Từ đó, có thể thấy, những chuyển biến của phong trào dân chủ hóa ở Hàn Quốc trong gần 30 năm 1960 – 1988 cũng đồng thời với những chuyển biến trong nhận thức và hành động của học sinh, s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
NIÊN LUẬN CHUYÊN NGÀNH 1
VAI TRÒ CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN HÀN QUỐC TRONG PHONG TRÀO DÂN CHỦ HÓA THẬP NIÊN 70 – 80 CỦA THẾ KỶ XX
Giảng viên hướng dẫn : TS PHAN THỊ ANH THƯ
Sinh viên thực hiện:
VÕ PHẠM KHÁNH ĐĂNG (1756040018)
Thành phố Hồ Chí Minh, 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Nguồn tư liệu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Kết cấu của đề tài 12
CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH XÃ HỘI HÀN QUỐC TRONG THẬP NIÊN 70 – 80 CỦA THẾ KỶ XX 13
1.1 Bối cảnh thế giới và cục diện khu vực Đông Bắc Á 13
1.1.1 Bối cảnh thế giới 13
1.1.2 Cục diện khu vực Đông Bắc Á 15
1.2 Bối cảnh trong nước 18
1.2.1 Tình hình chính trị 18
1.2.2 Tình hình kinh tế 22
1.2.3 Tình hình văn hóa – xã hội 25
CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN HÀN QUỐC TRONG PHONG TRÀO DÂN CHỦ HÓA THẬP NIÊN 70 – 80 CỦA THẾ KỶ XX 32
2.1 Vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong phong trào dân chủ hóa thập niên 70 của thế kỷ XX 32
2.2 Vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong phong trào dân chủ hóa thập niên 80 46
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 60
3.1 Nhận xét, đánh giá về vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong phong trào dân chủ hóa thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX 60
3.2 Một số biến đổi của học sinh, sinh viên từ sau phong trào dân chủ hóa ở Hàn Quốc. 67
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73
Trang 3X cho đến đầu thế kỷ XX, trải qua hơn 30 năm thuộc địa dưới sự cai trị của Đế quốc Nhật Bản, những tưởng trong xu thế dân tộc giải phóng sau năm 1945 sẽ mang lại một quốc gia dân tộc thống nhất cho những con người trên báo đảo Triều Tiên, nhưng sự thật lịch sử lại nghiệt ngã đưa đẩy họ vào vòng xoáy của một cuộc đọ sức mới – điều mà chính họ cũng không lường trước được, đó là sự chia cắt dân tộc đầy đau đớn, là cuộc chiến tranh huynh
đệ tương tàn và nỗi đau ly tán hàng chục năm trời không thôi ám ảnh họ
Nếu như tại CHDCND Triều Tiên tồn tại một thể chế chính trị gia trưởng kiểu phương Đông pha lẫn tư tưởng Cộng sản chủ nghĩa thì ở Đại Hàn Dân quốc, đặc biệt từ sau khi Chiến tranh liên Triều (1950 – 1953), là một kiểu độc tài chống Cộng nhưng được xây dựng trên bệ đỡ của nền chính trị dân chủ tư sản mà người Mỹ đã thiết lập từ năm 1948 Chính những chuyển biến từ một nhà nước dân chủ sang độc tài dưới thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Rhee Syng-man đã quy định tính chất và nội dung của các cuộc đấu tranh đòi dân chủ trong những năm 60 của thế kỷ XX Từ sau cuộc đảo chính ngày 16/05/1961 cho đến khi Tổng thống Park Chung-hee bị ám sát năm 1979, chính quyền trung ương ở Hàn Quốc, bên cạnh những thành công vượt bậc về kinh tế là một bức tranh chính trị - xã hội hoàn toàn trái ngược – quyền tự do của công dân bị bóp nghẹt bởi nhà nước, vi phạm nhân quyền nghiêm trọng cùng với những cuộc bầu cử đầy dối trá và quyền lực của quân đội đôi khi còn lấn át cả quyền lực của nhân dân Tất cả tiếp tục định hình nên một phong trào dân chủ hóa vào thập niên 70 của thế kỷ XX Di sản của các cuộc đấu tranh dân chủ của những thập niên 60 và 70 tiếp tục trở thành ngọn nguồn và động lực cho phong trào
dân chủ trong những năm 80 của thế kỷ XX Phong trào Dân chủ tháng Sáu (1987) là
chiến thắng vĩ đại, kết quả của sự hy sinh và chiến đấu không mệt mỏi của người dân Hàn Quốc nhiều thế hệ chống lại chế độ độc tài và bất công, chiến thắng ấy đã đưa Hàn Quốc trở thành một nước dân chủ thực sự và cũng chứng minh rằng cuộc đấu tranh vì tự do, nhân quyền và dân chủ sẽ luôn được lịch sử ủng hộ, chiến thắng ấy cũng đã kết thúc cuộc đấu tranh dân chủ của thập niên 80 nhưng lại mở đầu cho một thời kỳ đấu tranh khác – trước đây là đòi dân chủ, giờ đây là giữ, là duy trì và bảo vệ nền dân chủ đó
Trang 4Các cuộc đấu tranh dân chủ từ thập niên 60 đến 80 của thế kỷ XX đã cho thấy sức mạnh của quần chúng lớn đến mức nào và đã có lúc, sự lớn mạnh hay suy yếu của phong trào dân chủ phần lớn phụ thuộc vào sự ủng hộ của phần đông dân chúng – cơ sở xã hội của phong trào Qua các cuộc đấu tranh này, học sinh, sinh viên – những người trẻ được sinh
ra sau chiến tranh (hoặc ít có trải nghiệm về thời kỳ thuộc địa) và lớn lên cùng với quá trình đô thị hóa, nhận được sự giáo dục tử tế từ chương trình học kiểu phương Tây, đã dần tiếp thu những tư tưởng về tự do và dân chủ, đã tham gia sôi nổi vào phong trào đòi dân chủ của những năm 60, 70 Đến những năm 80, sự trưởng thành của lực lượng học sinh, sinh viên trong phong trào dân chủ thể hiện ở việc họ đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng sống còn của dân chủ, chủ động trong đấu tranh, tổ chức các đoàn thể quần chúng của riêng mình, trở thành lực lượng chủ lực và nồng cốt của phong trào dân chủ hóa Từ
đó, có thể thấy, những chuyển biến của phong trào dân chủ hóa ở Hàn Quốc trong gần 30 năm (1960 – 1988) cũng đồng thời với những chuyển biến trong nhận thức và hành động của học sinh, sinh viên nước này về quyền và nghĩa vụ trước dân tộc, trước quốc gia, đồng thời, tùy vào bối cảnh và điều kiện cụ thể, mà tính chất và nội dung của cuộc đấu tranh dân chủ cũng có những biểu hiện khác biệt, nhưng tựu trung lại – vai trò và vị thế của lực lượng học sinh, sinh viên là không thể chối cãi trong thành công chung của phong trào
Hiện thực lịch sử ấy ở Hàn Quốc có ý nghĩa đặt biệt quan trọng không chỉ với chính người dân Hàn Quốc và giới học thuật nước này, mà còn trở thành một trong những chủ
đề đáng quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong đó có Việt Nam Phong trào dân chủ và những bài học từ phong trào này đã trở thành biểu tượng cho cuộc đấu tranh dân chủ trên khắp thế giới, trước hết là tại các quốc gia châu Á như Philippines, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, … Cũng từ thực tế của phong trào dân chủ, vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trở nên rõ nét và đáng ghi nhận, những hoạt động tích cực của lực lượng sinh viên đã trở thành trung tâm, là động lực của cả quá trình chuyển đổi dân chủ ở Hàn Quốc, không chỉ cung cấp sức mạnh về mặt tổ chức mà còn trở thành những hạt nhân lãnh đạo các phong trào xã hội Tuy nhiên, bản thân hiện tượng lịch sử này và những đối tượng tham gia vào dòng chảy của hiện tượng đó (học sinh, sinh viên, trí thức, công nhân, thị dân, …) vẫn còn nhiều điều chưa được làm rõ và hiểu đúng, do nhiều nguyên nhân - cả chủ quan lẫn khách quan của thời đại Xét thấy việc nghiên cứu về lịch sử phong trào dân chủ hóa ở Hàn Quốc nói chung và vai trò của học sinh, sinh viên trong tiến trình dân chủ
ở nước này nói riêng là vô cùng cần thiết
Về mặt khoa học, việc nghiên cứu vai trò và những ảnh hưởng của giới học sinh, sinh viên trong phong trào dân chủ và tiến trình dân chủ ở Hàn Quốc còn cung cấp một tiền đề
lý luận khi luận giải sự vận động đi lên và bản chất của các nền chính trị dân chủ hiện tại,
xu thế phát triển của phong trào dân chủ ở châu Á nói riêng và trên thế giới nói chung, thấy được quá trình xác lập chế độ độc tài, những cơ sở tồn tại của nó và cách thức giải trừ nó bởi chính sức mạnh của những người lao động – khi họ nhận ra, khi họ đoàn kết trong một
Trang 5mặt trận chung được dẫn dắt bởi lực lượng học sinh, sinh viên Đồng thời, chính những nghiên cứu về học sinh, sinh viên và vai trò của họ trong phong trào dân chủ sẽ cung cấp cho Việt Nam trên bước đường xây dựng một nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân Việt Nam không trải qua những cuộc vận động dân chủ như Hàn Quốc nhưng chính thực tiễn của phong trào dân chủ, chính những vận động nội tại có tính chất quyết định của phong trào này đối với chính trị - xã hội của Hàn Quốc đương đại đã chi phối phần nào đó đến nhận thức về đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam, cũng như trên bình diện ngoại giao là quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc
Từ những lý do trên cùng với những tình cảm đặc biệt của bản thân đối với lịch sử và
văn hóa Hàn Quốc, tôi quyết định lựa chọn “VAI TRÒ CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN HÀN QUỐC TRONG PHONG TRÀO DÂN CHỦ HÓA THẬP NIÊN 70 – 80 CỦA THẾ
KỶ XX” làm đề tài niên luận 1 hệ Cử nhân tài năng, chuyên ngành Lịch sử thế giới
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong phong trào dân chủ hóa thập niên 70 –
80 của thế kỷ XX là một đề tài luôn ít nhiều nhận được sự quan tâm của giới học thuật trong và ngoài nước Thông qua những nguồn tư liệu mà tôi tiếp cận, có thể khái quát tình hình nghiên cứu của đề tài như sau:
2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, mà những nghiên cứu về phong trào dân chủ hóa ở Hàn Quốc nói chung và học sinh, sinh viên nước này trong phong trào dân chủ nói riêng ít được đề cập một cách trực tiếp Giới học giả Việt Nam tiếp cận các đối tượng trên một cách gián tiếp, từ một đối tượng khác có liên quan
Chẳng hạn như: Công trình Sự phát triển của Hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á của Lã Khánh Tùng (2015, luận án Tiến sĩ Luật học), Từ góc độ lịch sử, nghiên cứu truyền thông đại chúng và sự phát triển kinh tế - xã hội Hàn Quốc của Lê Thanh Bình, Tình hình kinh tế - xã hội Hàn Quốc trong giai đoạn tái kiến thiết đất nước (1953 – 1960)
của Hoàng Văn Hiển, … Rõ ràng là, các công trình này đều ít nhiều đề cập đến phong trào dân chủ hóa và lực lượng học sinh, sinh viên trong phong trào dân chủ hóa, nhưng 2 đối tượng này chỉ là thứ yếu, là sự bổ sung có tính bắt buộc hoặc không bắt buộc nhằm làm rõ hơn đối tượng và nội dung nghiên cứu của các công trình này
Tại Việt Nam, chúng tôi có thể khẳng định rằng, chưa có bất kỳ công trình khoa học nào nghiên cứu một cách bài bản, toàn diện và hệ thống về vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc đối với phong trào dân chủ hóa trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nếu như ở Việt Nam kết quả nghiên cứu về đề tài này còn khá khiêm tốn thì ở nước ngoài, các công trình khoa học chuyên sâu về cùng vấn đề lại khá đa dạng cả về lượng và chất Đặc điểm trên được phản ánh cụ thể thông qua các cấp độ nghiên cứu sau đây:
Trang 6Cấp độ 1: Các nghiên cứu về những biến đổi chính trị, kinh tế, xã hội ở Hàn Quốc thập niên 70 – 80/XX: Với cấp độ này, nổi bật hơn cả là các công trình như Korea – A
Century of Change (2000, Juergen Kleiner), Transformations in Twentieth Century Korea (2006, Chang Yun-shik và Steven Hugh Lee) và The Making of Modern Korea (2007,
Adrian Buzo) Các tác giả trong các công trình này đã ghi nhận những biến đổi quan trọng của xã hội Hàn Quốc trong thế kỷ XX (chủ yếu tập trung từ sau 1945) trên nhiều lĩnh vực: Các thay đổi trong kết cấu kinh tế; các chuyển dịch của đời sống xã hội bởi tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa được biểu hiện rõ nét qua thái độ của các giai tầng, các giới trước các vấn đề của từng cá nhân và của quốc gia dân tộc; các biến đổi trong đời sống văn hóa tinh thần, của sự nhập nhằng giữa truyền thống và hiện đại, giữa thủ cựu và nghênh tân, giữa một bên là các giá trị Á Đông với sự chuyên chế và trật tự thứ bậc – còn một bên
là tinh thần dân chủ và chủ nghĩa cá nhân đậm chất phương Tây; các chuyển đổi của mô hình nhà nước (từ dân chủ đến độc tài) cũng như dấu ấn cá nhân của các nguyên thủ quốc gia trước các quyết sách chính trị là khá rõ ràng
Bên cạnh những tương đồng, các công trình cũng có những khác biệt căn bản, mà chính
những khác biệt này đã cung cấp một cái nhìn đa chiều hơn cho đề tài nghiên cứu của
chúng tôi – Nếu công trình “Transformations in Twentieth Century Korea” chỉ ra được
mối quan hệ kinh tế - chính trị giữa Hàn Quốc và Hoa Kỳ cũng như tác động của Hoa Kỳ
đối với những biến đổi về mặt nhà nước ở Hàn Quốc thì nghiên cứu “Korea – A Century
of Change” lại chú trọng tới các quá trình chính trị ở Hàn Quốc trong một trăm năm qua,
nó cho phép người đọc nghiên cứu và nắm bắt tất cả các mạch chính, các khía cạnh quan trọng của các diễn biến chính trị trên bán đảo Hàn và những vùng xung quanh nó - Đây là công trình đề cập trực diện nhất về phong trào sinh viên và xem đây là mạch chính của các
phong trào dân chủ và chuyển đổi dân chủ trong xã hội Hàn Quốc Trong khi đó, The Making of Modern Korea đã chỉ ra những thay đổi của bối cảnh và điều kiện lịch sử ở Hàn
Quốc những năm sau Chiến tranh liên Triều chính là cơ sở cho sự hình thành chế độ độc tài (nhu cầu tái thiết đất nước bằng việc xây dựng một nhà nước trung ương vững mạnh - một quân đội hùng mạnh, một bộ máy hành chính quan liêu, một mạng lưới an ninh và
cảnh sát tàn nhẫn càng khiến người dân bị kiểm soát chặt chẽ) Ngoài ra còn phải kể đến A Concise History of Modern Korea from the Late Nineteenth Century to the Present (2010,
Michael J Seth), nó đã cung cấp một cái nhìn khá đầy đủ về tình hình Hàn Quốc trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XX; về mối quan hệ giữa Hàn Quốc với Hoa Kỳ, Nhật Bản, CHDCND Triều Tiên, …; về phong trào đòi dân chủ hóa đời sống xã hội với nòng cốt là phong trào của học sinh, sinh viên Đây là công trình đề cập trực diện nhất về phong trào sinh viên và xem đây là mạch chính của các phong trào dân chủ và chuyển đổi dân chủ trong xã hội Hàn Quốc
