eva-Lotta E Hedman & John T Sidel, “The Philippines: A Story of
Nation” (Honolulu: University of Hawaii, 2001) của Grace Estela C Mateo và “The Philippines: Historical Overview” (Center for Philippines Studies – University of Hawaii,
1990) của Julie Shackford Không chỉ dừng lại ở đó, chúng tôi còn tiếp cận đến những công trình đề cập đến các chế độ độc tài ở Malaysia, Campuchia, Thái Lan và miền Nam Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX đến nay
Trang 8Như vậy, có thể thấy, tất cả các công trình được nêu ở bên trên đều đã ít nhiều đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có những đóng góp quan trọng trong việc hiểu về những biến đổi của xã hội, những tiền đề về chính trị, kinh tế và lịch sử – văn hóa, … là điều kiện hình thành và phát triển của chính trị độc tài ở Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay Dù vậy, bản thân các công trình ấy cũng không khỏi tránh được những hạn chế nhất định:
Thứ nhất, đối với các công trình nghiên cứu về những vấn đề có tính chất lý luận liên quan đến độc tài và chế độ độc tài, chúng đã không đặt ra tầm quan trọng của những nghiên cứu hướng đến nguồn gốc của các chế độ chính trị phi dân chủ, tất cả chúng, về cơ bản, chỉ mới là những phác họa bề nổi, mang tính hiện tượng, chưa đi sâu vào bản chất và quy luật của các chế độ này Chưa kể, dưới góc nhìn của học thuật tư sản, trên một mức độ nhất định, quan điểm giai cấp và dân tộc phần nhiều chiếm ưu thế
chung, cũng chỉ mới cung cấp những hiểu biết khái quát về một hoặc một số góc nhìn về đặc điểm, tác động của các chế độ đó đối với lịch sử từng nước và lịch sử khu vực, chưa
có cái nhìn tổng thể và toàn diện, cũng như trực diện vào nguồn gốc phát sinh và duy trì chính trị độc tài
Trên cơ sở kế thừa thành công và phát hiện hạn chế của các công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi đã bước đầu định hình cách tiếp cận, ý tưởng, xác lập nội dung và phương pháp nghiên cứu một cách hiệu quả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nguồn gốc làm xuất hiện những chế
độ độc tài ở Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay Với cách tiếp cận của khoa học lịch sử, đề tài xác định phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:
Về không gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và khảo sát các chế độ độc tài ở
Đông Nam Á
Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và khảo sát từ sau Chiến tranh thế
giới thứ hai đến nay Tuy nhiên, vì đối tượng là nguồn gốc của sự ra đời các chế độ độc tài, cho nên, không tránh khỏi những phân tích có tính chất truy nguyên từ các giai đoạn lịch
sử trước đó – thời kỳ thuộc địa, thời kỳ phong kiến và sơ sử
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục tiêu nghiên cứu: Đề tài tập trung làm rõ nguồn gốc của các chế độ độc tài ở
Đông Nam Á trên cơ sở phân tích những biểu hiện về chính trị, kinh tế và lịch sử – văn hóa của khu vực, … từ đó đúc kết ra những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học về đặc điểm, bản chất và tác động của các chế độc tài đối với lịch sử khu vực nói riêng và lịch sử
Trang 9thế giới nói chung, cũng như về những triển vọng và tương lai của các nước Đông Nam Á trong không gian hậu độc tài
Về nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu nói trên, chúng tôi tập trung thực hiện
các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Chỉ ra được nhũng vấn đề có tính chất lý luận về độc tài và chế độ độc tài như khái niệm và nguồn gốc, phân loại và đặc điểm, tác động và ảnh hưởng
- Chỉ ra được nguồn gốc của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á thông qua các phương diện như chính trị, kinh tế và lịch sử – văn hóa, lấy điển hình những trường hợp cụ thể ở từng quốc gia
- Đưa ra được những đánh giá và nhận xét khách quan, khoa học trên cơ sở những nghiên cứu về nguồn gốc của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á trong quá khứ, chỉ ra được
những cơ hội và thách thức cho triển vọng dân chủ ở các quốc gia trong hiện tại
5 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiếp cận với các tư liệu chủ yếu sau:
- Các sách chuyên khảo của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung nghiên cứu của đề tài
- Các bài viết, các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí, tập san, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước
- Khóa luận, luận văn, luận án
- Tài liệu từ các Website uy tín và chính thống trên Internet
6 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Phương pháp luận của đề tài này được hình thành trên cơ sở
những hệ thống quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Marx – Lenin, chú trọng vào những luận điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu các chế độ chính trị, những luận điểm
về nhà nước tư sản và nền chuyên chính tư sản, về dân chủ và độc tài, về vai trò của cá nhân trong lịch sử, … Những quan điểm này được coi là kim chỉ nam trong quá trình nghiên cứu đề tài Ngoài ra, để bổ trợ cho quá trình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi còn áp dụng
và đứng trên nền tảng của lý luận quan hệ quốc tế, lý thuyết xã hội học về giai cấp và xung đột xã hội, …
Về phương pháp nghiên cứu: Đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp khoa học lịch
sử, phương pháp logic và sự kết hợp giữa chúng được xác định như dòng mạch chủ yếu Bên cạnh đó, đề tài còn vận dụng một số phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, … khi nghiên cứu chuyên sâu từng nội dung nhằm nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách xác thực và khách quan Cụ thể:
Trang 10- Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ tiến trình vận động của hiện tượng
độc tài nói chung và sự xuất hiện của các chế độ độc tài nói riêng trong lịch sử Đông Nam
Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
- Phương pháp logic được sử dụng để chỉ ra nguồn gốc của các chế độ độc tài ở
Đông Nam Á, thông qua những đặc điểm, bản chất và xu hướng phát triển của chế độ độc tài ở các phương diện chính trị, kinh tế, lịch sử – văn hóa Ngoài ra, phương pháp này còn giúp chỉ ra được những cơ hội và thách thức đối với triển vọng dân chủ hóa của các quốc gia hậu độc tài, trên cơ sở của những gì mà chế độ độc tài đã để lại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để chỉ ra sự tương đồng và khác
biệt của mỗi quốc gia trong khu vực trong những trường hợp điển hình về độc tài và nguồn gốc của độc tài, cũng như các luận giải về nguyên nhân của những khác biệt đó
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để thu thập và đánh giá các nguồn
tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
đề tài gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về độc tài và chế độ độc tài
Chương 2 Nguồn gốc của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á
Chương 3 Nguồn gốc của các chế độ độc tài ở Đông Nam Á – Một vài nhận xét, đánh giá
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỘC TÀI VÀ CHẾ
ĐỘ ĐỘC TÀI
1.1 Các vấn đề về nguồn gốc và khái niệm
Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội người, kể từ khi giai cấp và nhà nước
ra đời cũng là lúc người ta bắt đầu quan tâm đến cái mà chúng ta vẫn thường hay gọi là
“quyền lực” Hiểu một cách đơn giản nhất, quyền lực là sức mạnh, là công cụ để các cá nhân, tổ chức hay cộng đồng sử dụng để thu về lợi ích cho riêng mình Do đó, quyền lực,
từ bao đời nay, luôn là mục đích hướng đến sau cùng của nhiều người, nhiều nhóm xã hội, của các tập đoàn và liên minh giai cấp, đặc biệt là quyền lực nhà nước Trong khoa học chính trị, quyền lực nhà nước nếu được sử dụng và triển khai trên cơ sở của sự công bằng, bình đẳng và do quần chúng quyết định thì đó là dân chủ và ngược lại, đó là độc tài
Tuy nhiên, nếu “dân chủ” được định nghĩa là một khái niệm chính trị học hoặc triết học
chính trị xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ V đến thứ IV TCN dùng để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở Athens và một số thành bang Hy Lạp, thì “độc tài” lại có một số phận hẩm hiu hơn, người ta ít thấy nó được định nghĩa một cách đầy đủ, toàn diện tương tự như thế Hầu hết các tài liệu chỉ nói rằng, độc tài là một phương thức cai trị xuất hiện cùng với bước chuyển của thành Rome từ nền Cộng hòa sang chế độ Đế chế (44 – 27 TCN), do đó, người
ta dễ lầm tưởng khái niệm “độc tài” có sau khái niệm “dân chủ” Khác với “dân chủ”, trong học thuật cũng như trong đời sống chính trị thế giới, “độc tài” không phải là khái niệm buộc phải định nghĩa Người ta sẽ không hiểu được hệ thống chính trị dân chủ là gì, nếu khái niệm dân chủ không được định nghĩa về phương diện học thuật Nhưng người ta lại hoàn toàn có thể hiểu được phương thức cai trị độc tài, nếu biết rằng đó là phương thức mà Caesar và Sulla, Napoleon và Pierre Đại đế, hay Hitler và Pinochet, … đã từng áp đặt cho chế độ chính trị của mình Nếu nền dân chủ Athens đã xuất hiện bằng cách đối lập trực tiếp với phương thức cai trị hà khắc trong thể chế chính trị của Hippias bị lật đổ trước đó, thì hoàn toàn có lý để nói rằng, nền chính trị độc tài, hay phương thức cai trị độc tài đã xuất hiện ngay từ trước khi xuất hiện nền dân chủ Athens, dù khái niệm độc tài lúc đó có được định nghĩa và sử dụng hay không1
Men theo dòng chảy của văn minh Hy Lạp cổ đại, những ý niệm cơ bản nhất về độc tài hay chuyên chế đã có từ thế kỷ IV TCN, Platon và Aristotle đã nhìn thấy nguồn gốc, bản chất của chế độ độc tài qua những hình thức tệ hại đã xuất hiện trước đó của nó Theo các ông, nền chính trị sẽ không tránh được những khuyết tật tất nhiên, xã hội thành bang sẽ khó thoát khỏi những méo mó bất bình thường, nếu nền cộng hòa không có cơ chế ngăn cản bàn tay độc tài Trên thực tế, lý thuyết về dân chủ đã ra đời từ những ý niệm có tính chất phản đề như vậy2 Rõ ràng là, tìm hiểu về Platon và Aristotle, người ta còn thấy các ông cũng nhận ra ngay cả những hạn chế không tránh khỏi, những thoái hóa không hề phi logic của nền dân chủ, khi nó phải đảm nhận trách nhiệm dân sự cao quý là ngăn cản xã
1 Hồ Sĩ Quý (2014) Một số vấn đề về dân chủ, độc tài và phát triển Hà Nội: NXB Lý luận chính trị Tr.73
2 Hồ Sĩ Quý (2014) Sđd Tr.74
Trang 12hội rơi vào vòng xoáy độc tài, chuyên chế Rất có thể từ đó, theo chúng tôi, các lý thuyết chính trị đã được triển khai theo hướng dựa trên sự phân cực giữa dân chủ và độc tài, giữa toàn trị và tự do
Dẫu vậy, nếu như ở thời Platon và Aristotle, độc tài và chế độ độc tài mới chỉ là những quan niệm triết học chính trị hàn lâm, chưa hệ thống và chưa đầy đủ về một hình thức cai trị3, thì đến thời Đế chế La Mã (I TCN – VI CN), độc tài và chế độ độc tài đã là những khái niệm tương đối xác định về phương diện chính trị và pháp quyền, do được thực tế làm sâu sắc hơn và phong phú hơn bởi những sự kiện oai hùng và bi tráng của một đế chế hùng mạnh vào loại bậc nhất đồng thời tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại Thời đó, khái niệm “Độc tài” (Dictatorship) được hiểu là một kiểu cai trị biến tướng từ “Tổng tài” (Consul, trong tiếng Việt thì thuật ngữ này còn được dịch là “Chấp chính”), trong điều kiện thành bang có chiến tranh hoặc có nổi loạn nội bộ Tổng tài được coi là một hình thức, một quy luật lãnh đạo cần thiết đáp ứng nhu cầu khẩn cấp của thời kỳ hỗn loạn, bất thường Tuy nhiên, hầu hết các tổng tài khi được giao cho quá nhiều quyền lực thì thường sẽ có xu hướng gia tăng quyền lực độc tài Điển hình cho những trường hợp này là Lucius Cornelius Sulla và sau này là Julius Caesar Tuy nhiên, độc tài, trong quan niệm của dân chúng La
Mã lúc đó, thực ra, vẫn còn ít nhiều mang tính chính đáng và ở mức nào đấy, nó còn được sùng mộ vì tinh thần thượng võ, khi mang lại niềm vinh quang cho chế độ Tổng tài Do đó,
có thể không sai khi nhận định rằng: Độc tài – Với tính chất là kiểu cai trị nối dài và lạm quyền của tổng tài luôn gắn liền với sự giới hạn về mặt thời gian Tính chất tạm thời, tình thế, ứng phó cấp bách, … luôn là điểm trung tâm của quan niệm về chế độ độc tài Các nhà
tư tưởng nổi tiếng như Machiavelli hay Rousseau đã từng giải thích, sự độc tài chỉ giới hạn quyền lực trong việc đối phó với khủng hoảng4
