Một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy toàn cầu hóa và tăng trưởng của nền kinh tế thế giới là các công ty xuyên quốc gia TNCs.. Do tầm quan trọng, khả năng có thể tác động và đ
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây , toàn cầu hóa đã thúc đẩy sự phát triển và dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế thế giới Một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy toàn cầu hóa và tăng trưởng của nền kinh
tế thế giới là các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Hiện nay, TNCs đã phát triển rất nhanh, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, thực hiện phần lớn (khoảng 4/5) đầu tư trực tiếp nước ngoài và khoảng 2/3 trao đổi thương mại quốc tế Bên cạnh đó, TNCs kiểm soát 90% công nghệ và là chủ thể của nhiều dự án R&D của thế giới Bởi vậy, TNCs luôn là đối tượng nổi bật thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, học giả, quản lý ở nhiều nước
Trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển, TNCs luôn thay đổi không ngừngvới diện mạo và những biểu hiện mới Do tầm quan trọng, khả năng có thể tác động và điều chỉnh chính sách cũng như sự phát triển kinh tế của nhiều nước, của
xu hướng phát triển chung của thế giới nên bất cứ một biểu hiện mới nào của TNCs cũng trở thành sự quan tâm lớn cho các nước, không chỉ nước sở tại mà cả các nước có chi nhánh của nó Vì vậy, việc nhận biết những biểu hiện mới của TNCs là vô cùng cần thiết đối với các nước, đặc biệt là những nước đang phát triểnnhư Việt Nam Để từ đó các nước có những chính sách thu hút, thúc đẩy phù hợp với những chiến lược hoạt động của TNCs nhằm thu được lợi ích lớn nhất và hạn chế ở mức thấp nhất những rủi ro và những ảnh hưởng xấu lên nền kinh tế thế giới nói chung và mỗi nước nói riêng Chính vì lý do đó, nhóm đã chọn đề tài “Những biểu hiện mới của các công ty toàn cầu”
Để tìm hiểu rõ về những biểu hiện mới của công ty toàn cầu, nhóm tiến hành nghiên cứu đề tài theo bố cục ba chương :
Chương 1: Tổng quan về Công ty xuyên quốc gia
Ở chương này, các khái niệm liên quan đến công ty toàn cầu sẽ được nêu ra
Chương 1 cũng sẽ nêu tóm tắt sự hình thành và phát triển của TNCs từ đó tìm ra những nhân tố dẫn đến những biểu hiện mới của TNCs
Chương 2: Những biểu hiện mới của các Công ty xuyên quốc gia
Ở chương này nhóm sẽ tập trung trình bày những biểu hiện mới của TNCs, phân tích dựa trên ba khía cạnh : nguyên nhân, biểu hiện, tác động
Trang 2Chương 3: Đặc điểm của các Công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam và những giải pháp nhằm thu hút TNCs
Từ những biểu hiện mới của các TNCs, ở chương này nhóm sẽ trình bày những đặcđiểm của TNCs ở Việt Nam và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thu hút TNCs
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
1.1 Khái niệm và đặc điểm của Công ty xuyên quốc gia
1.1.1 Khái niệm Công ty xuyên quốc gia
Khi quá trình sản xuất - kinh doanh của một công ty vượt ra khỏi biên giới quốcgia và có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nhiều nước, thông qua việc thiết lập các chinhánh ở nước ngoài, thì công ty đó được gọi là công ty xuyên quốc gia(Transnational Corporation - TNC)
Gần đây, Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển(UNCTAD) đã đưa ra định nghĩa chung như sau: “TNCs bao gồm các công ty mẹ
và các công ty con của chúng ở các nước trên thế giới Công ty mẹ là công ty kiểmsoát toàn bộ tài sản của chúng ở nước sở hữu hơn là ở nước ngoài Công ty con làcông ty hoạt động ở nước ngoài dưới sự quản lý của công ty mẹ và thường đượcgọi chung là chi nhánh ở nước ngoài Có các loại công ty con dưới đây:
Phụ thuộc (Subsidiary): Chủ đầu tư (thuộc công ty mẹ) sở hữu hơn 50% tổng tàisản của công ty Họ có quyển chỉ định hoặc bãi nhiệm các thành vien bộ máy tổchức và quản lý điều hành của công ty
Liên kết ( Associate) Chủ đầu tư chiếm 10% tài sản công ty nhưng chưa đủ tỷ lệ sởhữu để có quyền hạn như công ty phụ thuộc
Chi nhánh (Branch): Công ty hoạt động ở nước ngoài với 100% tài sản sở hữu củacông ty mẹ.”