Cấp độ 2: Các nghiên cứu về phong trào dân chủ hóa và chuyển đổi dân chủ ở Hàn Quốc thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX: Với cấp độ này, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới
Trang 7các công trình của Jung Hae-gu và Kim Ho-ki (Development of Democratization Movement
in South Korea, 1993), Shin Kwang-yeong (The Citizens’ Movement in Korea, 2006), tập
thể tác giả của Trung tâm nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương thuộc Đại học Stanford
(South Korea’s Democracy Movement (1970-1993), 2007), Lee Myung-sik (The History
of Democratization Movement in Korea, 2010) và Lee Mi-sook (South Korea’s Democratization Movement of the 1970s and 80s and Communicative Interaction in Transnational Ecumenical Networks, 2014) Các công trình này, nhìn chung, đã chỉ rõ đối
tượng nghiên cứu của nó là các phong trào dân chủ trong xã hội Hàn Quốc, với phạm vi thời gian trải dài trên dưới 30 năm (tức là ở cả 3 thập niên – 60, 70 và 80 của thế kỷ XX),
đã cung cấp với những thông tin đầy đủ về diễn biến của các cuộc đấu tranh, về bối cảnh
và điều kiện thúc đẩy chúng
Mỗi một công trình đều mang trong nó những điểm sáng đáng lưu ý, như: The Citizens’
Movement in Korea của Shin Kwang-yeong đã định vị rõ các khái niệm về dân chủ, dân
chủ hóa, phong trào quần chúng, phong trào dân chủ, phong trào sinh viên, …; đặt ra các khác biệt căn bản trong mục tiêu, động lực, cơ sở xã hội của các phong trào và những vận động có tính chất quyết định đến sự cố kết giữa các nhóm xã hội có cùng một mục tiêu,
mục đích chính trị South Korea’s Democracy Movement (1970-1993) của tập thể tác giả
của Trung tâm nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương thuộc Đại học Stanford đã cung cấp thêm một góc nhìn mới trong các công trình nghiên cứu về phong trào dân chủ - đó là chú
ý đến các tổ chức chính trị của quần chúng – nơi quy tụ sức mạnh của đại đa số nhân dân lao động, các nhóm xã hội có tư tưởng khác nhau, là bệ đỡ của cuộc đấu tranh Sự hình thành và phát triển của các tổ chức này không chỉ có ý nghĩa đối với kết quả của phong trào dân chủ trong các thập niên đó, mà còn là tiền đề để giữ vững dân chủ trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiếp cận được các công trình có nội dung so sánh, đối chiếu phong trào dân chủ hóa và quá trình chuyển đổi dân chủ ở Hàn Quốc với các nước khác
như Đài Loan, Philippines, Indonesia, … chẳng hạn như: Democratization of the Taiwanese And Korean Political Regimes: A Comparative Study (Masahiro Wakabayashi, 1997), Democratization in South Korea And Taiwan: The Effect of Social Division on Inter – Korean And Cross – Strait Relations (Chung Chien-peng, 2002), Democratization during the Transformative Times and the Role of Popular Education in the Philippines and Korea
(Yoo Sung-sang, 2008), … Những công trình loại này vừa chỉ ra được điểm tương đồng giữa các phong trào dân chủ ở các quốc gia, vừa đảm bảo cung cấp những góc nhìn đa dạng, nhiều chiều về sự khác biệt giữa chúng, điều này phản ánh 2 đặc điểm: một là, vận động lịch sử luôn diễn ra trên những mạch chính, nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ qua những đa dạng giữa các hiện tượng, sự kiện lịch sử; hai là, khát vọng dân chủ, nhân quyền luôn là khát vọng chung, không thay đổi ở bất kỳ đâu và bất kể khi nào, không riêng gì Hàn Quốc
Trang 8Cấp độ 3: Các nghiên cứu về học sinh, sinh viên và phong trào của học sinh, sinh viên Hàn Quốc thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX: Những nghiên cứu của Park Byeong-
chul trong công trình The Korean Student Movement: The Mobilization Process (1989) với
tư cách là một công trình khoa học có đầu tư bài bản có thể được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên của người Hàn nói riêng và học thuật phương Tây nói chung về hiện thực lịch
sử của đấu tranh đòi dân chủ ở Hàn Quốc trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XX Vì là công trình khoa học ra đời ngay sau khi những biến động của lịch sử vừa kết thúc (hay đúng hơn là tạm lắng với thành công của cuộc Nổi dậy tháng Sáu – 1988), còn nóng hổi với biết bao ngổn ngang của thời thế chưa kịp định hình, cho nên công trình của Park Byeong-chul không tránh khỏi những hạn chế nhất định, do đó, các công trình sau này của
các học giả khác, như Youth For Nation: Culture and Protest in Cold War South Korea (2017) của Charles R Kim và Evolution of Student Movements in South Korea and Their Impact on the Formation of Korean Democracy (2019) của Paige Danielle Bryan, … đã
bổ sung những khiếm khuyết đó
Chưa kể, gần đây, các học giả trên thế giới có xu hướng quan tâm đến các vấn đề nghiên cứu mà đối tượng của các nghiên cứu tập trung vào các thế hệ người đón nhận các ảnh hưởng của phong trào dân chủ, vị trí và vai trò của các thế hệ ấy vào lịch sử đấu tranh của
toàn xã hội, nổi bật hơn cả là công trình của Park Jae-hoo The Conservatization of the 386 Generation: Cohort Effects in Voting Behavior of a Political Generation in South Korea
(2011) Theo đó, thế hệ 386 (những người sinh ra trong những năm 1960, học đại học trong những năm 1980 và ở độ tuổi 30 trong những năm 1990) là những người trực tiếp nhất chịu ảnh hưởng của các cao trào đòi dân chủ, không chỉ là thế hệ tham gia sôi nổi vào cuộc vận động chuyển đổi xã hội mà còn là thế hệ đi đầu, dẫn đường cho cuộc chuyển đổi có thể diễn ra mà không bị cản trở bởi bất kỳ điều gì trước xu thế tất yếu của bối cảnh xã hội Hàn Quốc, trong đó – học sinh, sinh viên chính là lực lượng nổi bật nhất của thế hệ này Chưa dừng lại ở việc phác họa bức tranh của phong trào sinh viên, các công trình nêu trên còn trình bày những biến đổi quan trọng về địa vị kinh tế - xã hội của học sinh, sinh viên trong các thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX cũng như các thay đổi trong nhận thức chính trị, bước chuyển biến về vị thế và vai trò chính trị - xã hội của họ đối với những thay đổi của vận mệnh đất nước, từ đó, cung cấp những góc nhìn mới để đề tài nghiên cứu của
chúng tôi trở nên chân xác hơn
Như vậy, có thể thấy, tất cả các công trình được nêu ở bên trên đều đã ít nhiều đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có những đóng góp quan trọng trong việc hiểu về những biến đổi của xã hội, những cuộc đấu tranh đòi dân chủ và vị thế, điều kiện hình thành và phát triển của phong trào học sinh, sinh viên Dù vậy, bản thân các công trình ấy cũng không khỏi tránh được những hạn chế nhất định:
Trang 9Thứ nhất, đối với các công trình nghiên cứu đến những biến đổi của xã hội, chúng đã không đặt ra tầm quan trọng của những cuộc đấu tranh đòi dân chủ trong những biến đổi ấy, có chăng, là có đề cập nhưng mức độ không nhiều, những cuộc đấu tranh đó trông như thế nào, tác động của nó ra làm sao đến chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Hàn Quốc thì chưa được nói đến và đề cập đúng mức
Thứ hai, đối với các công trình nghiên cứu đến các phong trào dân chủ, chúng đã chưa thật
sự đi sâu vào phân tích động cơ của các hành động chính trị trong các giai tầng (ở đây là học sinh, sinh viên), cách mà họ nhận ra giá trị của dân chủ và chuyển biến trong nhận thức, cũng như từ nhận thức tiến lên hành động đầy tính chính trị - chống lại chính quyền
Thứ ba, đối với các công trình trực tiếp đi vào nghiên cứu học sinh, sinh viên và phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên thì lại mắc phải một hạn chế khác – đó là chưa chỉ ra được vai trò của họ đối với thành công chung của cuộc đấu tranh đòi dân chủ, mối liên hệ, tương tác với các lực lượng khác trong phong trào quần chúng, sự phát triển của các hội, nhóm, tổ chức đoàn thể của học sinh, sinh viên, …
Trên cơ sở kế thừa thành công và phát hiện hạn chế của các công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi đã bước đầu định hình cách tiếp cận, ý tưởng, xác lập nội dung và phương pháp nghiên cứu một cách hiệu quả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của học sinh, sinh viên ở Hàn Quốc trong phong trào dân chủ hóa thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX Với cách tiếp cận của khoa học lịch sử, đề tài xác định phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:
Về không gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và khảo sát vai trò của học sinh,
sinh viên ở Hàn Quốc
Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và khảo sát trong hai thập niên –
70 và 80 của thế kỷ XX Tuy nhiên, để đảm bảo tính logic và toàn diện của vấn đề nghiên cứu cũng như đáp ứng tiêu chí tiếp cận của khoa học lịch sử, chúng tôi không thể không đưa ra những quan điểm khái quát về diễn trình của phong trào dân chủ trong thập niên trước đó (những năm 60) như một phông nền chung mà từ đó và trên cơ sở đó, học sinh, sinh viên Hàn Quốc nói riêng và các lực lượng xã hội khác của phong trào dân chủ nói chung có bước đệm thời gian để thể hiện vai trò lịch sử của mình
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Về mục tiêu nghiên cứu: Đề tài tập trung tái hiện bức tranh lịch sử của phong trào dân
chủ hóa ở Hàn Quốc trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX, từ đó đúc rút ra từ bản thân phong trào này vai trò của lực lượng học sinh, sinh viên Để làm được điều vừa nêu, chúng tôi đưa ra mục tiêu nghiên cứu bao gồm:
Trang 10- Bối cảnh, cục diện, môi trường quốc tế và khu vực cũng như của chính nước Đại Hàn Dân quốc ảnh hưởng đến phong trào dân chủ hóa trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ
XX, từ đó ảnh hưởng đến thái độ chính trị, trình độ nhận thức và hành động của học sinh, sinh viên nước này
- Vai trò lịch sử của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong các phong trào dân chủ hóa của các thập niên từ 70 đến 80 của thế kỷ XX: Vai trò nhận thức, vai trò hành động, vai trò
tổ chức, …
- Một số nhận xét, đánh giá về vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong các phong trào dân chủ hóa của các thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX, các so sánh để làm bật lên sự chuyển biến của học sinh, sinh viên về vai trò lịch sử của mình Đồng thời, chúng tôi mong muốn có thể chỉ ra được những biến đổi quan trọng của học sinh, sinh viên Hàn Quốc sau các cuộc đấu tranh dân chủ
Về nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu nói trên, chúng tôi tập trung thực hiện
các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Chỉ ra được các vấn đề thuộc về bối cảnh và điều kiện của môi trường bên ngoài (quốc tế, khu vực) và bên trong (Hàn Quốc) đã tác động, ảnh hưởng đến các biến đổi của
xã hội Hàn Quốc trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XX, góp phần hình thành đặc điểm, nội dung, tính chất và động lực của các phong trào dân chủ hóa
- Chỉ ra được vai trò lịch sử của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong phong trào dân chủ hóa thông qua diễn biến, nội dung của phong trào này; phân biệt rõ các khái niệm: phong trào dân chủ hóa, phong trào sinh viên, phong trào quần chúng, …để từ đó hiểu rõ được vai trò của lực lượng học sinh, sinh viên
- Đưa ra được những đánh giá và nhận xét khách quan, khoa học trên cơ sở những nghiên cứu về vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc đối với phong trào dân chủ hóa trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX, chỉ ra được những biến đổi về địa vị xã hội, nhận thức của lực lượng này trong các giai đoạn sau của cuộc đấu tranh dân chủ
- Trên một chừng mực nào đó, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh, đối chiếu vai trò lịch
sử của học sinh, sinh viên trong hai giai đoạn lịch sử - những năm 70 và những năm 80, giữa học sinh, sinh viên Hàn Quốc với học sinh, sinh viên các quốc gia châu Á khác có diễn ra phong trào dân chủ hóa hay chuyển đổi dân chủ trong xã hội như Đài Loan, Philippines, …
5 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiếp cận với các tư liệu chủ yếu sau:
- Các sách chuyên khảo của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 11- Các bài viết, các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí, tập san, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước
- Khóa luận, luận văn, luận án
- Tài liệu từ các Website uy tín và chính thống trên Internet
6 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Phương pháp luận của đề tài này được hình thành trên cơ sở
những hệ thống quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Marx – Lenin, chú trọng vào những luận điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu các phong trào xã hội của quần chúng (ở đây là phong trào đòi dân chủ của học sinh, sinh viên), sự phát triển tất yếu cũng như bản chất của các phong trào này, những luận điểm về nhà nước tư sản và nền chuyên chính
tư sản, về vai trò của cá nhân trong lịch sử, … Những quan điểm này được coi là kim chỉ nam trong quá trình nghiên cứu đề tài Ngoài ra, để bổ trợ cho quá trình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi còn áp dụng và đứng trên nền tảng của lý luận quan hệ quốc tế, lý thuyết xã hội học về giai cấp và biến đổi giai cấp, …
Về phương pháp nghiên cứu: Đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp khoa học lịch
