1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN: MÔN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG

32 524 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 276 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống tài chính Việt Nam bao gồm 4 tụ điểm vốn và 1 bộ phận dẫn vốn: Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó nguồn tài chính được tạo ra, là nơi thu húttrở lại các nguồn vốn nhưng ở những

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA VĂN – XÃ HỘI

BÀI KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG

3 Trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước

Họ và tên : Đào Thị Mùi

Mã sinh viên : DTZ1056120072

Lớp học phần : Tài chính công - LO2

Thái Nguyên ngày 10/5/2013

Trang 2

Câu hỏi 1:

Vì sao tài chính công chi phối, điều chỉnh được tài chính khu vực tư? Tài chính công chi phối điều chỉnh tài chính khu vực tư như thế nào?

Bài làm

1 Hệ thống tài chính Việt Nam

Hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tàichính mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng cómối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định

Hệ thống tài chính Việt Nam bao gồm 4 tụ điểm vốn và 1 bộ phận dẫn vốn:

Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó nguồn tài chính được tạo ra, là nơi thu húttrở lại các nguồn vốn nhưng ở những phạm vi mức độ khác nhau bao gồm:

- Tài chính doanh nghiệp

- Ngân sách nhà nước

- Tài chính dân cư (tài chính hộ gia đình) và các tổ chức xã hội khác

- Tài chinh đối ngoại

Bộ phận dẫn vốn là bộ phận thực hiện chức năng truyền dẫn vốn giữa các tụ điểmvốn trong hệ thống tài chính bao gồm thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trunggian

Thị trường tài chính gồm có hai bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn.Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính ngắn hạn Thị trường vốn là thị trường tài chínhdài hạn gồm có thị trường tín dụng trung và dài hạn, thị trường cho thuê tài chính và thịtrường chứng khoán

Các tổ chức tài chính trung gian có nhiệm vụ tiết kiệm cho nền kinh tế các chi phígiao dịch và chi phí thông tin, bao gồm các tổ chức tài chính chính thức và các tổ chứctài chính không chính thức

Các tổ chức tài chính chính thức bao gồm các ngân hàng thương mại, các công tytài chính và các quỹ tín dụng Các tổ chức tài chính không chính thức tồn tại dưới nhiềuhình thức khác nhau mà trước hết và quan trọng nhất là các công ty bảo hiểm

Trang 3

Sơ đồ hệ thống tài chính Việt Nam:

2 Hệ thống tài chính công Việt Nam

-Tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình

Các định chế tài chính

Thị trường tài chínhVốn

Trang 4

Sơ đồ tổ chức bộ máy tài chính công

Cục quản lý vốn

Cục đầu tư

Cục hải quan

Chi cục dự trữ

HĐND, UBND cấp huyện

HĐND, UBND cấp xã

Trang 5

2.2 Các bộ phận cấu thành

Với việc xác định các tiêu chí đặc trưng của Tài chính công, có thể loại trừ khỏiTài chính công các mắt khâu của hệ thống tài chính tư, từ đó có thể đưa ra, tài chínhcông gồm các bộ phận cấu thành là:

- Ngân sách nhà nước

- Tín dụng nhà nước

- Các quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN

- Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước

- Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước

Trong các bộ phận cấu thành hệ thống tài chính công thì Ngân sách nhà nước là

bộ phận quan trọng nhất, chi phối các thành tố khác

Ở đây, cần đề cập đến 3 thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và liên quan trựctiếp tới tài chính công hiện nay Đó là NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và tài chínhcác đơn vị hành chính sự nghiệp

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ của nhà nước

Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, hoạt động thu - chi của NSNN thể hiện quátrình phân phối và phân phối lại một bộ phận giá trị tổng sản phẩm xã hội Quy mô phânphối lại phụ thuộc vào mức độ động viên của NSNN

Về chức năng, NSNN có 3 chức năng cơ bản Đó là: công cụ thực hiện việc phân

bổ nguồn lực trong xã hội; thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập và chức năngđiều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân Với các chức năng đó, NSNN tác động trực tiếp

và gián tiếp tới hầu hết các chủ thể, các đơn vị và các tổ chức trong xã hội Điều nàycũng giải thích tại sao NSNN lại là thành tố quan trọng nhất của tài chính công

