1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ

72 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Tế Học Vi Mô Và Những Vấn Đề Kinh Tế Cơ Bản Của Doanh Nghiệp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại bài giảng
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 733 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN HỌC KINH TẾ HỌC VI MÔ LÀ MÔN HỌC CƠ SỞ NGÀNH CHO NHỮNG SINH VIÊN VÀ GIÁO VIÊN NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ HỌC, QUẢN TRỊ KINH DOANH, KẾ TOÁN TÀI CHÍNH, KINH TẾ DU LỊCH DỊCH VỤ, QUẢN TRỊ KINH DOANG LỮ HÀNH

Trang 1

CHƯƠNG I KINH TẾ HỌC VI MÔ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN

CỦA DOANH NGHIỆP

* NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG

1.1 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC VI MÔ

1.1.1 Kinh tế học vi mô và mối quan hệ với kinh tế học vĩ mô

Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu cách thức xã hội phân bổ các nguồn lực

khan hiếm để sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ có giá trị và phân phối chúng cho cácthành viên trong xã hội

Tính cấp thiết của kinh tế học là nhận thức được thực tế của sự khan hiếm và dựkiến tổ chức xã hội như thế nào để sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả nhất

Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, kinh tế học được chia thành: Kinh tế học vi mô

và kinh tế học vĩ mô.

Kinh tế học vi mô: Là môn học nghiên cứu cách thức ra quyết định của các chủ thể

kinh tế cũng như sự tương tác của họ trên thị trường cụ thể,

Kinh tế học vi mô (gọi tắt là kinh tế vi mô) nghiên cứu bộ phận, các chi tiết cấu

thành bức tranh lớn Các bộ phận, chi tiết đó được cấu thành đồng bộ thì bức tranh lớnmới đẹp, cũng như nền kinh tế hoặc cơ thể sống mới phát triển: Những tỉ Đô – la thu nhậpquốc dân hay tổng sản phẩm là vô nghĩa nếu chúng không tương xứng với hàng nghìn thứhàng hóa, dịch vụ có ích được sản xuất ra trong các doanh nghiệp, mà con người thực sựcần đến và mong muốn

Kinh tế vi mô nghiên cứu những vấn đề tiêu dùng cá nhân, cung, cầu, sản xuất, chi

phí, giá cả thị trường, lợi nhuận, cạnh tranh của từng tế bào kinh tế Còn kinh tế học vĩ môtìm hiểu để cải thiện kết quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Nó nghiên cứu cả mộtbức tranh lớn Kinh tế vĩ mô quan tâm đến mục tiêu kinh tế của cả một quốc gia

Kinh tế học vi mô tập trung nghiên cứu đến từng cá thể và các doanh nghiệp mà

thực tế đã tạo nên nền kinh tế Kinh tế vi mô nghiên cứu các hành vi cụ thể của từng cánhân, từng doanh nghiệp trong việc lựa chọn và quyết định ba vấn đề kinh tế cơ bản chomình là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và phân phối ra sao để có thể đứng vững vàphát triển cạnh tranh trên thị trường Nói một cách cụ thể là kinh tế học vi mô nghiên cứu

* MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG

- Định nghĩa được kinh tế vi mô

- Phân biệt được kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô

- Xác định được 3 vấn đề cơ bản của mọi tổ chức kinh tế

- Trình bày được khái niệm chi phí cơ hội và nắm rõ quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần để lựa chọn kinh tế tối ưu

Trang 2

xem họ đạt được mục đích với nguồn tài nguyên hạn chế bằng cách nào và sự tác độngcủa họ đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân ra sao.

Kinh tế học vĩ mô: Tập trung nghiên cứu hoạt động của toàn bộ nền kinh tế như

nghiên cứu ảnh hưởng vay nợ của Chính phủ đến tăng trưởng kinh tế của một đất nước,thay đổi của tỉ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát,nghiên cứu tác động của các chính sách nhằm ổn định nền kinh tế

Mối quan hệ giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô:

Kinh tế vi mô & kinh tế học vĩ mô tuy khác nhau nhưng đều là nội dung quan trọngcủa kinh tế học, không thể chia cắt mà bổ sung cho nhau, tạo thành hệ thống kiến thứckinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước

Kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo điều kiện cho kinh tế vi mô pháttriển Thực tế đã chứng minh, kết quả của kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào các hành vi củakinh tế vi mô, kinh tế quốc dân phụ thuộc vào sự phát triển của các doanh nghiệp, của các

tế bào kinh tế trong sự tác động ảnh hưởng của nền kinh tế

1.1.2 Đối tượng và nội dung cơ bản của kinh tế học vi mô

Kinh tế học có hai bộ phận quan trọng là kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô.Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của mộtquốc gia với tư cách như một tổng thể thống nhất Kinh tế vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọncủa mỗi quốc gia trước một vấn đề kinh tế - xã hội cơ bản như tăng trưởng kinh tế, lạmphát, thất nghiệp…

Kinh tế học vi mô là môn khoa học nghiên cứu và giải quyết ba vấn đề kinh tế cơbản của một doanh nghiệp trong nền kinh tế: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sảnxuất cho ai

Ba vấn đề kinh tế cơ bản trên được thể hiện ở những vấn đề về tiêu dùng cá nhân,cung, cầu hàng hoá, sản xuất và chi phí, giá cả thị trường, canh tranh, lợi nhuận của từngdoanh nghiệp

Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng, hành vi của doanh nghiệp

và sự tác động của chúng đến nền kinh tế trên cơ sở của những qui luật, những xu thế vậnđộng tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô

Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô tuy khác nhau nhưng đều là những nộidung quan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt mà có quan hệ, bổ sung cho nhau tạothành hệ thống kiến thức về kinh thị trường có sự điều tiết của nhà nước

Kinh tế vi mô nghiên cứu các nội dung cơ bản sau:

- Doanh nghiệp và những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, lý thuyết lựa chọnkinh tế tối ưu

- Cung cầu hàng hoá, các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu hàng, luật cầu, sự thay đổicủa cung cầu hàng hoá và giá cả trên thị trường

Trang 2

Trang 3

- Lý thuyết về người tiêu dùng bao gồm: lý thuyết về lợi ích, lý thuyết về đường ngânsách, đường cong đồng ích, về sự co dãn của cung và cầu hàng hoá nhằm làm rõnhững vấn đề liên quan đến hành vi lựa chọn của của người tiêu dùng.