sử, phương pháp logic và sự kết hợp giữa chúng được xác định như dòng mạch chủ yếu Bên cạnh đó, đề tài còn vận dụng một số phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, … khi nghiên cứu chuyên sâu từng nội dung nhằm nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách xác thực và khách quan Cụ thể:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ tiến trình vận động của phong trào
dân chủ hóa ở Hàn Quốc nói chung và sự phát triển của học sinh, sinh viên nước này nói riêng về nhận thức và hành động, đặc biệt trong giai đoạn thập niên 70 và 80 của thế kỷ
XX
- Phương pháp logic được sử dụng để chỉ ra bản chất và khuynh hướng phát triển
của phong trào dân chủ hóa, của quá trình nhận thức và tự nhận thức của học sinh, sinh viên trong phong trào dân chủ hóa, trên cơ sở đó, lực lượng này thực hiện các tương tác với các lực lượng xã hội khác trong phong trào dân chủ (công nhân, nông dân, thị dân, …)
và với chính quyền, cũng như bộc lộ vai trò lịch sử của mình đối với toàn bộ quá trình dân chủ hóa trong xã hội Hàn Quốc
- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để chỉ ra những điểm tương đồng
và khác biệt giữa hai thập niên được khảo sát trong đề tài, là thập niên 70 và 80 của thế kỷ
XX, từ đó cho thấy được sự vận động đa dạng của đặc điểm, tính chất, nội dung và động lực của phong trào dân chủ hóa trong hai thập niên, đồng thời, vai trò của lực lượng học sinh, sinh viên trong phong trào được thể hiện ngày một rõ
Trang 12- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để thu thập và đánh giá các nguồn
tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
đề tài gồm ba chương:
Chương 1 Bối cảnh xã hội Hàn Quốc trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX
Chương 2 Vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong phong trào dân chủ hóa thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX
Chương 3 Một số nhận xét, đánh giá
Trang 13CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH XÃ HỘI HÀN QUỐC TRONG THẬP NIÊN 70 – 80 CỦA THẾ KỶ XX
1.1 Bối cảnh thế giới và cục diện khu vực Đông Bắc Á
1.1.1 Bối cảnh thế giới
Từ thập niên 70 đến thập niên 80 của thế kỷ XX là khoảng thời gian “bắc cầu” giữa hai trạng thái đối lập trong quan hệ quốc tế vào thời kỳ Chiến tranh lạnh của hai cực Xô – Mỹ Theo đó, bắt đầu thập niên 70 đến trước năm 1978 được xem là giai đoạn hòa hoãn tạm thời giữa các phe, khi các hiệp ước giải trừ quân bị đã được ký kết1, các tiếp xúc ngoại giao trên tinh thần hòa hiếu, cởi mở đã diễn ra2, và trên hết, các cuộc xung đột cục bộ, các vùng chiến sự có dấu hiệu của sự đối đầu đã thôi tiếng súng, … Từ năm 1978 cho đến cuối thập niên 80 (1989) lại được xem là một chỉ dấu cho những căng thẳng, đối đầu mới – mà kết cục cuối cùng của nó là sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới Như vậy, xét trên bình diện quốc tế, đây không chỉ là bối cảnh lịch sử mà còn là điều kiện quan trọng tiên quyết định hỉnh nên cục diện chính trị thế giới cũng như chi phối và ảnh hưởng đến những thay đổi nội tại của các quốc gia Những quyết sách chính trị mang nặng màu sắc ý thức hệ hay những động thái ngoại giao dựa trên lợi ích giai cấp, … là điều thường thấy trong những thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX Chúng chính là bệ đỡ cho các thiết chế độc tài tồn tại trên thế giới, có thể kể đến như Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Brazil, Chile, … Từ đó, cơ sở xã hội của các chế độ độc tài đã được định hình,
đó là sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng chống Cộng và chủ nghĩa dân tộc, giữa truyền thống văn hóa và sự giúp sức của tư bản nước ngoài Cũng từ đó, các cuộc đấu tranh đòi dân chủ hay các quá trình dân chủ hóa đã diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, vừa là phản ánh của bức tranh hiện thực, vừa là phản ứng trước những gì đã đang diễn ra vào thời ấy Tuy nhiên, giữa các mô hình độc tài cũng tồn tại không ít những khác biệt, mà chính những định dạng khác nhau ấy đã quy định tính chất, đặc điểm, nội dung, động lực và vai trò lịch sử của các giai tầng trong xã hội các nước, trực tiếp dẫn đến những kết quả và mức độ thành công của các cuộc đấu tranh dân chủ
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 70
và kéo dài cho đến tận hôm nay (với một định dạng mới là cuộc cách mạng 4.0) không thể không là một bối cảnh, điều kiện quan trọng chi phối đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của nhiều quốc gia dân tộc trên thế giới Trước hết, về căn bản, cuộc cách
1Hiệp ước SALT I ký tháng 11/1972 và SALT II ký tháng 06/1979 về đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược giữa Liên
Xô và Mỹ, sự ra đời và phát triển của Hội nghị giải trừ quân bị thế giới (1969 – 1979), …
2Hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức (tháng 11/1972), định ước Helsinki (tháng
08/1975) về các vấn đề an ninh và hòa bình được ký kết giữa 33 quốc gia châu Âu, …
Trang 14mạng này đã làm cho sức sản xuất của xã hội người thay đổi một cách chóng mặt, nó là một nhân tố chủ chốt thúc đẩy những biến đổi quan trọng trong nền sản xuất của nhân loại:
tự động hóa trong sản xuất, lao động trí óc thay thế dần lao động chân tay, xuất hiện những bước tiến mới trong phân công lao động – phân công lao động quốc tế, …Hiện thực hóa những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại bằng cách tiến hành hiện đại hóa, công nghiệp hóa quốc gia trở thành quốc sách hàng đầu của các nước trên thế giới – Điều này đã tạo ra những biến đổi quan trọng trong xã hội các nước này, đặc biệt là với các quốc gia vừa mới giành độc lập, các quốc gia chậm và đang phát triển vào thời điểm đó Với các nước này, những tồn tại của chế độ quản lý kinh tế kiểu cũ dần dần bị phá vỡ bởi sức mạnh của nền sản xuất đại công nghiệp, các kết cấu văn hóa truyền thống bị đặt trước những thách thức to lớn, hoặc là chúng biến đổi theo yêu cầu của thời đại mới hoặc
là chúng sẽ bị đào thải như bao giá trị khác đã từng bị loại khỏi dòng chảy của lịch sử, … Chưa kể, cuộc cách mạng này và những thành tựu khoa học – công nghệ của nó cũng làm biến đổi về cơ bản kết cấu giai cấp trong xã hội hiện đại Cụ thể: gia tăng về số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động có trình độ giáo dục cao để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe của nền sản xuất; học sinh, sinh viên ngày càng có được một vị trí, vai trò quan trọng bởi tiếng nói của họ là đại diện cho thế hệ người đầy bản lĩnh và nhiệt huyết nhất của quốc gia; nông dân bị phân hóa sâu sắc bởi các chính sách phát triển nông thôn;
… Sự biến đổi trong cơ cấu giai cấp nêu trên ảnh hưởng lớn đến quá trình tập hợp lực lượng cho các phong trào dân chủ hóa trên thế giới thập niên 70 – 80 của thế kỷXX, bởi tùy vào đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng nước với những mức độ và trạng thái biến đổi khác nhau của xã hội mà quá trình này diễn ra thuận lợi hay gặp trở ngại, cũng như chính bản thân các điều kiện này sẽ quy định lực lượng nào sẽ là ngọn cờ tiên phong trong phong trào dân chủ
Như đã trình bày ở trên, cách mạng khoa học nghệ đã là một phần không thể thiếu của
sự phát triển xã hội người từ đó cho đến nay, và cũng nhờ đó và trên cơ sở đó mà toàn cầu hóa xuất hiện như là một tiến trình phát sinh từ sự tăng lên mạnh mẽ năng suất lao động
của con người Xét về bản chất, toàn cầu hóa “là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới” 3, hay nói như K Marx, là quá trình lịch sử biến thành lịch sử thế giới Toàn cầu hóa có rất nhiều nội dung và khía cạnh, nhưng căn bản và trước hết là toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu hóa kinh tế đề cập đến sự chuyển động quy mô lớn của hàng hóa, vốn, dịch vụ, công nghệ và thông tin Đó là sự hội nhập kinh tế ngày càng tăng và sự phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế quốc gia, khu vực và địa phương trên toàn thế giới thông qua việc tăng cường vận chuyển xuyên biên giới hàng hóa, dịch
3 Lê Hữu Nghĩa – Lê Ngọc Tòng (2004), Toàn cầu hóa – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB CTQG, tr.7
Trang 15vụ, công nghệ và vốn Toàn cầu hóa kinh tế chủ yếu bao gồm toàn cầu hóa sản xuất, tài chính, thị trường, công nghệ, chế độ tổ chức, thể chế, tập đoàn và lao động
Tuy nhiên, không chỉ có kinh tế, toàn cầu hóa còn được biểu hiện qua toàn cầu hóa chính trị và toàn cầu hóa văn hóa Theo đó, toàn cầu hóa chính trị đề cập đến sự phát triển của hệ thống chính trị trên toàn thế giới, cả về quy mô và mức độ phức tạp Hệ thống này bao gồm các chính phủ quốc gia, các tổ chức chính phủ và liên chính phủ, cũng như các thành phần độc lập với chính phủ của xã hội dân sự toàn cầu như các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các tổ chức phong trào xã hội Một trong những khía cạnh quan trọng của toàn cầu hóa chính trị là tầm quan trọng ngày càng giảm của nhà nước quốc gia và sự gia tăng của các chủ thể khác trên trường chính trị Trong khi đó, toàn cầu hóa văn hóa lại đề cập đến việc truyền tải ý tưởng, ý nghĩa và giá trị trên toàn thế giới theo cách mở rộng và tăng cường quan hệ xã hội Quá trình này được đánh dấu bằng sự tiêu thụ của các nền văn hóa
đã được phổ biến bởi Internet (phương tiện truyền thông phổ biến) và du lịch trên quy mô quốc tế Toàn cầu hóa văn hóa liên quan đến việc hình thành các chuẩn mực chung mà mọi người liên kết với nhau thông qua bản sắc văn hóa của cá nhân và tập thể Nó mang lại sự kết nối ngày càng tăng giữa các quần thể và văn hóa khác nhau
Như vậy, toàn cầu hóa kinh tế làm cho các quốc gia xích lại gần nhau hơn, phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn, toàn cầu hóa chính trị phổ quát các giá trị chung của những mô hình nhà nước hiện đại – pháp quyền và dân chủ, toàn cầu hóa văn hóa định hình sự tham gia của công chúng vào các vấn đề quan trọng của quốc gia dân tộc thông qua các phương tiện của báo chí và truyền thông, … Tất cả các khía cạnh trên của toàn cầu hóa đã ít nhiều tác động tới sự biến đổi trong nhận thức và hành động của các giai tầng trong mỗi xã hội về vị trí, vị thế và vai trò của họ đối với vận mệnh của đất nước mình, mà trước hết là vận mệnh của chế độ chính trị được chính họ dựng nên Toàn cầu hóa và những biểu hiện của nó đã định hình nên bộ mặt của thế giới đương đại Ở đó, mọi người ở mọi nơi đều có thể kết nối với nhau, mọi đường biên giới quốc gia không còn có thể bó hẹp nhận thức của con người, nơi con người được cất lên tiếng nói và được lắng nghe, trong đó có mưu cầu tự do và hạnh phúc – mà nền tảng đầu tiên của nó là tinh thần dân chủ
1.1.2 Cục diện khu vực Đông Bắc Á
Cục diện, theo từ điển tiếng Việt4 của TS Hồ Ngọc Đức (Đại học Leipzig, CHLB Đức),
là “tình hình chung của cuộc đấu tranh, cuộc tranh chấp, biểu hiện ra trong một thời gian nhất định” Trong tiếng Anh, từ “cục diện” thường được dùng là “conjuncture” và
“complexion”, thể hiện tình cảnh, cảnh ngộ và phản ánh diện mạo chung Vì vậy, cục diện
khu vực Đông Bắc Á là thực trạng, là tình hình trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội trong khu vực (kinh tế, chính trị - an ninh, văn hóa – xã hội), trong đó vừa có những
4 Dự án Từ điển mở tiếng Việt (Open Vietnamese Dictionaries Project - OVDP) bắt đầu từ 1998 đến 2005 Xem thêm tại: https://nhandan.com.vn/thong-tin-so/tu-dien-da-ngon-ngu-truc-tuyen-399347
Trang 16đặc điểm của khu vực, vừa có xu thế phát triển của khu vực ở một giai đoạn nhất định Những đặc điểm chủ yếu và những xu thế lớn của thế giới trong thập niên 70 - 80 là nhân
tố quan trọng nhất quy định cục diện khu vực Đông Bắc Á Do đó, không thể tách rời cục diện khu vực Đông Bắc Á ra khỏi cục diện thế giới Vì thế, cục diện khu vực Đông Bắc Á vừa phản ánh những nét chung của cục diện thế giới, lại vừa có những đặc điểm riêng biệt của nó Cụ thể như sau:
Cục diện kinh tế: Đông Bắc Á trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX là một trong những khu vực năng động và sôi nổi nhất về kinh tế với sự thăng hoa của các “Con rồng” như Hàn Quốc, Đài Loan, Hongkong cũng như những bước nhảy thần kỳ của Nhật Bản Về cơ cấu kinh tế, khu vực này vẫn đi theo mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu trên cơ
sở phát huy lợi thế so sánh Tuy nhiên, sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm cho
mô hình công nghiệp truyền thống thay đổi Hàn Quốc trải qua khoảng thời gian tăng trưởng nhanh và liên tục trong thời kỳ cầm quyền của Park Chung-hee Đài Loan, sau các quá trình cải cách toàn diện và có tính hệ thống, đã phát triển thành một trong những điển hình thành công của mô hình Mỹ tại châu Á (cùng với Hàn Quốc và Nhật Bản) Bước sang thập niên 80, cùng với những biến động của tình hình thế giới, kinh tế Đông Bắc Á chứng kiến sự chững lại của Nhật Bản và Hàn Quốc Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm mà nhân loại bắt đầu có những cảm nhận đầu tiên về sự trở lại của Trung Hoa - khi nước này đạt được những thành tựu bước đầu trong công cuộc cải cách - mở cửa từ cuối thập niên 70 với Đặng Tiểu Bình là “kiến trúc sư trưởng” Trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, khu vực này trải qua những biến đổi quan trọng trong sản xuất và phân công lao động, đặc biệt, dưới tác động của toàn cầu hóa và khu vực hóa, cũng như của các đối tác, đối thủ lớn, Đông Bắc Á bước vào quá trình tập hợp lực lượng - trước hết là thông qua kinh tế và hình thành các liên hệ kinh tế song phương Quan hệ kinh tế giữa Hàn Quốc và Nhật Bản phát triển có định hướng, quan hệ kinh tế Nhật Bản - Trung Quốc bước đầu đi vào ổn định, Đây là giai đoạn tiền đề để các nước trong khu vực tiến tới thiết lập các quan hệ kinh tế tầm cỡ khu vực - quan hệ đa phương (biểu hiện của khu vực hóa) Thêm vào đó, trong giai đoạn này và có lẽ là đến tận các thập niên sau đó, sẽ thật khó cho khu vực này trên con đường hội nhập và phát triển cùng nhau, bởi lẽ sự đối kháng về lợi ích dân tộc cộng với những khác biệt về ý thức hệ đã, đang và sẽ là rào cản của tiến trình hòa hợp và thống nhất khu vực