Các quỹ tài chính nhà nước, về nguyên tắc, NSNN phải được quản lý một cáchtoàn diện, nhưng không có nghĩa là tất cả các khoản chi phải được quản lý theo quytrình thống nhất Vì vậy, ở nhiều nước, một số khoản chi của Chính phủ đã được quản lýthông qua các quy trình đặc biệt, mà chủ đạo là các quỹ tài chính nhà nước, tạo nên sựlinh hoạt nhất định trong quyết định chi tiêu của Chính phủ

Quỹ tài chính nhà nước có nhiều loại hình khác nhau Nhưng xét về hình thức tổchức thường có 2 loại: là một tổ chức tài chính có bộ máy tổ chức, có tư cách pháp nhân

Trang 6

(như Quỹ hỗ trợ phát triển ) hoặc chỉ là nguồn tài chính dành riêng để sử dụng vào mộthoặc một số mục đích nhất định (như Quỹ bình ổn giá cả, Quỹ tích luỹ trả nợ ).

Các quỹ tài chính nhà nước thường có nguồn thu chủ yếu từ NSNN và huy độngđóng góp của các tổ chức, cá nhân Việc sử dụng quỹ không được hạch toán vào ngânsách mà được quản lý theo các quy định riêng Tuy nhiên, cách làm này, bất kể mụcđích gì đều làm nảy sinh một số vấn đề trong việc phân bổ nguồn ngân sách Thôngthường thì các giao dịch thực hiện từ các quỹ này không được phân loại theo các tiêuchí như các khoản chi ngân sách, từ đó làm ảnh hưởng đến tính đầy đủ, chính xác củaviệc phân tích các chương trình chi tiêu của Chính phủ Hơn thế nữa, sự hiện diện củaquá nhiều các loại quỹ tài chính nhà nước trong nền kinh tế sẽ làm cho nguồn lực tàichính nhà nước bị phân tán, tính minh bạch của ngân sách vì thế cũng sẽ bị hạn chế.Tài chính các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: các cơ quan hành chính, đơn vị sựnghiệp thuộc bộ máy nhà nước là những đơn vị có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ côngcộng cho xã hội Nguồn tài chính cho các đơn vị này hoạt động chủ yếu dựa vào nhữngkhoản cấp phát theo chế độ từ NSNN Ngoài ra, còn một số khoản thu khác có nguồngốc từ NSNN, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, hoặc từ quyên góp, tặng, biếukhông phải nộp NSNN

Giữa NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và tài chính các cơ quan hành chính, đơn

vị sự nghiệp luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó NSNN có vai trò quan trọng vàchi phối các thành tố khác Một bộ phận rất lớn của chi NSNN được các cơ quan hànhchính, đơn vị sự nghiệp sử dụng trực tiếp, do đó, hiệu quả tài chính của các khu vực này

có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chi NSNN Ngược lại, quy mô và hiệu quả củaNSNN cũng sẽ quyết định, chi phối tiềm lực và hiệu quả tài chính các đơn vị hànhchính, sự nghiệp

3 Vai trò của Tài chính công

Trong thực tế, NSNN có vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính công Nếukhông có NSNN, thì Tài chính công không thể đáp ứng các nhu cầu về nguồn lực đểNhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định xã hội, an ninhquốc phòng

NSNN giúp Tài chính công đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máyNhà nước

Trang 7

Để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy Nhà nước cần phải có nguồn tàichính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu Các nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nướcđược đáp ứng bởi NSNN Vai trò kể trên được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

Một là, khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính để đáp ứng đầy đủ,kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển

Hai là, phân phối các nguồn tài chính đã tập trung được vào tay Nhà nước cho cácnhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Ba là, kiểm tra giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối được

sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầucủa quản lý Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội

NSNN đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Thứ nhất, TCC có vai trò chi phối các hoạt động của khu vực phi Nhà nướcthông qua thu chi NSNN Một mặt, doanh nghiệp có nhiệm vụ nộp thuế để tạo nguồnthu NSNN, đóng góp cho việc thực hiện các nhu cầu chung của xã hội Mặt khác,với quy mô lớn NSNN, TCC có thể đầu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội tạo thuận lợi cho kinh doanh sản xuất, đồng thời có thể thực hiện sự trợ giúp vềtài chính nhằm duy trì và đẩy mạnh hoạt động

Thứ hai, TCC có vai trò hướng dẫn các hoạt động của khu vực phi Nhà nước.Chẳng hạn, chính sách thuế có tác dụng hướng dẫn đầu tư, hướng dẫn tiêu dùng, đầu tưcủa Nhà nước có tác dụng “châm ngòi” thu hút đầu tư và hướng dẫn đầu tư của khu vựcphi Nhà nước…

Thứ ba, TCC có vai trò điều chỉnh các hoạt động của khu vực phi Nhà nước Vaitrò này được thể hiện, thông qua hoạt động kiểm tra NSNN có thể phát hiện nhữngđiểm bất hợp lý, những sự chệch hướng của các hiện tượng thu, chi trong các hoạt độngtạo lập, phân phối và sử dụng NSNN, từ đó, đưa ra các biện pháp cứng rắn, cũng nhưđiều chỉnh Luật đảm bảo quản lý chặt chẽ việc thu chi NS và nâng cao hiệu quả của việc

sử dụng chúng

NSNN hỗ trợ TCC trong việc thực hiện các mục tiêu của kinh tế vĩ mô

Thứ nhất, vai trò kinh tế của TCC: TCC đóng vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả của các hoạt độngkinh tế xã hội Vai trò này được phát huy nhờ vào việc vận dụng chức năng phân bổnguồn lực của NSNN trong hoạt động thực tiễn

Trang 8

Thông qua công cụ thuế với các mức thuế suất khác nhau và ưu đãi về thuế, NNđịnh hướng đầu tư; điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế , kích thích hoặc hạn chế sảnxuất kinh doanh theo ngành hoặc theo sản phẩm…

Thông qua hoạt động phân phối NSNN cho xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư vàocác ngành then chốt, các công trình mũi nhọn, hình thành các DNNN, hỗ trợ tàichính cho các doanh nghiệp cần nâng đỡ khuyến khích (qua biện pháp trợ giá,trợ cấp…), TCC góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh,góp phần hình thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế - xã hội, thúc đẩykinh tế phát triển và tăng trưởng

Thứ hai, vai trò xã hội của TCC: TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thựchiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội

Vai trò này được thể hiện thông qua việc sử dụng các công cụ thu, chi của NSNN

để điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư (giảm bớt các thu nhập cao và nâng

đỡ các thu nhập thấp), giảm bớt những bất hợp lý trong phân phối, đảm bảo công bằngtrong phân phối và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội đáp ứng các mục tiêu xãhội của kinh tế vĩ mô

Để giảm bớt thu nhập cao, công cụ thuế được sử dụng với chức năng tái phânphối thu nhập : Đánh thuế luỹ tiến vào thu nhập cao, đánh thuế tiêu thụ đặc biệt caovào hàng hóa xa xỉ Giảm thuế cho những hàng hoá thiết yếu đồng thời sử dụngcông cụ chi NS vào việc trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu và trợ cấp xã hội chonhững người có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn

Trong việc giải quyết các đề xã hội, NSNN được sử dụng để tài trợ cho phát triểncác dịch vụ công cộng như văn hoá, giáo dục, y tế, đặc biệt là dịch vụ nhà ở, tài trợ choviệc thực hiện các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; hỗ trợ tài chính cho việcthực hiện các biện pháp phòng chống các tệ nạn xã hội; hỗ trợ tài chính cho giải quyếtviệc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

Thứ ba, TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu ổn định củakinh tế vĩ mô

Sự phát triển ổn định của một nền kinh tế được đánh giá trên nhiều tiêu chí như:Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững; duy trì việc sử dụng lao động