Bước sang thời cận đại, mà cụ thể là cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ “chuyên chính vô sản” của Marx ra đời Đến đầu thế kỷ XX, nó được hiện thực hóa với dáng hình của nước Nga
Xô Viết Về lý thuyết, đây chỉ là một mô hình có tính chất tạm thời, quá độ, là bước chuyển
từ xã hội tư bản sang xã hội dân chủ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, theo những gì đã diễn ra
trong thực tiễn lịch sử đã cho thấy, “nếu lý luận về chuyên chính vô sản có điểm nào đó
còn hợp lý hay có thể biện minh được cho cách thức để một giai cấp nghèo khổ, tạo ra của cải xã hội lên nắm quyền quản trị xã hội, làm bước quá độ để xã hội chuyển lên một trình
độ cao hơn”5, thì việc sử dụng các công cụ bạo lực như ở Nga trong vụ xử tử Sa hoàng,
trong những vụ thanh trừng năm 1914, 1937 được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Stalin và sau này là Mao Trạch Đông ở Trung Quốc với thời kỳ Cách mạng văn hóa, …đã thực sự
là những vấn đề nhức nhối đối với các xã hội này khi đi theo mô hình chuyên chính vô sản
và đấu tranh giai cấp Trong khi đó, ở Đức, cũng vào đầu thế kỷ XX, quan niệm về chế độ độc tài cũng bị chuyển nghĩa đến mức cực đoan Chính thể Đức quốc xã (1933 – 1945) với vai trò cá nhân của Adolf Hitler ngay từ khi ra đời đã được gọi là độc tài Sự xuất hiện của Adolf Hitler, một trong số hiếm hoi các chính khách có khả năng đánh thức những năng
3 Hồ Sĩ Quý (2014) Sđd Tr.75
4 Hồ Sĩ Quý (2014) Sđd Tr.77
5 Hồ Sĩ Quý (2014) Sđd Tr.79 – 80
Trang 13lực phi nhân cực đoan trong lịch sử nhân loại, từ hơn nửa thế kỷ nay, luôn gây tranh cãi trong các luận thuyết hoặc các phương án giải thích Từ chỗ được dân chúng Đức tin tưởng, nhân vật này chỉ trong vòng vài năm đã bước lên ngôi thủ tướng và cuối cùng, trở thành kẻ độc tài tàn nhẫn, cai trị phần lớn châu Âu, làm thay đổi lịch sử thế giới Hệ lụy của quan điểm độc tài của Hitler đến nay vẫn còn đang làm cho một số xã hội ở châu Âu cảm thấy bất ổn Ngoài ra, chúng ta không thể không nhắc qua trường hợp của nước Ý, Mussolini cũng thực hiện những hành vi tương tự, thậm chí còn trước cả Hitler, nhưng với quy mô chưa lớn và chưa điển hình như ở Đức Không chỉ có thế, trong suốt nửa sau của thế kỷ
XX, cùng với Chiến tranh lạnh bao trùm toàn thế giới, còn có những cuộc “chiến tranh” khác cũng không kém phần quan trọng – đó là các xung đột cục bộ, các cuộc chiến tranh dân tộc và dân chủ diễn ra ở các quốc gia thuộc địa và cựu thuộc địa, giữa người dân thấp
cổ bé họng chịu áp bức với các thế lực cầm quyền hủ bại, chuyên quyền – mà đại diện cho các thế lực đó không ai khác ngoài những nhà độc tài và đồng minh của họ Có thể kể qua một số nhân vật tiêu biểu như: Francisco Franco (Tây Ban Nha), Jorge Rafael Videla (Argentina), Ferdinand Marcos (Philippines), Augusto Pinochet (Chile), Porfirio Diaz (Mexico), Idi Amin (Uganda), …
Có thể thấy rằng, tất cả các nội dung thuộc về khái niệm độc tài như độc đoán, chuyên chế, chuyên chính, toàn trị, … trong thế kỷ XX đều được sử dụng khác so với quan niệm
từ thời Đế chế La Mã Tất cả những gì là hợp lý, chính đáng của phương thức hành xử cứng rắn, nhất thời, cách mạng, …đều đã bị biến dạng, méo mó và được sử dụng một cách hết sức cực đoan Về phương diện lý thuyết, điều đáng suy ngẫm ở đây là, trong thế kỷ
XX, khi nền văn minh vật chất và tinh thần của loài người đã đạt được những bước tiến khổng lồ, nâng tầm vị thế của con người, thì đáng lẽ chính nó (nền văn minh) phải là “tấm khiên” ngăn chặn sự nảy sinh của những quái thai lịch sử, nhất là những quái thai ở trình
độ dã man (trái ngược với văn minh) Nhưng không, chính trong sự giàu có về vật chất và
lý trí của thế kỷ XX, lại xuất hiện những kẻ độc tài tàn bạo nhất và những chính thể mang trong mình bản chất chống lại con người
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà lý luận ra sức giải phẫu các xã hội độc tài bằng cả các chứng cứ lịch sử từ thời xa xưa và bằng cả những dự đoán dựa trên logic phát triển và tha hóa của các kiểu nhà nước Tuy vậy, các lý thuyết về chế độ độc tài đều chưa thuyết phục khi cố lý giải hay phân tích theo hướng đây là một kiểu xã hội cần thiết mà loài người sẽ phải trải qua Sau chiến tranh, cùng với thực tiễn của tình hình chính trị – xã hội nhiều nơi, độc tài và chế độ độc tài ngày càng nhận được sự chú ý của các học giả trên thế giới, mà trước hết và trên hết, là các học giả chính trị học và sử học Nếu như trong thập niên 50 và 60, nhiều người còn đồng nhất độc tài với chuyên chế và toàn trị (Hannah
Arendt với “Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị”6 – 1951, Carl Friedrich và Zbigniew
Brzezinski với “Chế độ độc tài toàn trị và Chế độ chuyên quyền”7 – 1956, …), thì từ những
6 Arendt, Hannah (1951) The Origins of Totalitarianism New York: Harvest Books
7 Friedrich, Carl & Zbigniew Brzezinski (1956) Totalitarian Dictatorship and Autocracy Cambridge, MA: Harvard
University Press
Trang 14năm 70 và 80 sau đó, trong học thuật, nhìn chung, đã bắt đầu có sự phân biệt giữa các loại chế độ chính trị này với nhau Theo đó:
“Độc tài” (hay “ chế độ độc tài ”)được hiểu là một mô hình quản trị (hoặc một chế độ chính trị8) mà trong đó quyền lực nhà nước được tập trung thành một mối, phụ thuộc vào một nhóm ít người hoặc một cá nhân đại diện nắm trong tay nhiều quyền lực Nói chung,
họ nắm quyền và không được người dân bầu ra, hoặc cũng có thể được dàn xếp thông qua các cuộc bầu cử không công bằng, thiếu minh bạch Quyền lực của họ là không thể kiềm chế và họ không biện bạch với bất cứ ai Thật vậy, một nhà nước độc tài được đặc trưng bởi một chính quyền trung ương mạnh mẽ, cho phép người dân có một mức độ tự do chính trị hạn chế Tuy nhiên, tiến trình chính trị, cũng như mọi quyền tự do cá nhân, đều do chính phủ kiểm soát mà không có bất kỳ trách nhiệm giải trình nào theo hiến pháp Năm 1964, Juan José Linz, Giáo sư danh dự về Xã hội học và Khoa học Chính trị tại Đại học Yale, đã
mô tả bốn đặc điểm dễ nhận biết nhất của các nhà nước độc tài là: (1) Quyền tự do chính
trị bị hạn chế với sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ áp đặt lên các thể chế và nhóm chính
trị như cơ quan lập pháp, đảng chính trị và nhóm lợi ích; (2) sự vắng mặt của một hệ tư
tưởng hoàn chỉnh và có tính định hướng, thay vào đó là “những trạng huống tinh thần
riêng biệt” với các diễn ngôn chính trị biện minh cho khả năng duy nhất của các chế độ đó
trước các vấn đề như đói nghèo và bạo lực; (3) những ràng buộc nghiêm ngặt do chính phủ
áp đặt đối với các quyền tự do xã hội như đàn áp các đối thủ chính trị và hoạt động chống
lại chế độ; (4) sự hiện diện của một nhà hành pháp cầm quyền với quyền lực được xác định
một cách mơ hồ, lỏng lẻo và thường xuyên thay đổi9 Về mặt thực tiễn, các chế độ độc tài hiện đại như Venezuela dưới thời Hugo Chávez và Cuba dưới thời Fidel Castro là điển hình cho loại này Trong khi đó, Trung Quốc ngày nay được mô tả chính xác hơn là một nhà nước độc tài vì công dân của họ hiện được phép có một số quyền tự do cá nhân hạn chế
Tuy nhiên, chúng tôi lưu ý rằng, độc tài hay chế độ độc tài cũng cần phải được phân biệt với “Chủ nghĩa độc tài”(Authoritarianism), vốn là một khái niệm rộng hơn đáng kể
về nội dung, phạm vi và đối tượng Nó là một khái niệm chung chỉ ra sự ưa thích đối với một cấu trúc quyền lực cứng nhắc, phân cấp từ trên xuống dưới Chủ nghĩa độc tài đòi hỏi
sự phục tùng và tuân thủ các quy tắc, đồng thời kêu gọi sử dụng mạnh mẽ cả lực lượng tư pháp và ngoài tư pháp để duy trì trật tự xã hội nghiêm ngặt đó Chủ nghĩa độc tài xảy ra – nói một cách thuận lợi – khi một số người hoặc một nhóm đòi hỏi sự trung thành và vâng lời như một vấn đề của quyền lực (trần trụi) theo đúng nghĩa của nó Cụ thể hơn, theo
Beetham, chủ nghĩa độc tài được mô tả là một “phương thức cai trị không dung thứ cho
8 Theo Robert Fishman, một chế độ chính trị có thể được định nghĩa là “cấu trúc có tổ chức chính thức hoặc không
chính thức của trung tâm quyền lực chính trị và các mối quan hệ của nó với xã hội rộng lớn hơn Một chế độ chính trị sẽ có chức năng xác định ai có quyền tiếp cận quyền lực chính trị và cách những người nắm quyền đối phó với những kẻ không nắm quyền bên dưới bậc thang quyền lực” [Fishman, R (1990) Working Class Organization and the Return to Democracy in Spain USA: NCROL p.428]
9 Linz, J (1964) “An Authoritarian Regime: Spain” In Allardt, Erik & Littunen, Yrjö, Cleavages, Ideologies, and
Party Systems Transactions of the Westermarck Society No 11 Helsinki: The Academic Bookstore p.291 – 341
Ngoài ra còn có thể xem thêm tại: Linz, J (1975) Totalitarian and Authoritarian Regimes USA: Lynne Rienner
Publishers p.275 – 411
Trang 15sự chống đối và bất đồng chính kiến của công chúng” và nếu đúng như vậy, một “chế độ cai trị độc tài vẫn có thể tồn tại được trong một hệ thống dân chủ, mặc dù nó chỉ còn dân chủ miễn là các cuộc bầu cử thực sự “tự do và công bằng”, đồng thời các quyền dân sự
và chính trị chính thức được tôn trọng”10 Ở đây, chúng tôi không thảo luận sâu về điều này và đánh giá định nghĩa trên có trái với quan niệm của Linz hay không, vì nội dung của bài viết chỉ tập trung vào nghiên cứu các chế độ chính trị Dẫu vậy, từ định nghĩa của Beetham, chúng ta cũng có thể nhận thấy một đặc điểm quan trọng và nổi bật của chủ nghĩa độc tài, đó là: Chủ nghĩa độc tài không chỉ bao gồm một loại chế độ chính trị cụ thể, mà còn là sự hiểu biết lớn hơn về các đặc điểm, chủ đề, tình huống, hành vi, phương thức và thực tiễn “độc tài” của cá nhân (con người) và tập thể (xã hội) có thể được tìm thấy trong một loạt các các ngành học ngoài khoa học chính trị, chẳng hạn như tâm lý học, quản trị kinh doanh, quản lý, xã hội học, giao tiếp, truyền thông đại chúng, nghiên cứu văn hóa hoặc nhân loại học
Ở một phạm trù khác có liên quan, chúng ta bắt gặp thuật ngữ “Toàn trị” hay “Chế độ
toàn trị” Khái niệm về toàn trị được phát triển lần đầu tiên vào những năm 1920 bởi những
lãnh tụ của phát xít Ý11 Họ đã cố gắng biện hộ cho nó một cách tích cực bằng cách đề cập đến những gì họ coi là tốt đẹp của mô hình này đối với xã hội Tuy nhiên, hầu hết các nền văn minh và chính phủ phương Tây, cho đến nay, vẫn một mực bác bỏ chúng Hiểu một cách khái quát, đó là một hệ thống chính quyền – nơi người nắm quyền hoặc những người nắm quyền không thấy giới hạn quyền lực của mình và tìm cách kiểm soát mọi khía cạnh của đời sống công và tư theo bất kỳ cách nào có thể Sự kiểm soát này mở rộng đến tất cả các vấn đề chính trị và tài chính cũng như thái độ, đạo đức và niềm tin của người dân Dù vậy, chúng tôi phải khẳng định rằng: Chế độ toàn trị trước hết là chế độ độc tài và sau đó
là một số đặc điểm khác, phân biệt với độc tài ở mức độ, cường độ, nội dung và mục đích Trong đó, một đặc điểm khác biệt nhưng không kém phần quan trọng của các chính phủ toàn trị chính là sự tồn tại của một hệ tư tưởng quốc gia rõ ràng hoặc ngụ ý — một tập hợp các niềm tin nhằm mang lại ý nghĩa và định hướng cho toàn xã hội Ngoài ra, ở đây, chúng tôi tạm đưa ra một số đặc điểm có thể có trong một nhà nước toàn trị bao gồm: (1) Quy tắc được thực thi bởi một nhà độc tài duy nhất; (2) sự hiện diện của một đảng chính trị cầm quyền duy nhất; (3) kiểm duyệt chặt chẽ, nếu không muốn nói là kiểm soát hoàn toàn báo chí; (4) liên tục phổ biến tuyên truyền ủng hộ chính phủ; (5) nghĩa vụ quân sự bắt buộc đối với mọi công dân; (6) thực hành kiểm soát dân số bắt buộc; (7) Cấm các nhóm thực hành tôn giáo hoặc chính trị nhất định; (8) nghiêm cấm mọi hình thức chỉ trích công khai đối với chính phủ; (9) các đạo luật do lực lượng cảnh sát bí mật hoặc quân đội thực thi12; …
Thông thường, các đặc điểm của một nhà nước toàn trị có xu hướng khiến người dân của quốc gia đó sợ hãi chính phủ của họ Thay vì cố gắng xoa dịu nỗi sợ hãi đó, các nhà cai trị toàn trị khuyến khích nó và sử dụng nó để đảm bảo sự hợp tác của người dân
10 Beetham, David (2015) “Authoritarianism and Democracy: Beyond Regime Types” Comparative Democratization