Cục diện chính trị - an ninh: Hiện trạng Đông Bắc Á từ sau 1945 cho đến thập niên 70
- 80 là kết quả của sự sắp xếp trật tự quyền lực của các nước lớn trên toàn bộ phần đất liền của thế giới, nó cho thấy bản thân khu vực này đã phải chịu sự chi phối mạnh mẽ của các cường quốc bên ngoài như thế nào trong không gian của Chiến tranh lạnh Sự ra đời của hai nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau trên bán đảo Triều Tiên, sự hiện diện quân
sự của Mỹ tại Nhật Bản, sự hình thành các liên minh chính trị - quân sự giữa Mỹ với Nhật,
Mỹ với Hàn hay Mỹ với Đài Loan, hoặc những hỗ trợ to lớn về vật chất và tinh thần của
Trang 17Trung Quốc cho CHDCND Triều Tiên, đều là những biểu hiện cụ thể cho một thời kỳ đầy căng thẳng của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử khu vực Đông Bắc Á nói riêng
Về an ninh quốc gia và an ninh khu vực, với Mỹ và các đồng minh của Mỹ, có 2 vấn đề nổi bật hơn cả - đó là vấn đề Triều Tiên (vũ khí hạt nhân và chế độ chính trị) và vấn đề quan hệ với CHND Trung Hoa 2 vấn đề này chi phối nhận thức, hành vi và thái độ của các chủ thể còn lại, trực tiếp hoặc gián tiếp quy định xu thế vận động đi lên của khu vực cũng như luôn nhận được sự quan tâm của công chúng quốc tế Quan hệ Mỹ - Trung là đầu mối trung tâm của quan hệ quốc tế khu vực Đông Bắc Á Nó cho thấy sự thăng trầm của cục diện khu vực trong bối cảnh Chiến tranh lạnh cũng như là nguồn gốc để luận giải các vấn đề quan hệ quốc tế của chính khu vực này Thập niên 70 - 80 là khoảng thời gian quan
hệ Mỹ - Trung trở nên gắn bó, gần gũi hơn bao giờ hết, do cùng mục tiêu là chống lại sức mạnh của Liên bang Xô Viết Vì vậy, các chủ thể là đồng minh của Mỹ (trong đó có Hàn Quốc) cũng phải có những thay đổi quan trọng trong động thái ngoại giao, trong nhận thức
về tương quan lực lượng để có cách hành xử, hành vi phù hợp với bối cảnh và điều kiện đặc trưng của thời đại đó Hơn nữa, các tranh chấp, căng thẳng liên quan đến chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ giữa Trung Quốc với Hàn Quốc, giữa Hàn Quốc với Nhật Bản, giữa Nhật Bản với Trung Quốc, … vẫn có thể được xem là một chỉ dấu quan trọng khi đề cập đến những vấn đề thuộc về an ninh khu vực Đông Bắc Á
Cục diện văn hóa – xã hội: Với vị trí, vai trò và tiềm năng to lớn, Đông Bắc Á từ lâu
đã là địa bàn kinh tế trọng điểm của châu Á – nơi tập trung của những nền kinh tế năng động và hiện đại, của sức hấp dẫn bởi các giá trị Á Đông, của một khu vực luôn mong mỏi
sự ổn định, phát triển trong định hướng hòa bình và hợp tác Trước tác động của toàn cầu hóa và hội nhập, trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX, văn hóa – xã hội khu vực này có những thay đổi so với trước, cụ thể: Về giá trị, khu vực này có ba hệ giá trị cốt lõi bao gồm nhóm giá trị phương Đông, nhóm giá trị Âu – Mỹ và nhóm giá trị được hình thành qua quá trình tiếp biến các giá trị phương Tây cùng với thực tế phát triển kinh tế - xã hội của khu vực5 Trong khu vực Đông Bắc Á, việc tồn tại ba dòng giá trị trên là một thực tế chung không thể bàn cãi và không thể thay đổi được Về văn hóa, văn hóa của khu vực Đông Bắc
Á là tổng hòa của các yếu tố đa dạng trong thống nhất, vừa có nét tương đồng, vừa có nét khác biệt Tương đồng là bởi hầu hết các quốc gia dân tộc trong khu vực này đều phát xuất
từ những nền văn hóa, văn minh của xã hội nông nghiệp, đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa với lối tư duy của “Cửa Khổng sân Trình” và đều trải qua khoảng thời
gian bị thách thức bởi “cận đại hóa” – đó “là một xu thế tất yếu trong lịch sử phát triển của loài người mà tất cả các quốc gia đều phải trải qua Trong xu thế ấy, các quốc gia cần phải giải quyết nhiều vấn đề, và một trong số đó là mâu thuẫn giữa truyền thống và tính
5 Hoàng Khắc Nam (2020), Cấu trúc khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Lí luận và thực tiễn, Hà Nội, NXB Chính
trị Quốc gia Sự thật, tr 276 – 297
Trang 18hiện đại” 6 Khác biệt là bởi, trên nền của những tương đồng vừa nêu, mỗi quốc gia dân tộc trong khu vực có những trải nghiệm lịch sử - văn hóa của riêng mình, không chỉ do các tương tác với tự nhiên và xã hội, mà còn do các bối cảnh, điều kiện không giống nhau giữa các quốc gia dân tộc này Chưa kể, cũng từ thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX, khu vực Đông Bắc Á chứng kiến một xu thế mới – đó là các quốc gia trong khu vực này bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa và tiến hành các hoạt động thuộc khuôn khổ của ngoại giao văn hóa nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách đối ngoại Thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc trong chiến lược ngoại giao này trong các thập niên sau đó là minh chứng rõ ràng nhất cho nhận định trên Về xã hội, cơ cấu giai cấp có sự thay đổi đáng kể do tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong những năm 60, 70 của thế kỷ XX Lực lượng công nhân tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, nông dân giảm sút do sức hút của các đô thị và điều kiện sống được cải thiện, đội ngũ trí thức (học sinh, sinh viên, nhà văn, nhà báo, …) trở nên đông đảo và ngày càng có tiếng nói hơn trong sinh hoạt chính trị - xã hội bởi giáo dục và y tế được đảm bảo, đầu tư ngày càng nhiều, … tất cả đã quy định một bộ mặt mới cho xã hội các nước Đông Bắc Á – một xã hội công nghiệp với lối sống công nghiệp, một xã hội của những thị dân được giáo dục bài bản
về quyền và nghĩa vụ trước quốc gia và dân tộc, một xã hội nơi người dân được đòi hỏi nhiều hơn từ nhà nước chứ không phải là ngược lại – điều đó đã vô tình đặt ra những thách thức và cơ hội cho sự phát triển, trước hết là với các nhà nước hiện tồn, sau đó là với các quốc gia dân tộc trong khu vực này
1.2 Bối cảnh trong nước
1.2.1 Tình hình chính trị
Đại Hàn Dân quốc sau năm 1953 đã tồn tại và duy trì chế độ chính trị dân chủ tư sản được dựng nên bởi Mỹ và các nước phương Tây, đã đối phó với nhiều vấn đề về tái thiết quốc gia, trong đó, vấn đề khó khăn nhất trong các vấn đề này là thực hiện nguyện vọng
dân chủ của người dân “Lịch sử chính trị của Nam Triều Tiên là lịch sử tranh chấp đòi dân chủ” 7 – giữa một bên là các chế độ độc tài núp bóng dân chủ, được bảo vệ bởi bạo quyền nhà nước với quân đội, cảnh sát và nhà tù, còn một bên là những người dân tay không tất sắt, chỉ độc một bộ áo quần với tinh thần và sức mạnh như vũ bão, họ đông đảo bởi họ bao gồm nông dân, công nhân và thị dân, họ là học sinh, sinh viên, trí thức, họ ở khắp mọi nơi từ nông thôn hay thành thị, họ chấp nhận đánh đổi cả sinh kế và sinh mạng
để tìm kiếm tự do Cuộc tranh đấu của họ trải dài trong hơn 35 năm, với 7 thời kỳ: đệ nhất Cộng hòa chấm dứt năm 1960 sau cuộc Cách mạng tháng Tư; đệ nhị Cộng hòa (1960 – 1961); sự cai trị của nhóm sĩ quan đảo chính quân sự (1961 – 1963); đệ tam Cộng hòa (1963 – 1972); đệ tứ Cộng hòa (1972 – 1979); thời kỳ quá độ (1979 – 1981); đệ ngũ Cộng hòa (1981 – 1988); đệ lục Cộng hòa (1988 – 1993) Trong khuôn khổ của niên luận này,
6 Nguyễn Đức Toàn - Nguyễn Trần Hòa (2017), “Cận đại hóa” ở phương Đông thời thực dân cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX, Tạp chí khoa học – Khoa học xã hội, nhân văn & kinh tế, tập 11 số 2, 81
7 Andrew C Nahm (2005), Lịch sử và văn hóa bán đảo Triều Tiên, NXB VHTT, Hà Nội, tr.321
Trang 19chúng tôi tập trung vào phân tích các diễn tiến chính trị của giai đoạn từ 1972 đến 1988, tức trùng với thời kỳ tồn tại của đệ tứ Cộng hòa cho đến hết đệ ngũ Cộng hòa Tuy nhiên, không vì thế mà chúng tôi bỏ qua những gì đã diễn ra trước đó – những biến động của xã hội Nam Triều Tiên những năm 60 mà nổi bật hơn cả là hai vấn đề chính:
Trước hết, đó là quá trình xác lập chế độ độc tài, bắt đầu từ nửa sau thập niên 50 đến
hết thập niên 60 của thế kỷ XX, tương đương với giai đoạn cầm quyền cuối cùng của Tổng thống Rhee Syng-man với nền Cộng hòa thứ nhất và tịnh tiến sang nền Cộng hòa thứ ba của Tổng thống Park Chung-hee Qúa trình này lần lượt đi qua các bước đi vừa cẩn trọng,
tỉ mỉ, vừa vội vã, gấp gáp, được đặt nền móng bởi Rhee và được củng cố vô cùng vững chắc bởi Park Có thể thấy, sở dĩ chế độ độc tài được thiết lập ở Hàn Quốc trong khoảng thời gian này là bởi những nguyên nhân sau đây: Thứ nhất, nó có cơ sở xã hội từ chính sự thờ ơ, chủ quan của phần đông dân chúng sau Chiến tranh liên Triều (1950 – 1953); thứ hai, nó đến từ lề thói chính trị (văn hóa chính trị truyền thống phương Đông) của giới tinh hoa Hàn Quốc – kiểm soát và tập trung quyền lực, sùng bái cá nhân và sùng bái quyền lực tuyệt đối, … thứ ba, đó chính là bối cảnh của cuộc Chiến tranh lạnh đang bao trùm thế giới
và khu vực Đông Bắc Á (trong đó có bán đảo Triều Tiên) đã quy định và chi phối Hàn Quốc và buộc chính thể ở đây phải thực sự vững mạnh về tiềm lực quân sự, phải thiết lập cho bằng được một bộ máy hành chính quan liêu, một mạng lưới an ninh và cảnh sát tàn nhẫn, để chống lại ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội mà hiện thân gần gũi nhất là Bắc Triều Tiên Dù là Rhee hay Park thì những bước đi của họ trong việc thiết lập chế độ độc tài đều giống nhau: họ đòi hỏi phải sửa đổi hiến pháp để tiếp tục duy trì quyền lực của mình, họ dùng quyền hành pháp để thúc đẩy bầu cử sớm, họ hỗ trợ và tiến hành gian lận trong bầu
cử và cuối cùng, họ sẵn sàng thanh trừng các đối thủ chính trị hoặc bất cứ nhóm xã hội nào
âm mưu chống lại họ Mô típ này thường xuyên xuất hiện và lặp lại trong mỗi mùa bầu cử nghị viện và tổng thống, nó được Park sử dụng một cách hiệu quả trong giai đoạn cầm quyền của ông ta
Sau đó, chính là những cuộc đấu tranh dân chủ hóa của thập niên 60 Các cuộc đấu
tranh giai đoạn này chia thành hai khung thời gian với nội dung và động lực khác nhau:
1960 – 1963 (chống lại chính quyền Rhee Syng-man và những nỗ lực duy trì, củng cố chế
độ dân chủ ngắn ngủi), 1963 – 1970 (chống lại chủ trương thân Nhật của chính quyền Park Chung-hee và chuyển biến từ chống chủ trương, chính sách sang chống chính quyền) Trong số những thành tựu đáng ghi nhận trong những cuộc đấu tranh dân chủ của thập niên
60 không thể không kể đến cuộc Cách mạng tháng Tư Cuộc cách mạng này được châm ngòi bởi các cuộc biểu tình của sinh viên ở Daegu vào ngày 28/02 Nó lan đến Masan vào ngày 15/03, leo thang thành một cuộc nổi dậy dân sự trên toàn quốc vào ngày 19/04, được
gọi là ngày “Thứ Ba Đẫm máu”, và đỉnh điểm là sự sụp đổ của chính phủ Rhee vào ngày
Trang 2026/04, được gọi là ngày “Thứ ba khải hoàn” 8 Sự hy sinh của các bạn trẻ là học sinh, sinh viên thuần túy đã nung nấu tinh thần phản kháng của quần chúng nhân dân, nhằm lật đổ chế độ độc tài mà trong 12 năm đã bóp nghẹt người dân với tư tưởng chống cộng cực đoan
và khiến đất nước rơi vào khốn cùng bởi sự tham nhũng và yếu kém của chính phủ Cùng với Phong trào Độc lập ngày 01/03/1919, một cuộc nổi dậy mạnh mẽ chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản, tinh thần của Cách mạng Tháng Tư đã được ghi trong Hiến pháp và là nền tảng tư tưởng, tinh thần của phong trào dân chủ hóa trong 30 năm tiếp theo
Tình hình chính trị ở Hàn Quốc trong thập niên 70 – 80 là sự tiếp nối những nội dung của thập niên 60 với chế độ độc tài giờ đây đã được củng cố ngày càng vững chắc và cuộc đấu tranh đòi dân chủ bước vào giai đoạn đầy khó khăn và thách thức, không chỉ bởi sự vững mạnh của nhà nước độc tài mà còn bởi cơ sở xã hội của phong trào bị lung lay nhiều mặt:
Ra đời sau cuộc đảo chính năm 1961 với mục tiêu lật đổ chính phủ dân chủ được xây dựng bởi cuộc cách mạng năm 1960 của nhân dân, chính quyền Park ngay lập tức củng cố quyền lực của mình với tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản và mục tiêu tăng trưởng kinh
tế Vào những năm 1960, những người dân đã kỳ vọng rằng mặc dù Park đã đoạt lấy quyền lực bằng sắt và máu, ông ta có thể bảo vệ hệ thống chống Cộng và giải cứu đất nước khỏi tình trạng nghèo đói, đây vốn là 2 ưu tiên quốc gia quan trọng đã định hình xã hội Hàn Quốc kể từ sau Chiến tranh Triều Tiên Nhờ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của quốc gia, Park đã giành chiến thắng trong hai cuộc bầu cử được tổ chức trong thập kỷ 60 Tuy nhiên, bước sang những năm 1970, chế độ này gặp phải một thực tế lịch sử mới Chủ nghĩa chống Cộng đang dao động, tăng trưởng kinh tế chậm lại, các cường quốc đối lập mới nổi trỗi dậy và nhu cầu xã hội tăng cao, tất cả đều âm mưu đẩy chính phủ vào một cuộc khủng hoảng lớn Cuộc khủng hoảng, một mặt, tạo cơ hội cho Hàn Quốc vượt qua chủ nghĩa độc tài quân sự và phát triển thành một nền dân chủ bình thường, mặt khác, đã đẩy chính quyền của họ Park vào nguy cơ bị hạ bệ Do đó, Park và những đồng sự của ông ta chắc chắn không có ý định từ bỏ quyền lực một cách dễ dàng
Sau khi Park vừa giành được nhiệm kỳ tổng thống thứ ba trong cuộc bầu cử năm 1971 (nền Cộng hòa thứ tư), chế độ chính trị của ông ta tiếp tục phớt lờ mong muốn dân chủ của người dân Thay vào đó, nó thiết lập một âm mưu duy trì sự cai trị của Park và trao cho
ông quyền lực tuyệt đối Vào ngày 17/10/1972, Park thực hiện một cuộc “đảo chính” từ