- Lý thuyết về sản xuất và chi phí, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sản xuất củadoanh nghiệp như: hàm sản xuất, các yếu tố đầu vào, năng suất lao động vàvốn

- Hành vi ứng xử của doanh nghiệp để dạt lợi nhuận tối đa trong thị trường cạnh tranh

và độc quyền

- Những hạn chế của kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ trong việc điều tiết cáchoạt động kinh tế ở các doanh nghiệp để nền kinh tế phát triển ổn định và đảm bảocông bằng xã hội

1.1.3 Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô

Kinh tế học vi mô là môn khoa học xã hội sử dụng phương pháp nghiên cứu giốngnhư những môn khoa học xã hội khác và có sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể, phùhợp với đặt thù của môn học

Những phương pháp chung

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận, phương pháp luận và phương pháp lựa chọnkinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô Muốn vậy phải nắm vững các khái niệm,định nghĩa, nội dung và công thức toán học, cơ sở hình thành các hoạt động kinh tế vi mô

và quan trọng là rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của chúng

+ Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực hành để có thể giảiquyết những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp Việc phân tích và giải quyết tìnhhuống về mặt lý thuyết của các hoạt động kinh tế vi mô để nắm vững lý thuyết là rất cầnthiết

+ Nhiên cứu lý luận phải gắn liền với giải thích các vấn đề thực tiễn của các hoạtđộng kinh tế học vi mô của các doanh nghiệp ở Việt Nam và các nước Những kết quảthu được sẽ là minh chứng và cơ sở để hoàn thiện những vấn đề về lý luận, phương phápluận của kinh tế học vi mô

Trang 4

1.2.1 Doanh nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp

Trên góc độ nghiên cứu của kinh tế học, doanh nghiệp được hiểu là đơn vị kinhdoanh hàng hoá dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa và hiệuquả kinh tế – xã hội cao nhất

Theo luật doanh nghiệp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, cótrụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mụcđích thực hiện ổn đinh các hoạt động kinh doanh

1.2.1.2 Mục tiêu của doanh nghiệp

Trong kinh tế thị trường, mục tiêu của doanh nghiệp không phải chỉ có một mà baogồm cả hệ thống mục tiêu bao gồm: tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu, mở rộngthị trường, nâng cao uy tín trên thị trường, an toàn trong kinh doanh, bảo đảm khôngngừng nâng cao thu nhập cho doanh nghiệp và người lao động, làm tăng giá trị doanhnghiệp… Trong đó mục cơ bản chi phối các mục tiêu khác và quan trọng nhất là mục tiêuđối đa hoá lợi nhuận Bởi lẽ đó là điều kiện cơ bản để thực hiện các mục tiêu khác và nó

là mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh

1.2.1.3 Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp

Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là khoảng thời gian từ lúc doanh nghiệp bắtđầu khảo sát nghiên cứu thị trường về hàng hoá đến lúc bán xong và thu tiền về Chu kỳkinh doanh chính là tổng thời gian của các giai đoạn của quá trình kinh doanh Tuỳ theoloại hình kinh doanh mà chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp có thể bao gồm các khoảngthời gian sau:

- Thời gian nghiên cứu nhu cầu thị trường để quyết định sản xuất cái gì, quyết địnhkinh doanh những loại hàng hoá dịch vụ nào phù hợp với nhu cầu của thị trường

- Thời gian chuẩn bị các yếu tố đầu vào, mua hàng hoá dịch vụ để chuẩn bị cho quátrình sản xuất kinh doanh,

- Thời gian sản xuất ra hàng hoá, thời gian mua hàng hoá chuẩn bị, sẵn sàng bán hànghoá

- Thời gian bán hàng hoá dịch vụ và thu tiền về

Rút ngắn chu kỳ kinh doanh là một trong những biện pháp quan trọng trong việcnâng cao hiệu quả kinh doanh như tăng tốc độ vòng quay của vốn, tăng công suất sửdụng máy móc thiết bị, giảm chi phí và tăng lợi nhuận Chính vì vậy nghiên cứu cáckhoảng thời gian của quá trình kinh doanh có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp doanhnghiệp tìm các biện pháp về kinh tế kỹ thuật thích hợp để rút ngắn chu kỳ kinh doanh

1.2.2 Những vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp

Trang 4

Trang 5

Thực tế phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới và Việt Nam đã cho thấy: Muốn

phát triển một doanh nghiệp đều phải giải quyết được ba vấn đề kinh tế cơ bản: Quyết định sản xuất cái gì, quyết định sản xuất như thế nào và quyết định sản xuất cho ai?