Trang 16Những ví dụ ban đầu về các quốc gia toàn trị bao gồm nước Ý dưới thời Benito Mussolini, Iraq dưới thời Saddam Hussein và Triều Tiên dưới thời Kim Jong-un Tuy vậy, khi nói về chế độ toàn trị, chúng ta không thể bỏ qua một trường hợp điển hình và quen thuộc nhất – nước Đức dười thời kỳ cầm quyền của Adolf Hitler Ông ta đã vượt ra ngoài các quy tắc chính trị thông thường và tìm kiếm sự kiểm soát đối với những gì mọi người tin tưởng và thậm chí cả chủng tộc mà ông ta nghĩ rằng mọi người nên là Từ đó, có thể thấy, xét trên một số bình diện, toàn trị và độc tài, khác nhau về nhiều mặt: Trong khi hệ thống độc tài muốn có đầy đủ quyền lực chính trị, nhưng không vượt ra ngoài những giới hạn nào đó của đạo đức hay tư tưởng, thì một hệ thống toàn trị muốn nắm quyền trên mọi thứ và mọi điều
Họ tìm kiếm quyền lực ngoài sự cai trị của chính phủ và bắt đầu xâm nhập vào hệ tư tưởng của mọi người dưới sự cai trị của họ Trong khi một nhà độc tài tập trung nhiều hơn vào quyền lực cá nhân, thì nhà cai trị toàn trị thiên về hình ảnh của một nhà tư tưởng quyến rũ, người luôn tuyên bố có lợi ích tốt nhất cho mọi người dân hoặc nhà nước trong tâm trí họ Những nhà cai trị toàn trị muốn mọi người tin tưởng, tôn thờ nhà nước/nhà lãnh đạo và lý tưởng của nó, sẵn sàng sử dụng các biện pháp cực đoan như khủng bố, tẩy não, hoặc bất
kỳ áp lực tâm lý nào khác mà họ có thể áp dụng để đạt được mục tiêu ấy
Bên cạnh đó, giống như chế độ độc tài và chủ nghĩa độc tài, chúng ta cần phải phân biệt giữa toàn trị và “Chủ nghĩa toàn trị” (Totalitarianism), cũng như giữa chủ nghĩa toàn trị với chủ nghĩa độc tài Cụ thể, chủ nghĩa toàn trị là một hình thức của chủ nghĩa độc tài, trong đó sự ưa thích đối với các cấu trúc quyền lực cứng nhắc, phân cấp từ trên xuống không chỉ dừng lại ở việc thực thi sự phục tùng đơn thuần, mà còn mở rộng sang đời sống
cá nhân của các cá nhân để hạn chế bất đồng hoặc không hài lòng với nhà nước Chủ nghĩa toàn trị thường nảy sinh khi một nhà nước độc tài được kết hợp với một hệ tư tưởng giáo điều theo kiểu này hay kiểu khác: tức là khi quyền lực không chỉ đơn thuần là quyền lực vì lợi ích của chính nó, mà có nghĩa là buộc một thế giới quan cụ thể lên quần chúng để làm cho họ phù hợp với nhà nước Mặc dù, chủ nghĩa độc tài và chủ nghĩa toàn trị đều là những thuật ngữ chung để chỉ các phương thức cai trị phi dân chủ do một cá nhân hoặc một nhóm
cá nhân thực hiện, tuy nhiên, rõ ràng là, giữa chúng, có những khác biệt nhất định Cụ thể hơn, chủ nghĩa độc tài đề cập đến các hệ thống chính trị trong đó một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nắm giữ quyền lực, hạn chế hoặc cấm phổ biến sự tham gia vào quản trị và đàn áp những bất đồng chính kiến Trong khi đó, chủ nghĩa toàn trị đề cập đến các hệ thống chính trị bao gồm tất cả các đặc điểm của chủ nghĩa độc tài nhưng thậm chí còn cực đoan hơn khi chúng cố gắng điều chỉnh và kiểm soát tất cả các khía cạnh của cuộc sống và vận mệnh của công dân Mọi người có thể bị bỏ tù vì đi lệch khỏi các thực hành được chấp nhận hoặc thậm chí có thể bị giết nếu họ bất đồng chính kiến theo những cách bình thường nhất Nói cách khác, ngắn gọn hơn, chủ nghĩa độc tài muốn sự phục tùng, chủ nghĩa toàn trị muốn có niềm tin Những gì mà chủ nghĩa độc tài không có, là một hệ thống niềm tin
do nhà nước áp đặt, đó cũng chính là dấu hiệu của chủ nghĩa toàn trị
1.2 Các vấn đề về phân loại và đặc điểm
Từ những phân tích trên, chúng tôi muốn cung cấp một diễn trình lịch sử về sự ra đời
và phát triển của khái niệm “độc tài”, “chế độ độc tài”, “chủ nghĩa độc tài” và những khái
Trang 17niệm phái sinh khác có liên quan, để từ đó có cái nhìn toàn diện, khách quan và minh xác hơn khi tiến hành luận giải các vấn đề phương pháp luận khác xung quanh những khái niệm này Một trong những nội dung lý luận không kém phần quan trọng, đó chính là phân loại các kiểu độc tài đã và đang tồn tại trên thế giới, trên cơ sở đó, đúc kết ra đặc điểm của các kiểu độc tài, làm tiền đề cho quá trình nghiên cứu các kiểu hình tồn tại của độc tài ở Đông Nam Á (mà cụ thể là trường hợp của Myanmar và Philippines) Đầu tiên là vấn đề về phân loại:
Trước hết, chúng tôi nhận thấy một khó khăn chung trong toàn bộ quá trình nghiên cứu độc tài và chế độ độc tài trên thế giới chính là bất kỳ nỗ lực nào để giải thích chính trị độc tài đều phải đối đầu với một phạm vi và tính đa dạng phi thường của nó Nguồn gốc chính của sự đa dạng này đến từ việc, ngay ban đầu, tất cả chúng ta, từ cổ đến kim, đã xem độc tài và chế độ độc tài là những phạm trù tàn dư hoặc tiêu cực, là những gì không phải là dân chủ Hầu hết các tác phẩm kinh điển, hay các công trình khoa học nghiên cứu về chính trị độc tài, đều thiết lập một bộ tiêu chí xác định thế nào là dân chủ và sau đó coi bất kỳ quốc gia nào không đáp ứng các tiêu chí đó là một chế độ độc tài
Ở thời cổ đại, Aristotle phân biệt giữa chính quyền của một người và chính quyền của một số ít người Ở thời trung đại, Machiavelli phân biệt giữa vương quyền tuyệt đối và vương quyền bị giới hạn Ở thời cận đại, Montesquieu phân biệt giữa các chế độ chuyên chế và quân chủ Tuy nhiên, trong khoa học chính trị đương đại, bắt đầu từ nửa sau thế kỷ
XX, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các chế độ chính trị phi dân chủ, cũng như các xu hướng toàn cầu đang thịnh hành thời đó, tất cả đã được khớp nối với một loạt các kiểu hình tương ứng đa dạng và đang phát triển, tất nhiên, đã trở thành đối tượng nghiên cứu không thể bỏ qua của nhiều thế hệ học giả Trong đó, đáng chú ý là các phân loại sau: Trước Chiến tranh lạnh có: Toàn trị (Arendt – 1951, Friedrich & Brzezinski – 1965), chuyên chế13 (Linz – 1975) và chuyên chế quan liêu14 (O’Donnell – 1973); Độc đảng15
(Huntington – 1970) và quân sự16 (Nordlinger – 1977, Perlmutter – 1977); Độc tôn 17 (Linz
& Chehabi – 1998), gia trưởng18 (Weber – 1964) và tân gia trưởng19 (Jackson & Rosberg
– 1982; Snyder – 1992; Bratton & Van de Walle – 1997) Sau Chiến tranh Lạnh có: Cạnh
13 Linz, Juan (1975) “Totalitarian and Authoritarian Regimes” In Fred Greenstein & Nelson Polsby (Eds.) Handbook
of Political Science Vol 3 Reading, MA: Addison Wesley Publishing Company p.191 – 357
14 O’Donnell, Guillermo A (1973) Modernization and Bureaucratic-Authoritarianism Berkeley: Institute of
International Studies, University of California
15 Huntington, Samuel P (1970) “Social and Institutional Dynamics of One-Party Systems” In Samuel P Huntington
& Clement H Moore (Eds.) Authoritarian Politics in Modern Society: The Dynamics of Established One-Party
Systems New York: Basic Books p.3 – 45
16 Nordlinger, Eric A (1977) Soldiers in Politics: Military Coups and Governments Englewood Cliffs, NJ: Hall Perlmutter, Amos (1977) Military and Politics in Modern Times: Professionals, Praetorians and Revolutionary
Prentice-Soldiers New Haven, CT: Yale University Press
17 Linz, Juan J., and H E Chehabi (1998) Sultanistic Regimes Baltimore, MD: Johns Hopkins University Press
18 Weber, Max (1964) The Theory of Social and Economic Organization New York: The Free Press
19 Jackson, Robert H., and Carl G Rosberg (1982) Personal Rule in Black Africa: Prince, Autocrat, Prophet,
Tyrant Berkeley, CA: University of California Press Snyder, Richard (1992) “Explaining Transitions from
Neopatrimonial Dictatorships” Comparative Politics 24(October): 379 – 99 Bratton, Michael, and Nicolas Van de Walle (1997) Democratic Experiments in Africa: Regime Transitions in Comparative Perspective New York:
Cambridge University Press
Trang 18tranh20 (Levitsky & Way – 2002, 2010), bầu cử 21 (Diamond – 2002; Schedler – 2006) và các chế độ bán độc tài22 (Ottaway – 2003); cá nhân, quân sự và đảng phái23 (Geddes –
1999); dân sự, quân sự và quân chủ24 (Gandhi – 2008); quân sự, quân chủ, độc đảng và đảng cầm quyền25 (Magaloni & Kricheli – 2010)
Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, cũng như có những đánh giá và đối chiếu với thực tiễn lịch sử, chúng tôi quyết định chia chế độ độc tài thành bốn kiểu hình sau:
1/ Chế độ độc tài quân sự: Xuất phát từ việc “bảo vệ lợi ích quốc gia” trong thời kỳ
khủng hoảng, khi lên cầm quyền, chính thể quân sự thường sát nhập cả quyền hành pháp
và lập pháp, hay thực tế là nắm cả quyền hành pháp và lập pháp Điều này là một lợi thế cho chính quyền lúc mới nắm quyền, nhưng thường cũng là nguyên nhân tạo ra sự va chạm giữa các thành viên trong chính quyền quân sự Sự căng thẳng, mâu thuẫn giữa các thành viên chính phủ, giữa các tướng lĩnh nắm quyền thường dẫn đến sự sụp đổ tiếp theo của các
chế độ này Cụ thể hơn, trong công trình Military and Politics in Modern Times:
Professionals, Praetorians and Revolutionary Soldiers (1977), Perlmutter nêu bật 2 mô
hình của độc tài quân sự: kiểu trọng tài và kiểu cai trị26
Kiểu trọng tài được định hướng một cách chuyên nghiệp, không có một tổ chức chính
trị hoặc hệ tư tưởng độc lập nào Các sĩ quan “hướng về dân sự” và dễ chấp nhận “trật tự
xã hội hiện có”27 Quân đội không quan tâm đến việc can thiệp vào quan điểm của chính
họ trong chính sách của chính phủ và không tìm cách cai trị trong một thời gian dài28 Đúng hơn, nó tự coi mình là người bảo vệ hiến pháp và là phương tiện mang lại sự ổn định cho
đất nước cũng như khôi phục trật tự công Nhiều khả năng “hoạt động đằng sau hậu trường
như một nhóm áp chế quyền lực”29 Ngược lại, kiểu cai trị sử dụng một “hệ tư tưởng chính
trị chặt chẽ và công phu”30 Quân đội tìm cách tối đa hóa quyền lực của mình và coi các chính trị gia dân sự là không đủ năng lực và nguy hiểm cho sự ổn định Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng, bên cạnh các biểu hiện của các kiểu hình trên, độc tài quân sự
20 Levitsky, Steven, and Lucan A Way (2002) “The Rise of Competitive Authoritarianism” Journal of Democracy 13(2): 51 – 65 Levitsky, Steven, and Lucan A Way (2010) Competitive Authoritarianism: Hybrid Regimes after the
Cold War New York: Cambridge University Press
21 Diamond, Larry (2002) “Thinking about Hybrid Regimes” Journal of Democracy 13(2): 21 – 35 Schedler, Andreas (2006) Electoral Authoritarianism: The Dynamics of Unfree Competition Boulder, CO: Lynne Rienner
Publishers
22 Ottaway, Marina (2003) Democracy Challenged: The Rise of Semi-Authoritarianism Washington, DC: Carnegie
Endowment for International Peace
23 Geddes, Barbara (1999) “What Do We Know about Democratization after Twenty Years?” Annual Review of
Political Science 2: 115 – 44
24 Gandhi, Jennifer (2008) Political Institutions under Dictatorship New York: Cambridge University Press
25 Magaloni, Beatriz, and Ruth Kricheli (2010) “Political Order and One-Party Rule” Annual Review of Political
Science 13: 123 – 43
26 Perlmutter (1977) Id p.104
27 Perlmutter (1977) Id p.114
28 Perlmutter (1969) “The Praetorian State and the Praetorian Army: Toward a Taxonomy of Civil-Military Relations
in Developing Polities” Comparative Politics Vol.1, No.3 p.382
29 Perlmutter (1977) Id p.105
30 Perlmutter (1969) Id p.392
Trang 19còn được tìm thấy ở những kiểu hình phụ khác, là sự lai ghép, bổ sung giữa độc tài quân
sự và các hình thức độc tài khác Sự đa dạng của chế độc độc tài quân sự thể hiện ở chỗ: Chế độ độc tài quân sự ở các nước Mỹ Latinh có những nét tương đồng và có cùng những phương thức độc tài như ở châu Phi và Trung Đông Song, chế độ độc tài quân sự có sự thao túng của nhà thờ như ở Tây Ban Nha lại khác biệt đáng kể so với cả Mỹ Latinh lẫn kiểu độc tài ở Rumanie hay ở Đài Loan và Hàn Quốc
2/ Chế độ độc tài đảng phái: Quyền lực được tập trung trong một thể chế quản lý của
đảng cầm quyền Quyết định chiến lược vĩ mô, sách lược quan trọng và các vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia thường được xác định bởi một thiết chế đặc biệt tối cao trong đảng Cũng có một số nước, ngoài đảng cầm quyền, các đảng chính trị khác (không cầm quyền) vẫn có quyền bày tỏ quan điểm, tham gia vào công việc quốc gia, nhưng rất ít khi