ở tỷ lệ cao; thực hiện được cân đối cán cân thanh toán quốc tế; hạn chế sự tăng giá độtngột, đồng loạt và kéo dài tức là cầm giữ được lạm phát ở mức vừa phải…

Trang 9

Do đó, NSNN luôn là biện pháp để TCC can thiệp kịp thời vào thị trường bằngcách : Tạo lập các quỹ dự trữ về hàng hoá và tài chính nhằm đề phòng và ứng phó vớinhững biến động của thị trường; tạo lập quỹ bình ổn giá; tạo lập và sử dụng quỹ quốcgia hỗ trợ việc làm…

Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, biện pháp đưa ra là: Cắt giảm chitiêu Ngân sách, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư; …

Tóm lại, vai trò của TCC là rất quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội của mỗinước Để phát huy hết vai trò của TCC, thì NSNN chính là nội dụng quan trọng hàngđầu đảm bảo cho TCC thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của NN, giúp phát triểnkinh tế, ổn định xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng

4 Tính quyền lực của tài chính công

Tài chính công là các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước phản ánh cácmối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹtiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước đốivới xã hội

Xuất phát từ khái niệm trên, ta có thể thấy đặc trưng của tài chính công là:

Tài chính công luôn gắn với quyền lực chính trị của nhà nước, thể hiện tínhcưỡng chế bằng luật lệ do nhà nước quy định và mang tính không hoàn trả là chủ yếu

Tài chính công thuộc sở hữu nhà nước, do đó, nhà nước là chủ thể duy nhất quyếtđinh việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của mình Ở Việt Nam, Quốc hội - cơ quanquyền lực nhà nước cao nhất – là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độcác khoản chi của ngân sách nhà nước tương ứng với những nhiệm vụ đã đề ra

Nguồn thu của tài chính công bao gồm thuế, phí, lệ phí, tín dụng nhà nước Việcchi tiêu quỹ tiền tệ này gắn với việc duy trì và phát huy hiệu lực của bộ máy nhà nướccũng như thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà nhà nước đảm nhận

Từ những đặc trưng trên của tài chính công ta có thể thấy tính quyền lực của tàichính công

5 Những khuyết tật của cơ chế thị trường và sự can thiệp của Chính phủ

Cơ chế thị trường là tổng thể các yếu tố cung, cầu, giá cả và thị trường cùng cácmối quan hệ cơ bản vận động dưới sự điểu tiết của các quy luật thị trường trong môitrường cạnh tranh nhằm mục tiêu duy nhất là lợi nhuận

Trang 10

Cơ chế thị trường có ưu điểm là tự do kinh doanh, khuyến khích cạnh tranh,thông qua thị trường mà phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, phát huy đếnmức cao nhất các tài năng sáng tạo

Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng bộc lộ những khuyết điểm cần khắc phục như:

Cơ chế thị trường chỉ phát huy tác dụng khi có sự kiểm soát của cạnh tranh hoànhảo, khi xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo thì hiệu lực của cơ chế thị trường sẽ bịgiảm Chẳng hạn khi xuất hiện độc quyền, các nhà độc quyền có thể giảm sản lượng,tăng giá để thu lợi nhuận cao, mặt khác, khi xuất hiện độc quyền, thì không có sứ ép củacạnh tranh đối với việc đổi mới kỹ thuật

Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì vậy họ có thểlạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con người, do đóhiệu quả kinh tế - xã hội không được đảm bảo

Phân phối thu nhập không công bằng Sự tác động của cơ chế thị trường sẽ dẫnđến sự phân hóa giàu nghèo, sự phân cực về của cải, tác động xấu đến đạo đức và tìnhngười

Một nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết thuần túy khó tránh khỏi nhữngthăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chất chu kỳ và thất nghiệp

Nguyên nhân dẫn đến những thất bại, khuyết tật của thị trường là do: Sức mạnhthị trường; Thông tin không hoàn hảo; Ngoại ứng; Cung cấp hàng hóa công cộng; Phânphối thu nhập không công bằng…

Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vậnhành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, trong đó, Chính phủ đóng vaitrò đặc biệt quan trọng

Chính phủ là tổ chức mang tính giai cấp được thiết lập để thực thi những quyềnlực nhất định, điều tiết hành vi của các tổ chức cá nhân sống trong xã hội, nhằm phục vụlợi ích chung của xã hội đó và tài trợ cho việc cung cáp những hàng hoá dịch vụ thiếtyếu mà xã hội có nhu cầu

Chính phủ thể hiện vai trò điều tiết, khắc phục những khuyết tật của thị trườngtrong việc can thiệp vào những nội dung như: Đánh thuế vào từng đơn vị sản phẩm; Quiđịnh chuẩn ô nhiễm; Thu phí gây ô nhiễm; Cấp giấy phép xả chất thải, có thể mua, bán,chuyển nhượng được

Trang 11

Ví dụ như vụ Công ty Vedan Việt Nam vi phạm các quy định của pháp luật vềbảo vệ môi trường xả nước thải ra sông Thị Vải gây ô nhiễm môi trường Và ngày 6tháng 10, Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên Môi trường ra quyết định xử phạt vi phạmhành chính về bảo vệ môi trường đối với Vedan với tổng số tiền phạt là 267,5 triệuđồng, buộc truy nộp phí bảo vệ môi trường hơn 127 tỉ đồng

Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện các giải phát khác can thiệp vào vấn đề môitrường như xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng khu công nghiệp xa khu dân

cư, xây dựng kỹ thuật xử lý rác thải…

Một vai trò quan trọng của Chính phủ trong việc can thiệp vào vấn đề bảo vệ môitrường đó là việc đánh thuế về môi trường Tác động của thuế là đánh vào ý thức bảo vệmôi trường của mỗi cá nhân trong xã hội Số tiền thuế sẽ sử dụng để khắc phục nhữnghậu quả của ô nhiễm môi trường cũng như bảo vệ lợi ích cho những người dân sống gầnkhu bị ô nhiễm

Chính phủ thể hiện vai trò can thiệp vào đời sống kinh tế - xã hội bằng việc cungcấp hiệu quả hàng hóa công cộng hay đảm bảo phân phối thu nhập công bằng nhằmgiảm sự bất công trong xã hội

Các giải pháp Chính phủ thực hiện nhằm đảm bảo phân phối thu nhập công bằngnhư đánh thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao, đánh thuế tiêu thụ đặcbiệt đối với những hàng hóa trong danh mục hàng hóa bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt.Đồng thời, thực hiện chính sách trợ cấp cho người nghèo, người có thu nhập thấp, điềuchỉnh thu nhập thông qua mức lương tối thiểu…

Trang 12

6 Vai trò của tài chính công trong hệ thống tài chính Việt Nam

Hệ thống tài chính của nước ta bao gồm các khoản sau đây:

* Ngân sách Nhà nước (NSNN)

Là kế hoạch tài chính cơ bản của quốc gia, NSNN bao gồm NSNN trung ương

và NSNN địa phương, phương thức huy động của ngân sách nhà nước thể hiện cáckhoản thu phần lớn là mang tính chất cấp phát không hoàn lại trực tiếp Mọi hoạt độngcủa NSNN đều là hoạt động phân phối các nguồn tài chính nhằm không ngừng tái sảnxuất mở rộng, thường xuyên nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân và đảmbảo an ninh, quốc phòng

* Các định chế tài chính trung gian

Các tổ chức tín dụng, các Công ty tài chính, các quỹ đầu tư các tổ chức nàyđứng ra huy động các nguồn tài chính nhàn rỗi theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và

có lợi tức Hoạt động của các định chế tài chính trung gian góp phần tạo ra các nguồntài chính đáp ứng yeu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác, giữa doanhnghiệp với NSNN, với các tầng lớp dân cư và tổ chức xã hội tạo nên thị trường tài chính