trên cao, đình chỉ Hiến pháp hiện hành và công bố Hiến pháp Yushin (Phục hưng) mới, theo sau đó là các pháp lệnh về bầu cử và đảng phái Từ đó cho đến khi Park qua đời vào ngày 26/10/1979, phong trào dân chủ hóa đã đấu tranh với một hệ thống áp bức tàn bạo được thực hiện thông qua các biện pháp khẩn cấp chống lại dân chủ khét tiếng Trong trận
8 Lee Myung-sik (2010), The History of Democratization Movement in Korea, Korea Democracy Foundation, Korea,
p.37
Trang 21chiến này, sinh viên lại đi đầu, trí thức đồng tâm hiệp lực, công nhân, nông dân và dân nghèo thành thị bắt đầu thức tỉnh về mặt chính trị và chống lại bọn cường quyền áp bức Những nhà hoạt động dân chủ của những năm 1970 đấu tranh chống lại Yushin để phục hồi nền dân chủ Sự mạnh mẽ, bền bỉ và tận tâm của họ trong những năm 1970 đã để lại dấu ấn trong lịch sử phong trào dân chủ hóa thế giới
Bước sang những năm 80 của thế kỷ XX, mặc dù Park đã qua đời và chôn theo nền đệ
tứ Cộng hòa của mình, nhưng chế độ độc tài do ông củng cố vẫn còn đó với đầy đủ nhân dạng của một bộ máy cường quyền và bạo ngược, dân chủ bị thủ tiêu, quyền chính trị của người dân bị hạn chế, tất cả châm ngòi cho một thời kỳ đấu tranh mới của những nhà hoạt động dân chủ Sau một thời kỳ quá độ ngắn ngủi (1979 – 1981), người dân Hàn Quốc mong muốn tự do và dân chủ sẽ quay trở lại như trước năm 1961, nhưng, tất cả vẫn chỉ là những khát khao xa vời bởi thực tế lịch sử không cho phép – nền độc tài quân sự được duy trì và các cuộc đấu tranh dân chủ bị đình trệ
Khoảng thời gian từ sau vụ ám sát Park Chung-hee vào ngày 26/10/1979 cho đến trước
sự kiện “Mùa xuân Seoul” vào những tháng đầu năm 1980 là thời kỳ bị chi phối bởi một
cuộc đối đầu căng thẳng giữa hai thế lực - một phe âm mưu khôi phục chế độ Yushin (tức khôi phục lại địa vị cầm quyền, của những kẻ tự xưng là người kế vị Park) và một phe đang
cố gắng hiện thực hóa giấc mơ dân chủ (các đảng đối lập và các nhóm vận động dân chủ
hóa) “Việc Park Chung-hee rời khỏi chính trường không đồng nghĩa với việc thành hình nền dân chủ Sự sụp đổ của chế độ độc tài do Park dựng nên chỉ thực sự đến trong bối cảnh áp lực ngày càng tăng từ những người bất đồng chính kiến, nhưng nó chỉ là sản phẩm trực tiếp của các hành động của họ và do đó chỉ có giới hạn phân nhánh cho việc thúc đẩy nền dân chủ” 9 Tình hình này gợi cho chúng tôi nhớ về thời kỳ sau giải phóng năm 1945 của bán đảo Triều Tiên Vì độc lập của dân tộc này được định đoạt bởi các thế lực ngoại bang, cho nên chính người Hàn Quốc không thể tự định đoạt số phận của mình và bất lực trước sự chia rẽ đất nước cũng như bất lực trước một cuộc nội chiến tiếp theo Tương tự, trong giai đoạn hỗn loạn sau cái chết của Park, các lực lượng ủng hộ dân chủ đã không thể đoàn kết và dẫn dắt tình hình
Cái chết đột ngột của một nhà lãnh đạo tập quyền đã để lại một khoảng trống nghiêm trọng trong nội bộ giới cầm quyền, nhưng điều đó không có nghĩa là bản thân chế độ này
bị phá vỡ Trong khi họ mở ra không gian chính trị hạn chế cho phe đối lập, lực lượng Yushin đang chuyển mình nhanh chóng để xây dựng một trật tự quyền lực mới, mà đại diện cao nhất của nhóm này chính là vị tổng thống tương lai của nền Cộng hòa thứ năm, tướng Chun Doo-hwan Ở một diễn biến khác, sự chủ quan và tin tưởng mù quáng đã làm cho các nhà lãnh đạo ủng hộ dân chủ cho rằng họ có thể nắm quyền thông qua bầu cử tự
do và dựa vào sự hậu thuẫn của Mỹ Họ miễn cưỡng đẩy mạnh “cuộc chiến” để đảm bảo
9 Lee Myung-sik (2010), p.97
Trang 22rằng dân chủ sẽ được thực hiện đến bước cuối cùng, nhưng lại e dè trước phản ứng từ quân đội Các đảng đối lập hướng tới một bản sửa đổi hiến pháp cho phép một cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp Kim Young-sam và Kim Dae-jung, những người đã từng gác lại sự ganh đua để chống lại chế độ Yushin, giờ đây đã bắt đầu cạnh tranh để giành được đề cử từ phe đối lập Như vậy, những bất đồng và tranh chấp trong nội bộ giới lãnh đạo ủng hộ dân chủ, cũng như sự chủ quan, thờ ơ của họ đã tác động tiêu cực đến quá trình tập hợp lực lượng của phong trào dân chủ
Kết cục bi thảm của “Mùa xuân Seoul” và cuộc Nổi dậy ở Gwangju trong năm 1980 là
những chỉ dấu rõ ràng nhất cho sự suy yếu của phong trào dân chủ trong thời kỳ hậu Park Chung-hee Nó đặt ra trước mắt những nhà hoạt động dân chủ nói riêng và quần chúng nhân dân khao khát dân chủ nói chung những vấn đề có tính chất then chốt về đường lối
và phương pháp đấu tranh, về tập hợp lực lượng và chuẩn bị lực lượng, về thời cơ và tình thế cho những cuộc đấu tranh về sau Sự thất bại của cuộc nổi dậy ở Gwangju năm 1980
đã giúp cho phong trào dân chủ trưởng thành cả về lý luận lẫn thực tiễn Các nhà dân chủ bắt đầu nhận thức được rằng, ở Hàn Quốc, dân chủ không thể tách rời khỏi các vấn đề về độc lập dân tộc và sự thống nhất của quốc gia Phong trào chống Mỹ khởi phát từ thập niên
80 bắt đầu với câu hỏi về vai trò của Washington ở đâu trong bi kịch đẫm máu ở Gwangju Kinh nghiệm đau thương của sự thất bại đã mang lại một bài học cho các lực lượng ủng hộ dân chủ rằng, họ không thể đánh bại chế độ độc tài quân sự thông qua các cuộc đấu tranh
bị cô lập, và họ học được sự quan trọng của quần chúng Các phong trào dân chủ hóa đã phát triển với một ý niệm mới - kết nối dân chủ với độc lập và thống nhất Nó bắt đầu theo đuổi các liên minh giữa các nhóm, các lĩnh vực, khu vực chính trị và xã hội khác nhau, dẫn đến chiến thắng ngoạn mục vào năm 1987
1.2.2 Tình hình kinh tế
Sau khi thoát khỏi thân phận thuộc địa từ Nhật Bản vào năm 1945, Hàn Quốc trải qua một sự chia cắt dân tộc đầy đau đớn, một cuộc chiến tranh tàn khốc và nhiều thập kỷ sống dưới nền chính trị độc tài Nhưng rồi cuối cùng, đất nước này đã có một cuộc chuyển mình mạnh mẽ, một nền kinh tế phát triển và một nền dân chủ sôi nổi – thành tích ấy vẫn còn rất
xa lạ với nhiều quốc gia cũng độc lập từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Đằng sau câu chuyện lịch sử đầy ngoạn mục này là rất nhiều những cái tên vô danh – mà chính những máu, nước mắt và mồ hôi của họ đã tạo nên kỳ tích sông Hàn trên đống tro tàn của chiến tranh Dù cho giấc mơ dân chủ chỉ bắt đầu trở thành hiện thực từ năm 1988, nhưng những
cố gắng và kiên trì của những người dân Hàn Quốc, cùng với sự giúp đỡ của Mỹ và các quốc gia dân chủ khác, đã tạo nên những thay đổi đáng tự hào trong kinh tế, thúc đẩy giáo dục và cải tạo xã hội, hướng đến một xã hội đô thị hiện đại và công nghiệp
Bước ra khỏi Chiến tranh Triều Tiên với đầy đủ những thương tật và điêu tàn, Hàn Quốc hầu như phải xây dựng lại mọi thứ từ đầu Do đó, giai đoạn từ 1953 đến 1961 là khoảng thời gian hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và bước đầu ổn định kinh tế, xã hội
Trang 23dựa vào nguồn ngoại viện (chủ yếu từ Mỹ), cũng như đặt những nền móng đầu tiên cho sự cất cánh thần kỳ trong những năm 70 sau đó Với Mỹ, Hàn Quốc được xem là một địa bàn
trọng yếu, chiến lược, là “đường phòng thủ thứ nhất của Mỹ ở Đông Á”10, một tiền tuyến ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô và Trung Quốc, cũng như cô lập và tiến tới xóa bỏ chế độ cộng sản kiểu gia đình trị tại CHDCND Triều Tiên Mỹ nhận thấy cần thiết phải duy trì một lực lượng quân sự thường trực tại đây và một môi trường chính trị mà Mỹ có thể ảnh hưởng tới, chí ít là để duy trì và biện minh cho sự hiện diện của Mỹ lâu dài trên đất nước này Do đó, nhiều chương trình viện trợ đã được thông qua, trực tiếp từ Mỹ cũng có,
mà trung gian qua các tổ chức của Liên Hợp Quốc cũng có Như vậy, rõ ràng là, sự khăng
khít “tự nguyện” trong mối quan hệ Hàn – Mỹ được “khởi đầu trong bối cảnh lịch sử khá đặc biệt và đan xen các yếu tố kinh tế - chính trị, lợi ích giai cấp – dân tộc, …” 11 đã tạo điều kiện cho Hàn Quốc dần dần phục hồi, khởi sắc và hòa mình vào nền kinh tế chung
của thế giới Nhưng, vấn đề sẽ thật sự không đầy đủ nếu chúng ta không đề cập đến “quyết tâm cao độ và tính năng động của người Hàn Quốc trong sự nghiệp phục hưng đất nước, vượt qua đói nghèo và lạc hậu để phát triển” 8
Thêm vào đó, lúc này, Hàn Quốc bắt đầu định hình mô hình kinh tế hướng nội với chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu – đây là một thử nghiệm của chủ nghĩa tư bản nhà nước của Hàn Quốc, vừa có những nét chung có tính quy luật với nhiều nhà nước tư bản khác, vừa có nét đặc thù của riêng nước này thông qua những quan điểm có tính chất
tự thân như truyền thống lịch sử - văn hóa tiềm ẩn trong tư duy, tâm thức và tính cách của người Hàn (ý chí quật cường, tinh thần lao động cần cụ, chịu thương chịu khó và tình cảnh
bi đát của dân tộc trong những chặng đường lịch sử, …), khát khao thoát ly khỏi Nhật Bản (kẻ từng thống trị nước này trước đây), … Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm về vốn và
kỹ thuật từ ngoại viện thì mô hình này bộc lộ khá nhiều hạn chế (lệ thuộc vào nước ngoài, hàng hóa thiếu tính cạnh tranh, cơ cấu kinh tế mất cân đối, nợ nước ngoài tăng và không
có khả năng trả nổi, chính sách bảo hộ và nâng đỡ quá tay của nhà nước đã dẫn đến tâm lý
ỷ lại và nạn tham nhũng, ) và chính những hạn chế đó đã dẫn đến một kinh tế đầy bất ổn trong những năm cuối thập niên 50 – đầu thập niên 60 Kết quả là: Bức tranh kinh tế nhìn chung vẫn chưa thật sự sáng lạn, thất nghiệp vẫn còn nhiều, lạm phát vẫn thường xuyên diễn ra, đô thị hóa quá nhanh đã gia tăng gánh nặng về nhà ở, việc làm, giáo dục và y tế
Từ 1961 đến 1972, nhìn chung, kinh tế Hàn Quốc được cải thiện đáng kể Khi Hội đồng Tối cao Tái thiết quốc gia (Supreme Council for National Reconstruction) thành lập Ban
kế hoạch kinh tế (Economic Planning Board) và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
(1962 – 1966), kinh tế nước này có những chỉ dấu của sự phục hồi và phát triển Năm 1963, sau khi nền Cộng hòa thứ ba được thành lập, một kế hoạch 5 năm khác (1967 – 1971) được
10 Richard T Detrio (1989), Strategic Partners: South Korea and the United States, Nitional Defense University Press,
Washington, p.12
11 Hoàng Văn Hiến (2001), Tình hình kinh tế-xã hội của Hàn Quốc trong giai đoạn tái kiến thiết lập đất nước
(1953-1960), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 315 (tháng 02/2001), tr.59
Trang 24triển khai thực hiện, với tỷ lệ tăng trưởng GNP trung bình hằng năm là 9,1% Nền Cộng hòa thứ tư thực hiện hai kế hoạch 5 năm liên tiếp (1972 – 1976) và (1977 – 1981) với tỷ lệ tăng trưởng GNP trung bình hằng năm là 10,2% Sau khi hoàn thành thành công các mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1981), nền Cộng hòa thứ năm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ năm (1982 – 1986) và đề xướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ sáu (1987 – 1991)12 Trong khi hai kế hoạch 5 năm đầu tiên được thực hiện nhằm hướng đến một nền kinh tế tự lực, phát triển các ngành công nghiệp nặng mà không phải hy sinh nền kinh tế tiêu dùng, hiện đại hóa cơ cấu kinh tế, thì các mục tiêu của kế hoạch thứ ba và các kế hoạch khác là thúc đẩy công nghiệp định hướng xuất khẩu, đem lại sự phát triển của phúc lợi xã hội, bình ổn sự phân phối lợi tức giữa những hộ nông dân và những người làm công ăn lương ở thành thị
Mặc dù kế hoạch và sự hướng dẫn của nhà nước giữ vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, nhưng phải thừa nhận rằng, những sáng kiến do các công ty tư nhân và các doanh nhân đưa ra theo nguyên tắc của kinh tế thị trường tự do đã góp phần không nhỏ vào sự biến đổi của kinh tế Nam Hàn trong những năm 60 và 70 của thế kỷ trước Điều này cho thấy, mối quan hệ giữa nhà nước (đại diện là Park) với các chaebol (các đại tập đoàn
tư bản tư nhân gia đình) không phải là mối quan hệ chủ – tớ và càng không phải là quan hệ mệnh lệnh – thực thi, giữa họ, theo như Stephan Haggard lập luận, là mối quan hệ giữa các
đối tác với nhau, nó như là “một cuộc đàm phán đang diễn ra, tái định hướng và tái khởi động liên tục dưới các áp lực từ sự thay đổi kinh tế, xã hội và chính trị” 13 Thậm chí, trong
tác phẩm “Kỷ nguyên Park Chung-hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc”, các
học giả Kim Byung-kook và Ezra F Vogel đã khẳng định sự khăng khít trong mối quan hệ
giữa nhà nước và các chaebol như sau:“với Park – chaebool không thể không có trong kế hoạch chính trị “nước giàu, quân mạnh” của ông, và đối với các chaebol – Park đóng vai trò không thể thiếu cho sự phát triển thành một đế chế nghiệp đoàn” 14 Hay nói cách khác, Park cố gắng trở thành Minh Trị của Hàn Quốc, ngược lại, các tập đoàn chaebol hàng đầu mong muốn phát triển thành các tập đoàn ngang ngửa với các keiretsu của Nhật, bởi suy cho cùng, tất cả ai trong số họ cũng đều có cùng một nỗi đau – nó đến từ thân phận nhược tiểu của hàng trăm năm bị lệ thuộc và nô dịch, của chiến tranh và chia cắt
Năm 1975, GNP của Nam Hàn tăng lên 18,8 tỷ USD so với 2,3 tỷ USD (1962) với tỷ
lệ tăng trưởng trung bình hằng năm là 10% Sau năm 1980, tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì và củng cố với sự thành công của kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1982 – 1986) Năm 1986, GNP tăng lên 95,1 tỷ USD với bình quân đầu người là 2.296 USD/người Khoảng 500.000 việc làm mới được tạo ra, kéo tỷ lệ thất nghiệp xuống thấp nhất chưa từng
có – 2,5% Khối lượng hàng hóa xuất khẩu tăng khoảng 28,3% lên 60,7 tỷ USD (1988) so
12 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.367