có cạnh tranh thực sự Phạm vi kiểm soát của đảng cầm quyền thường rất rộng, bao trùm toàn bộ các tổ chức chính trị và các tổ chức dân sự các cấp Đặc biệt, đối với lực lượng vũ trang, sự kiểm soát của đảng cũng rất chặt chẽ Cơ chế kiểm soát thường không thật rõ ràng, nhưng vẫn đủ đảm bảo không xảy ra mâu thuẫn giữa sự lãnh đạo có tính chất dân sự đối với các thiết chế có tính chất quân sự của cảnh sát, quân đội, các lực lượng vũ trang và bán vũ trang Tiêu biểu trong số này, chúng ta có: Bolivia trong giai đoạn 1952 – 1964 dưới thời kỳ cầm quyền của Phong trào Cách mạng Quốc gia (Movimiento Nacionalista Revolucionario – MNR); Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) từ 1945 đến 1990 dưới sự quản lý của Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức (Socialist Unity Party of Germany – SUPG); Mexico trong giai đoạn 1917 – 2000 của Đảng Cách mạng Thể chế (Partido Revolucionario Institucional – PRI) và Singapore từ 1965 đến nay với Đảng Hành động Nhân dân (People’s Action Party – PAP), …
Bên cạnh đó, chúng tôi bổ sung thêm rằng, các nghiên cứu về vai trò của đảng cầm quyền trong các chế độ toàn trị, ngay từ đầu, đã sớm được mở rộng ra để bao gồm vai trò
của chúng trong các chế độ độc tài nói chung Trong đó, công trình Authoritarian Politics
in Modern Society: The Dynamics of Established One-Party Systems (1970) của
Huntington và Clement Moore là một ví dụ, tập trung vào chế độ độc tài độc đảng, mà họ
cho là một điển hình của chủ nghĩa độc tài ở “hình thức hiện đại” của nó31 Các tác giả phân biệt giữa các quốc gia độc đảng yếu và mạnh, dựa trên mức độ tập trung quyền lực của đảng Ở các quốc gia độc đảng yếu, ít nhất một tác nhân khác làm lu mờ vai trò của đảng (như một cá nhân, quân đội hoặc cảnh sát); ở các quốc gia độc đảng mạnh, đảng đóng vai trò thống trị Huntington và Moore cho rằng sức mạnh của hệ thống độc đảng dựa trên cường độ và thời gian đấu tranh của đảng để giành được quyền lực chính trị Cụ thể hơn nữa, cũng trong công trình trên, Huntington và Moore thảo luận chi tiết về các dạng nhà nước độc đảng mạnh khác nhau Họ phân loại các chế độ độc tài độc đảng mạnh dựa trên mức độ thể chế hóa của chúng và các chiến lược mà đảng sử dụng để duy trì quyền lực Ví
dụ, hệ thống độc đảng cách mạng (sinh ra từ các cuộc cách mạng xã hội) được đặc trưng
bởi “tính năng động của xã hội, sự lãnh đạo chuyên quyền và lôi cuốn, đảng có kỷ luật, hệ
31 Huntington & Moore (1970) Authoritarian Politics in Modern Society: The Dynamics of Established One-Party
Systems New York: Basic Books, Inc p.4
Trang 20tư tưởng phát triển cao, căng thẳng về tuyên truyền và vận động quần chúng, kết hợp với cưỡng bức và khủng bố”32 Ngược lại, các hệ thống độc đảng thiết lập (vốn là kết quả của các cuộc bầu cử, hợp hiến) có những đặc điểm mang tính chất hành chính hơn là bản chất cách mạng Họ có mức độ vận động chính trị thấp hơn và các mục tiêu thực dụng hơn
Lãnh đạo chính trị ít mang tính “cá nhân chủ nghĩa, lôi cuốn và chuyên quyền”, và nhiều
“đầu cơ, quan liêu và thể chế hóa”33 Trong tất cả các quốc gia độc đảng mạnh mẽ mà Huntington và Moore xác định không có sự thay đổi quyền lực giữa các đảng chính trị cũng như mức độ đa nguyên thấp
3/ Chế độ độc tài cá nhân: Là những chế độ mà thể chế độc tài “không dựa hẳn vào
một thiết chế quyền lực nào, dù là một lực lượng vũ trang mạnh, một nền hành chính có hiệu lực, một triều đại có uy quyền hay một đảng chính trị có thế lực”, …để duy trì quyền
lực của cá nhân nhà lãnh đạo34 Nói cách khác, độc tài cá nhân là là chế độ chính trị trong
đó tất cả quyền lực nằm trong tay của một cá nhân duy nhất35 Các chế độ độc tài loại này khác với các hình thức độc tài khác ở chỗ khả năng tiếp cận các vị trí chính trị chủ chốt, các thành quả khác của chức vụ và phụ thuộc nhiều hơn vào quyết định của nhà độc tài
Họ vẫn có thể là thành viên của quân đội hoặc là thủ lĩnh của một đảng chính trị Tuy nhiên,
cả quân đội và đảng đều không thực thi quyền lực độc lập khỏi nhà độc tài Trong các chế
độ độc tài cá nhân, liên minh cầm quyền thường bao gồm những người thân cận hoặc thành viên gia đình của nhà độc tài Tất cả những cá nhân này thường được lựa chọn cẩn thận để phục vụ trong các cơ quan quyền lực của hệ thống chính trị, trực tiếp hỗ trợ và phục tùng nhà độc tài36 Ở kiểu hình độc tài cá nhân, nhà độc tài nắm độc quyền ra quyết định và định
ra khuôn mẫu của chế độ độc tài thông qua kết quả của một cuộc đảo chính hoặc các cuộc bầu cử hợp pháp Nguyên tắc “một người đàn ông” được mở rộng từ không gian nhỏ hẹp của hộ gia đình và làng xã lên toàn bộ xã hội, do đó, nó còn được gọi là kiểu hình độc tài gia trưởng (hay tân gia trưởng) theo quan niệm của Max Weber37
Trong lịch sử, hình ảnh điển hình của chế độ độc tài cá nhân theo khuôn mẫu “một người đàn ông” được thấy rõ nhất trong các hình thức của bạo quyền ở Hy Lạp cổ đại và ở Sicily trong thời Phục Hưng Ý Tại Tây Ban Nha, quyền lực của tướng Francisco Franco lúc đầu dựa trên uy lực của quân đội quốc gia trong cuộc chiến với các lực lượng của Đảng Cộng hòa Hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa chống nền cộng hòa đã được củng cố thêm nhờ
sự hỗ trợ của các tổ chức truyền thống, của nền quân chủ và Giáo hội Cơ Đốc Khi Đảng Cộng hòa chính thức thất bại trong Nội chiến, Franco vẫn giữ lại một số vị trí cho họ, nhưng, như nhiều học giả đã đánh giá, tính chất độc tài cá nhân của ông trở nên nổi trội hơn với hệ tư tưởng được hình thành xoay quanh các ý niệm về lợi ích quốc gia và tinh
32 Huntington & Moore (1970) Id p.23
33 Huntington & Moore (1970) Id p.40 – 41
34 Hồ Sĩ Quý (2014) Sđd Tr.89
35 Geddes, Barbara (2003) Paradigms and Sand Castles: Theory Building and Research Design in Comparative
Politics Ann Arbor, MI: University of Michigan Press p.52
36 Ezrow, Natasha M & Erica Frantz (2011) Dictators and Dictatorships – Understanding Authoritarian Regimes
and Their Leaders New York: Sheridan Books, Inc p.21
37 Weber, Max (1964) Id
Trang 21thần dân tộc, bất chấp việc ông có xuất thân từ quân đội38 Tại Cộng hòa Dominica, trong giai đoạn 1930 – 1961, có nhà độc tài Rafael Trujillo Trong giai đoạn 1957 – 1986, ở Haiti, chúng ta bắt gặp hai cha con nhà độc tài François Duvalier và Jean-Claude Duvalier Tại Cộng hòa Trung Phi giai đoạn 1966 – 1976, chứng kiến sự xuất hiện của chế độ độc tài Jean-Bédel Bokassa Không kém phần quan trọng, chúng ta có Saddam Hussein của Iraq trong những năm 1979 – 2003 và Ferdinand Marcos của Philippines giai đoạn 1972 – 1986 Bên cạnh đó, nhiều người còn nói, mẫu hình này cũng tồn tại trong một số trường hợp của chế độ chuyên chế ở phương Đông từ mấy nghìn năm trước Tuy nhiên, nếu xem xét một cách kĩ lưỡng, chúng tôi cho rằng, thực ra về bản chất, các chế độ chuyên chế ở phương Đông khác nhiều, nếu không muốn nói là khác hoàn toàn với các chế độc độc tài cá nhân kinh điển của châu Âu thời cổ đại, trung đại và hiện đại Bởi lẽ, người đứng đầu tầng lớp thống trị trong các xã hội Á Đông gắn liền nhiều hơn với tinh thần thế tục, họ không sử dụng thần quyền quá nhiều như một công cụ để trấn áp (kể cả đối với các quốc gia có quốc giáo) Dù vậy, pháp luật được sử dụng nhiều khi vô lối của vương triều, của quân đội và
bộ máy quan liêu độc đoán, tan bạo, … là một đặc trưng quan trọng phân biệt mô hình này với các mô hình độc tài cá nhân tồn tại ở phương Tây và thế giới hiện đại
4/ Chế độ độc tài quân chủ: thường không được xếp vào các kiểu hình độc tài phổ biến, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, nếu đó là chế độ quân chủ chuyên chế thì bản chất độc tài là không có gì phải bàn cãi Trong chế độ quân chủ chuyên chế, trung tâm quyền lực là triều đại gia đình mà quyền hiến định đầu tiên là quy tắc kế vị độc quyền Nhà vua là người đứng đầu, lãnh tụ tối cao của thể chế Hiến pháp không tồn tại trong các nhà nước quân chủ chuyên chế, hoặc có tồn tại nhưng chỉ là trên danh nghĩa Như đã trình bày ở trên, không phải chế độ quân chủ nào cũng là độc tài quân chủ, với các chế độ quân chủ mà vai trò của nhà vua chủ yếu là nghi lễ (như ở Anh, Campuchia hay Nhật Bản, …) thì không được coi là độc tài quân chủ Quyền lực chính trị thực sự phải được thực hiện bởi nhà vua
và giới tinh hoa trong các chế độ này thường là thành viên của gia đình hoàng tộc39 Kiểu hình này thịnh hành ở các nước châu Âu vào những thế kỷ trước Những ví dụ cụ thể bao gồm: Nước Pháp dưới triều vua Louis XIV, nước Nga dưới thời của Pierre Đại đế thế kỷ XVII, nước Áo của Joseph II và nước Phổ của Friedrich II trong thế kỷ XVIII, …Bước sang thế kỷ XX, nhìn chung, các quốc gia theo kiểu hình quân chủ chuyên chế giảm dần
và hiện nay chỉ còn một số lượng rất ít, tiêu biểu nhất trong giai đoạn này chính là Iran (1925 – 1979) dưới triều đại Pahlevi, Iraq (1932 – 1958) của triều đại Farsal và Arab Saudi (1927 – nay) với sự dẫn dắt của gia tộc Saudi
Bên cạnh các kiểu hình vừa đề cập, cũng như trên cơ sở của thực tiễn lịch sử đầy sống động, biến hóa không ngừng và vô cùng đa dạng, chúng tôi nhận thấy còn có một kiểu hình nữa – tạm gọi là các chế độ độc tài hỗn hợp – Là sự pha trộn các đặc điểm, tính chất của các chế độ độc tài cá nhân, đảng phái và quân sự40 Khi các chế độ có chung đặc điểm của
cả ba hình thức độc tài đã phân tích, chúng được coi là một mối đe dọa từ cả ba mặt (triple
38 Hồ Sĩ Quý (2014) Sđd Tr.90
39 Ezrow, Natasha M & Erica Frantz (2011) Id p.22
40 Các chế độ hỗn hợp có yếu tố quân chủ thường rất hiếm
Trang 22threat) Các hình thức phổ biến nhất của chế độ độc tài hỗn hợp là độc tài cá nhân/đảng phái và độc tài cá nhân/quân sự Trong đó: Độc tài cá nhân/đảng phái tiêu biểu có Cuba (1959 – nay) với hai anh em nhà Castro và Đảng Cộng sản Cuba, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (1948 – nay) của gia tộc họ Kim và Đảng Lao động Triều Tiên (Workers’ Party of Korea – WPK) Độc tài cá nhân/quân sự điển hình là Chile (1973 – 1989) dưới chế độ của Augusto Pinochet, Pakistan (1977 – 1988) dưới chế độ của Muhammad Zia-ul-Haq Ngoài ra, ở một mức độ ít phổ biến hơn, chúng ta có: Độc tài đảng phái/quân sự với trường hợp của Burundi (1966 – 1987) trong thời kỳ của Đảng Thống nhất và Đại hội Quốc gia (UPRONA) và El Salvador (1948 – 1984) dưới thời kỳ cầm quyền của Đảng Cách mạng Thống nhất Dân chủ (PRUD); độc tài 3 mặt (hội tụ cả 3 kiểu hình) với trường hợp của Ai Cập (1952 – 2011) dưới thời kỳ cầm quyền của Gamal Abdel Nasser, Anwar Sadat
và Hosni Mubarak, kết hợp với vị thế của họ trong quân đội và Đảng Dân chủ Dân tộc (National Democratic Party – NDP), Syria (1963 – nay) của gia tộc al-Assad cũng như vai trò của quân đội và Đảng Ba’ath trong chính trường nước này
1.3 Các vấn đề về tác động và ảnh hưởng
• Tích cực
Thứ nhất, mặc dù hầu hết các chế độ độc tài đều có những kết cục không mấy tốt đẹp, cũng như xã hội hậu độc tài thường rối loạn và bất ổn, nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng, trong thời kỳ tồn tại của chế độ độc tài, ở một số nơi và trong một số thời điểm, các chế độ chính trị ấy đã mang lại sự ổn định, duy trì trật tự xã hội cần thiết cho quốc gia, dân tộc mình Dù có nguồn gốc từ một cuộc cách mạng xã hội, một cuộc bầu cử hay được sinh ra từ các xung đột chính trị đẫm máu, thì các chế độ độc tài (với bất kỳ hình thức nào) cũng đều có một điểm chung, đó là: Đề cao sự ổn định và trật tự, nói không với đa nguyên
và các vấn đề có liên quan đến tự do, dân chủ Ngay từ thời cổ đại, như đã phân tích, độc tài đã trở thành con đường duy nhất và tất yếu để quản lý đất nước, đặc biệt là khi, quốc gia, dân tộc đứng trước những thời khắc có tính chất quyết định, như một cuộc chiến tranh, khủng hoảng hay xung đột cực lớn Vào những lúc ấy, quyền lực buộc phải được tập trung vào tay một người hoặc một nhóm người đủ bản lĩnh và uy tín, cũng như sự độc đoán, quyết liệt đến mức tàn bạo là cần thiết, không thể khác Có lẽ cũng từ đó và trên cơ sở đó, chế độ độc tài và những biến thể của nó, đã ra đời trước hết là để giải quyết những cuộc khủng hoảng chính trị – xã hội, những cuộc đổ vỡ của dân chủ và tự do khi các quốc gia, hay xã hội chưa đủ điều kiện để duy trì chúng, nhanh chóng đưa mọi thứ trở về trật tự, vãn hồi xung đột và chiến tranh Có lẽ cũng từ đó, chế độ độc tài đã được đánh giá và xem xét như một phản đề của dân chủ, là đại diện cho các xã hội phi dân chủ và được nhiều người xem là một chế độ chính trị không mong muốn Vì làm gì có ai lại đi mong chờ một cuộc chiến tranh, xung đột hay khủng hoảng?