1.2.2.1 Quyết định sản xuất cái gì?

Sản xuất cái gì là việc lựa chọn sản xuất kinh doanh những loại hàng hoá dịch vụnào cho phù hợp với nhu cầu của con người, của xã hội đồng thời mang lại hiệu quả caocho doanh nghiệp

Để giải quyết vấn đề trên, nhà kinh doanh phải căn cứ và nhu cầu rất đa dạng vàphong phú về hàng hoá dịch vụ của người tiêu dùng Nhu cầu này có xu hướng ngày càngtăng cả về số lượng và chất lượng Trên thực tế, khả năng thanh toán cho nhu cầu thấphơn, cho nên xã hội và con người phải lựa chọn những loại nhu cầu có lợi Nhu cầu cókhả năng thanh toán của thị trường chính là tổng số nhu cầu có khả năng thanh toán của

xã hội, của người tiêu dùng Nhu cầu này chính là căn cứ để cho doanh nghiệp lựa chọn

và quyết định sản xuất cái gì để cung ứng trên thị trường

Bên cạnh việc lựa chọn sản xuất cái gì, doanh nghiệp phải quyết định sản xuất baonhiêu, cơ cấu thế nào, khi nào thì sản xuất và cung ứng là có ý nghĩa rất quan trọng Bởi

vì nhu cầu của xã hội đối với bất cứ mặt hàng nào cũng có giới hạn riêng và thời điểmnảy sinh nhu cầu theo từng loại hàng cũng khác nhau tuỳ vào loại hàng hoá cũng như cácyếu tố về mặt tâm lý, thói quên thị hiếu,…của người tiêu dùng Vì vậy, lựa chọn và quyếtđịnh sản xuất bao nhiêu, bao giờ thì sản xuất đúng đắn, phù hợp với năng lực sản xuấtcủa doanh nghiệp sẽ đảm bảo cho quá trình kinh doanh có hiệu quả

1.2.2.2 Quyết định sản xuất như thế nào?

Lựa chọn và quyết định sản xuất như thế nào có ý nghĩa rất lớn, tạo điều kiện chodoanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường và đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.Lợi nhuận là động cơ chính tác động, chi phối doanh nghiệp trong việc tìm kiếm và lựachọn những nguồn tài nguyên, trình độ công nghệ, phương pháp tổ chức và quản lý sảnxuất để đạt năng suất và chất lượng cao nhất với chi phí thấp nhất Trong điều kiện thunhập của xã hội có xu hướng ngày càng tăng thì chất lượng hàng hoá dịch vụ có ý nghĩaquyết định trong cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và thực hiện mục tiêu cơ bản củadoanh nghiệp

Trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới kỹthuật và công nghệ, không ngừng nâng cao trình độ quản lý kinh doanh và trình độ lànhnghề cho người lao động để đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm

1.2.2.3 Quyết định sản xuất cho ai?

Trong chiến lược kinh doanh, dựa vào khả năng mà doanh nghiệp cần phải lựachọn va quyết định khách hàng nào là đối tượng phục vụ để có thể đạt hiệu quả cao nhất,đồng thời đảm bảo được công bằng xã hội và tạo động lực kích thích cho sự phát triểnkinh tế xã hội

Trang 6

Trong nền kinh tế thị trường, giá cả của các yếu tố sản xuất và giá cả của hànghoá, dịch vụ do thị trường quyết định trên cơ sở quan hệ cung – cầu và các yếu tố khácnhư chất lượng, qui cách, nhãn hiệu… Trong đó chất lượng và giá cả của hàng hoá, dịch

vụ ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu có khả năng thanh toán của từng nhóm người tiêu dùng

có các mức thu nhập khác nhau Chính vì vậy việc lựa chọn và quyết đinh sản xuất hànghoá, dịch vụ để bán cho đối tượng nào, đoạn thị trường nào có ý nghĩa quyết định trongviệc chiếm lĩnh, mở rộng thị trường và đạt lợi nhuận cao nhất

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải lựa chọn và quyết định tối ưu bavấn đề kinh tế cơ bản trên Tuy nhiên, việc lựa chọn đó phụ thuộc vào điều kiện cụ thểcủa từng doanh nghiệp, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cũng như vai trò,mức độ can thiệp của chính phủ và chế độ chính trị của mỗi quốc gia

Lý thuyết lựa chọn là lý tìm cách lý giải cách thức mà mỗi doanh ngiệp đưa ra quyết

định của mình để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản nói trên và nó cố gắng giải thích tạisao họ lựa chọn như vậy

Khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn là khái niệm chi phí

cơ hội Đây là một ý tưởng đơn giản, nhưng khi vận dụng hết sức rộng rãi trong cuộcsống, nếu chúng ta hiểu rõ khái niệm này, thì ta có được một công cụ để xử lý một loạtcác vấn đề kinh tế khác nhau, một loạt tình huống khác nhau xảy ra trong hoạt động kinhtế

Chi phí cơ hội là khoản bị mất mát do không sử dụng nguồn lực ( nhân công hoặc

vốn) theo phương thức sử dụng thay thế tốt nhất Chi phí cơ hội là chi phí của những cơhội bị bỏ qua khi đưa ra quyết định lựa chọn kinh tế

Ví dụ 1: Một sinh viên trước khi đi học, ở nhà anh ta làm việc sữa xe đạp với thunhập 500.000đ/tháng Khi anh ta đi học ở thành phố, anh ta không còn khả năng làmthêm nữa Anh ta phải chịu chi phí học tập (bao gồm học phí, tiền ăn ở và sinh hoạt) là1.500.000đ/tháng (chi phí này được gọi là chi phí hiện) Như vậy, khi đi học anh ta đãphải đã hy sinh công việc làm thêm ở nhà và anh ta đã chịu thiệt 500.000đ/tháng (chi phínày được gọi là chi phí ẩn) Chi phí cơ hội cho việc học Đại học của anh ta sẽ là phépcộng chi phí hiện với chi phí ẩn: 1.500.000đ + 500.000đ = 2.000.000đ/tháng