Trước xu hướng phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, nhiều quốc gia mở cửa thuhút TNCs, các hoạt động của TNCs không còn giới hạn ở một số lĩnh vực chuyêndoanh nữa mà đã chuyển sang đa doanh và có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu, bởi thế
đã xuất hiện thuật ngữ công ty toàn cầu Thật ra thuật ngữ này chỉ phản ánh đặcđiểm của TNCs trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay còn về bản chất và địnhnghĩa vẫn không có sự khác biệt đáng kể
Trong các tài liệu về công ty xuyên quốc gia, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như
“công ty quốc tế” ( International Enterprise/ Firm), “công ty đa quốc gia”(Multinational Corporation - MNC), công ty xuyên quốc gia (TransnationalCorporation - TNC) và “công ty toàn cầu” (Global Firm) Tuy độ phổ biến và nội
Trang 4dung của các thuật ngữ này có phần khác nhau, nhưng về bản chất, chúng đều dùng
để chỉ những công ty có quy mô lớn về tài sản, kiểm soát các hoạt động kinh doanhcũng như phạm vi hoat động ở nhiều nước và tìm kiếm lợi nhuận trên phạm vitoàn cầu Sự khác biệt chủ yếu là ở tên gọi, phản ánh đặc điểm nổi bật của TNCstrong từng lịch sử phát triền hoặc thói quen sử dụng từ ngữ của các học giả
1.1.2 Đặc điểm của công ty xuyên quốc gia
Một trong những đặc điểm của TNCs chính là các chi nhánh của nó phải chịu tácđộng của các áp lực môi trường quan trọng như các đối thủ cạnh tranh, khách hàng,nhà cung ứng, các tổ chức tài chính, và nhà nước kể cả trong và ngoài nước Trongmột số trường hợp, các áp lực tương tự nhau cùng hiện hữu tại nước nhà và nướckhách Ví dụ, rất nhiều đối thủ cạnh tranh của công ty GMC tại thị trường Hoa Kỳthì cũng tương tự như tại thị trường Châu Âu: Ford, Chrysler, Honda, Volkswagen,
và Volvo
Đặc điểm thứ hai của TNCs là các chi nhánh của chúng cùng sử dụng một nguồnlực chung, các nguồn lực này bao gồm các tài sản hữu hình, sáng chế, nhãn hiệu,thông tin, và nhân lực Do các chi nhánh là một bộ phận của TNCs cho nên nóđược quyền sử dụng những tài sản mà các đơn vị bên ngoài không được quyền sửdụng
Đặc điểm thứ ba của TNCs chính là các chi nhánh của TNCs được liên kết vớinhau bởi một sứ mệnh chiến lược chung Mỗi TNCs sẽ xây dựng một kế hoạchchiến lược để phối hợp hoạt động của các chi nhánh một cách đồng bộ và có hiệuquả nhất Tùy theo đặc điểm của từng TNCs, các kế hoạch chiến lược này sẽ đượcxây dựng một cách tập trung hay phân quyền từ cơ sở Một số TNCs kết hợp cả haiphương thức này trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược, tiêu biểu cho sự kết hợpnày đó là cách làm của GMC
1.2 Sự hình thành và phát triển của công ty xuyên quốc gia
1.2.1 Sự hình thành của công ty toàn cầu
Tích tụ và tập trung sản xuất tất yếu dấn đến sự hình thành TNCs Sự cạnhtranh giữa các xí nghiệp tất yếu sẽ dẫn đến 2 xu hướng Một là, các nhà tư bản vớitrình độ kỹ thuật cao và lực lượng kinh tế mạnh sẽ thôn tính các nhà tư bản nhỏ bị
Trang 5thua lỗ phá sản, làm cho quy mô sản xuất và quy mô tư bản ngày càng mở rộng.Hai là, cuộc cạnh tranh gay gắt sẽ nảy sinh xu hướng các đối thủ cạnh tranh phảiliên hiệp với nhau, góp vốn để sản xuất kinh doanh chung.
TNCs ra đời và phát triển đã đem lại cho CNTB một hình thức tổ chức sảnxuất mới, phản ánh sự thích ứng giữa trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất TBCN ở tầm vĩ mô Chúng là kết quả của quá trình cạnh tranh,tập trung tư bản và sản xuất không ngừng trong suốt quá trình tồn tại của CNTB,trong đó Tây Âu chính là nơi sớm ra đời phương thức sản xuất CNTB với các chế
độ xí nghiệp TBCN - phôi thai của TNCs hiện nay
1.2.2 Sự phát triển của công ty toàn cầu
Các giai đoạn phát triển:
4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thời kỳ đầu cạnh tranh tự do của CNTB.
Giai đoạn 2: Thời kỳ chủ nghĩa đế quốc phát triển.
Giai đoạn 3: Thời kỳ sau chiến tranh Thế giới lần thứ 2.
Giai đoạn 4: Thời kỳ kết thúc Chiến tranh Lạnh, bước sang thế kỷ XXI.