Mặc dù số lượng các chế độ độc tài đã giảm đáng kể trong 20 năm qua (Phụ lục 1) trên khắp các châu lục, nhưng chế độ chính trị này vẫn tồn tại và phổ biến trong suốt lịch sử, vẫn duy trì sức sống mãnh liệt của nó ở nhiều nơi trên thế giới và liên tục đe dọa đến các nền dân chủ mong manh Điều đó cho ta thấy gì? Rõ ràng là, nếu một chế độ chính trị được
Trang 23giả định là kết quả của những lựa chọn hợp lý chứ không phải là một sự kiện văn hóa – xã hội hoặc ngẫu nhiên, tình cờ, thì điều gì có thể giải thích sự ra đời và tồn tại của một chế
độ chính trị bị chỉ trích, chê bai trong nhiều xã hội? Theo chúng tôi, chắc chắn phải có những lợi ích thiết thân (bên cạnh các chiêu trò chính trị) cho các chế độ độc tài hình thành
và phát triển Sự bền vững của các chế độ ấy chỉ có thể đến từ chính sự lựa chọn của xã hội – bệ đỡ lớn nhất và sau cùng cho mọi loại chế độ chính trị trên thế giới Cụ thể: Chúng ta thường được biết đến quá trình vươn lên nắm quyền đầy mưu mô và thủ đoạn của Hitler trong khoảng thời gian từ 1923 cho đến khi y trở thành Thủ tướng năm 1933, nhưng hầu hết đều không được biết về bối cảnh nước Đức những năm hậu Thế chiến I và Đại khủng hoảng trông như thế nào Hay như trường hợp của Hàn Quốc sau cuộc Cách mạng Tháng
tư 1960 lật đổ chính quyền Rhee Syng-man (Lý Thừa Vãn), đất nước có hơn một năm trong không khí hân hoan của tự do và dân chủ, nhưng cũng từ đó, khi tự do và dân chủ không được kiểm soát thì tình trạng còn tệ hơn cả khi sống dưới chế độ độc tài, vì vậy, quân đội nước này đã can thiệp vào chính trị và mở ra một thời kỳ độc tài quân sự kéo dài cho đến tận năm 1987 mới kết thúc Hoặc một diễn biến khác, trong trường hợp của Bồ Đào Nha năm 1932 và Tây Ban Nha năm 1936, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng: Mặc dù các chính thể này đã có những biện pháp chính trị – xã hội hoàn toàn phi dân chủ, thủ tiêu
tự do và công luận, nhưng, không ai có thể chối cãi rằng, chính các chế độ độc tài ở hai quốc gia này đã duy trì sự ổn định cho xã hội, đảm bảo sự thịnh vượng và tránh xa cuộc Chiến tranh thế giới vốn đã gây ra cái chết cho hơn 60 triệu người
Thứ hai, các chế độ độc tài mang đến những kỳ tích kinh tế vượt trội và nhanh hơn bất kỳ nền dân chủ nào Có một thực tế là, trong suốt nhiều thế kỷ tranh cãi về sự cần thiết của độc tài (như là một đối điểm của dân chủ) trong triết học, các lập luận chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị và không đề cập đến bất kỳ khía cạnh kinh tế nào Đến giữa thế kỷ
XX, sau khi Lipset công bố công trình “Một số điều kiện xã hội về dân chủ: Phát triển kinh
tế và chế độ chính trị hợp pháp” (Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy) vào năm 195941, ông đã đưa ra giả thuyết rằng dân chủ có liên quan đến phát triển kinh tế, kể từ đó, việc phân tích các chế độ chính trị dựa trên tiêu chí hoạt động kinh tế đã bắt đầu được chú ý Sự sẵn có ngày càng tăng của các nguồn dữ liệu cũng đã khuyến khích việc thực hiện nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhưng cho đến nay vẫn chưa dẫn đến một kết luận rõ ràng Sử dụng tập dữ liệu bao gồm kinh nghiệm của 135 quốc gia từ năm 1950 đến 1990, một công trình gần đây của Przeworski, Alvarez, Cheibub và Limongi42 (2000) khẳng định sự tồn tại của mối liên hệ giữa các chế
độ chính trị và sự phát triển kinh tế, được đo bằng thu nhập bình quân đầu người Gần 80% các quan sát hàng năm của họ về các chế độ chỉ được dự đoán bằng cách sử dụng chỉ số này Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng, mặc dù dân chủ có liên quan đến tốc lực tăng trưởng kinh tế nhưng trớ trêu thay, ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững,
41 Lipset, S M (1959), “Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy”
The American Political Science Review Vol 53 Issue 1 p.69 – 105
42 Przeworski, A., Alvarez, Michael E., Cheibub, J A and Fernando Limongi (2000) Democracy and Development:
Political Institutions and Well-Being in the World, 1950–1990 New York: Cambridge University Press
Trang 24thậm chí đạt đến cái mà chúng ta vẫn thường gọi là kỳ tích kinh tế – lại đến từ các quốc gia tồn tại chế độ độc tài
Như đã phân tích, các chế độ độc tài có khuynh hướng mưu cầu sự ổn định về mặt chính trị, do đó, cũng dễ dàng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế, đặc biệt là các quyết định, chính sách có tính hủy diệt và sáng tạo, tức phá hủy mô hình kinh tế cũ, lỗi thời, không còn phù hợp và xây dựng, phát triển mô hình kinh tế mới, tiến bộ, phù hợp hơn Sự độc đoán trong chính trị cũng kéo theo tinh thần quyết đoán trong quản lý kinh tế, mà cụ thể ở đây là các chế độ độc tài thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro hơn là trong các cơ chế dân chủ (vốn luôn chịu sự chi phối, tác động từ nhiều nhóm lợi ích) Chưa kể, khác với các nền dân chủ, thường là kết quả của các cuộc bầu cử công khai và thỏa hiệp, nền chính trị độc tài diễn ra trong bóng tối của sự phản bội và bạo lực, do đó, áp lực đối với nhà độc tài
và chế độ của họ cũng lớn hơn rất nhiều Nhà độc tài không chỉ phải đối mặt với áp lực từ quần chúng, mà còn là với giới tinh hoa truyền thống, thành viên nổi tiếng của các chính đảng hay các tướng lĩnh cao cấp (tức những người cùng chia sẻ quyền lực với nhà độc tài trong một liên minh cầm quyền) Chính những áp lực này, vô hình trung, đã buộc chế độ độc tài, trên một mức độ nào đó, phải tập trung mang lại lợi ích kinh tế cho quần chúng và đồng minh của họ Vì vậy, cũng thật dễ hiểu, khi kỳ tích kinh tế thường xuất hiện ở những quốc gia không có tự do Trong lịch sử, để trở thành một nước công nghiệp, các nước tư bản chủ nghĩa như Anh quốc cần trên dưới 200 năm, Hoa Kì cần 120 năm, Nhật Bản cần
40 năm, nhưng, Liên Xô trong thời kỳ cầm quyền của Stalin – một nhà độc tài toàn trị, chỉ cần chưa đến 18 năm để hoàn thành về cơ bản quá trình công nghiệp hóa của mình – Đây
có thể được xem là tốc độ công nghiệp hóa nhanh nhất mà thế giới từng ghi nhận Bên cạnh
đó, chúng ta có “Kỳ tích sông Hàn” nói về sự thành công của Hàn Quốc – từ thân phận của một nước thuộc Thế giới thứ ba vươn lên thành cường quốc của Thế giới thứ nhất, đánh đổi bằng máu, nước mắt và mồ hôi của biết bao thế hệ người trong những năm 60, 70 của thế kỷ trước để có được thịnh vượng như hôm nay Nhưng điều đặc biệt ở đây là, thành công ấy của Nam Hàn, không thể không có vai trò của Park Chung-hee (Phác Chính Hy)
và chính thể độc tài của ông ta
Thứ ba, tính dân tộc và truyền thống lịch sử - văn hóa được các chế độ độc tài xem
trọng và gìn giữ như là một cách để đảm bảo sự hợp pháp của chế độ chính trị Các nhà
độc tài và chính thể của họ rất thường xuyên mang tinh thần dân tộc và truyền thống văn hóa trong các tuyên bố của bản thân, trong các sự kiện có tính đại chúng và trên các phương tiện truyền thông, …như một cách để tuyên truyền cho tính “chính danh” của chế độ Sở
dĩ như vậy là vì: Chế độ độc tài thường là kết quả cuối cùng của những nỗ lực trong các tranh chấp chính trị bảo thủ, xuất phát từ các nhóm tinh hoa truyền thống – mang trong mình căn tính dân tộc sâu sắc nhất và do đó xem căn tính dân tộc như một bệ đỡ lý tưởng cho sự tồn vong của chế độ mình Đặt trong bối cảnh của thế kỷ XX – một thế kỷ của chiến tranh và cách mạng, của những cuộc đổ vỡ lớn về hệ thống thuộc địa và chính trị dân chủ, thì sự xuất hiện của các chế độ phi dân chủ trong đó cố gắng duy trì bản sắc dân tộc và những giá trị truyền thống cũng là điều dễ hiểu Các chế độ độc tài hay những chính sách dân tộc (có phần cực đoan) của họ luôn là biện pháp hữu hiệu để ngăn cản những làn sòng
Trang 25văn hóa độc hại từ bên ngoài có nguy cơ làm xói mòn tinh thần dân tộc và băng hoại đạo đức, tư tưởng truyền thống của quốc gia Ở các quốc gia dân chủ, do cơ chế mở và tự do, cho nên các luồng tư tưởng và văn hóa ngoại lai dễ dàng xâm nhập, tác động và biến đổi
xã hội (cả tích cực và tiêu cực), nhưng với chính trị độc tài, vốn bảo thủ và khép kín, đã hạn chế phần nào các tác động ấy Bước sang thế kỷ XXI, chứng kiến làn sóng toàn cầu hóa và tự do thương mại hóa, với đặc trưng là văn hóa tiêu dùng và trọng vật chất, chúng
ta cũng có dịp để đánh giá lại vai trò của độc tài và chế độ độc tài, cũng như tính dân tộc
và truyền thống lịch sử - văn hóa mà các chế độ ấy đã bảo lưu và gìn giữ Tất nhiên, chúng tôi không loại trừ khả năng các chế độ ấy được dựng nên bởi “bàn tay” ngoại quốc, nhưng dẫu vậy, chúng sẽ rất yểu mệnh nếu không tương thích với các cấu trúc lịch sử – văn hóa của quốc gia, dân tộc đó Đã có một số trường hợp chỉ tồn tại rất ngắn ngủi (4 – 7 ngày) nhưng cũng có những trường hợp duy trì trong 2 – 3 thập kỷ, thậm chí cho đến tận hôm nay
Arab Saudi là một minh chứng rõ ràng nhất cho nhận định trên Dù cho nhiều người vẫn luôn tranh cãi về tính chất khép kín, bảo thủ của quốc gia, cũng như những biểu hiện của
nó với những cuộc hành quyết man rợ kiểu trung cổ, nhưng không ai có thể phủ nhận tính truyền thống và tính dân tộc mà chính thể này đã gìn giữ cho người dân của mình Bắt đầu
từ một gia tộc bảo thủ về mặt tôn giáo, kết hợp với các giáo sĩ uy tín trong cộng đồng Wahhabie và bằng những mưu mô chính trị cùng các cuộc chiến tranh thôn tính, gia tộc ấy – Nhà Saud – đã thống nhất hơn 2/3 bán đảo Ả Rập và xây dựng nên một triều đại phong kiến trên nền tảng của một quốc gia hiện đại Trong khi các xã hội Bắc Phi và Trung Đông rúng động trước Mùa Xuân Ả Rập, nhiều chính thể bị lật đổ và chìm trong bất ổn, thì Arab Saudi vẫn đứng vững, ổn định và phát triển Với Trung Quốc, cũng tương tự như thế Dù cho nước này đi theo ý thức hệ Cộng sản chủ nghĩa và đã có những lúc tưởng chừng như
đi ngược lại truyền thống, phủ nhận truyền thống như trong sự kiện Cách mạng Văn hóa, nhưng về bản chất, nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kể từ khi ra đời năm 1949 cho đến nay, đều xem truyền thống lịch sử – văn hóa và tính dân tộc như là một đặc trưng không thể nổi bật hơn của nhà nước này Bởi Mao Trạch Đông từng được xem là một
“hoàng đế” thời hiện đại trong con mắt của thế giới phương Tây, bởi các chính sách ngoại giao văn hóa của nước này (thành lập các Viện Khổng tử ở nhiều nước, chủ trương khuếch trương tinh thần Hán tộc, …) không khác mấy với những gì mà các đời đế vương đã từng thực hiện trước đó trong quá khứ
• Tiêu cực
Thứ nhất, trong môi trường độc tài, không có chỗ cho những tiếng nói tự do, dân chủ, do đó, dễ dẫn đến thói quan liêu và những hành động chính trị mờ ám, phi nhân Một xã hội độc tài được phân biệt với một xã hội dân chủ bởi tính chất độc đoán, khép kín
và quan liêu, do đó, trong các xã hội này, quyền lực của nhà độc tài (và liên minh cầm quyền của ông ta) trở nên vô hạn, dường như không có bất kỳ cơ chế chính trị nào đủ sức gây ảnh hưởng nếu không phải đến từ chính những đồng minh cùng chia sẻ quyền lực với chế độ độc tài Cũng từ đó, chế độ độc tài xem quần chúng và các yêu cầu tự do, dân chủ
Trang 26như là những “kẻ thù” của chế độ, đòi hỏi đa nguyên tức đồng nghĩa với đòi hỏi nhà độc tài phải san sẻ quyền lực, đó là điều không thể, nếu không muốn nói là tối kị trong chính trị độc tài Bởi lẽ, kể cả đối với liên minh cầm quyền, nhà độc tài vẫn luôn trong tâm thế