đa dạng trong nền kinh tế

* Tài chính của các tổ chức xã hội dân cư

Bao gồm tài chính của các tổ chức chính trị, xã hội các đoàn thể xã hội đượcNSNN Nhà nước đảm bảo, còn kinh phí của các tổ chức khác, các hội nghề nghiệp sẽhoạt động bằng nguồn đóng góp hội phí, quyên góp ủng hộ của dân cư, các tổ chức xãhội và các tổ chức trong hộ gia đình, các quỹ tiền tệ hình thành từ thu nhập tiền lươngcủa các thành viên trong gia đình do lao động sản xuất kinh doanh hoặc do thừa kế tàisản

Đặc trưng của khâu tài chính này kà các quỹ tiền tệ chủ yếu chi cho tiêu dùng.Khi nhàn rỗi có thể tham gia thị trường tài chính qua các định chế tài chính trung gianhoặc có thể góp cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu

* Tài chính các doanh nghiệp

Bao gồm: tài chính các đơn vị, các tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụthuộc mọi thành phần kinh tế

Trong hệ thống tài chính nước ta, ngân sách giữ vai trò chủ đạo Các định chế tàichính trung gian có vai trò hỗ trợ Tài chính đôi với các tổ chức xã hội và hộ dân cư bổ

Trang 13

sung nhằm tăng nguồn lực tài chính cho nền kinh tế, còn tài chính doanh nghiệp là khâu

cơ sở của cả hệ thống Sự hoạt động có hiệu quả của tài chính doanh nghiệp có tác dụngcủng cố hệ thống tài chính quốc gia

Trong hệ thống tài chính quốc gia, tài chính công giữ vai trò trung tâm điều tiếtchung nền kinh tế - xã hội Tài chính công có thể tác động tích cực kích thích hoặc tácđộng tiêu cực kìm hãm sự phát triển của tài chính khu vực tư trong đó có tài chính cácdoanh nghiệp và tài chính các tổ chức xã hội dân cư

Cụ thể, Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải phápchủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đãđưa ra chủ trương “thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ…” Trong quá trình thực hiệnchủ trương này, bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của chính sách này là tình trạngkhát vốn của nền kinh tế đã đẩy nhiều doanh nghiệp vào tình cảnh khó khăn

Một là, nhiều DN không tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Theođiều tra của Tổng cục Thống kê, đến đầu tháng 5/2012 có hơn 42% số DN không vayvốn trong hoạt động kinh doanh Trong số 58% DN có vay vốn, thì hơn 50% trong số họvay vốn từ ngân hàng thương mại nhà nước, gần 30% có vay vốn từ ngân hàng thươngmại cổ phần, số còn lại phải vay vốn từ bạn bè, người thân

Có khá nhiều rào cản đối với DN trong tiếp cận vốn vay ngân hàng Đầu tiên vàlớn nhất là lãi suất cao; gần 40% số DN gặp phải rào cản này Tiếp sau là thủ tục phiền

hà (28,5% DN), không có thế chấp (gần 19% DN), phải trả thêm phụ phí (gần 10% DN)

và cuối cùng là không có vốn đối ứng (khoảng 7% DN)

Về lãi suất tín dụng, kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy, phần lớn

DN đã vay vốn với lãi suất rất cao trong nửa đầu năm 2012, cụ thể: 78,5% số DN đãphải trả mức lãi suất từ 16% trở lên; hơn một nửa số DN phải trả mức lãi suất từ 18%trở lên Ngoài ra, việc khống chế dư nợ phi sản xuất khoảng 16% theo chính sách thắtchặt tiền tệ của NHNN nhằm hướng dòng vốn vào khu vực trực tiếp làm ra của cải vậtchất… là điều cần thiết, song do tính chất cào bằng nên những dự án cần ưu tiên đầu tưnhư phân khúc nhà ở xã hội, nhà ở cho tái định cư, nhà ở cho người thu nhập thấp theotinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ về đảm bảo an sinh xã hội cũng bị ảnhhưởng nghiêm trọng trong nửa đầu năm 2012

Hai là, lãi vay phải trả đã đẩy chi phí vốn của DN tăng cao, dẫn đến hiệu quả hoạtđộng kinh doanh suy giảm: Cuối năm 2012, đầu năm 2013, lãi suất tăng góp phần làm

Trang 14

cho chi phí đầu vào của DN tăng theo Trong khi đó, tình hình kinh doanh của các DNlại hết sức khó khăn, thị trường đầu ra bị thu hẹp, hàng tồn kho tăng nhanh, hiệu quả sửdụng vốn của hầu hết các DN ở mức rất thấp.