Thực trạng phát triển của công ty toàn cầu
Phát triển thêm các chi nhánh
Tăng cường các hoạt động thương mại quốc tế
Thu hút, sử dụng một cách hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp, tăng đầu tư trựctiếp ra nước ngoài (FDI)
Đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực và việc làm
Nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, các công ty toàn cầu đã có sự pháttriển nhanh chóng không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng Ngày nay, TNCskhông chỉ là độc quyền của các nước phát triển mà đã xuất hiện và phát triển mạnh
mẽ ngay cả ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi Sức mạnhkinh tế của TNCs là rất lớn, thể hiện qua việc chi phối hầu hết các quan hệ kinh tế,thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ trên thế giới Đồng thời, quy mô vàsức mạnh của TNCs tiếp tục được củng cố và phát triển, nằm trong trung tâm củaquá trình phát triển và làm gia tăng vai trò của TNCs đối với các quốc gia và các
Trang 6quan hệ quốc tế Tuy nhiên, ngoài những sự đóng góp tích cực thì song hành với
sự phát triển của TNCs cũng là những hạn chế cần phải khắc phục
1.3 Những nhân tố tác động đến sự thay đổi của TNCs
1.3.1 Xu hướng toàn cầu hóa
Với tác động của toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, TNCs đã có nhiềuthuận lợi hơn trong việc tìm kiếm những địa điểm mang lại lợi nhuận cao nhất Đặcbiệt, với quá trình toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ kể từ sau Chiến tranh thếgiới lần thứ 2 cùng sự mở rộng thương mại tự do, TNCs đã khuếch trương mạnh
mẽ về cả số lượng và quy mô hoạt động
Theo đó, các công ty này đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác lợi thế sosánh của từng quốc gia, tận dụng các chính sách ưu đãi, qua đó giảm chi phí sảnxuất và nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình Sự lớn mạnh của TNCs cũng làmột dấu hiệu chỉ rõ một sự thay đổi quan trọng trong nền kinh tế thế giới Khiquyền năng trong việc áp đặt các hàng rào thuế quan giảm sút, vai trò của nhà nướctrong việc điều phối nền thương mại toàn cầu cũng không còn mạnh mẽ như trướcđây Trong nền thương mại toàn cầu ngày càng tự do ngày nay, chính các công ty
đa quốc gia, những nhân tố chủ chốt tiến hành các hoạt động thương mại quốc tế lànhững người nắm giữ quyền lực trong việc xác lập các quy tắc thương mại toàncầu
1.3.2 Sự hạn chế bởi chủ nghĩa bảo hộ của một số quốc gia
Bảo hộ mậu dịch là chính sách kinh tế hạn chế thương mại giữa cácquốc gia, thông qua các phương pháp như thuế quan cho hàng hoá nhập khẩu, hạnngạch nhập khẩu, thuế chống bán phá giá và một loạt các quy định khác của chínhphủ được thiết kế để ngăn cản hàng nhập khẩu Đặc biệt trong cuộc khủng hoảngkinh tế tài chính thế giới 2008, các quốc gia trong đã không ngần ngại dựng nênnhững hàng rào bảo hộ nhằm mục đích nâng đỡ nền sản xuất trong nước, từ đógiảm thất nghiệp và trấn an người dân
Trang 7Chủ nghĩa bảo hộ thương mại trên thực tế đã trở thành vấn đề gây tranh cãi từ rấtlâu, với vô số những lý lẽ không thể thuyết phục được nhau của cả bên ủng hộcũng như bên phản đối Chủ đề này càng trở nên nóng bỏng hơn khi nhiều nướcphương Tây dù ra sức hô hào ủng hộ tự do thương mại, trong khi mặt khác vẫn đưa
ra những quyết định nhằm bảo hộ nền kinh tế trong nước … Mặc dù, Mỹ khuyếnkhích các nước tự do hóa thương mại nhưng sẵn sàng áp dụng các chính sách bảo
hộ cho ngành may mặc và da giày nội địa Việt Nam hiện là nước xuất khẩu hàngmay mặc lớn thứ hai vào Hoa Kỳ, với mức thuế phải chịu là 18% - 36% Như vậycác công ty may mặc của Việt Nam đang chịu sức ép lớn từ các chính sách này.Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch là thách thức khó mà TNCs trên toàn thế giới đangphải đối mặt Đây cũng chính là nguyên nhân khiến các công ty này theo đuổi cácchiến lược mới nhằm vượt qua rào cản mà các quốc gia mang lại
1.3.3 Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học –công nghệ
Khoa học - công nghệ có vai trò to lớn trong việc hình thành nền kinh tế trithức, phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cảcác quốc gia Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã tạo ra nhiều lĩnhvực sản xuất mới trong các ngành điện tử - tin học, viễn thông… Và các phươngtiện thuận lợi khác cho phép TNCs mở rộng quy mô của mình trên phạm vi toàncầu Cuộc chạy đua phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới hiện nay thực chất làcuộc chạy đua về khoa học và công nghệ, chạy đua nâng cao chất lượng và hiệuquả lao động trên cơ sở hiện đại hóa nguồn nhân lực TNCs dĩ nhiên không nằmngoài cuộc đua này
1.3.4 Các cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế
Năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại các nước Châu Á đã diễn
ra Cuộc khủng hoảng này, ở các mức độ khác nhau, đã ảnh hưởng tới nền kinh tếthể giới bởi các nước Đông Á – Đông Nam Á chiếm khoảng 20% GDP, 23% giá trịthương mại thế giới, là một trong những khu vực vay vốn lớn Tính đến cuối năm
1996, tổng số nợ là 752 tỷ USD ( không tính Nhật Bản) và tỷ lệ đầu tư so với GDPcủa các nước trên khoảng 30 – 35% trong những năm 1990; trong khi đó tỷ lệ này