dè chừng, hoài nghi Bởi lẽ, nền chính trị độc tài luôn diễn ra trong bóng tối của sự phản bội và bạo lực Cho nên, các hành dộng chính trị mờ ám, bí mật và thậm chí là phi nhân đã trở thành mẫu số chung cho tất cả các chế độ độc tài, không phân biệt về kiểu hình hay thể loại Chưa kể, trong các chế độ độc tài, dễ nhận thấy nhất chính là việc lĩnh vực tư pháp cũng nằm trong tay nhà độc tài và chính thể của ông ta Toàn án lúc này đóng vai trò vừa
là công cụ để thực hiện quyền kiểm soát xã hội, vừa là phương tiện để kiểm tra ý chí, thái
độ của quần chúng43 Thực tế ấy được định hình bởi hai đặc điểm rõ ràng là ảm đạm của chính trị độc tài Thứ nhất, các chế độ độc tài vốn dĩ thiếu một cơ quan quyền lực độc lập
có quyền thực thi các thỏa thuận giữa các chủ thể chính trị chủ chốt, đặc biệt là nhà độc tài, các đồng minh của ông ta và các tác nhân đàn áp của họ Thứ hai, bạo lực là trọng tài thường trực và cuối cùng của các xung đột trong nền chính trị độc tài Hai đặc điểm nội tại này định hình một cách độc đáo việc tiến hành chính trị trong các chế độ độc tài Chúng giới hạn vai trò mà các thể chế chính trị có thể đóng một cách hợp lý trong việc giải quyết các vấn đề chia sẻ và kiểm soát quyền lực, chúng cũng giải thích cách thức khủng khiếp
mà rất nhiều nhà độc tài và chế độ độc tài đã triển khai các chính sách tàn bạo và phi nhân, cũng như đối với kết cục bi thương của các chế độ này khi sụp đổ
Ở Chile, chính quyền độc tài của Pinochet sử dụng chiêu bài mất tích Thay vì công khai giết chóc hay bắt giữ, chính quyền này sẽ vồ lấy “con mồi”, đưa họ vào các trại giam
bí mật, tra tấn và giết chết, rồi phủ nhận mọi chuyện Những cái xác bị vứt vào các ngôi
mộ tập thể Theo ủy ban sự thật được thành lập vào tháng 05/1990 của Chile, cảnh sát chìm thường tống khứ nạn nhân bằng cách quăng họ từ máy bay trực thăng xuống đại dương
“sau thủ tục ban đầu là dùng dao rạch bụng để ngăn xác họ nổi lên mặt biển”44 Đến giữa thập niên 1970, các vụ mất tích đã trở thành công cụ thực thi quyền lực chính của các nhà nước độc tài ở những nước Mỹ Latinh Với Argentina, mức độ thậm chí còn kinh hoàng hơn ở Chile, thế lực độc tài ở đây đã kết hợp một cách khéo léo giữa việc gieo rắc nỗi sợ công khai và kín đáo: Tiến hành công khai các hoạt động gây kinh sợ đủ để tất cả mọi người đều biết chuyện gì đang diễn ra, đồng thời giữ bí mật vừa đủ để có thể phủi tay bất
cứ lúc nào Có những hoạt động ngầm còn trơ tráo đến mức: “Mọi người thường kể cho
nhau nghe chuyện cảnh sát xông lên những chuyến xe buýt chật như nêm của thành phố, nắm tóc kéo hành khách ra khỏi xe; ở thành phố Santa Fe, một đôi vợ chồng đã bị bắt đi ngay trước bàn thờ Chúa, trong ngày cưới của họ, trước cả nhà thờ đông chật người tham dự”45 Với Uruguay, tình hình cũng không khá hơn là mấy Một trong những trung tâm tra tấn chính của đất nước này là một doanh trại hải quân nằm gần khu cầu tàu ở Montevideo,
43 Ginsburg, Tom &Tamir Moustafa (2008) Rule by Law: The Politics of Courts in Authoritarian Regimes New
York: Cambridge University Press p.4 – 7
44 Report of the Chilean National Commission on Truth and Reconciliation (1993) Vol II Notre Dame, Indiana:
University of Notre Dame Press p.501
45 Feitlowitz, Marguerite (1998) A Lexicon of Terror: Argentina and the Legacies of Torture New York: Oxford
University Press p.149 – 175
Trang 27một khu vực từng được nhiều gia đình thích chọn làm điểm picnic và tản bộ dọc bãi biển Trong suốt thời độc tài, khu thắng cảnh này vắng vẻ người qua lại bởi các cư dân của thành phố cố ý lảng đi để tránh phải nghe những tiếng la hét46 Hay nổi tiếng hơn cả, là trường hợp của Trung Quốc Tháng 06/1989, nước này đã tiến hành một cuộc thanh trừng đẫm máu các thành phần bất đồng chính kiến (chủ yếu là học sinh, sinh viên và dân thường vô tội), lịch sử thế giới ghi nhận sự kiện này với tên gọi cuộc Thảm sát ở Thiên An Môn Thứ hai, mặc dù độc tài có thể mang đến những kỳ tích kinh tế, nhưng, việc phụ thuộc vào ý chí và sự lựa chọn của một cá nhân hoặc một nhóm người cho thấy một thực tế khác Ở nội dung trước, chúng tôi đã khẳng định rằng, các chế độ độc tài có khả năng tạo nên những kỳ tích kinh tế vượt trội và nhanh hơn các nền dân chủ Điều đó là không sai và hoàn toàn có cơ sở để chứng minh Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý thêm rằng, không phải chế độ độc tài nào cũng có được khả năng đó, nếu chúng thiếu một trong hai điều kiện sau: Thứ nhất, đó là sự hỗ trợ về vật lực, tài lực và nhân lực từ các thế lực bên ngoài (đồng minh, nước lớn) Thứ hai, đó là sự lựa chọn và tầm nhìn sáng suốt của nhà độc tài, cũng như liên minh cầm quyền của ông ta Trong đó, điều kiện thứ nhất thuộc yếu tố khách quan, điều kiện thứ hai thuộc phạm trù chủ quan và cũng là điều kiện quan trọng nhất Bởi lẽ, trong các chế độ độc tài – quyền lực thuộc về một cá nhân hoặc một số ít người, nếu những cá nhân đó không đặt phúc lợi của xã hội lên trên tư lợi của bản thân thì quyền lực lúc này đơn giản chỉ là công cụ để một nhóm nhỏ độc tài tận thu lợi ích cho riêng
họ và ngược lại Có thể thấy, phúc lợi kinh tế hay kỳ tích kinh tế, bản thân chúng không hề mang tính trung lập đối với sự ổn định hoặc không ổn định của chế độ chính trị, đặc biệt là đối với các chế độ chính trị phi dân chủ Trong đó, sự lựa chọn và sở thích của nhà độc tài giữa phúc lợi kinh tế và trật xã hội quy định phần lớn đến bức tranh hiện thực của quốc gia trên thực tế Đáng buồn thay, theo các số liệu có được47, hơn 2/3 các chế độ độc tài trong thế kỷ XX không phải là những chế độ chính trị ưu tiên cho phát triển kinh tế Kinh tế của các nước này, khi kinh qua chế độ độc tài, nếu như không trượt dài trong khủng hoảng thì cũng dễ trở thành “con mồi” cho các thế lực ngoại quốc bòn rút và bóc lột Tình trạng tham nhũng tăng cao và sự phụ thuộc vào nước ngoài cực lớn là những chỉ dấu quan trọng cho thấy các nhà độc tài của các quốc gia đó chỉ quan tâm đến tư lợi Về điểm này, các chế độ độc tài ở châu Phi và Mỹ Latinh có thể được xem là điển hình nhất
Thứ ba, di sản độc tài để lại thường gây ám ảnh cho sự phát triển của quốc gia và
ươm mầm cho bất ổn trong tương lai Các chế độ độc tài, dù chỉ tồn tại trong vài ngày,
vài tháng hay vài năm, thậm chí là vài chục năm hay vài thế kỷ, thì những tác động và ảnh hưởng của chúng, những di sản mà chúng để lại cho đời sau vẫn luôn còn đó Quá khứ độc tài vừa có thể được xem là những bài học kinh nghiệm quý báu để đời, qua đó mà rút kinh nghiệm, vừa có thể là lực cản đối với sự tiến bộ của xã hội trong tương lai, bởi chúng sẽ không thôi ám ảnh lên cách thức xây dựng thiết chế dân chủ, trong cách ứng xử giữa nhà nước và công dân, cũng như trong mọi vấn đề về văn hóa – xã hội Thực tế lịch sử đã cho
46 Weschler, Lawrence (1990) A Miracle, a Universe: Setting Accounts with Torturers New York: Pantheon Books
p.170
47 Przeworski, A., Alvarez, Michael E., Cheibub, J A and Fernando Limongi (2000) Id
Trang 28thấy, các xã hội từng kinh qua giai đoạn độc tài thường chuyển đổi xã hội chậm chạp hơn các xã hội chưa từng kinh qua mô hình đó Bởi lẽ, mọi bước đi, lời nói và hành động của chính thể kế nhiệm buộc phải tỉ mỉ và cẩn thận, vì các đối thủ chính trị (trong và ngoài nước) của họ rất dễ liên tưởng và gán ghép với quá khứ độc tài
Nói về điều này, chúng ta không thể không nhắc đến trường hợp của Argentina, nơi mà chế độ độc tài từng đi qua không những một lần mà là rất nhiều lần trong thế kỷ XX Quốc gia Mỹ Latinh này đã cho thấy một thực tế đáng quan ngại về việc xã hội hậu độc tài đã gặp rất nhiều khó khăn trên bước đường để trở nên tự do, dân chủ như thế nào và rằng những ám ảnh của thời đại độc tài, với chủ nghĩa Peron là biểu tượng, vẫn tiếp tục là một
“lực cản” đối với tương lai Khi những khó khăn ngày một lớn và khuôn khổ của chính trị dân chủ trở nên vô dụng, thì cũng là lúc quá khứ độc tài có cơ hội trỗi dậy, số người đi theo chủ nghĩa Peron tăng dần trong những năm gần đây, cũng như sự ủng hộ của công chúng đối với các chính đảng cực hữu là một thực tế không thể chối cãi Với nước Đức, mặc dù Hitler đã tự sát vào ngày 30/04/1945 và chôn theo tham vọng của mình về một “Thế giới của người Đức”, tuy nhiên, di sản mà ông đã để lại vẫn không thôi ám ảnh đến nhiều thế
hệ người trên khắp Âu châu và Bắc Mỹ Hệ tư tưởng phát xít của ông vẫn tồn tại ở nhiều nơi, thu hút trên dưới hàng vạn người, là mối lo của cả nhân loại mỗi khi chúng có cơ hội bùng phát – đặc biệt là trong những năm gần đây, khi tình hình khu vực và thế giới gặp nhiều thách thức: Khủng hoảng kinh tế, vấn nạn di cư và sự lớn mạnh của các trào lưu dân túy, cực hữu, … Với Hàn Quốc, một quốc gia có hơn 30 năm sống dưới chế độ độc tài, trải qua 3 đời tổng thống (Rhee Syng-man, Park Chung-hee và Chun Doo-hwan), thì câu chuyện hậu độc tài càng trở nên không dễ dàng Mặc dù phong trào dân chủ hóa đã thành công vang dội vào năm 1987, buộc Chun Doo-hwan phải từ chức và cả nước bắt đầu bước vào công cuộc chuyển đổi xã hội Dẫu vậy, bóng ma độc tài vẫn không thôi cản trở dân chủ, do đó, phong trào dân chủ hóa vẫn còn tiếp tục đấu tranh, nhưng khác với giai đoạn trước đó là đòi dân chủ, giờ đây, người dân xử sở kim chi phải giữ vững và củng cố nền dân chủ đó
Tóm lại, từ những phân tích về tác động, ảnh hưởng của chế độ độc tài đối với các quốc
gia và dân tộc trên thế giới, chúng tôi rút ra những nhận định sau: Thứ nhất, các chế độ độc
tài mang bản chất hai mặt – chúng vừa mang lại những lợi ích nhưng cũng vừa gây ra nhiều tác hại cho những xã hội từng trải qua mô hình chính trị này, chúng vừa là kết quả của
những sự lựa chọn có tính chủ quan, vừa là sự sắp đặt khách quan của thời cuộc Thứ hai,
các chế độ độc tài mang bản chất dân tộc – vì hầu hết đều là những nỗ lực của các trào lưu dân tộc chủ nghĩa, kết hợp với những hệ tư tưởng, giá trị thuộc về bản sắc và căn tinnh1 của cộng đồng Thứ ba, các chế độ độc tài mang bản chất giai cấp – là thỏa hiệp giữa lợi ích giai cấp của thế lực cầm quyền với nhau và giữa lực lượng này với quần chúng cách mạng
Trang 29TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy, ở chương 1 của Niên luận này, chúng tôi đã lần lượt làm rõ những vấn đề có tính chất lý luận, nền tảng về độc tài và chế độ độc tài Việc làm rõ những vấn đề lý luận như thế là vô cùng quan trọng, chúng giúp cho bài nghiên cứu có được một khung lý thuyết vững chắc, khoa học và khách quan trước khi đi vào những trường hợp cụ thể hơn ở từng khu vực (ở đây là Đông Nam Á), từng quốc gia (ở đây là trường hợp của Philippines và Myanmar) Đó là những vấn đề có liên quan đến: Nguồn gốc và khái niệm, phân loại và đặc điểm, tác động và ảnh hưởng
Về nguồn gốc và khái niệm, chúng tôi khẳng định chế độ độc tài là hình thức chính trị phi dân chủ Về phân loại, cho đến hiện nay, thế giới đã và đang trải qua 4 loại độc tài chính, đó là độc tài quân sự, độc tài đảng phái, độc tài cá nhân và độc tài quân chủ Tuy nhiên, trên thực tế, sự đa dạng của loại chế độ này đã sản sinh ra những biến thể khác, là
sự kết hợp giữa hai hoặc ba loại hình chủ yếu trên – chúng tôi gọi là độc tài hỗn hợp Xét