Không những kinh doanh thua lỗ, nhiều DN thậm chí phải ngừng hoạt động.Chưa khi nào con số các DN đóng cửa cao như hai năm qua Số DN phá sản và đóngcửa tăng vọt Năm 2011, có khoảng 53.000 DN, năm 2012 có khoảng 58.000 DN

Ba là, tình trạng không trả được nợ của các DN đã dẫn đến việc chiếm dụng vốnlẫn nhau ngày càng trầm trọng, nợ xấu ngân hàng tăng nhanh: Có thể nói, cơ cấu vốncủa các DN Việt Nam hai năm qua rất rủi ro Theo báo cáo tại hội nghị đầu tư 2012 dobáo Nhịp cầu Đầu tư tổ chức ngày 16/8/2012, tại TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ nợ phải trả trênvốn chủ sở hữu bình quân quý II/2012 của 647 công ty phi tài chính niêm yết, lên tới1,53 lần, ngành xây dựng và bất động sản tổng nợ phải trả gấp hơn 2 lần vốn chủ sở hữu(207%) và thấp nhất là ngành hàng tiêu dùng với 80%

Cũng theo báo cáo khảo sát của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chothấy 16% trong số 70 DN khảo sát đang nằm trong tình trạng phải gia hạn nợ gốc và lãivay Điều này dẫn đến nợ xấu của các NHTM gia tăng

Theo số liệu của NHNN, nợ xấu năm 2009 của Việt Nam vào khoảng 45.000 tỷđồng, chiếm tỷ lệ 2,5% tổng dư nợ, năm 2010 khoảng 38.000 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 2,1%,năm 2011 khoảng 78.000 tỷ đồng, chiếm 3,2%, đến tháng 3/2012 là 202.000 tỷ đồng,chiếm 8,6% tổng dư nợ (số liệu công bố ngày 12/7/2012 của NHNN) Nợ xấu là nguyênnhân cơ bản làm các luồng vốn trong nền kinh tế bị tắc nghẽn, dòng tiền không luânchuyển được càng làm cho trình trạng khó khăn thêm trầm trọng

Một ví dụ khác về chính sách tăng giá điện trong năm 2011 của Chính phủ Đó làlần đầu tiên, giá điện tăng tới 2 lần trong một năm, tổng tăng 20,28% Lần thứ nhất, mứctăng là 15,28% vào ngày 1/3, cao nhất kể từ năm 2006 so với suốt 4 năm qua

Sau đó, Chính phủ đã giao quyền cho EVN được tự được tăng giá điện trongphạm vi 5%, 3 tháng mỗi Và EVN đã thực thị điều đó một cách rất hiệu quả Ngày19/12, EVN bất ngờ thông cáo tăng 5% và áp dụng ngày vào hôm sau 20/12/2011 Cútăng giá này khiến người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội không còn cơ hội bày tỏ

ý kiến như những lần trước Điều này đã gay khó khăn đến đời sống sinh hoạt của ngườidân đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất cần sủ dụng nhiều điện năng

Trang 15

Một chính sách về thuế khác trong năm 2011 đã khiến nhiều doanh nghiệp otođịnh rời bỏ Việt Nam Đó là việc giữa năm 2011, cơ quan hải quan phát lệnh truy thuthuế nhập khẩu linh kiện ô tô tới hàng loạt hãng xe liên doanh trong nước Theo đó,hãng xe ô tô Honda Việt Nam sẽ bị truy thu tới 3.340 tỷ đồng, Ford Việt Nam khoảng

32 tỷ đồng, Toyota khoảng 2,7 tỷ đồng Hãng bị "nặng" nhất là Honda bắt đầu lêntiếng dọa rời khỏi Việt Nam