ở các khu vực khác chỉ là 15 – 20% Vì vậy, khi sự phát triển kinh tế của khu vựcnày bị chậm lại, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các nước khác có quan hệ kình tếthương mại, tài chính tiền tệ với khu vực nói trên
Trang 8Đặc biệt, cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu tồi tệ năm 2008 đã làmchậm lại việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của khoảng 82.000 công ty xuyên quốcgia (TNCs) trên thế giới và 810.000 chi nhánh nước ngoài của họ - theo Báo cáođầu tư thế giới Nhìn chung, lợi nhuận của 100 TNCs lớn nhất thế giới đã giảm hơn25% trong năm 2008
Hiệu ứng mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến TNCs trong năm 2008 và đầu năm 2009.Một số các công ty xuyên quốc gia có lợi nhuận giảm, tăng thoái vốn và buộc phải
sa thải nhân viên, một số lượng lớn khác tái cơ cấu hoặc phá sản Báo cáo củaUNCTAD cho thấy 85% các giám đốc điều hành kinh doanh của công ty xuyênquốc gia lớn nhất tin rằng suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến họ phải cắt giảm các
kế hoạch đầu tư Tuy nhiên, các chi nhánh nước ngoài của họ tiếp tục đánh dấutầm quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, chiếm khoảng 10% GDP thế giới và sửdụng khoảng 78 triệu người lao động - nhiều hơn gấp đôi tổng số lực lượng laođộng của một quốc gia công nghiệp lớn như Đức
Để tiếp tục tham vọng quốc tế hóa cũng như đảm bảo sự tồn tại của chính mình,các công ty xuyên quốc gia buộc phải hành động quyết liệt và có sự thay đổi rõràng trong chiến lược
1.3.5 Sự cạnh tranh giữa TNCs với nhau
Tư tưởng bành trướng trong sân chơi quốc tế là điểm chung của tất cả TNCs Rấtnhiều nhà điều hành cấp cao có chung quan điểm: trở nên lớn mạnh hơn là cáchduy nhất để cạnh tranh trong môi trường quốc tế luôn đầy khốc liệt Cuộc chiếnkhông ngừng nghỉ giữa Pepsi và Coca Cola, hay giữa Samsung và Apple cho thấycuộc đua gay gắt giữa các công ty xuyên quốc gia Tạo ra mức giá thấp hơn, nhucầu cao hơn, đạt nhiều lơi nhuận hơn, … chính là những mục tiêu mà công ty nàocũng muốn hướng tới Và để tiếp tục đứng vững trên thị trường TNCs phải khôngngừng nỗ lực cải thiện, thay đổi và phát triển
Trang 9CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN
QUỐC GIA
2.1 Sự xuất hiện thêm hàng loạt các nước có TNCs trong đó có cả các nước đang phát triển
Sự xuất hiện các công ty xuyên quốc gia không phải là một hiện tượng mới
mẻ Ví dụ: những công ty như Công ty Đông Ấn Anh Quốc hay Đông Ấn Hà Lanbắt đầu hoạt động trên phạm vi quốc tế trong thời kỳ diễn ra làn sóng thực dân hóađầu tiên cách đây hơn 300 năm Tuy nhiên, bản chất của các công ty xuyên quốcgia đã thay đổi rất nhiều trong những thế kỷ qua Cuộc Cách mạng công nghiệp vàcông nghệ thông tin cùng các biện pháp quản lý mới đã đóng vai trò quan trọngtrong tiến trình này Đặc biệt với quá trình toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ kể
từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai cùng sự mở rộng thương mại tự do, các công
ty đa xuyên gia đã khuếch trương mạnh mẽ về số lượng và quy mô hoạt động
Nguyên nhân
Thứ nhất, các quốc gia đang phát triển đã có những bước đi đúng đắn trong những
chính sách phát triển của mình làm cho nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ và dần ổnđịnh theo chiều hướng tích cực Nhiều nền kinh kế có sự phát triển ấn tượng đếnmức được gọi là kỳ tích tiêu biêt nhất là tại Hàn Quốc Báo cáo của ADB đánh giácác biện pháp ổn định đầu tư đã giúp Trung Quốc đảm bảo đà tăng trưởng cho nềnkinh tế Đối với Ấn Độ, báo cáo cho rằng chính phủ mới tại New Delhi sẽ theođuổi các chương trình cải cách để "khai phá" những tiềm năng lớn của quốc giađông dân hàng đầu thế giới này Về kinh tế các nước Đông Nam Á, báo cáo củaADB nhấn mạnh Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của những quốc gia khu vực sẽtăng trưởng mạnh trong nhiều năm tới
Thứ hai, do tính hội nhập toàn cầu, các nước có cơ hội lớn trong việc học tập tiếp
thu và thừa hưởng những thành tựu khoa học công nghệ cũng như sự viện trợ đầu
tư của các nước khác và đặc biệt từ những nước đang phát triển Phát triển khoahọc kỹ thuật cũng có nhiều tác động tích cực tới lĩnh vực thông tin liên lạc và giaothông vận tải Điều này cũng giúp cho quá trinh hình thành các công ty xuyên quốcgia trở nên mạnh mẽ hơn Trong lĩnh vực thông tin liên lạc, mạng lưới thông tingiúp cho nhà đầu tư quản lý từ xa mọi việc ở các công ty con Nó còn có tác dụng
to lớn đối với công tác quản lý tính toán để đưa ra các sách lược kịp thời và chính
Trang 10xác Còn về giao thông vận tải thì tạo ra nhiều loại hình thức giao thông khác trướcđây và cụ thể như bây giờ có thể vận tải cả bằng tàu hỏa, máy bay, tàu thủy Rồicác con đường giao thông nối liền các vùng các quốc gia với nhau thuận lợi chogiao lưu buôn bán và đi thực tế của những nhà quản lý, sự thăm dò thi trường vàkhả năng đáp ứng thị trường cao hơn trước đây nhiều lần Đây là điều kiện thuậnlợi không chỉ cho sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia ở những nướcđang phát triển mà còn tác động không hề nhỏ đối với sự gia tăng mạnh mẽ về sốlượng các công ty xuyên quốc gia ở các quốc gia đang phát triển.