Trang 6

Trang 7

Ví dụ 2: Một thương gia đi công tác từ Hà Nội vào Huế phải tính toán lựa chọngiữa phương tiện tàu hỏa và máy bay Đi tàu hỏa tốn phí 500.000 đồng nhưng phải tốnthời gian là 15 giờ Đi máy bay tốn phí 1.000.000 đồng nhưng chỉ tốn thời gian 4giờ Biếtrằng mỗi giờ làm việc của thương gia trả công 60.000 đồng Rõ ràng là để ra quyết địnhlựa chọn, người thương gia phải tính toán chi phí cơ hội của cả hai phương án Nếu đimáy bay anh ta anh ta phải chịu 1.000.000 đồng chi phí hiện, nhưng anh ta còn phải chịuchi phí ẩn do anh ta mất 4 giờ đi máy bay Chi phí này là 240.000 đồng (4 giờ x 60.000đồng) Tổng chi phí cơ hội khi đi máy bay là 1,24 triệu đồng Nếu đi tàu hỏa, anh ta chịuchi phí cơ hội là 1,40 triệu đồng (bao gồm 500.000 đồng chi phí hiện cộng với 15 giờ x60.000 đồng = 900.000 đồng chi phí ẩn) Như vậy, đối với thương gia, đi tàu hỏa đắt hơn

và anh ta sẽ lựa chọn đi máy bay

Trong sản xuất, chi phí cơ hội cho một mặt hàng là số lượng của các mặt hàngkhác phải bỏ qua, không sản xuất để sản xuất thêm mặt hàng đó 1 đơn vị

Ví dụ: một công ty may hiện tại có khả năng sản xuất hai loại hàng hoá là áo sơ micung cấp cho thị trường nội địa và áo jacket xuất khẩu trong điều kiện các nguồn lực hiện

có không thể tăng thêm được (nhân công,vốn,…), nếu muốn tăng sản lượng của áo sơ milên buộc doanh nghiệp phải giảm sản lượng của áo jacket Như vậy, chi phí cơ hội của áo

sơ mi chính là số lượng áo jacket bị bỏ qua không sản xuất để sản xuất thêm một đơn vị

áo sơ mi

Chi phí cơ hội chính là loại chi phí tiềm ẩn, chi phí không thực chi, không phảnánh trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp

Khi nghiên cứu chi phí cơ hội, người ta đã phát hiện ra qui luật chi phí cơ hội ngàycàng tăng Qui luật này được phát biểu như sau: Để ngày càng có thêm một đơn vị củaloại hàng hoá nào đó, chúng ta phải bỏ qua môt lượng ngày càng lớn các loại hàng hoákhác ( trong điều kiện các yếu tố sản xuất khác không đổi)

Theo qui luật chi phí cơ hội ngày càng tăng doanh nghiệp sẽ lựa chọn và so sánhnhững lợi ích do sự lựa chọn đó đem lại và có tính đến chi phí của những cơ hội đã bỏqua Qui luật chi phí cơ hội ngày càng tăng chính làcăn cứ cho việc lựa chọn tối ưu củadoanh nghiệp và của nền kinh tế, tuy nhiên nó không phải là căn cứ duy nhất

Theo lý thuyết lựa chọn, sự lựa chọn là cần thiết bởi vì các nguồn lực đều có giớihạn Một doanh nghiệp chỉ có một số vốn nhất định, người tiêu dùng chỉ có một lượngthu nhập nhất định, mỗi quốc gia cũng chỉ có một số nguồn lực nhất định, nếu chúng ta

sử dụng vào mục đích này thì không thể sử dụng vào mục đích khác Sự lựa chọn là cóthể thực hiện được vì với một nguồn lực khan hiếm có thể được sử dụng vào mục địchnày hay mục đích khác Một doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều loại hàng hoá khácnhau, một loại hàng hoá có thể được sản xuất bằng nhiều cách khác nhau Do đó, vấn đềquan trọng là ở chỗ chúng ta phải tiến hành lựa chọn sao cho việc sử dụng các nguồn lựcmang lại hiệu quả cao nhất

Trang 8

1.3.1.2 Mục tiêu của sự lựa chọn

Trong sản xuất kinh doanh, các nguồn lực khan hiếm khác nhau có thể thay thếnhau nhưng tổng số các nguồn lực đều có một giới hạn nhất định Vì thế, doanh nghiệp sẽtiến hành lựa chọn sử dụng các nguồn lực với mục tiêu cơ bản nhất là đạt được lợi nhuậntối đa

Đối với người tiêu dùng, mục tiêu của sự lựa chọn tiêu dùng hàng hoá này hayhàng hoá khác là nhằm đạt được lợi ích tối đa Bởi vì sự tiêu dùng của họ bị giới hạn bởingân sách gia đình và giá cả hàng hoá, dịch vụ trên thị trường

1.3.2 Bản chất và phương pháp của lựa chọn tối ưu kinh tế

1.3.2.1 Bản chất của sự lựa chọn tối ưu kinh tế

Các nguồn lực luôn khan hiếm nên các doanh nghiệp không thể sản xuất mọi thứnhư mong muốn vô hạn của con người và xã hội Khi nguồn lực được dùng để sản xuấthàng hoá, dịch vụ này sẽ mất cơ hội để sản xuất hàng hoá, dịch vụ khác và ngược lại Do

đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải tiến hành lựa chọn để đạt hiệu quả kinh tế tối ưu trong giớihạn của nguồn lực hiện có

Bản chất của sự lựa chọn kinh tế là căn cứ vào nhu cầu vô hạn của con người, của xãhội để đề ra các quyết định tối ưu về sản xuất: sản xuất cái gì, sản như thế nào, sản xuấtcho ai trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có

1.3.2.2 Phương pháp tiến hành lựa chọn kinh tế

Đề lựa chọn kinh tế tối ưu, thông thường người ta sử dụng mô hình toán học với cácbài toán tối ưu Nhưng phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu có tính ràng buộc quan trọngnhất là đường giới hạn khả năng sản xuất

Đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết khối lượng tối đa của một loại hàng hoá

mà một doanh nghiệp hay một nền kinh tế có thể sản xuất được tương ứng với mỗi mứcsản lượng của mặt hàng kia trong giới hạn của nguồn lực hiện có

Ví dụ: Giới hạn khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và thiết bị cơ bản của một doanhnghiệp như sau:

Khả năng Hàng tiêu dùng Thiết bị cơ bảnA

BCDE

43,5210

0355,66

Thiết lập một hệ trục toạ độ vuông góc trong đó trục tung biểu thị cho hàng tiêu , trụchoành biểu thị cho thiết bị cơ bản Từ số liệu của ví dụ trên ta có thể vẽ đường giới hạnkhả năng sản xuất như sau:

Trang 8

Trang 9

Hình 1.1: Đường giới hạn khả năng sản xuất.