13 Kim Byung-kook – Ezra F Vogel (2011), Kỷ nguyên Park Chung-hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn
Quốc, NXB Thế giới, Hà Nội, tr.398
14 Kim Byung-kook – Ezra F Vogel (2011), sđd, tr.400
Trang 25với 47,3 tỷ USD trong năm trước, thặng dư mậu dịch là 8,9 tỷ USD (1988) Với thặng dư mậu dịch này, Nam Hàn có thể giảm bớt nợ nước nước ngoài từ 45 tỷ USD (1986) còn 30
tỷ USD (1989)15
Kèm theo sự phát triển của kinh tế là những thay đổi ấn tượng trong cơ cấu của nền kinh
tế đó Từ 1962 đến 1989, khu vực mỏ và sản xuất công nghiệp tăng nhanh hơn khu vực nông – lâm – ngư nghiệp Kết quả là, phần khu vực sau trong GNP giảm từ 37% (1962) xuống còn 20,6% (1989) Trong khi đó, khu vực mỏ và sản xuất công nghiệp tăng, tạo thành 34,5% GNP, tăng 16,3% so với năm 1963 Khu vực dịch vụ cũng có bước chuyển, GNP tăng từ 28,2% (1963) lên 44,9% (1988)16
Để kinh tế phát triển nhanh cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển của người và hàng hóa quy mô lớn, chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành thực hiện các kế hoạch xây dựng xa lộ, đường sắt với nhiều tham vọng, phát triển và hiện đại hóa bến tàu, hệ thống không lưu và quá cảnh Kết quả, đường bộ tăng từ 18.886,4 km (1961) lên 56.493,6 km (1989) Hãng hàng không Hàn Quốc và Asian phục vụ trong nước cũng có khoảng 41 lộ trình quốc tế Từ 1963 đến 1988, tổng số đường sắt đã đạt được là 6.397,3 km17
1.2.3 Tình hình văn hóa – xã hội
Những biến động của chính trị và kinh tế trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XX đã ít nhiều làm biến đổi đời sống văn hóa – xã hội ở Hàn Quốc, đến lượt mình, những biến đổi của văn hóa – xã hội càng làm cho đời sống chính trị và kinh tế trở nên sôi động, phong phú và sâu sắc hơn Có thể tạm khái khái quát các biến đổi của văn hóa – xã hội Hàn Quốc trong những thập niên đó như sau:
Về xã hội, có 4 vấn đề chính cần làm rõ:
Thứ nhất, đó là sự bùng nổ dân số kể từ sau Chiến tranh Triều Tiên Dân số Hàn Quốc tăng từ 21,5 triệu (1955) lên 43,7 triệu (1992) với mật độ dân số trên 1.100 người/km2, được xếp vào vị trí thứ 11 trên bảng xếp hạng các quốc gia đông dân nhất trên thế giới Tỷ
lệ tăng dân số cho tới năm 1960 là 3,0% mỗi năm, 2,7% từ 1960 đến 1966, và dân số giảm trung bình là 1,9% trong các năm từ 1977 đến 1980, 1,24% trong các năm từ 1980 đến
1981 và 0,99% sau năm 1986 Tuổi thọ trung bình của người Hàn Quốc tăng từ 52,4 trong thập niên 60 lên 72 vào năm 1989 khi chương trình y tế công cộng và phúc lợi xã hội được cải thiện, cũng như mức sống của người dân ngày càng cao lên cùng với những thành công trong kinh tế18
Thứ hai, đó là quá trình đô thị hóa diễn ra đồng thời với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm 60 và 70 của thế kỷ trước Theo các kết quả điều
15 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.368
16 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.369 – 370
17 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.375 – 376
18 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.377
Trang 26tra dân số, có thể thấy: dân số thành phố Seoul từ 700.000 (1945) tăng lên 10,6 triệu (1990), Pusan từ 350.000 tăng lên 3,8 triệu, Daegu từ dưới 250.000 tăng lên 2,3 triệu, Incheon từ 250.000 tăng lên 1,8 triệu trong cùng kỳ19 Từ 72% dân số sống ở nông thôn trong năm
1960, đến 1990, chỉ còn lại chưa đến 26%, tức là trong vòng 30 năm, Hàn Quốc đã chuyển
từ một xã hội nông thôn sang một xã hội thành thị Rõ ràng, đô thị hóa là hệ quả tất yếu của công nghiệp hóa khi người ta cần tập trung toàn bộ nhân lực, vật lực vào một thành phố, từ đó, các thể chế giáo dục và thương mại cũng như các tiện nghi vật chất khác trong
và xung quanh các thành phố đó được tăng lên, dẫn đến đô thị hóa mau lẹ, tất yếu thu hút đông đảo người dân từ nhiều vùng nông thôn đổ về Cũng từ đó và trên cơ sở đó, nông thôn
Hàn Quốc không ngừng thay đổi: “Ngược lại với sự lớn mạnh của đô thị, tại nông thôn đã diễn ra quá trình giảm dân số và môi trường xã hội khu vực bị phá vỡ” 20, nói cách khác,
trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, nông thôn nước này được “ví như con cừu làm vật hy sinh cho sự nghiệp công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa” 20, thậm chí, đôi khi nó còn
bị coi là một “gánh nặng” đối với sự phát triển của toàn xã hội Cho đến khi phong trào
Saemaul (Làng mới) được triển khai và thu về nhiều thành tựu nổi bật, nông thôn mới phát triển ngang với thành thị, cả hai trở thành đòn bẩy đưa kinh tế nước này cất cánh
Thứ ba, đó là những biến đổi về giai cấp trong xã hội tư bản hiện đại, mà Hàn Quốc là một điển hình Đô thị hóa gia tăng kéo theo sự xuất hiện ngày càng đông đảo của tầng lớp thị dân, công nghiệp hóa và những đòi hỏi ngày càng cao của nền sản xuất tất yếu dẫn đến đội ngũ công nhân tăng nhanh về số lượng và chất lượng, … đây đều là những chỉ dấu quan trọng để cho thấy sự biến đổi của xã hội Nam Hàn từ một xã hội thuần nông truyền thống sang một xã hội công nghiệp hiện đại Tuy nhiên, sẽ thật thiếu sót nếu không đề cập đến tầng lớp trung lưu nổi lên trong kỷ nguyên công nghiệp đó Họ là ai và bao gồm những ai? Một bộ phận trong số họ đến từ những cựu thành viên của các gia tộc yangban (lưỡng ban), trở thành những lãnh tụ chính trị và trí thức, trong khi các gia tộc yangban truyền thống xưa kia với đầy đủ đặc quyền về đẳng cấp theo đúng nghĩa đã hoàn toàn biến mất cùng với
sự cáo chung của xã hội phong kiến và chế độ thực dân, cũng như khi giới tinh hoa mới xuất hiện – bao gồm những nhà lãnh đạo, những doanh nhân và người trí thức nhưng xuất thân từ tầng lớp bình dân Đó là chưa kể đến một bộ phận không nhỏ những người nông dân thành đạt ở nông thôn, khi kinh tế nông thôn được cải thiện và phát triển ngang mức với thành thị trong những năm 70 – 80 thì cũng là lúc xuất hiện những phú nông với đặc điểm nổi bật là có quan điểm giai cấp trùng khớp với những người trung lưu ở thành thị,
do đó, các nhà nghiên cứu thường đồng nhất họ với nhau và gọi chung là tầng lớp trung lưu, đông đảo ở cả thành thị và nông thôn, là lực lượng quan trọng trong xã hội vì chiếm hơn 61,5% dân số (1988)21 Sự phát triển của giáo dục và văn hóa kiểu mới là hai yếu tố
19 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.378
20 Song Jeong Nam (1997), Biến động dân số và những thay đổi ở nông thôn Hàn Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử,
tập 1, số 290 (tháng 1/1997), tr.66
21 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.379
Trang 27quyết định nhất đến những biến đổi về xã hội, trong khi những biến đổi về kinh tế lại quy định những biến đổi của giai cấp (bởi suy cho cùng, giai cấp là những nhóm người được quy định và phân biệt với nhau qua địa vị kinh tế – xã hội, thành hình bởi sự phân hóa giữa nhóm người sở hữu và nhóm người không sở hữu tư liệu sản xuất), do đó ta không thể hiểu những biến đổi về giai cấp trong xã hội Hàn Quốc nếu không đặt nó trong mối tương quan với những thay đổi trong kinh tế, như là một hệ quả của sự phát triển kinh tế
Thứ tư, đó là những thay đổi trong thân phận của người phụ nữ trong kỷ nguyên công nghiệp hóa Dù rằng bình đẳng giới chưa trở thành hiện thực trong những năm 70 – 80 ở Hàn Quốc, nhưng thân phận của họ - nhìn chung, đã được cải thiện hơn trước rất nhiều Phụ nữ Hàn Quốc đòi hỏi đầy đủ về nhân quyền và dân quyền, cũng như các đòi hỏi về bình đẳng xã hội Các phong trào nữ quyền tại Hàn Quốc trong thời gian đó tập trung vào các mục tiêu kể trên, cũng như phổ quát quan điểm về hạnh phúc cá nhân của con người, thay thế dần các quan niệm truyền thống về phục tòng, trinh tiết và đứng đắn, … quan niệm cho rằng phụ nữ phải là người nuôi dạy con cái và làm nội trợ bị suy yếu đáng kể Một khía cạnh khác không kém phần quan trọng, nó lý giải cho sự phát triển của phong trào nữ quyền nói riêng và vị thế, thân phận của người phụ nữ Hàn Quốc nói chung có những thay đổi,
đó là tỷ lệ phụ nữ được học đại học gia tăng (năm 1989, có khoảng 40% nữ sinh tốt nghiệp trung học học tiếp lên cao đẳng, đại học) Năm 1989, 46,5% dân số hoạt động kinh tế là
nữ, với khoảng 7,1 triệu phụ nữ đang làm việc22 Điều này một mặt cho thấy vai trò và vị trí của người phụ nữ trong kinh tế ngày càng quan trọng, mặt khác, cũng cho thấy đây là đối tượng bị bóc lột sức lao động thường xuyên và lâu dài nhất Do đó, các cuộc đấu tranh của phụ nữ, hay các cuộc đấu tranh thu hút được sự tham gia của phụ nữ thường chiếm một
vị trí quan trong lịch sử xã hội Nam Hàn
Cũng cần phải nói thêm rằng, những biến đổi của xã hội vừa phân tích bên trên còn kéo theo một hệ quả khác – đó là những thay đổi về gia đình và cơ cấu gia đình, ở cả nông thôn và thành thị Thành thị trước kia không tập trung quá nhiều dân cư, có chăng là những nhóm người tách ra từ gia đình truyền thống lên thành thị làm ăn, họ chỉ tạm trú chứ không thường trú, nông thôn vẫn gắn liền với họ cả trong tâm thức và hành động Đô thị hóa diễn
ra đã phá vỡ những lối sống ấy, thành thị trở thành trung tâm của mọi hoạt động trong xã hội, thị dân ngày càng đông đảo và lối sống thị thành trở thành đặc trưng của xã hội công nghiệp Gia đình vì thế cũng thay đổi, mà sự thay đổi đầu tiên chính là sự suy giảm thành viên của gia đình ở nông thôn và thành thị - ở nông thôn chỉ còn các gia đình mà thành viên của nó thường là các cụ già, ở thành thị thì duy trì kiểu gia đình một vợ một chồng và
cả 2 đều rất trẻ Có thể thấy, “số lượng thành viên trong gia đình giảm hay tỷ lệ gia đình hạt nhân tăng lên tự bản thân nó chưa phải là biểu hiện của việc giải thể tổ chức gia đình” 23, nhưng, nếu xét trên phương diện tổng thể, cùng với hiện tượng gia đình thân tộc giảm (gia đình gồm nhiều thế hệ, các thành viên có quan hệ họ hàng cùng chung sống) và
22 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.381
Trang 28gia đình sống riêng tăng lên thì “hoàn toàn có thể đưa ra vấn đề giải thể gia đình ở nông thôn” 23 Hiện tượng các cụ già sống riêng với con cháu là điều cực kỳ hiếm trong xã hội trước kia, nhưng trong kỷ nguyên công nghiệp hóa, điều này trở nên bình thường và phổ biến, vì vậy, không sai khi nói rằng, cái gốc rễ cơ bản nhất của xã hội nông thôn vốn tồn tại từ xưa đến nay, đã bị phá vỡ Đối với vấn đề hôn nhân, cho tới năm 1979, theo luật pháp Đại Hàn Dân Quốc, trai gái lấy nhau cần phải được sự chấp thuận của cha mẹ, mặc dù đa
số các cuộc hôn nhân vẫn được cha mẹ hay người mai mối sắp đặt nhưng lựa chọn cá nhân trở nên ngày càng phổ biến Sự đổ vỡ của mô hình gia đình truyền thống là tất yếu, nhường chỗ cho mô hình gia đình hiện đại với các mối quan hệ (giữa chồng với vợ, giữa cha mẹ với con cái, giữa vợ với bố mẹ chồng) cũng dần thay đổi Sự kiểm soát của cha mẹ đối với con cái cũng dần yếu đi, dù cho chủ nghĩa gia trưởng, độc đoán về phía cha mẹ vẫn còn khá mạnh
Về văn hóa, nổi bật hơn cả là 3 vấn đề sau:
Thứ nhất, đó là sự phục hồi và phát triển của giáo dục kể từ sau Chiến tranh liên Triều Sau chiến tranh, hệ thống giáo dục được tái tổ chức lại với sự giúp đỡ to lớn từ Mỹ và các
cơ quan của Liên Hợp Quốc Các tiện nghi vật chất được xây dựng lại cũng như chất lượng chương trình giảng dạy được rà soát, kiểm định lại tới trình độ trước chiến tranh một vài năm Kế hoạch giáo dục được kiểm soát kỹ lưỡng, nhiệt tâm và khoa học đã làm cho tình hình giáo dục những năm đầu sau chiến tranh được phục hồi và phát triển nhanh chóng
Dù cho chất lượng giáo dục không theo kịp số lượng phát triển, nhưng cũng phải thành thật thừa nhận những nỗ lực rất lớn của chính phủ các thời kỳ (từ Cộng hòa thứ nhất đến Cộng hòa thứ năm) vì những ưu tiên cho giáo dục và kinh tế Kết quả là, chỉ tính riêng trong năm
1960, đã có hơn 4.496 trường tiểu học với số lượng học sinh được tuyển vào là 3,6 triệu em; số trường trung học khoa học nhân văn là 1400 với 692.116 học sinh; số trường trung học dạy nghề là 252 với 99.076 học sinh; số trường đại học tăng lên 85 với 101.045 sinh viên24 Giáo dục đại học cũng phát triển nhanh chóng là bởi một số lượng lớn sinh viên đại học và cao đẳng được sinh ra từ quá trình di dân, là hệ quả của tình trạng đô thị hóa chóng mặt từ sau chiến tranh, đã tăng gần 15 lần – từ 7.800 vào năm 1945 lên 140.000 vào năm
196125, đồng thời, cũng là một bước đi cần thiết để xây dựng một lực lượng lao động tay
nghề cao, một xã hội trí thức Chính xã hội trí thức này đã hình thành nên “nhóm công chúng phê bình” do sinh viên, nhà báo và trí thức dẫn đầu, họ tập trung tại Seoul và các
thành phố lớn khác vào cuối những năm 1950 Xã hội dân sự mới nổi này đứng đằng sau cuộc Cách mạng Tháng Tư cà nhiều sự biến quan trọng khác Tác nhân chính của nó là sinh viên, nhóm xã hội duy nhất có thể thực hiện các hành động tập thể quy mô lớn Tháng
12/1968, chính phủ Hàn Quốc (nền Cộng hòa thứ ba) ban hành Hiến chương Giáo dục
23 Song Jeong Nam (1997), sđd, tr.72
24 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.387
25 Lee Myung-sik (2010), p.36
Trang 29Quốc gia (Charter for National Education), xác định 3 mục tiêu của giáo dục: (1) xây dựng
cơ sở tinh thần cho sự phục hưng dân tộc (2) tạo ra một hình ảnh mới về dân tộc Triều Tiên (3) thúc đẩy hiểu biết về lịch sử và dân tộc Các cơ sở giáo dục tư nhân đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ hệ thống giáo dục từ xưa đến nay và tiếp tục khẳng định ưu thế của mình, chiếm hơn 80% trong tổng số 302 cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng (kể cả cao đẳng nghề) kể từ năm 198926