Ngoài ra, còn có rất nhiều các nguyên nhân liên quan khác tới sự phát triển của cáccông ty xuyên quốc gia, không thể không kể đến yếu tố tối đa hóa lợi nhuận Tất cảcác công ty khi phát triển tới mức độ nhất định đều có xu hướng tiến ra môi trườngquốc tế bởi quá trình tích tụ và tâp trung sản xuất tư bản Khi tích tụ và tập trungsản xuất được đẩy mạnh thì số tư bản trong tay bọn chủ sẽ tăng và chúng sử dụngđồng vốn này vào công tác nghiên cứu các loại hình đầu tư sản xuất mua sắm cáctrang thiết bị mở rộng quy mô sản xuất tăng khối lượng đầu vào từ đó khối lượnghàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều và thu được lợi tăng từ đó chúng lại quayvòng vốn để tiếp tục mở rông quy mô và sự bành trướng của mình ra thế giới điều
đó tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành các công ty xuyên quốc gia Theo Mác vàAnghen đã dự đoán rằng khi mà tích tụ và tập trung sản xuất tư bản tất yếu sẽ dẫnđến sự hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn Đó cũng chính là nguyên nhânhình thành các công ty độc quyền trước đây , cùng với nó là sự hình thành thịtrường thế giới một cách nhanh chóng và rộng lớn đã giúp chúng bành trướng racác nước trên thế giới
Bên cạnh đó hoạt động tín dụng đã đẩy nhanh tốc độ phát triển phương pháp sảnxuất tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội giúp quá trình bành trướng hoạt động mộtcách nhanh chóng Khi mà sản lượng của một ngành hay một số ngành ở một sốkhu vực không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khu vực đó mà còn đáp ứngcho buôn bán giao lưu giữa các vùng tiến dần tơí giao lưu quốc tế Tức là tín dụng
đã cung cấp tiền cho các gia đình , xí nghiệp, công ty vốn để đầu tư mở rộng sảnxuất nâng cao sản lượng và năng xuất Điều đó chỉ xảy ra khi có vốn để làm ăn màthôi Khi đã có hàng hoá để xuất khẩu thì nó hình thành thị trường buôn bán thếgiới, là nơi buôn bán trao đổi hàng hoá và kinh nghiệm trong quản lý, xây dựng cáccông ty
Trang 11 Biểu hiện
Năm 1970, theo thống kê của Liên hợp quốc xác định rằng, trong tổng số 7000TNCs lớn nhất thì trên một nửa là của Anh và Mĩ Từ cuối những năm 80, chủ thểđầu tư dần dần chuyển đến Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ và các nước Tây Âu Về sau có
4 con rồng châu Á nổi lên và sự phát triển nhanh chóng của 1 loạt nước đang pháttriển, TNCs cũng xuất hiện ở các nước này Quá trình phân bố toàn cầu của cácTNC vẫn đang tiếp tục diễn ra Vào năm 2005 đã có 2000 TNCs của hơn 100 nướcđang phát triển Sự có mặt của TNCs ở các nước đang phát triển và các khu vực đãkết thúc lịch sử lưu động một cách đơn hướng của vốn tư bản quốc tế đống thời đãxuất hiện sự đầu tư nhiều chiều với nhiều tầng nấc đan xen Điều này chẳng nhữngthúc đẩy sản xuất và quan hệ quốc tế, mà còn mở ra một không gian rộng lớn cho
sự phát triển của TNC trên toàn thế giới
Theo số liệu của UNCTAD, cho tới năm 2010, toàn thế giới đã có 103.786 công tyxuyên quốc gia mẹ và 892.114 công ty xuyên quốc gia con (chi nhánh của các công
ty mẹ) Chúng hoạt động hầu như khắp nơi trên thế giới và trong tất cả các nghànhkinh tế quốc dân Trong số 103.786 TNCs mẹ trên toàn thế giới, các nền kinh tếphát triển có 73.144 TNCs mẹ Trong đó, Liên minh Châu Âu có 47.455 TNCs mẹ,
Mỹ có 9.692 TNCs mẹ, Nhật Bản có 4543 TNCs mẹ, các nước phát triển còn lại có11.454 TNCs mẹ Các nước đang phát triển có 30.209 công ty mẹ, trong đó ChâuPhi có 621 công ty mẹ, Châu Mỹ La tinh và Caribe có 4.406 công ty mẹ; các nướcđang phát triển Châu Âu (Đông Nam châu Âu và cộng đồng các quốc gia độc lậpCIS) có 433 công ty mẹ, các nước Nam, Đông, Đông Nam Á có 24.242 công ty mẹ(Trung Quốc có 379 công ty mẹ vào năm 1997 đã tăng lên 12.000 công ty mẹ tínhđến năm 2010, Hồng Kông có 6592 công ty mẹ, Hàn Quốc có 1096 công ty mẹ ),Tây Á có 602 công ty mẹ
Tác động
Khi hình thành một công ty xuyên quốc gia (TNC) ở một quốc gia nào đó nókhông chỉ mang lại những tác động tích cực mà còn gây ra cả những tác động tiêucực
Tích cực
TNCs không chỉ có khả năng giúp hiện đại hoá một ngành kinh tế mà còn tạo ra lợithế cạnh tranh cho nước , tác động tích cực đến hoạt động thương mại đầu tư
Trang 12chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực và có nhiều đóng góp cho xãhội.