Những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất là những điểm hiệu quả.Tại đó, doanh nghiệp đã sử dụng triệt để các nguồn lực sẵn có của mình

Điểm H nằm bên ngoài đường giới khả năng sản xuất là điểm không thể đạt được

Nó đòi hỏi phải đầu tư nhiều nguồn lực lớn hơn so với nguồn lực sẵn có của doanhnghiệp, của nền kinh tế

Điểm G nằm bên trong đường giới hạn khả năng sản xuất là điểm không có hiệu quả

21

3,5

xG

xH

Trang 10

* NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG

Cung, cầu và cân bằng thị trường là các phạm trù cơ bản và cốt lõi của kinh tế học

vi mô Trong chương này sẽ xem xét bản chất và các yếu tố quyết định đến cầu, cung; sựtương tác giữa cầu và cung tạo nên cân bằng thị trường về một hàng hóa nào đó với giá vàlượng hàng hóa cân bằng thị trường

2.1 CẦU HÀNG HÓA

2.1.1 Khái niệm cầu

Trong nền kinh tế thị trường, người ta quyết định mua một hàng hóa nào đó tùythuộc vào giá cả và các yếu tố sở thích cá nhân Giá hàng hóa càng cao thì khách hàngcàng ít thích mua hàng hóa và số khách hàng chấp nhận mua hàng hóa càng ít Ngược lại,giá hàng hóa càng rẻ thì lượng người mua càng nhiều và người tiêu dùng càng mua nhiềuhàng hóa hơn Như vậy, ứng với mỗi điều kiện nhất định về giá cả và các yếu tố khác,người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận mua một số lượng hàng hóa nhất định Số lượng đóchính là cầu về hàng hóa đã cho

Cầu hàng hoá là số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định (trong điều kiện các yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu không đổi).

Cần phân biệt cầu với nhu cầu Nhu cầu là mong muốn và nguyện vọng luôn tăngcao và hầu như không có giới hạn của con người Nhu cầu chỉ trở thành cầu khi gắn nóvới một hàng hóa cụ thể, với một mức giá và hàng loạt yếu tố cụ thể của thị trường vềkhông gian, thời gian, thu nhập…Nói cách khác, cầu chính là nhu cầu có khả năng thanhtoán gắn liền với sự chấp nhận mua hàng trong những điều kiện cụ thể

Lượng cầu chính là khối lượng hàng hóa mà người mua chấp nhận mua với mộtmức giá cụ thể (Lượng cầu ký hiệu là QD)

Như vậy, cầu phản ánh quan hệ giữa lượng cầu và mức giá Lượng cầu là giá trị cụthể của cầu tại một mức giá cụ thể

* MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG

- Trình bày được khái niệm cung cầu và các vấn đề liên quan đến cung cầu

- Thực hiện được các bài tập liên quan đến cung cầu hàng hóa, xác định cân bằng cungcầu hàng hóa

Trang 11

Bạn có thể dễ dàng hình dung các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận muahàng - tức là ảnh hưởng đến cầu đối với một hàng hóa cụ thể nào đó.

Sau đây là các yếu tố quan trọng nhất:

2.1.2.1 Thu nhập của người tiêu dùng (Income)

Dễ dàng nhận thấy thu nhập là yếu tố có ảnh hưởng rất mạnh đến cầu Khi thunhập của một cá nhân tăng lên thường làm cho cầu của anh ta về một mặt hàng nào đócũng tăng theo (ví dụ, khi bạn có nhiều tiền hơn, bạn mua sắm quần áo và đi du lịch nhiềuhơn) Những hàng hóa có cầu chịu ảnh hưởng tác động cùng chiều bởi thu nhập như vậy

được gọi là hàng hóa thông thường.

Trong cuộc sống, không phải tất cả các hàng hóa đều là hàng hóa thông thường Cómột số hàng hóa lại có tính chất ngược lại: Khi thu nhập tăng lên sẽ làm cho cầu giảm đi

Ví dụ về cầu xe đạp: khi thu nhập tăng lên, nhiều người sẽ mua xe máy và ít mua xe đạp,

cầu về xe đạp sẽ giảm xuống Những hàng hóa như vậy như vậy gọi là hàng hóa thứ cấp.

Gạo, ngô, đi xe buýt, Tivi trắng đen, xem phim ngoài trời…hiện nay là những hàng hóathứ cấp ở Việt Nam Rõ ràng là hàng hóa thứ cấp mang tính lịch sử cụ thể rõ rệt Mộthàng hóa ở thời điểm này là hàng hóa thông thường nhưng vào thời điểm khác lại trởthành hàng hóa thứ cấp

2.1.2.2 Giá cả của các loại hàng hóa liên quan (Price)

 Giá cả của chính bản thân hàng hóa đang khảo sát (Px)

Nếu giá của hàng hóa tăng lên, chắc chắn lượng cầu sẽ giảm và ngược lại, khi giáhàng hóa giảm xuống, lượng cầu sẽ tăng lên Như vậy, giá của bản thân hàng hóa đangkhảo sát (Px) có tác động ngược chiều đến lượng cầu Quan hệ này mang tính phổ biến và

các nhà kinh tế gọi đó là luật cầu Luật cầu phát biểu rằng: Nếu các yếu tố khác không đổi, thì khi giá một hàng hóa tăng lên sẽ làm giảm lượng cầu về hàng hóa đó.