về bản chất, các chế độ độc tài, nhìn chung, mang trong mình tính hai mặt, tính dân tộc và tính giai cấp Những bản chất này sẽ đậm nhạt tùy nơi và tùy thời điểm, cũng như phụ thuộc phần lớn vào cá tính của các nhà độc tài, tuy nhiên, đều có đủ
Nghiên cứu độc tài và chế độ độc tài là một công việc vô cùng khó khăn, nhà nghiên cứu không chỉ phải đối mặt với sự khan hiếm về tư liệu (do các chế độ này thường khép kín và bảo thủ), mà còn phải trải qua nguy hiểm nếu chế độ đó chưa sụp đổ, sẵn sàng mất mạng bất cứ lúc nào Dẫu vậy, với tinh thần khoa học và lòng đam mê, nhiều học giả đã bất chấp mọi thứ và đã cho ra đời những công trình khoa học chất lượng, chỉ rõ đặc điểm, bản chất và quy luật vận hành của chính trị độc tài Trên cơ sở kế thừa thành quả của những người đi trước, cũng như kết hợp với những phê phán và kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi mới có thể tóm tắt và trình bày được chương 1 của Niên luận này
Trang 30CHƯƠNG 2 NGUỒN GỐC CỦA CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI Ở ĐÔNG NAM Á
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào tháng 08/1945, lịch sử thế giới bước sang một trang mới với những biến động và đổi thay mới Đối với khu vực Đông Nam Á, mọi thứ cũng chuyển biến, nhưng đó không phải là những chuyển biến có tính chất đồng thời, toàn cục và chung chung, mà với mỗi một tiểu khu vực, hay bản thân từng nước, đều có những chuyển biến rất riêng, trên nền tảng của sự đa dạng về bối cảnh, điều kiện và các nhân tố nội sinh, ngoại sinh hết sức phức tạp Do đó, việc nghiên cứu nguồn gốc hình thành và phát triển của chế độ độc tài của khu vực gặp rất nhiều khó khăn, nếu không muốn nói là nhiều khi rơi vào bế tắc Tuy nhiên, chúng tôi vẫn có thể tạm khái quát những vấn đề đã nghiên cứu được trên một số luận điểm sau:
2.1 Nguồn gốc chính trị
Các nước Đông Nam Á cho đến trước năm 1945, đều là những nước thuộc địa và phụ thuộc vào chủ nghĩa thực dân phương Tây (cấu trúc thuộc địa của Nhật Bản ở khu vực này không đáng kể) Dù cho các nước này khác biệt nhau về thời gian, mức độ và hình thức thuộc địa, nhưng trên không gian chung, cơ bản, di sản thuộc địa vẫn đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc chính trị của khu vực Từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ
XX, các phong trào dân tộc giải phóng ở đây đã bắt đầu cho thấy sự có mặt của tư tưởng phương Tây về tự do, dân chủ trong các hoạt động chống lại chế độ thuộc địa, bên cạnh các trào lưu của nông dân và phong kiến – vốn là đại diện của những xã hội truyền thống
và cổ kính Năm 1917, cùng với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười ở Nga, một cơn bão táp cách mạng một lần nữa đã dậy sóng ở khắp các châu lục, trong đó, có Đông Nam Á Lúc này, do bối cảnh và điều kiện đã thay đổi, mà cụ thể là các chương trình khai thác thuộc địa của thực dân đã tạo ra những mầm mồng cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, góp phần hình thành những giai cấp mới, cũng như gia tăng hơn nữa tình trạng phân hóa giai cấp và bất bình đẳng xã hội Do vậy, phong trào dân tộc giai đoạn này không chỉ có các lực lượng của xã hội cũ, mà còn được bổ sung thêm bởi những người vô sản Họ là sản phẩm trực tiếp của nền công nghiệp thực dân, ý thức giai cấp và tinh thần dân tộc cũng vì thế mà lớn hơn và sâu sắc hơn bất kỳ lực lượng nào khác trong xã hội Sự tham gia của những người vô sản vào phong trào dân tộc đã góp phần tăng thêm sức mạnh cho phong trào và quy mô của phong trào ấy
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đông Nam Á cũng trở thành một trong những địa bàn trọng yếu của cuộc chiến đó, vì vậy, không tránh khỏi máu lửa và tan thương Nhưng, cũng trong thời khắc đặc biệt này, cơ hội cho các dân tộc bản xứ đã đến: Chế độ thuộc địa của phương Tây bị lung lay tận gốc rễ trước sự tấn công của người Nhật Tuy nhiên, Thiên hoàng Nhật Bản và chế độ quân phiệt của ông ta không phải là yếu tố quyết định, mà chính
là thắng lợi của phe Đồng minh chống phát xít cũng như tinh thần quả cảm, hy sinh của nhân dân các xứ thuộc địa Sau chiến tranh, một cao trào dân tộc lại bùng phát, nhưng khác với lần trước nổ ra ở Trung Cận Đông và Mỹ Latinh, lần này, Đông Nam Á là nơi khởi phát Từ 1945 đến 1975, nhìn chung, bộ mặt khu vực đã đổi khác rất nhiều – Sự ra đời của nhiều quốc gia độc lập với đủ các nguốc gốc khác nhau, bao gồm 3 nhóm nước chủ yếu:
Trang 311/ Nhóm các nước sinh ra từ cách mạng dân tộc và kháng chiến chống thực dân – Việt
Nam, Lào, Campuchia và Indonesia; 2/ Nhóm các nước được trao trả độc lập hòa bình – Philippines, Malaysia và Singapore; 3/ Nhóm các nước độc lập từ trước: Thái Lan
Có thể thấy, mặc dù chúng tôi chỉ mới trình bày lướt qua lịch sử của khu vực từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, nhưng rõ ràng là, bối cảnh thuộc địa và những phản ứng của dân bản xứ đối với chế độ thuộc địa chiếm phần lớn nội dung của thời đoạn lịch sử này Điều đó chỉ ra rằng, cấu trúc thuộc địa và hơn một thế kỷ cai trị của chủ nghĩa thực dân ảnh hưởng rất nhiều đến các lực chọn chính trị sau này của người bản xứ Theo như chúng tôi quan sát, hầu hết những nước thuộc nhóm 2 và 3 đều đã và đang trải qua chế độ độc tài, ngoại lệ có trường hợp của Indonesia của nhóm 1 cũng từng có giai đoạn độc tài trong 31 năm (1967 – 1998) Ngoài ra, trừ Singapore, hầu hết các chính thể độc tài ở Đông Nam Á đều ra đời sau những cuộc đổ vỡ về dân chủ và những khủng hoảng nội bộ sâu sắc Nguyên nhân của những biến động đó, không thể không có gốc rễ từ thời kỳ thuộc địa và những tương tác với tình hình quốc tế đương thời Cụ thể như sau:
Trước hết, các chế độ thuộc địa, phụ thuộc tạo điều kiện cho các tư tưởng chính trị Đông – Tây có dịp hình thành và phát triển trong lòng các xã hội bản xứ và thúc đẩy sự ra đời của các chính đảng trong khu vực Các chính đảng này vừa là một cơ hội để tự do, dân chủ được truyền bá vào xã hội bản xứ, vừa là lực cản và tác nhân hình thành chính trị độc tài về sau Trước khi phương Tây đến Đông Nam Á, mô hình tổ chức chính trị – xã hội ở khu vực này chủ yếu là các hội nhóm, đoàn thể có tính xã hội nhiều hơn là chính trị, như các hội cứu tế, thương quán và phu đoàn, … Chế độ thực dân được thiết lập vào cuối thế kỷ XIX – đầu XX đã mang theo nền giáo dục mới sang các xứ thuộc địa, tạo nên một làn sóng Tây học (còn gọi là Tân học) và cho ra đời những thế hệ trí thức mới đầu tiên Những người có học được đào tạo từ nhà trường thực dân này, không ai khác, cũng chính
họ là những người đầu tiên đã xây dựng nên các đảng chính trị cho khu vực Đông Nam Á – mô hình tổ chức quần chúng có nguồn gốc từ phương Tây Năm 1892, Liên minh Philippines và Tổ chức Katipunan ra đời với vai trò của José Rizal và Andrés Bonifacio Năm 1920 và 1927, Đảng Cộng sản Indonesia và Đảng Dân tộc Indonesia lần lượt ra đời Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Cộng sản Malayan được thành lập Các đảng chính trị này vừa là sản phẩm của xã hội thuộc địa với đầy đủ tính dân tộc và giai cấp, nhưng đồng thời, cũng là kết quả của những tương tác quốc tế đặc trưng trong thế kỷ XX – thế kỷ của chiến tranh đế quốc và cách mạng vô sản (theo cách nói của Lenin)
Những quan điểm về tự do, dân chủ, bình đẳng và bác ái, cũng theo chân các chính đảng này có dịp được thẩm thấu vào trong các phong trào dân tộc Tuy nhiên, tùy thuộc vào cách thức thâm nhập, lực lượng truyền bá và thái độ đón nhận hay bài trừ của người dân bản xứ
sẽ quyết định phần lớn đến hiệu quả của các hệ giá trị này trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, cũng như trong quá trình xây dựng kinh tế – xã hội về sau Tầng lớp tinh hoa trong các xã hội bản xứ đóng vai trò là “màn lọc” cuối cùng đối với các hệ giá trị này Nếu chúng được tầng lớp tinh hoa tiếp nhận, rất có khả năng chúng sẽ được sử dụng và thực hành trong xã hội hậu thuộc địa Nếu chúng không được chấp nhận, khả năng cao là trong xã hội
Trang 32hậu thuộc địa, chúng sẽ không có chỗ để dùng Và nếu chúng vẫn muốn được sử dụng mà không thông qua tầng lớp tinh hoa, cách mạng xã hội sẽ là giải pháp cuối cùng cho mọi chuyện Bởi lẽ, chỉ có một cuộc cách mạng xã hội, hay một xung đột bạo lực đủ lớn với kết quả là lật nhào toàn bộ cấu trúc của xã hội cũ, xóa bỏ tầng lớp tinh hoa cũ và đưa một nhóm tinh hoa khác lên thay, thì về cơ bản, mới được coi là chuyển đổi xã hội thành công Trên thực tế, trong các xã hội bản địa sau năm 1945, không có nhiều quốc gia trải qua quy luật trên, hoặc vả chăng nếu có, như trường hợp của Indonesia, nhưng không đủ lớn và chưa triệt để, thì mọi chuyện vẫn như cũ Do đó, về bản chất, các xã hội hậu thuộc địa ở Đông Nam Á, không những chưa đoạn tuyệt được với quá khứ nông nghiệp truyền thống
và các thiết chế của công xã nông thôn, mà còn chưa thủ tiêu được những tàn dư của thời
kỳ thực dân cai trị Vì vậy, các hệ giá trị tiến bộ về tự do, dân chủ, cho đến tận thập niên
1960, vẫn chỉ là một lớp “vecni” trên nền tảng của chính trị chuyên chế, cường quyền trong quá khứ Các chính đảng và các lực lượng xã hội mà chúng đại diện không phải là đối thủ của di sản thuộc địa
Nhận định trên hoàn toàn có lý nếu soi xét vào trường hợp của Thái Lan Nước này không trải qua thời kỳ thuộc địa như các nước khác trong khu vực, vì các đời đế vương của triều Chakri trong giai đoạn tăm tối ấy đã chọn cho mình một hướng đi không giống ai – Chấp nhận ký kết các điều ước bất bình đẳng, học tập phương Tây và tiến hành cải cách đất nước Trong khi ở những nơi khác, chính quyền phong kiến đi từ những phản ứng hết sức dữ dội cho đến bất lực cầu hòa, giai cấp phong kiến không can tâm đánh đổi lợi ích giai cấp để thực hiện cải cách, thì tại Thái Lan – họ đã làm được Mặc dù trở thành một nước phụ thuộc, lãnh thổ bị cắt xén, tự chủ bị xâm phạm và luôn bị đặt trong tình thế lưỡng nan giữa các đại cường, …Nhưng, theo chúng tôi, đây lại là một sự phụ thuộc có chọn lựa, một sự phụ thuộc chủ động chứ không hề bị động Bởi lẽ các bản hiệp ước bất bình đẳng giữa Vương triều Chakri với các thế lực ngoại bang, trên một chừng mực nào đó, đã góp phần trực tiếp đưa nước này bước lên vũ đài quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước châu Âu và bắt đầu gia nhập vào quỹ đạo của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới48 Bởi lẽ các cuộc cải cách quốc gia được tiến hành từ trên xuống không phải xuất phát từ yêu cầu của nhân dân, mà là từ nhận thức sâu sắc và sáng suốt của giai cấp thống
trị Đó không phải là “một thái độ tự ti dân tộc, (…) cũng không phải là thái độ thụ động
trước một thực tế lịch sử về sự ‘chênh lệch’ khách quan giữa sự phát triển của phương Tây
và phương Đông trong thời kỳ cận đại”, mà là tầm nhìn của chế độ chính trị đương thời về
vị trí, vị thế của quốc gia dân tộc49 Điều đó cho thấy gì? Giữa một Đông Nam Á đang lần lượt rơi vào tay đế quốc, một Thái Lan quân chủ vẫn tồn tại, ý hệ phong kiến với vương quyền và thần quyền vẫn còn mạnh mẽ trong tâm thức của người dân Tự do, dân chủ lúc này được cụ thể hóa trong kỹ nghệ và khoa học, chứ không phải là những ý niệm trừu tượng ươm mầm cho xã hội tương lai