Các TNC được ví như những cỗ máy cung cấp động lực phát triển kinh tế cho cácquốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, thông qua nguồn vốn, công nghệhay kỹ năng quản lý, thông qua các nhà máy và các dự án lớn, các công ty xuyênquốc gia được cho là góp phần tạo ra công ăn việc làm, gia tăng tổng thu nhậpquốc nội, cũng như góp phần nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng quản
lý của các nước đang phát triển Thông qua hoạt động của mình, các công ty xuyênquốc gia cũng có thể giúp các quốc gia thay đổi cơ cấu nền kinh tế, mở rộng xuấtnhập khẩu và qua đó hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu Trên bình diệnquốc tế, các công ty xuyên quốc gia cũng được ca ngợi là những người tiên phongtrong nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới, là một lực lượng giúp thúc đẩyquá trình hiện đại hóa quan hệ quốc tế và là một trong những nguồn hi vọng đốivới việc xóa đói giảm nghèo ở các nước thuộc Thế giới thứ ba
Một lợi ích khác của TNCs đối với nền kinh tế là nó giúp thúc đẩy một nền vănhóa kinh doanh của năng lực cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả
Sự hình thành nhiều TNCs cũng thúc đẩy quá trình nghiên cứu và triển khai pháttriển khoa học công nghệ
Tiêu cực
Quyền lực của các công ty xuyên quốc gia còn thể hiện ở chỗ chúng rất khó kiểmsoát Do hoạt động xuyên biên giới, các quy định pháp luật ở cấp độ quốc giathường không đủ để điều chỉnh hành vi của các công ty xuyên quốc gia Vấn đềnày còn nảy sinh từ thực tế rằng việc điều phối pháp luật ở cấp độ quốc tế còn rấtyếu và rất khó đảm bảo thực thi Chính vì vậy mặc dù các công ty xuyên quốc giađóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển toàn cầu Việchình thành với tốc độ nhanh và mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia khiến chochính phủ bị hạn chế quyền kiểm soát được các hoạt động và hành vi của nó
Các nhà chỉ trích cho rằng các công ty xuyên quốc gia là những kẻ xâm hại quyềncon người, gây ô nhiễm môi trường, và trong nhiều trường hợp còn tham gia cáchoạt động phạm pháp gây ra thâm hụt vô cùng nghiêm trọng
Trang 13Hơn nữa, vì sự hỗ trợ phát triển các công ty xuyên quốc gia mà các chính phủ cũngđang vấp phải nhiều khó khăn và thách thức cần phải vượt qua Những khó khăn
đó liên quan đến vấn đề loại bỏ hàng rào phi thuế quan, tự do hóa thương mại dịch
vụ, cải thiện môi trường kinh doanh, chính sách cạnh tranh, bảo đảm quyền sở hữutrí tuệ và thu hẹp khoảng cách phát triển
2.2 Toàn cầu hóa chiến lược kinh doanh
Nguyên nhân
Trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh quốc
tế ngày càng khốc liệt, muốn giành được ưu thế trong cạnh tranh và lợi nhuận cao
nhất, TNCs phải gắn liền hoạt động kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới, đồng
thời coi thị trường thế giới là một chỉnh thể để lưu thông, tiến hành đầu tư, sản xuất
và buôn bán ở khắp các nơi trên thế giới, tổ chức sự phân công quốc tế trong nội
bộ và các bộ phận bên ngoài của công ty, đặt ra chiến lược kinh doanh mang tínhtoàn cầu
Biểu hiện
Một số TNCs đã hình thành mối quan hệ nhiều tầng lớp trong nội bộ công ty, nhưquyền hạn và chức năng của công ty mẹ và công ty con ở nước ngoài, phương thứcphân phối, phương thức độc quyền, hoặc phương thức mang tính thỏa thuận…, màcái đó đều cần dựa vào việc phát huy hiệu quả của mạng lưới thông tin toàn cầuđược lập ra trong nội bộ công ty
Do chiến lược kinh doanh toàn cầu hóa, TNCs không bị các đường biên giới quốc
gia hạn chế, mà coi thế giới là thị trường sản xuất và thị trường tiêu thụ của mình,
đồng thời xác định việc sử dụng nhân lực, kỹ thuật, vốn và tài nguyên thiên nhiênsao cho có hiệu quả để cung cấp cho thị trường những hàng hóa tốt nhất Điều nàykhông những thúc đẩy các công ty mẹ và các công ty con cùng tăng trưởng, màcòn làm cho trong rất nhiều lĩnh vực có sự xuất hiện của những cái hoàn toàn cáimới có tác động thúc đẩy phát triển, nhất là về kỹ thuật cao cấp mới, thiết kế, sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm
Ví dụ: TNCs chuyên sản xuất ô tô có hàng loạt các nhà máy sản xuất các phụ tùng,linh kiện ở nhiều nước khác nhau Những nhà máy này cung cấp phụ tùng và linhkiện lắp ráp cho nhau Chúng đều có cơ sở nghiên cứu để sáng tạo ra những phụ