 Giá cả của hàng hóa liên quan (Py)

Các hàng hóa liên quan là các hàng hóa có tác động ảnh hưởng đến việc mua bánhàng hóa đang khảo sát Hãy hình dung, cầu về thịt gà sẽ thay đổi ra sao khi đến mua thuhoạch vịt, giá thịt vịt giảm đi một nữa? Rõ ràng là khi giá thịt vịt giảm sẽ làm cho cầu vềthịt vịt tăng, nhưng thịt vịt và thịt gà là hai mặt hàng có thể thay thế cho nhau, nên hệ quảtiếp theo là cầu về thịt gà sẽ giảm xuống do nhiều người ăn thịt vịt sẽ không có nhu cầunhiều về thịt gà nữa Những hàng hóa liên quan mà trong tiêu dùng có thể thay thế cho

nhau được gọi là hàng hóa thay thế Trong thực tế, có thể lấy rất nhiều ví dụ xe máy và

ôtô, bánh và kẹo, áo thun và áo sơ mi, xem phim và nghe nhạc…

Bây giờ hãy thử hình dung cầu về xăng sẽ thay đổi như thế nào khi giá xe máygiảm mạnh Rõ ràng là khi giá xe máy giảm làm cầu xe máy tăng và đương nhiên khingười ta sử dụng nhiều xe máy sẽ dẫn đến hệ quả là tăng cầu về xăng Các hàng hóa liên

Trang 12

quan có quan hệ với nhau theo kiểu xe máy và xăng – tức là khi tiêu dùng hàng hóa này

buộc phải kèm theo tiêu dùng hàng hóa kia – được gọi là hàng hóa bổ sung.

Như vậy, nhóm hàng hóa liên quan có hai loại: thay thế và bổ sung Đối với hàng hóa thay thế, giá của nó có tác dụng cùng chiều đối với cầu hàng hóa khảo sát (khi Py giảm làm cho Qx giảm và ngược lại) Đối với hàng hóa bổ sung, giá của nó có tác động ngược chiều đối với cầu về hàng hóa khảo sát (khi Py giảm làm cho Qx tăng và ngược

lại)

2.1.2.3 Dân số (N)

Dân số là yếu tố quy định quy mô thị trường Dân số của một thị trường càng lớnđương nhiên sẽ kéo theo cầu về hàng hóa càng lớn Vai trò của dân số nhiều khi có ýnghĩa quyết định lượng cầu trong tính toán chiến lược kinh doanh của các công ty

2.1.2.5 Các kỳ vọng (K)

Kỳ vọng là sự dự đoán tương lai về một vấn đề nào đó Khi dân cư kỳ vọng vào giáđất tăng cao trong tương lai, họ sẽ cố gắng mua nhiều đất hơn để hy vọng kiếm lợi Nếudân cư dự đoán trong tháng tới giá xe máy giảm, họ sẽ ít mua xe máy hơn tại thời điểmkhảo sát

Ngoài các yếu tố đã nêu trên, còn nhiều yếu tố khác cũng có tác động đến cầu hànghóa Ví dụ, thời tiết chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cầu về áo lạnh, một trận động đất lớn xảy

ra chắc chắn sẽ làm tăng cầu về vật liệu xây dựng…

2.1.3 Biểu cầu, đường cầu, hàm cầu

Nếu giả định các yếu tố khác (ngoài giá) không đổi, ta thấy ứng với mỗi một mứcgiá có một khối lượng cầu xác định được gọi là lượng cầu Cầu là khái niệm chỉ quan hệgiữa lượng cầu với mức giá

Mối quan hệ giữa lượng cầu với mức giá có thể được thể hiện dưới dạng biểu,dạng đồ thị hoặc hàm số

a Biểu cầu là gì? Biểu cầu là bảng số liệu chỉ mối quan hệ giữa lượng cầu và mức

giá Ví dụ biểu cầu dưới đây (Bảng 2.1) phản ánh cầu về gạo trên thị trường một thànhphố, biểu cầu minh họa quan hệ giữa giá gạo và lượng cầu về gạo

Biểu cầu ghi chép những số liệu quan sát được trên thị trường gạo của một thànhphố Ứng với mỗi mức giá khác nhau có một lượng cầu khác nhau Khi giá giảm xuống tathấy người tiêu dùng mua nhiều gạo hơn và lượng cầu tương ứng tăng lên

Trang 12

Trang 13

Bảng 2.1: Biểu cầu về gạo

Giá gạo (P)(Ngàn đồng/kg)

Lượng cầu về gạo (Q)(Tấn/ngày)

có dạng hình cong hyperbol

Như vậy, đường cầu chính là đồ thị phản ánh các số liệu của biểu cầu

c Hàm cầu

Như mục 2.1.2 đã khảo sát, cầu đối với một hàng hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố Ta coi các yếu tố có ảnh hưởng đến cầu là các đối số Các yếu tố đó là giá cả hang hóa

Hình 2.1 Đường cầu

Trang 14

khảo sát (Px), giá cả hàng hóa liên quan (Py), thu nhập (I), dân số (N), sở thích (S), kỳvọng (K)… Cầu là một đại lượng hàm số ký hiệu là Qx Hàm cầu là một hàm chịu sự tácđộng của nhiều đối số được viết dưới dạng toán học như sau:

Đó chính là hàm cầu viết dưới dạng tổng quát hàm nhiều biến

Xem xét các đối số của hàm cầu Qx, ta thấy đối số Px là quan trọng nhất Để làmnổi bật quan hệ giữa lượng cầu và giá Px, chúng ta có thể giả định tất cả các yếu tố khácngoài giá Px không đổi, khi đó hàm cầu rút gọn chỉ còn là hàm một biến:

và phán đoán các tính chất và sự phụ thuộc lẫn nhau của hai yếu tố có quan hệ với nhau làgiá và lượng hàng hóa