Thứ hai, cùng với những tiến bộ của công nghệ thu phát thanh và truyền hình vô tuyến, vai trò và sức mạnh của phương tiện truyền thông đại chúng được tăng cường Nếu như trước năm 1945, báo viết là phương tiện truyền thông chủ yếu và có nhiều đóng góp, vai trò quan trọng đối với nhiều mặt của đời sống kinh tế, chính trị cũng như phục vụ trực tiếp cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thì sau năm 1945, đặc biệt là từ sau Chiến tranh liên Triều, chúng ta còn bắt gặp các phương tiện khác của truyền thông như phát thanh, truyền hình, hãng thông tấn, điện ảnh và internet, … dần lớn mạnh, phát triển cả về số lượng và chất lượng Nói qua về hệ thống phát thanh, bên cạnh những nhà đài thuộc quyền quản lý trực tiếp từ nhà nước như KBS, thì sự tham gia của các nhà đài tư nhân như DBS (1963), TBC (1964), MBC (1969)27 đã thúc đẩy và tạo lập nên thói quen giải trí mới lạ hơn so với trước Năm 1980, chính quyền Nam Hàn ban hành hàng loạt các đạo luật về tự do báo chí
và tự do ngôn luận Đến năm 1988, nền Cộng hòa thứ sáu đã thi hành chính sách tự do hóa văn hóa và xét lại luật báo chí ban hành trong thời kỳ cầm quyền của các thể chế độc tài, nhiều tờ báo mới xuất bản trong khi những tờ báo từng bị loại bỏ trước kia do lệnh cấm nay được phục hồi, điều này đã làm tăng thêm tính chính trực của nghề báo ở Nam Triều
Tiên Trong số các tờ mới xuất bản có báo Hankyore (Một dân tộc) của những nhà báo bị thanh trừng trong thập niên 80, nhật báo Segye Ilbo năm 1990 và nhật báo Munhwa Ilbo
năm 1991
Rõ ràng, sự phát triển của truyền thông đại chúng trong những năm 70, 80 của thế kỷ
XX tại Hàn Quốc đã, một mặt tiếp nối những đóng góp của chính chúng trong quá khứ, mặt khác, đã tham gia vào việc giải quyết những vấn đề của thời đại Cụ thể, đó là (1) những hoạt động đấu tranh nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước, ủng hộ các quyết tâm phát triển kinh tế với các chiến lược đầy thuyết phục của các chính phủ và các nhà lãnh đạo; (2) đăng tải các dự thảo, dự án, kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm với những phân tích, bình luận sắc sảo, cụ thể, mở đường cho dư luận, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến; (3) duy trì tư tưởng hiếu học, góp phần gìn giữ truyền thống văn hóa Hàn; (4)
26 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.387 - 388
27 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.391 - 392
Trang 30trước 1945 đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc -Sau 1953 đấu tranh vì sự thống nhất hai miền Nam – Bắc Triều Tiên28
Thứ ba, tình hình tôn giáo và vai trò của tôn giáo đối với những biến động của xã hội Nam Hàn cũng là một đặc trưng không kém phần quan trọng Dưới chủ trương tự do và hòa đồng tôn giáo, xã hội Nam Hàn trở nên cực kỳ cởi mở với hầu hết các loại hình tín ngưỡng và sinh hoạt tôn giáo, tuy nhiên, cùng với sự du nhập ảnh hưởng của văn hóa phương Tây với niềm tin Cơ Đốc – Công giáo và Tin Lành phát triển rất nhanh và mạnh,
từ thời cận đại cho đến tận thập niên 70 – 80 Số tín đồ theo Tin Lành là 8,2 triệu, theo Công giáo là 1,3 triệu, với hơn 31.954 nhà thờ vào năm 198929 Trong quá trình dân chủ hóa ở Hàn Quốc, các tổ chức của học sinh, sinh viên, công nhân, nông dân và thị dân hoạt động dưới sự hỗ trợ của các tổ chức dân chủ hóa ở Mỹ, điều này cho thấy rõ, sư hỗ trợ đắc lực chính là các tổ chức tôn giáo ở nước ngoài, mà Công giáo và Tin Lành là lực lượng chủ
yếu Đặc biệt, có hai sự kiện quan trọng diễn ra trong những năm 80 – Cuộc Nổi dậy ở Gwangju 1980 và cuộc Nổi dậy tháng Sáu 1987, cả hai sự kiện này đều có sự tham gia của
nhiều lãnh tụ tôn giáo, thu hút nhiều giáo dân và đặc biệt, thành công của sự kiện năm 1987 với sự sụp đổ của chế độ độc tài không thể không nhắc đến tên tuổi của Kim Young-sam (một tín hữu Trưởng lão) và Kim Dae-jung (một tín đồ Cơ Đốc) Cả hai ông đều trải qua nhiều năm trong vai trò đối lập với chính quyền quân sự, thậm chí bị cầm tù và sống lưu vong Điều đó cho thấy, Tin Lành và Công giáo đã có những đóng góp quan trọng cho phong trào dân chủ, như cung cấp những hỗ trợ về tài chính, lực lượng và trên một bình diện nào đó là sự chỉ đạo trực tiếp, cũng như những đóng góp ấy đã làm biến đổi xã hội nước này từ một xã hội độc tài sang một xã hội tự do, dân chủ Hơn nữa, với tầng lớp bình dân nghèo hèn và lỡ vận, với những kẻ vô gia cư, những người tàn tật, những người bỏ nông thôn lên thành thị trong kiếp tha hương, hay đơn giản, là với những kẻ gặp cảnh trớ trêu trong ái tình, … Tin Lành đến với họ với tất cả sự bao dung, chở che và ủi an tâm hồn
họ Nhà thờ trở thành mái ấm bởi trước Chúa - tất cả mọi người, không phân biệt màu da hay nòi giống, không phân biệt sang hèn hay tuổi tác, đều có quyền được yêu thương Chính những giá trị ấy đã tạo nên sức sống của đạo này trong lòng xã hội Hàn Quốc, hơn hẳn tất cả những tôn giáo khác về vị thế và vị trí trong đời sống tâm linh Trong khi tín đồ Phật giáo giảm mạnh (từ 14 triệu thập niên 60 xuống còn 8,9 triệu vào cuối năm 1989), tín
đồ đạo Khổng chỉ duy trì ở mức chưa đến 1 triệu người, thì tín đồ Tin Lành và Công giáo không ngừng tăng lên29 Bởi nó không chỉ xoa dịu những tâm hồn đau khổ, mà còn, về cơ
bản, “làm chuyển biến nhận thức từ ý niệm Nho giáo khắt khe, tôn ti trật tự nghiêm ngặt sang tự do, bình đẳng, bác ái”30, nó đả phá những tín điều xưa cũ ép buộc con người vào
28 Lê Thanh Bình (2003), Từ góc độ lịch sử, nghiên cứu truyền thông đại chúng và sự phát triển kinh tế - xã hội Hàn
Quốc, trích Kỷ yếu Hội thảo quốc gia kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hàn Quốc, NXB
ĐHQG HN, 94 – 95
29 Andrew C Nahm (2005), sđd, tr.393
30 Lý Xuân Chung (2009), Vai trò của đạo Tin Lành ở Hàn Quốc và nguyên nhân suy giảm tốc độ phát triển những
năm gần đây, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 09 (103), 09 – 2009, 66
Trang 31những lề thói của tinh thần phân biệt, coi thường phụ nữ, của sự tư kỷ và hẹp hòi, nó hướng tới những giá trị cộng đồng, của tình thương và lòng nhân đạo
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Sự sôi động, phong phú và nhiều màu sắc của phong trào dân chủ hóa ở Hàn Quốc trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XX có được là bởi những đổi thay của tình hình thế giới và khu vực – như là những ngoại lực quan trọng mà nếu thiếu đi chúng và không xem xét chúng, ta khó lòng mà hiểu được sự vận động có tính bắt buộc, thuộc về bản chất của cuộc đấu tranh Hay nói cách khác, phong trào này và những gì định hình nên nó có thuộc tính của thời đại mà nó được sinh ra Nhưng, suy cho cùng, ngoại lực ấy chỉ là chất xúc tác, là điều kiện cần nhưng chưa đủ, để rồi chính những nội lực (các biến đổi của kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội) của chính quốc gia ấy đã thúc đẩy phong trào bùng phát và rằng dân chủ là cần thiết, là ưu tiên sống còn của tất cả mọi người dân Từ những nguồn lực ấy, chúng ta thấy được những yêu cầu của cuộc đấu tranh, thấy được một cách mơ hồ và khái quát về vị thế, vị trí và động lực của cuộc đấu tranh đến từ đâu và đó là ai – không ai khác, chỉ có thể là những học sinh, sinh viên, những người trẻ tuổi nhất của nước Đại Hàn Dân Quốc sẽ nắm trong tay vận mệnh lịch sử này
Trang 32CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN HÀN QUỐC TRONG PHONG TRÀO DÂN CHỦ HÓA THẬP NIÊN 70 – 80 CỦA THẾ KỶ XX
2.1 Vai trò của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong phong trào dân chủ hóa thập niên 70 của thế kỷ XX
Về mặt lịch sử: Cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên trong những năm 70 là sự tiếp nối của các cuộc đấu tranh trong những năm 50, 60 của thế kỷ XX
Trong khi các cuộc đấu tranh dân chủ tập trung vào những thay đổi vật chất thực sự sẽ được thực hiện, một phần của cuộc đấu tranh này là việc xác định và tường thuật tầm nhìn
về những gì mà một nước Hàn Quốc hiện đại nên là Park Chung-hee có tầm nhìn cụ thể
về phát triển kinh tế và các nhóm yếu thế trong xã hội như học sinh, sinh viên, phụ nữ, người lao động cũng có tầm nhìn của riêng họ Như một học giả theo khuynh hướng tân marxist người Ý - Antonio Gramsci, đã khẳng định trong tác phẩm “Prison Notebook” của
ông ta rằng, quyền lực được đảm bảo bằng cách độc quyền hóa văn hóa hoặc thế giới quan của người dân trong một chính thể 31 Bá quyền văn hóa là nền tảng để duy trì quyền lực ngang với sức mạnh vật chất và do đó, các phong trào xã hội thách thức các nhà nước độc tài đã tạo nên một trận chiến chống lại những diễn ngôn mà nhà nước đó tự hợp pháp hóa bằng quyền lực Sự hiện diện của một mối đe dọa cao độ đến từ bên ngoài – chủ nghĩa cộng sản với hiện thân gần gũi nhất là Bắc Triều Tiên, đã định hình nên cấu trúc xã hội và là nền tảng quan trọng cho quá trình xác lập chế độ độc tài ở Đại Hàn Dân Quốc trong những năm
50, 60 của thế kỷ XX Các chính phủ này cố gắng tạo ra một đối điểm trong nhận thức của người dân – đó là chỉ có chế độ chính trị hiện hành mới mang lại sự ổn định cho quốc gia
và rằng những biện pháp có phần thiếu dân chủ ấy là cần thiết để ngăn chặn sự phá hoại của các thế lực cộng sản Diễn ngôn về sự nguy hiểm của chủ nghĩa cộng sản và mối đe dọa từ nó đã làm lu mờ bản chất hiếu chiến, phản động của các chính phủ độc tài trong suốt những năm 1950 và 1960 Chúng là những luận điểm vững chắc nhất, thường xuyên được mang ra nhất cho các cuộc luận tội những phần tử bất đồng chính kiến và khiến hàng trăm nghìn người phải bỏ mạng Đưa ra một diễn ngôn thay thế và chống lại luận điệu của chính nhà nước là một khía cạnh quan trọng của các phong trào xã hội31, không riêng gì phong trào dân chủ ở Hàn Quốc hay sự tham gia của học sinh, sinh viên nước này như là một trục chính, không thể thiếu trong các cuộc đấu tranh Có chăng, sự tham gia mạnh mẽ và quyết liệt của học sinh, sinh viên với tư cách là những người chủ tương lai của đất nước, mang
trong mình hoài bão và niềm say mê cho công bằng và công lý, đã “nêu rõ một tầm nhìn khác về những gì có thể diễn ra trong xã hội” (dân chủ thay vì độc tài) và “góp phần giải phóng nhận thức” của mọi giai tầng (đặc biệt là những nhóm người yếu thế, nhóm người
31 Shin Gi-wook – Lee Jung-eun – Kim Soo-kyung - Paul Y Chang (2007), South Korea’s Democracy Movement
(1970-1993), Stanford Korea Democracy Project Report, Stanford University, p48
Trang 33chịu tác động tiêu cực từ phát triển kinh tế)31 Thập niên 70 là sự tiếp nối của 2 thập niên trước đó, cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân Hàn Quốc, mà cụ thể và tiêu biểu là học sinh, sinh viên nước này cũng không nằm ngoài dòng chảy lịch sử đó Sự tiếp nối ở đây được thể hiện trên 3 mặt chính:
Thứ nhất, đó là sự tiếp nối về nội dung đấu tranh Các cuộc mít tinh và biểu tình của
học sinh, sinh viên, hay cao hơn là các cuộc bạo động dân sự mà lực lượng này là nòng cốt
nổ ra trong những năm 1970 là sự tiếp tục của các cuộc đấu tranh dân chủ trong những năm
50, 60 của thế kỷ XX Bởi lẽ, cũng như những năm 1950 và 1960 - hai lý tưởng cao nhất được những học sinh, sinh viên tham gia phong trào dân chủ ở Hàn Quốc trong thập niên
1970 nêu rõ là dân chủ và nhân quyền Dân chủ trong đời sống chính trị thể hiện qua sự minh bạch hóa hoạt động bầu cử, các chính sách đối nội và đối ngoại của quốc gia, đảm bảo tự do ngôn luận, tự do hội họp cũng như các sinh hoạt chính trị khác của người dân Nhân quyền được đề cập ở đây là sự đối đãi công bằng với tất cả mọi người mà không có bất kỳ tinh thần phân biệt nào (kể cả đối với các tù nhân chính trị, những người bất đồng chính kiến), tôn trọng nhân phẩm và danh dự của công dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ hay lưu đày tùy tiện, công dân được xét xử công khai, công bằng bởi tòa án độc lập, không bị kết án và trừng phạt vượt quá khuôn khổ pháp luật, … Rõ ràng là, tất cả những nội hàm của dân chủ và nhân quyền được nêu lên ở trên đều bị lu mờ hoặc thậm chí là bị triệt tiêu trong thời kỳ cầm quyền của các chính thể độc tài ở Hàn Quốc Nếu những năm 1950 chứng kiến các cuộc đấu tranh đòi hỏi
sự trung thực và minh bạch trong các cuộc bầu cử nghị viện và tổng thống, những năm
1960 ghi dấu với các cuộc biểu tình, mít tinh chống lại các tiếp xúc ngoại giao nhằm bình thường hóa quan hệ Hàn – Nhật, thì những năm 1970 là cao trào của các cuộc đấu tranh chống lại chế độ Yushin – một mô hình chính trị được đánh giá là tàn bạo và áp bức nhất trong lịch sử của Đại Hàn Dân Quốc Nhìn thì có vẻ như nội dung của các cuộc đấu tranh trong 3 thập niên không có gì giống nhau, nhưng giữa chúng vẫn có những điểm chung, đó
là về bản chất, chúng đều là những cuộc đấu tranh đòi hỏi dân chủ hóa trong đời sống chính trị, đảm bảo việc thực hiện và tôn trọng nhân quyền Khi mà các chính phủ dân cử trở nên kém cỏi và thực dụng, khi mà các vị tổng thống được dân bầu đi ngược lại với ý nguyện của quần chúng thì các cuộc đấu tranh bùng phát như một lẽ tất yếu và khi các cuộc đấu tranh chưa mang lại những kết quả cuối cùng thì nó vẫn tiếp diễn, chỉ có điều là ở những giai đoạn sau đó, nó được biểu hiện với những trạng huống khác nhau
Thứ hai, đó là sự tiếp nối về mục tiêu đấu tranh Khác với nội dung đấu tranh là đòi hỏi
những gì mà nước Hàn chưa có, thì với mục tiêu đấu tranh, đó là chống lại những gì hiện
có, những gì không nên có và không được hoan nghênh Đương nhiên, mục tiêu đấu tranh của các phong trào do học sinh, sinh viên làm nòng cốt trong những năm 50, 60 và 70 của thế kỷ XX thường không nằm ngoài quỹ đạo của nội dung đấu tranh nêu trên và thường đối lập cũng như mâu thuẫn trực tiếp với chính quyền Tùy thuộc vào bối cảnh chính trị và