Trang 14tùng mới mà mình được phân công Những thành quả của nghiên cứu đều do công
ty mẹ giám định thống nhất, quy định ngày tháng đi vào sản xuất, điều này đã làmcho việc phân công chuyên môn hóa đạt được trình độ rất cao Điển hình là Toyota,các công ty con của Toyota được tổ chức theo chuyên môn hóa sản xuất Mỗi đơn
vị tập trung vào sản xuất chỉ một vài linh kiện, mà nó làm hiệu quả nhất Ví dụ như
vỏ xe ô tô có thể được sản xuất bởi Toyota Motor Malaysia ; lốp xe được cung cấpbởi Toyota Motor Thailand…, tuân theo cùng một tiêu chuẩn quốc tế của tập đoànToyota Và những thiết bị này được xuất khẩu tới các công ty con khác để rồi đượclắp ráp lại thành sản phẩm của những dòng xe Toyota bán đi trên khắp các thịtrường thế giới Sự phối hợp như vậy rõ ràng là có hiệu quả hơn so với việc mỗiđơn vị của Toyota tự sản xuất ra mọi thiết bị mà nó cần
Ngoài ra, hiện nay trên thế giới các khoản buôn bán trong nội bộ các công ty xuyênquốc gia đã chiếm khoảng hơn một nửa mậu dịch quốc tế
Tác động
Với việc toàn cầu hóa chiến lược kinh doanh, các TNC đã góp phần đẩy mạnhchuyển giao công nghệ trên thế giới và tăng cường trao đổi thương mại giữa cácquốc gia Ngoài ra chiến lược này cũng giúp các TNC giảm thiểu được chi phí,thuận tiện cho việc quản lý và tạo dựng được hình ảnh đồng bộ trên toàn thế giới
2.3 Đa dạng hóa cơ cấu đầu tư
2.3.1 Mở rộng đầu tư vào các nước đang phát triển đặc biệt là ở châu Á
Trang 15 Biểu hiện
Các nước đang phát triển đang là các nước đi đầu trong việc thu hút FDI Hiện nay,nguồn FDI có xu hướng cao chảy vào các nước đang phát triển hơn là các nướcphát triển Năm 2012, lần đầu tiên trong lịch sử FDI dành cho các nước đang pháttriển lớn hơn mức FDI đầu tư cho các nước phát triển, chiếm 52% tổng FDI toàncầu, ứng với 703 tỷ USD, nhiều hơn FDI cho các nước phát triển 142 tỷ USD
Nguồn : Báo cáo đầu tư thế giới 2014 (UNCTAD) Hình 1: FDI tiếp nhận từ nước ngoài của các nhóm nền kinh tế từ 1993-2015 và
dự báo 2014-2016 (tỷ USD)
Trang 16Nguồn: Báo cáo đầu tư thế giới 2014 (UNCTAD) Hình 2: Top 20 quốc gia có FDI tiếp nhận từ nước ngoài cao nhất năm 2012-2013 (tỷ USD)
Trong 6 nước nhận được nhiều FDI nhất năm 2013 có tới 5 nước thuộc nhóm nướcđang phát triển bao gồm: Trung Quốc, Hong Kong, Brazil, Nga, Singapore
FDI đầu tư vào các nước đang phát triển vẫn duy trì ở mức cao Cụ thể:
- Châu Phi tăng 5% FDI ứng với 50 tỷ USD Phần lớn số tiền này đến từ ngành công nghiệp khai khoáng, ngoài ra còn do sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo hướng tới khách hàng hay ngành dịch vụ
- Châu Á nhận được khoản FDI 407 tỷ USD Do sự tiếp tục lớn mạnh của thươngmại nội hạt, các quốc gia có nguồn nhân công rẻ như Cam-pu-chia, Myanma, Việt Nam cũng là những điểm nóng cho FDI
- Vùng Mĩ La-tinh và Ca-ri-bê, FDI chiếm 244 tỷ USD
Trang 17Như vậy, châu Á là điểm đến hàng đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài, hoặc FDI, trên toàn cầu, chiếm hơn 35 phần trăm của tổng số dòng vốn FDI trên thế giới Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới của Liên Hợp Quốc vào năm 2015, dòng vốn FDI toàn cầu giảm 16% so với năm trước, còn 1.23 nghìn tỷ USD, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu yếu.Các nước phát triển đã chứng kiến sự sụt giảm mạnh nhất trong năm 2014 Đầu tư nước ngoài vào thị trường Mỹ đã giảm 60%, và thị trường châu Âu giảm 11% Trong khi đó, FDI vào châu Á tiếp tục tăng, đạt mức cao kỷ lục 465 tỷ USD Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành bạn hàng lớn nhất thếgiới vốn nước ngoài và Hồng Kông và Singapore là những năm điểm đến FDI hàng đầu thế giới
Nhiều nhà đầu tư vùng Vịnh tăng cường quan hệ kinh tế với phương Đông trong những năm gần đây thông qua việc mở rộng trong các lĩnh vực liên quan đến dầu
mỏ và cả các lĩnh vực khác Công ty đầu tư tư nhân của Ả Rập Saudi là 'Ajlan và Brothers' đã đầu tư trong tổng số 20 nhà máy trị giá 632 tỷ USD trong lĩnh vực dệt may tại Trung Quốc và Dubai Họ cũng tuyên bố rằng kế hoạch đầu tư gần 400 triệu USD cho khu vực Đông Nam Á và các công ty Ấn Độ 2015
2.4 Sự thay đổi cơ cấu trong lĩnh vực đầu tư
Trang 18không dựa vào nguyên liệu trong đó các sản phẩm bán dẫn là một trong nhữngsản phẩm mũi nhọn.