Trong trường hợp đặc biệt, quan hệ giữa giá và lượng là quan hệ tuyến tính ta sẽ cóhàm cầu dạng đặc biệt như sau:

Px = a – bQx Trong đó: - Px là giá cả hang hóa

- Qx là lượng cầu hang hóa

- a,b là các hệ số đặc trưng cho hàm cầuHàm cầu có quan hệ chặt chẽ với biểu cầu Từ biểu cầu, ta có thể dễ dàng tính toán

để viết hàm cầu và ngược lại Trong ví dụ đã nêu ở mục biểu cầu và đường cầu đã trìnhbày ở phần trên, ta thấy quan hệ giữa lượng cầu và mức giá là tuyến tính Để xác địnhhàm cầu trong ví dụ này cần xác định hai hệ số a và b Ta có thể lấy 2 cặp số liệu bất kỳ(ví dụ ta lấy 2 cặp số liệu cuối cùng) để tính toán, xác định hàm cầu Muốn vậy ta cần lậpmột hệ phương trình với 2 ẩn số là a và b giúp tìm giá trị của 2 hệ số này

Như vậy ta có hệ phương trình với 2 ẩn số là a và b

4 = a – 40b

2 = a – 44b

Giải hệ phương trình trên ta có: a = 24; b = ½

Như vậy hàm cầu trong ví dụ có dạng:

P = 24 – 1/2Q

2.1.4 Luật cầu

Trang 14

Trang 15

Qua các biểu thị khác nhau của cầu hàng hoá, ta thấy khi giá của hàng hoá tăng lênthì lượng cầu của hàng hoá A giảm xuống và ngược lại Do đó, luật cầu được phát biểunhư sau:

“ Cầu hàng hoá, dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định sẽ tăng lên khi giá củahàng hoá đó giảm xuống và ngược lại trong điều kiện các yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu

là không đổi”

Lý do lượng cầu và giá hàng hóa có quan hệ ngược chiều như vậy là do hai hiệuứng sau:

- Hiệu ứng thay thế: Khi giá của một hàng hóa nào đó tăng lên, người tiêu dùng

tìm các hàng hóa thay thế để mua, do vậy làm cho lượng cầu hàng hóa khảo sát giảmxuống

- Hiệu ứng thu nhập:Khi giá hàng hóa tăng lên, người tiêu dùng thấy rằng, với thu

nhập của mình sẽ mua được ít hàng hóa hơn Mọi người đều tự động cắt giảm mức tiêudùng để tiết kiệm chi tiêu, cuối cùng làm cho lượng cầu giảm xuống

2.1.5 Sự vận động dọc theo đường cầu và sự dịch chuyển của đường cầu

2.1.5.1 Sự vận động dọc của đường cầu.

Với một đường cầu đã cho, tại một mức giá nhất định, ta xác định được một lượngcầu và nó được biểu thị bởi một điểm trên đường cầu Khi giá của hàng hoá đó thay đổitrong khi các yếu tố khác còn lại ảnh hưởng đến cầu không đổi làm cho lượng cầu hànghoá thay đổi thì sẽ xảy ra sự vận động dọc hay sự trượt dọc trên đường cầu

Như vậy, với một đường cầu cho trước, khi giá cả của bản thân hàng hóa thay đổi

sẽ làm cho điểm khảo sát trượt dọc theo đường cầu

2.1.5.2 Sự dịch chuyển của đường cầu.

Sự dịch chuyển của đường cầu xảy ra khi

cầu hàng hoá dịch vụ thay đổi do các yếu tố ảnh

hưởng đến cầu thay đổi (trừ giá cả của bản thân

hàng hóa) Khi yếu tố ảnh hưởng làm cầu giảm thì

P

Q

D

P1

P2

Q1 Q2

AB

Hình 2.2 Sự vận động dọc theo đường cầu

Trang 16

đường cầu dịch chuyển sang trái; khi yếu tố cầu gia tăng, đường cầu sẽ dịch chuyển sangphải.

Chẳng hạn khi thu nhập của người tiêu dùng tăng, giá của hàng hoá thay thế tăng,giá của hàng hoá bổ sung giảm, dân số tăng mặc dù giá của hàng hoá không đổi làm chocầu hàng hoá tăng Lúc này toàn bộ đường cầu dịch chuyển sang phải Ngược lại, khi thunhập của người tiêu dùng giảm, giá của hàng hoá thay thế giảm, giá của hàng hoá bổsung tăng, dân số giảm làm cho cầu hàng hoá giảm Lúc này toàn bộ đường cầu hàng hoádịch chuyển sang trái

Hình 2.3 Sự dịch chuyển đường cầu

Bây giờ giả sử có một yếu tố nào đó ngoài giá thay đổi Ví dụ, đối với thị trườngthịt gà, một công bố của Bộ Y tế về dịch bệnh của gà với virút H5N1 đang lan truyềnchắc chắn sẽ làm cầu về thịt gà giảm xuống (đây là yếu tố thị hiếu tiêu dung) Nếu vẽđường cầu mới lên đồ thị, ta sẽ thấy đường cầu mới vẫn giữ nguyên độ dốc và hình dángnhư cũ nhưng bị dịch chuyển mạnh sang trái Ngược lại, khi Bộ Y tế công bố hết dịchbệnh sẽ dịch chuyển theo hướng ngược lại (Hình 2.4)

Bảng sau đây nêu ví dụ cho biết sự khảo sát trượt dọc và dịch chuyển đường cầuđối với thị trường gạo

Bảng 2.2: Khảo sát sự trượt dọc và dịch chuyển đường cầu về gạo

đến cầu

Sự thay đổi đường cầu

Giá gạo (Px) tăng lên Giảm Trượt dọc điểm khảo sát theo đường cầu,

bản thân đường cầu không thay đổi

Trang 16

P

QD’