Đây là khoảng chênh lệch giữa thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc là 82% với mứcthuế nhập khẩu từng linh kiện chi tiết ô tô chỉ trong khoảng từ 0-27% Nguyên nhân là

do trong suốt 5 năm gần đây, các hãng xe trên đã gian lận, nhập linh kiện không đảmbảo đủ độ rời rạc, đáng lẽ phải bị áp thuế theo thuế suất xe nguyên chiếc

Và hệ quả là ngay sau đó, hàng loạt đơn thư của các hãng ô tô gửi đi Phía cácdoanh nghiệp FDI trên đều dẫn chiếu, việc thông tư hướng dẫn chính sách thuế áp dụngtiêu chuẩn rời rạc ban hành từ năm 2005 đã quá lỗi thời và cần sửa đổi Các đại sứ quánnhư sứ quán Nhật Bản đều vào cuộc

Bốn bộ quản lý gồm bộ Tài chính - KH&CN - GTVT - Công Thương phải họpkhẩn để giải quyết Và theo sự đồng ý của Thủ tướng, sự việc đã đi hồi kết với giải pháptình thế bằng việc đưa ra cách tính thuế mới: áp thuế suất ưu đãi nếu tổng giá trị của cáclinh kiện nhập khẩu chưa đảm bảo mức độ rời rạc không vượt quá 10% trên tổng giá trịcủa tất cả linh kiện phụ tùng cấu tạo lên một chiếc xe hoàn chỉnh Các hãng xe cũngthoát tội truy thu thuế

Như vậy, ngoài vai trò tích cực vốn có của tài chính công trong việc điều tiết kinh

tế vĩ mô, đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế thì cần phải chú ý đếntác động của việc áp dụng các chính sách kinh tế đến các các thành phần kinh tế kháctrong xã hội Trong đó, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội dân cư, các cá nhân, hộgia đình để đảm bảo hài hòa lợi ích của mỗi người dân trong toàn xã hội

Trang 16

Câu hỏi 2:

Hãy chứng minh bằng lý luận và thực tiễn vai trò quan trọng của ngân sách nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước?

Bài làm:

1 Khái niệm ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quannhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Theo Luật ngân sách nhà nước Việt Namnăm 2002)

2 Vai trò của ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng không thể thiếu đối với nền kinh tếmỗi quốc gia Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo cácnhu cầu chi tiêu của nhà nước, là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội, thúc đẩyquá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Vai trò thứ nhất: ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảmbảo các nhu cầu chi tiêu của nhà nước

Đây là vai trò lịch sử mà trong bất kỳ cơ chế nào, thời đại nào ngân sách nhànước cũng cần thực hiện Vai trò này được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngânsách nhà nước do mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực của nhà nước để thực hiện mục tiêuxác định đều cần đến nguồn tài chính từ việc thu thuế và các hình thức thu ngoài thuế

Tuy nhiên, việc huy động nguồn tài chính này cần phải quan tâm đến ba vấn đề

cơ bản Đó là:

Một, mức động viên vào ngân sách nhà nước đối với các thành viên trong xã hộibằng hình thức thu thuế và ngoài thuế cần phải hợp lý Mức thu cao hay thấp đều có tácđộng tiêu cực

Hai, tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước đối với GDP vừa đảm bảo hợp lý vớitốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm bảo cho đơn vị cơ sở có điều kiện tích tụvốn để mở rộng, tái sản xuất

Ba, các công cụ kinh tế được sử dụng để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước

và thực hiện các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước

Vai trò thứ hai: Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xãhội, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Ngày đăng: 18/08/2016, 15:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ hệ thống tài chính Việt Nam: - BÀI KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN:  MÔN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG
Sơ đồ h ệ thống tài chính Việt Nam: (Trang 3)
Sơ đồ tổ chức bộ máy tài chính công - BÀI KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN:  MÔN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG
Sơ đồ t ổ chức bộ máy tài chính công (Trang 4)
Sơ đồ tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước: - BÀI KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN:  MÔN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG
Sơ đồ t ổ chức hệ thống ngân sách nhà nước: (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w