Hoặc như trường hợp của Indonesia, nước này đã trải qua rất nhiều cuộc cách mạng trong thế kỷ XX – từ những cuộc khởi nghĩa, bãi công và binh biến trong thời kỳ thuộc địa,
48 Lê Văn Quang (1995) Lịch sử Vương quốc Thái Lan Tp Hồ Chí Minh: NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh Tr.138
49 Lê Văn Quang (1995) Sđd Tr.139, 140
Trang 33cho đến những cuộc chiến tranh giành độc lập và đảo chính quân sự trong thời kỳ đầu của nền Cộng hòa non trẻ Tuy nhiên, chính trị độc tài vẫn xuất hiện và trong suốt 31 năm cầm quyền của Suharto, dù tự do bị lấy mất, dù dân chủ bị triệt tiêu, người dân Indonesia vẫn cảm thấy ổn định hơn là thời kỳ dân chủ mà Sukarno đã gầy dựng Chính trị Indonesia sau ngày độc lập đến trước năm 1967, nhìn chung có thể được chia làm 2 giai đoạn: Thời kỳ đầu – tương đối ổn định với các chính sách dân tộc và giai cấp hài hòa, tự do và dân chủ; thời kỳ sau – khủng hoảng và rối loạn, tự do và dân chủ không tương thích với lợi ích của tầng lớp tinh hoa, cũng như không phù hợp với trật tự xã hội như mong muốn của các thế lực chính trị bên trong (các đảng Maoist) và bên ngoài (cụ thể là Trung Quốc) Có thể thấy, với trường hợp của Indonesia, tự do và dân chủ nói riêng cũng như mọi hệ giá trị Tây phương tiến bộ nào khác nói chung, trong thời kỳ thuộc địa và trong thời kỳ hậu thuộc địa, đơn giản chỉ là những diễn ngôn chính trị – tuyên truyền cho tinh thần ái quốc và tự hào dân tộc, mang trong mình tính dân tộc và giai cấp nhiều hơn tính văn hóa – tư tưởng, cho nên, như Thái Lan, vẫn là chưa đủ để có thể chuyển đổi xã hội sang một định dạng thể chế khác – dân chủ hơn, tự do hơn
Thứ hai, các biến động chính trị của quốc gia đã củng cố vị thế, vai trò của lực lượng
vũ trang ở các nước Đông Nam Á Trong phần lớn lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, việc gắn “quân đội” và “cai trị” sẽ là một hành động thừa thãi vì hầu như tất cả các chế độ chính trị trong các xã hội lớn của thời kỳ tiền hiện đại đều hợp nhất quyền lực quân
sự, tôn giáo, kinh tế và chế độ quân chủ vào làm một50 Thật vậy, chế độ chính trị có sự can thiệp của quân sự không phải là một hiện tượng gần đây mới có, bởi vì ngay từ trước khi chủ nghĩa độc tài xuất hiện ở Hy Lạp – La Mã cho đến các xã hội phong kiến hay tư bản, người ta đều nhận ra vai trò của thế lực này trong đời sống chính trị của quốc gia Đây
là một nhân tố thường xuyên tham gia vào các cuộc đấu tranh quyền lực của nhiều xã hội, bao gồm cả Đông Nam Á và các nước thuộc Thế giới thứ ba khác, đặc biệt là sau khi họ độc lập về chính trị51 Chức năng “hộ quốc” của quân đội làm cho nó trở nên vô cùng mạnh
mẽ và đôi khi là điều không cần phải bàn cãi khi nó bắt đầu gây ảnh hưởng gần như không thể kiềm chế trong chính phủ Ngay cả ở các nước phát triển và dân chủ, mặc dù quân đội
bị hạn chế trong một số quy định và nguyên tắc, chịu sự chỉ đạo của cơ quan dân sự, nhưng
nó vẫn có ảnh hưởng đáng kể đến các chính sách của chính phủ đương quyền52 Ngoài ra, chúng tôi cũng lưu ý thêm rằng, những yếu tố quan trọng nhằm phân biệt giữa quân đội trong các xã hội dân chủ và quân đội của các xã hội độc tài nằm ở chỗ các lực lượng vũ trang của các xã hội đó có sự tuân thủ nghiêm ngặt cơ quan dân sự hợp hiến do nhân dân bầu ra hay không, họ có chuyên tâm làm nhiệm vụ bảo vệ quốc gia không hay là lúc nào cũng chăm chăm dòm ngó các cơ hội chính trị nơi quan trường Bản thân các cơ quan dân
sự cũng không nằm ngoài quy định trên, các cơ quan này có thực sự tách bạch mình với
50 Badie, B., D Berg-Schlosser & L Morlino (2011) International Encyclopedia of Political Science California:
SAGE Publications, Inc p.1573 – 1578
51 Igwe, O (2005) Politics and Globe Dictionary Aba: Eagle Publishers
52 Onder, M (2010) “What Accounts for Military Interventions in Politics: A Cross - National Comparison”
E-Akademi 10/08/2021 Dẫn theo: www.eakademi.org
Trang 34quân sự hay không và có trở nên bất lực trước ảnh hưởng của những cuộc phiêu lưu chính trị mà tầng lớp quân nhân chuyên nghiệp đang ngày đêm tạo dựng53, …
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945, ở Đông Nam Á, đã chứng kiến một làn sóng phi thực dân hóa vô cùng mạnh mẽ, tạo điều kiện cho việc rút bớt các quyền lực chính trị của chế độ thuộc địa ra khỏi khu vực này vào cuối những năm 40, kể
từ đó, các nước trong khu vực cũng bắt đầu bước vào quá trình phát triển và hiện đại hóa trong kỷ nguyên hậu thuộc địa Tuy nhiên, điều kiện trên vừa là cơ hội, nhưng cũng vừa là thách thức Bởi lẽ, chúng không chỉ mang lại cho quân đội vị trí hàng đầu đối với hệ thống quyền lực ở một số quốc gia như Indonesia, Thái Lan và Myanmar, mà chúng còn là “mảnh đất màu mỡ” cho nhiều nhóm chính trị khác, những lực lượng cũng tuyên bố có cổ phần trong các nỗ lực giành độc lập của quốc gia Sự tranh giành quyền lực trong nội bộ của từng quốc gia cụ thể lúc bấy giờ đã gây ra tình hình chính trị bất ổn cho các quốc gia đó Trong thời đại bất ổn này, không thể xây dựng một nền chính trị và văn hóa dân chủ vững mạnh ở mỗi nước Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn do nhiều trường hợp nổi dậy
và nỗ lực lên nắm quyền của các nhóm không hài lòng với sự phân bổ quyền lực sau độc lập Kết quả là, quân đội đã trở nên rất tích cực để vượt qua những cuộc khủng hoảng như vậy để vai trò của họ trong việc duy trì sự ổn định của đất nước trong thời kỳ hiện đại hóa ngày càng trở nên nổi bật54 Đồng thời, chính phủ dân sự nắm quyền từ những ngày đầu độc lập cũng dần mất đi tính chính danh, do nhiều nguyên nhân, trong đó, có những nguyên nhân khách quan đến từ sự chống phá của các thế lực quân sự và ngoại quốc, nhưng chủ yếu vẫn là từ bản thân các chế độ dân chủ đó – Bởi lẽ chúng có cấu trúc không nhất nguyên, quyền lực bị phân tán, kết hợp với những đối kháng về sắc tộc, tôn giáo và đảng phái đã tạo điều kiện cho nguy cơ can thiệp quân sự luôn luôn hiện hữu Chúng ta có thể thấy những ví dụ tương tự bằng cách phân tích các nghiên cứu điển hình diễn ra ở Indonesia và Myanmar trong thời kỳ đầu của quá trình hiện đại hóa sau độc lập
Ở Indonesia, mặc dù Quân đội Quốc gia Indonesia (Tentara Nasional Indonesia – TNI) được coi là có vai trò quan trọng trong việc đánh bật các lực lượng thực dân Hà Lan, tuy nhiên, những ngày đầu độc lập của quốc gia này lại được đánh dấu bằng sự ra đời của một chế độ chính trị dân cử, với quyền kiểm soát dân sự đối với quân đội Sự tồn tại của Sukarno như một nhân vật có uy tín, người tiên phong cho nền độc lập và là biểu tượng thống nhất quốc gia là chìa khóa để phân phối quyền lực ở Indonesia Tuy nhiên, một chính phủ và hệ thống chính trị được điều hành với nhiều đảng phái chính trị dựa trên các thành phần dân tộc, tôn giáo và địa lý với việc thực thi chính sách không rõ ràng sẽ làm suy yếu tính hợp pháp của chính quyền dân sự Điều này đã được chứng minh qua 17 lần thay đổi nội các từ năm 1947 đến năm 1958 với khoảng thời gian ít hơn 2 năm cho mỗi lần thay đổi Nhiều sự kiện ly khai và nổi dậy khác nhau đã xảy ra trên khắp đất nước như Quân đội Hồi giáo
53 Edeh, Herbert C & Michael I Ugwueze (2014) “Military and Politics: Understanding the Theoretical
Underpinnings of Military Incursion in Third World Politics” Mediterranean Journal of Social Sciences Vol 5 No
20 p.2047
54 Jatmika, Muhammad Indrawan (2020) “Rethinking the Emergence and the Practice of Three Praetorian States in
Southeast Asia: A Comparative Study between Indonesia, Myanmar and Thailand” Global South Review Vol 2 No
1 p.9
Trang 35Darul ở Tây Java, PRRI Permesta ở Sumatra và cuộc Nổi dậy của người dân Maluku cuối cùng dẫn đến nhu cầu về lực lượng quân sự để đối phó với những sự kiện này và khôi phục
an ninh Điều này khiến vị thế của TNI trở nên mạnh mẽ hơn trong cuộc đấu tranh giành quyền lực trong chính trường Indonesia, đặc biệt là khi mọi người so sánh sự thành công của TNI với sự thất bại của chính phủ dân sự trong việc duy trì sự ổn định55 Tuy nhiên, một lần nữa, người ta đã chứng minh rằng vị trí của Sukarno với tư cách là một nhà lãnh đạo lôi cuốn và biểu tượng của sự thống nhất quốc gia vẫn rất quan trọng Mặc dù TNI đã bắt đầu tăng cường quyền lực của mình trong lĩnh vực chính trị, nhưng điều này vẫn chưa vượt qua quyền lực của Sukarno Ông đã khôn khéo và thành công khi đặt quân đội là một trong những trụ cột Tuy nhiên, vào năm 1965, khi căng thẳng chính trị ở Indonesia trở nên hỗn loạn, tính hợp pháp của Sukarno bắt đầu bị nghi ngờ Cuộc khủng hoảng chính trị lên đến đỉnh điểm khi xảy ra sự cố G30S/PKI, trong đó một âm mưu đảo chính chống lại chính phủ được đánh dấu bằng việc giết chết 7 sĩ quan quân đội cấp cao, sau đó là tình trạng hỗn loạn chính trị cực lớn trên khắp Indonesia56 Vụ việc đã tạo cho quân đội một cơ hội để tiếp quản quyền lực lớn hơn với lý do khôi phục an ninh trong bối cảnh quyền lực của Sukarno đang suy yếu Chưa kể, kết hợp với những vấn đề khác như sự xuống dốc của nền kinh tế
và sự gần gũi, thân thiết quá mức với đảng cộng sản vốn được coi là chủ mưu của cuộc đại loạn, … tất cả đã dẫn đến sự ra đời của Sắc lệnh 11/03 vào năm 1966, sau đó được củng
cố bởi quyết định của Hội đồng Hiệp thương Nhân dân (MPRS) vào tháng 03/1967, quyết định luận tội Sukarno, bãi chức tổng thống, Suharto – người đại diện cho quân đội đã thành công trong việc nắm toàn bộ quyền lực và bắt đầu 31 năm của chế độ độc tài với tên gọi là
kỷ nguyên của Trật tự Mới57
Ở Myanmar, nền độc lập của đất nước được đánh dấu bằng việc thông qua hiến pháp năm 1947 – đặt quyền kiểm soát tối cao của cơ quan dân sự lên chi tiêu quân sự và bổ nhiệm dưới quyền một bộ trưởng quốc phòng Myanmar trở thành quốc gia có quốc hội lưỡng viện gồm Hạ viện và Thượng viện với U Nu là thủ tướng đầu tiên Trong các năm
1951 – 1952, 1956 và 1960, Myanmar tiến hành tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng Trong thời kỳ này, Myanmar đã vượt qua được nhiều biến động chính trị, nổi bật trong số đó là các cuộc nổi dậy của những người cộng sản Tuy nhiên, những biến động chính trị ở đất nước này vẫn tiếp tục, đặc biệt là với sự tan rã của Liên đoàn Tự do Nhân dân Chống Phát xít (Anti-Fascist People's Freedom League – AFPFL) – liên minh chính trị lớn nhất ở Myanmar lúc bấy giờ, thành hai phe, một do Thakins Nu và Tin lãnh đạo, phe còn lại do
Ba Swe và Kyaw Nyein đứng đầu58 Vai trò của U Nu với tư cách là nhân vật trung tâm trong nền chính trị của Myanmar trong những ngày đầu độc lập bắt đầu suy yếu dần cùng với ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của quân đội trong chính trường Trong khi đó, quân đội bắt đầu siết chặt hơn nữa sự hiện diện của họ trong các hoạt động chính trị có tính thực tiễn ở Myanmar Họ tuyên bố rằng kể từ sau năm 1945, quân đội đã đóng vai trò quan trọng
55 Kwok, J.C (2010) Explaining civilmilitary relations in Southeast Asia Massachusetts Institute of Technology
56 Crouch, H (2007) The army and politics in Indonesia Sheffield: Equinox Publishing
57 Ricklefs, M C (1981) A History of Modern Indonesia: c.1300 to the Present Basingstoke: Macmillan Distribution
58 Win, S (1959) The split story: an account of recent political upheaval in Burma: with emphasis on AFPFL
London: The Guardian