Trang 34điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời điểm mà mục tiêu đấu tranh có thể không giống nhau, nhưng tựu trung lại, đó là các hành động chống lại gian lận bầu cử, chống lại các chủ trương của chính quyền (bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật, sửa đổi hiến pháp thường xuyên để duy trì quyền lực, …) và xa hơn, mạnh mẽ hơn là trực tiếp thách thức tính hợp pháp, hợp hiến của các chính quyền ấy, hay nói cách khác, là chống lại chính quyền Chưa dừng lại ở đó, sự tiếp nối về mục tiêu đấu tranh còn thể hiện ở việc, hầu hết các phong trào dân chủ do học sinh, sinh viên dẫn đầu ở thập niên 1970 đều giương cao ngọn cờ chống đàn áp và bắt bớ của chính phủ độc tài – điều thường thấy trong các phong trào đấu tranh vào những năm 50 và 60 của thế kỷ XX Báo cáo thống kê từ Quỹ Dân chủ Hàn Quốc (The Korea Democracy Foundation – một tổ chức phi lợi nhuận trực thuộc Bộ Nội vụ và An toàn Hàn Quốc) cho biết: Các cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên với chống đàn áp trở thành mục tiêu chính đã chiếm hơn 24% trong tổng số 4553 cuộc biểu tình vào những năm
197032 Con số này trong những năm 50 và 60 cũng dao động trong khoảng từ 23 đến 25% Với tổng thể của cả phong trào, thì chỉ riêng mục tiêu chống đàn áp đã chiếm tới 27.88%33 Điều đó cho thấy, không chỉ với học sinh, sinh viên mà các nhóm xã hội khác tham gia vào phong trào dân chủ cũng đặc biệt chú ý đến vấn đề này Nó trở thành một vấn đề chính đối với những người bất đồng chính kiến trong suốt quỹ đạo của phong trào dân chủ Những người bất đồng chính kiến thường chỉ trích việc đàn áp các sự kiện đấu tranh trước đó và
sử dụng sự đàn áp của nhà nước để tập hợp lực lượng cho phong trào dân chủ Sau đó, đến lượt mình, chống đàn áp trở thành động lực để tiếp tục thúc đẩy hành động phản đối và kinh nghiệm này chỉ ra cấu trúc biện chứng cơ bản của các phong trào xã hội34 – đó là sự
“nuôi dưỡng” động lực đấu tranh vì nhà nước ấy sẽ không bao giờ dừng lại hoạt động đàn
áp các cuộc biểu tình và các thành phần bất đồng chính kiến (với phần đông là học sinh, sinh viên) cũng sẽ không dừng lại các hoạt động phản đối Đàn áp càng dữ dội tất yếu dẫn đến 2 hệ quả: một là phong trào ấy bước gần đến sự sụp đổ, hai là phong trào ấy dần đi vào con đường cực đoan hóa Thực tế lịch sử ở Nam Hàn trong những năm 70 của thế kỷ XX
đã chứng minh rằng, phong trào dân chủ, mà đi đầu là phong trào của học sinh, sinh viên
đã dẫn đến hệ quả thứ hai
Thứ ba, đó là sự tiếp nối về hình thức và phương pháp đấu tranh Theo thống kê từ Quỹ
Dân chủ Hàn Quốc, trong suốt các cuộc vận động dân chủ hóa ở các thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, chủ đạo và quan trọng nhất vẫn là các cuộc đấu tranh dưới hình thức biểu tình, tuần hành và mít tinh công khai Từ cuộc biểu tình, tuần hành của học sinh thuộc 6 trường trung học ở Daegu trong các ngày 28 và 29/02 cho đến các cuộc mít tinh trong ngày 26/04/1960 của quần chúng nhân dân Seoul, mà nòng cốt là lực lượng sinh viên, đã đưa đến cái kết cuối cùng cho chế độ Rhee Syng-man thì chúng ta có thể thấy, đã có một sự
32 Shin Gi-wook, Lee Jung-eun, Kim Soo-kyung and Paul Y Chang (2007), p.51
33 Shin Gi-wook, Lee Jung-eun, Kim Soo-kyung and Paul Y Chang (2007), p.49
34 Paul Y Chang and Kim Byung-Soo (2007), Differential Impact of Repression on Social Movements: Christian
Organizations and Liberation Theology in South Korea (1972- 1979), Sociological Inquiry, 77(3), p.330
Trang 35chuyển biến khá mạnh mẽ về chất của phong trào đấu tranh, tính chất cách mạng đã hiện
rõ với mục tiêu chống chính quyền, đòi thiết lập chế độ dân chủ trở thành luận điểm chính trong các tuyên bố của những lãnh tụ sinh viên – đại diện cho tiếng nói của quần chúng vào lúc đó Các cuộc mít tinh, biểu tình tiếp tục được duy trì trong thập niên 1960 với các
sự kiện như: ngày 20/05/1962 – đánh đấu bước chuyển thứ nhất của phong trào học sinh, sinh viên, đó là đi từ chống chủ trương thân Nhật của chính quyền sang các hoạt động chống lại chính quyền, ngày 18/06/1967 – đánh đấu một bước chuyển thứ hai của phong
trào học sinh, sinh viên Hàn Quốc, đó là họ đã “được tổ chức tốt hơn và có nhận thức rõ ràng hơn về mục tiêu đấu tranh so với cuộc Cách mạng Tháng Tư”35 Họ xuống đường để hiểu được bản chất phản dân chủ và phản quốc của chính quyền Park, họ tuần hành để ủng
hộ cuộc đấu tranh của các nhóm xã hội khác, họ hòa mình vào trận tuyến cách mạng – hoàn toàn đối lập với thể chế độc tài Không dừng lại ở đó, chúng ta tiếp tục bắt gặp những cuộc biểu tình, tuần hành của học sinh, sinh viên trong thập niên 1970, nhưng lần này, quy mô, cường độ và mức độ đã có sự tăng tiến mạnh mẽ Các cuộc đấu tranh bằng hình thức biểu tình, tuần hành của học sinh, sinh viên ngày càng thu hút đông đảo quần chúng tham gia, với đủ mọi giai tầng cũng như các nhóm xã hội khác Xu hướng cực đoan hóa dần trở nên phổ biến với mức độ thương vong cho cả hai bên ngày một cao Hay nói cách khác, sự đàn
áp của chính phủ đã phản tác dụng nghiêm trọng, thay vì tiêu diệt phong trào chống Yushin
đang phát triển mạnh, nó đã khiến tất cả các nhà dân chủ đoàn kết lại và lần này, chính “Sự cai trị bằng bàn tay sắt của chế độ Park và sự phản kháng vất vả của các lực lượng ủng
hộ dân chủ đã xác định động lực chính trị tại Hàn Quốc trong suốt những năm 1970”36 Một hình thức phản đối công khai phổ biến khác trong giai đoạn này là các cuộc phản đối tại chỗ Thông thường, học sinh, sinh viên hay những người bất đồng chính kiến sẽ chiếm các không gian công cộng (ví dụ: nhà máy, lớp học, trường học, tòa thị chính, …) và từ chối rời khỏi không gian đó cho đến khi yêu cầu của họ được đáp ứng Chiến thuật này, được phổ biến trong phong trào Dân quyền những năm 1960 ở Hoa Kỳ, đã trở thành một phần trong chiến thuật của phong trào dân chủ ở Hàn Quốc trong những năm 1960 và 1970 Bên cạnh đó, việc đưa ra các tuyên bố chính trị, phong trào tuyệt thực hay tự sát công khai của các lãnh tụ sinh viên cũng là những hình thức đấu tranh mang lại hiệu quả cao Chúng
là sự tiếp nối về động cơ, phát triển về mức độ và phương pháp so với những năm 1960 Như vậy, có thể không sai khi nhận định rằng: dù công khai hay bí mật, thì các hình thức
và phương pháp đấu tranh trong phong trào học sinh, sinh viên Hàn Quốc những năm 1970
là sự tiếp nối của những cuộc đấu tranh trong các thập niên 50, 60 của thế kỷ XX Sự lựa chọn hình thức đấu tranh, theo những cách cơ bản, đã xác định kinh nghiệm thực tế của những người tham gia phong trào Vì thế, nó chứng tỏ lực lượng học sinh, sinh viên đang dần có những chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động Sự trưởng thành của học sinh, sinh viên Hàn Quốc trong đấu tranh, tuy không đồng nhất với sự trưởng thành của cả phong
35 Lee Myung-sik (2010), p.46
36 Lee Myung-sik (2010), p.56
Trang 36trào dân chủ hóa ở nước này nhưng nhìn chung, đã kích thích và là động lực thúc đẩy phong trào bước thêm một bước tiến mới
Về mặt chính trị: Học sinh, sinh viên đấu tranh trước nhất cho quốc gia (thoát khỏi độc tài) sau đó mới là đấu tranh cho bản thân họ (dân chủ hóa học đường)
Như đã đề cập ở phần trên, trong những năm 1970, các vấn đề được ưu tiên tại Đại Hàn Dân Quốc về chính trị đều xoay quanh chế độ Yushin (유신)– tức là những thái độ, hành động ủng hộ, duy trì nó hoặc ngược lại, chống đối và bài trừ nó Chế độ Yushin hay hệ thống chính trị mới được kiến tạo bởi Park Chung-hee là biểu hiện cao nhất của hình thái nhà nước độc tài mà nước này từng trải qua, với bệ đỡ là sự phát triển kinh tế vượt bậc trong những năm 1960 – 1970, những chuyển biến mới của đối thoại liên Triều cũng như yêu cầu của tình hình mới, bối cảnh mới ở trong nước và quốc tế Chế độ chính trị này thiết lập nên một hệ thống bầu cử phi dân chủ, đặt Nghị viện và Tòa án tối cao dưới sự kiểm soát của tổng thống và trao cho tổng thống quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp siêu hiến pháp, nó cũng không dung thứ cho bất kỳ sự chống đối hoặc chống lại chế độ nào và khiến cho việc sửa đổi hiến pháp không thể thực hiện được nếu không có sự đồng ý của tổng thống Do đó, mục tiêu cao nhất của các phong trào dân chủ hóa trong xã hội Nam Hàn lúc này là lật đổ chế độ Yushin, mở đường cho dân chủ len lỏi vào mọi ngóc ngách của hệ thống chính trị cũng như trong nhận thức của mọi công dân Phong trào sinh viên trong giai đoạn này không nằm ngoài dòng chảy lịch sử đó, tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của phong trào dân chủ được dẫn dắt bởi học sinh, sinh viên lúc này chính là sự gia tăng can thiệp của chính phủ vào các hoạt động của trường học, sự đàn áp thẳng tay của chính phủ vào các phong trào sinh viên và đặc biệt hơn cả, là hành động triệt thoái “đường lui” của tất cả những ai tham gia vào các cuộc đấu tranh dân chủ (bị đánh dấu vào hồ sơ lý lịch, bị cầm tù và thậm chí là án tử hình ngay trước mắt) Những người trẻ tuổi ấy phải quyết định lựa chọn giữa tương lai của bản thân và tương lai của quốc gia dân tộc, giữa sự độc tài đầy
áp bức – nơi những người yếu thế không thể cất lên tiếng nói và một chân trời tự do – nơi tất cả công dân đều được nhà nước lắng nghe Chưa dừng lại ở đó, họ còn phải lựa chọn đấu tranh trước hết cho ai, cho chính họ trước hay cho quốc gia dân tộc trước? Hiện thực lịch sử trong những năm 70 của thế kỷ XX ở nước này đã chứng minh rằng: Học sinh, sinh viên Hàn Quốc đấu tranh trước nhất cho quốc gia dân tộc thoát khỏi chế độ độc tài, sau đó mới là đấu tranh cho bản thân họ - dân chủ hóa học đường
Ngày 17/10/1971 , Nghị định đồn trú quốc phòng được ban bố và có hiệu lực trước mắt
ở thủ đô Seoul, theo đó, quân đội sẽ triển khai trên 8 cơ sở giáo dục đại học với 119 người
bị bắt và 177 nhà lãnh đạo biểu tình đã bị trục xuất khỏi 23 trường học và buộc phải nhập ngũ37 Ngày 03/04/1973 , Tình trạng khẩn cấp số 4 được ban hành với những cuộc truy lùng
gắt gao từ chính phủ đối với các thủ lĩnh sinh viên vì đã phát tờ rơi trong khuôn viên trường
37 Lee Myung-sik (2010), p.63
Trang 37học với danh nghĩa của Liên đoàn Thanh niên vì Dân chủ, đe dọa rằng nếu họ không tự
nộp mình cho cảnh sát, họ có thể phải đối mặt với án tử hình38 Ngày 08/04/1975 , Tình trạng khẩn cấp số 7 được Park ban hành chỉ nhắm vào duy nhất những sinh viên của Đại
học Hàn Quốc (Korea University) khi họ tổ chức một cuộc biểu tình dữ dội kêu gọi hủy bỏ Hiến pháp Yushin và giải tán chính phủ độc tài trong các ngày 07 và 08/04 Theo đó, các cuộc tụ tập và biểu tình bên trong khuôn viên trường này đã bị cấm, ngôi trường tạm thời đóng cửa và quân đội đóng trong khuôn viên trường39 Những sự kiện vừa nêu cho thấy từng bước leo thang xung đột giữa nhà nước độc tài và lực lượng học sinh, sinh viên Mỗi một nấc thang mà hai bên bước lên đều cho thấy tính chất cam go, căng thẳng và phức tạp của cuộc chiến đòi dân chủ mà học sinh, sinh viên là nhóm xã hội tích cực nhất với khả năng tập hợp lực lượng, cố kết cộng đồng cao Đồng thời, nó còn cho thấy sự khủng hoảng của chính thể chế này khi mà ngay từ lúc khai sinh ra nó (17/10/1972), các thế lực đầu sỏ chính trị đã phải chuẩn bị rất nhiều từ hơn một năm trước đó – bằng cách phá hủy phong trào sinh viên với sự kiện ngày 17/10/1971 và kiểm soát truyền thông Sự khủng hoảng còn được thể hiện trong sự kiện ngày 08/04/1975 khi mà theo Hiến pháp Yushin, các sắc lệnh đặc biệt của tổng thống chỉ được ban hành khi an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng bị
đe dọa, nhưng lần này, Park chỉ sử dụng sắc lệnh để kiểm soát các cuộc biểu tình tại một trường đại học Điều đó cho thấy sự lúng túng và loay hoay của Park khi nhận ra mức độ lan tỏa một cách nguy hiểm của các cuộc đấu tranh được dẫn dắt bởi học sinh, sinh viên Hơn ai hết, Park Chung-hee và bộ sậu của ông ta ý thức rất rõ điều gì đã xóa sổ chính thể của Rhee Syng-man, giờ đây, “bóng ma” cách mạng ấy đang trở lại ngày một cụ thể hơn với đỉnh cao là Cuộc nổi dậy Busan – Masan (16/10/1979) đã đặt chính quyền quân sự và thể chế độc tài do Park cầm đầu bước gần hơn đến bờ vực của sự sụp đổ
Không dừng lại ở đó, trong tất cả các sự kiện vừa nêu, chúng ta thấy rõ mục tiêu của phong trào sinh viên thể hiện qua hành động của chính họ - họ đấu tranh chống lại sự đàn
áp của chính phủ đối với những cuộc biểu tình phản đối chế độ Yushin, đòi thực hiện dân chủ trong chính trị, cởi mở về văn hóa – tư tưởng cũng như mở đường cho đối thoại để tiến tới thống nhất đất nước bằng giải pháp hòa bình Tựu trung lại, học sinh, sinh viên đấu tranh trước hết cho đất nước – dân chủ hóa quốc gia, xóa bỏ độc tài áp bức và thống nhất trở thành kim chỉ nam cho nhận thức và hành động của học sinh, sinh viên thời điểm đó Nhưng, nếu chỉ xem xét học sinh, sinh viên với mục tiêu đấu tranh cho quốc gia dân tộc
mà ta quên rằng họ cũng là một nhóm xã hội với đầy đủ danh tính và bản sắc riêng như bao cộng đồng khác thì thật chưa toàn diện và khách quan Bởi lẽ, nếu các tín hữu Cơ Đốc đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho phúc lợi của giáo dân trong chính trị và nhân đạo, các nhà báo đấu tranh cho tự do báo chí và tự do ngôn luận, những người công nhân đấu tranh cho quyền lợi của quần chúng cần lao thì học sinh, sinh viên, ngoài đấu tranh cho quốc gia
38 Lee Myung-sik (2010), p.69
39 Lee Myung-sik (2010), p.73