Điều này được thể hiện qua tỉ trọng hàng xuất khẩu của hàng hoá có hàm lượngcông nghệ cao trong nội bộ TNCs chiếm tới 43,1% tổng gía trị hàng hoá xuấtkhẩu Như vậy, sự thay đổi trong chiến lược toàn cầu của TNCs tác động trực tiếptới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nướchướng về xuất khẩu Ví dụ tại Mê-xi-co, trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếuthì phần lớn những sản phẩm thuộc ngành ô tô, điện tử do các chi nhánh củaTNCs sản xuất
Bên cạnh đó, cơ cấu đầu tư cũng từ các hạng mục hữu hình vươn tới các lĩnh vực
vô hình, hướng đầu tư cũng từ các ngành sản xuất truyền thống phát triển tới cácngành kĩ thuật cao và các ngành dịch vụ, trong đó bao gồm cả ngành vàng bạc, đáquý, bảo hiểm, dịch vụ du lịch, kinh doanh nhà đất, công nghệ thông tin
Ngành truyền thống (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, khai khoáng)chiếm tỷ trọng nhỏ nhất, thấp hơn nhiều so với ngành công nghiệp và dịch vụ
Nguồn : Báo cáo đầu tư thế giới 2014 (UNCTAD) Hình 3: Cơ cấu các ngành theo giá trị đóng góp (%)
Cụ thể, ở các nước phát triển, ngành này chỉ đóng góp 6% tổng giá trị và ở cácnước đang phát triển là 11% Ở châu Phi và các nước kém phát triển nhất (LDCs),
Trang 19tỷ lệ này cao hơn nhiều Điều này cho thấy sự phát triển của nền kinh tế tỷ lệthuận với sự phát triển của ngành công nghiệp, dịch vụ
Tác động
Các xu hướng mới trong cách thức đầu tư của các công ty xuyên quốc gia ảnhhưởng không nhỏ đến toàn bộ nền kinh tế thế giới Nó cho thấy các nước đangphát triển, đặc biệt là ở châu Á và Mĩ Latin đang được coi là điểm đến hấp dẫnthu hút vốn đầu từ nước ngoài FDI đã trở thành nguồn tài chính quan trọng vàphương thức chuyển giao công nghệ, sản xuất, kĩ năng cũng như truy cập vào cácmạng lưới tiếp thị quốc tế cho các nước đang phát triển Bên đầu tiên hưởng lợi làcác TNC nhưng các tài sản này cũng có thể chuyển giao cho các công ty trongnước nếu có môi trường thuận lợi Thừa nhận rằng FDI đóng góp to lớn cho sựphát triển kinh tế, các quốc gia này cũng tăng cường các chính sách tạo điều kiệntối đa cho các TNC Các nước phát triển, trong suốt vài thập kỉ qua đã bắt đầu tự
do hóa chính sách quốc gia của họ để thiết lập một khuôn khổ pháp lý “hiếukhách”, cải thiện các tiêu chuẩn đãi ngộ đối với các công ty xuyên quốc gia
Đối với các TNC, việc đầu tư mạnh hơn vào các nước đang phát triển cho thấy họđang tin tưởng vào các quốc gia này với sự kì vọng giảm chi phí, mở rộng thịtrường và các yếu tố giúp họ giữ vững lợi thế cạnh tranh Cơ sở hạ tầng, thịtrường cạnh tranh, các tài nguyên thiên nhiên vs con người là các lĩnh vực mà cácTNC cần nghiên cứu kĩ lưỡng trước khi thực hiện các quyêt định đầu tư
Sự thay đổi trong cơ cấu lĩnh vực đầu tư cho thấy xu hướng mới trong sản xuất vàphát triển Ngành công nghiệp và đặc biệt là dịch vụ đang ngày càng chiếm lĩnhthị trường đầu tư Đối với các nước tiếp nhận công nghệ, họ được tận dụng cácđiều kiện về vốn và kĩ thuật, cho phép khai thác và sử dụng các tiềm năng về laođộng, giảm bớt nạn thất nghiệp Nhưng bên cạnh đó, họ cũng gặp phải nguy cơtiếp nhận các kĩ thuật không phù hợp, các kĩ thuật lạc hậu hay máy móc, thiết bị
cũ Do đó họ khó tính toán được giá trị của công nghệ đó, gây tổn hại môi trườngsinh thái, sản xuất các sản phẩm không phù hợp (thuốc lá, thuốc trừ sâu, …) Đâycũng là lí do tờ tạp chí The Economist của Anh từng ví các TNC như “những conquái vật được yêu thích” của tất cả các quốc gia, ai cũng biết hạn chế và tác độngtiêu cực của chúng nhưng ai cũng muốn đón chào và khai thác các lợi thế màchúng mang lại
Trang 202.5 Tăng cường thực thi việc mua lại & sát nhập (M&A)
Nguyên nhân
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt hiện nay, các công tytoàn cầu ngày càng chủ động thay đổi cũng như tái cơ cấu doanh nghiệpmình Một trong những xu hướng toàn cầu là xu hướng M&A Hơn nữa, sauhàng loạt các cuộc khủng hoảng kinh tế đã để lại hậu quả nặng nề đối với nênkinh tế toàn cầu Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật với những tiến bộ vượtbậc về công nghệ làm xáo trộn nền kinh tế để lại nhiều công ty tập đoàn trờnên lạc hậu thậm trí có nguy cơ trên bờ vực phá sản Để vượt qua các khókhăn, thử thách và cùng với sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế quốc tếngày càng gia tăng, GCs có xu hướng tiến đến gần nhau hơn ở mọi khía cạnh,tạo ra các khối liên minh chiến lược Liên minh chiến lược ở đây là sự thỏathuận hợp tác với các đối thủ thực tế và tiềm năng Sự liên kết này cho phépcác GCs ở các quốc gia khác nhau thâm nhập nhau về vốn, kĩ thuật, thiết bịsản xuất, kênh phân phối, tiêu thụ hàng hóa…để hình thành một tổ chức liênhợp kinh doanh quốc tế Trường hợp khác đó là sự cạnh tranh giữa các đối thủ
để thôn tính lẫn nhau cũng góp phần làm gia tăng các vụ M&A giữa các GCsthời gian này
Ngoài ra, các công ty cũng muốn giảm bớt các chi phí trong quá trìnhkinh doanh như : chi phí tìm kiếm khách hàng mới, chi phí mở rộng thịtrường, chi phí cho việc xậy dựng và phát triển thương hiệu,…
Biểu hiện
Để nhìn rõ xu hướng này, bài nghiên cứu xem xét số lượng các thương vụ mua bán
và sát nhập M&A của 100 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới giai đoạn 2003