P1

Q2 Q1

Hình 2.4 Sự dịch chuyển đường cầu về thịt gà

D

Trang 17

Giá bột mỳ (Py) tăng lên Tăng Đường cầu dịch chuyển sang phải

Thu nhập (I) tăng lên

(Gạo là hàng hóa thứ cấp)

Giảm Đường cầu dịch chuyển sang trái

Sở thích (S) tăng lên do Bộ Y tế

công bố lợi ích của ăn gạo

Tăng Đường cầu dịch chuyển sang phảiDân số (N) tăng lên Tăng Đường cầu dịch chuyển sang phải

Tóm lại, đường cầu phản ánh sự thay đổi của lượng cầu hàng hóa khi giá cả của nóthay đổi (với điều kiện các yếu tố khác không đổi) Khi các yếu tố khác thay đổi, đườngcầu sẽ dịch chuyển sang phải (khi cầu gia tăng) và sang trái (khi cầu suy giảm)

2.2 CUNG HÀNG HÓA

2.2.1 Khái niệm cung

Cung hàng hoá là số lượng háng hoá, dịch vụ mà người bán có khả năng bán vàsẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định trong khi cácyếu tố khác ảnh hưởng đến cung là không đổi

Cũng như cầu, cung bao gồm hai yếu tố cơ bản là khả năng và ý muốn sẵn sàngbán hoặc dịch vụ của người bán Người sản xuất có hàng bán nhưng không muốn bán vìgiá quá rẻ, thì không có cung và cầu không được thỏa mãn Ngoài ra khi nói đến cung vềbất kỳ hàng hóa hoặc dịch vụ nào, chúng ta cũng phải lưu ý đến bối cảnh không gian vàthời gian cụ thể, vì các nhân tố đó có ảnh hưởng trực tiếp đến cung

Lượng cung là số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người bán sẵn sàng bán và có khảnăng bán ở mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định

Như vậy, cung hàng hoá là toàn bộ những lượng cung ở các mức giá khác nhau.Lượng cung đuợc ký hiệu là QS

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung

Có rất nhiều yếu tố có tác động ảnh hưởng đến cung Sau đây là những yếu tố quantrọng nhất:

2.2.4.1 Công nghệ (Technology)

Công nghệ là yếu tố quan trọng làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất

và tăng lợi nhuận Trình độ công nghệ là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cung ứnghàng hoá của doanh nghiệp

Khi công nghệ thay đổi (thường theo xu hướng hiện đại hơn, tiên tiến hơn) chắcchắn sẽ làm cho năng suất tăng lên và lượng cung tăng lên Một sự cải tiến về công nghệ

sẽ làm tăng sản lượng nên khả năng cung ứng hàng hoá của doan nghiệp tăng lên, cunghàng hoá tăng lên

2.2.4.2 Giá (Price)

Giá của hàng hoá đó (Px)

Trang 18

Khi giá của hàng hoá tăng lên lượng cung của hàng hoá đó tăng lên và ngược lại.

Vì giá tăng lên nhà sản xuất sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn, họ sẽ sẵn sàng cung ứngnhiều hàng hoá hơn và ngược lại

Giá của các yếu tố sản xuất đầu vào (Py)

Giá của yếu tố sản xuất đầu vào có ảnh hưởng lớn đến khả năng tăng cung của sảnphẩm Giá của yếu tố sản xuất đầu vào giảm sẽ dẫn đến chi phí sản xuất giảm, giá thànhsản phẩm hạ, lợi nhuận cao hơn, kích thích các nhà sản xuất mở rộng sản xuất, tăng sảnlượng làm cho cung hàng hoá tăng lên và ngược lại

2.2.4.3 Chính sách thuế (Tax)

Thuế là cộng cụ của Chính phủ dùng để điều tiết cung hàng hoá Thuế của Nhànước thường đánh trực tiếp vào thu nhập của người sản xuất Mức thuế cao làm cho thunhập của nhà sản xuất ít đi và họ không muốn cung cấp thêm hàng hoá nữa sẽ làm cunghàng hoá giảm Ngược lại, mức thuế thấp sẽ khuyến khích nhà sản xuất mở rộng sản xuất,tăng sản lượng và cung hàng hoá tăng lên

Vì thế, đối với những ngành cần khuyến khích phát triển thì Chính phủ đưa ranhũng mức thuế suất thấp hơn, đối với những ngành không khuyến khích sản xuất và tiêudùng thì Chính phủ áp đặt mức thuế suất cao hơn

2.2.4.4 Số lượng người sản xuất (Number of Supply)

Đối với một loại hàng hoá dịch vụ nhất định, số lượng người sản xuất càng nhiềuthì cung của hàng hoá đó trên thị trường càng lớn và ngược lại

2.2.4.5 Các kỳ vọng

Các kỳ vọng chính là những dự đoán của nhà sản xuất đối với sản phẩm của họnhư là sự thay đổi giá của hàng hoá, giá của các yếu tố đầu vào, về chính sách thuế… Khidoanh nghiệp dự đoán việc cung ứng hàng hoá có lợi cho họ ở một thời điểm nào đó, điềunày khuyến khích nhà sản xuất mở rộng sản xuất và cung hàng hoá, dịch vụ ở thời điểm

đó sẽ tăng lên và ngược lại

2.2.3 Biểu cung , đường cung, hàm cung

2.2.3.1 Biểu cung.

Biểu cung là bảng biểu thị cung hàng hoá ở các mức giá khác nhau trong mộtkhoảng thời gian nhất định Dễ dàng nhận thấy, cũng giống như biểu cầu, biểu cungchính là hàm cung viết dưới dạng biểu bảng

Ví dụ: Trên thị trường gạo của thành phố đã nêu ở mục cầu, khi quan sát về cung,thấy được các số liệu như sau:

Bảng 2.3: Biểu cung về gạo

Giá gạo (P) (1000đ/kg)

Lượng cung về gạo (Q)

(1000kg)

Trang 18

Trang 19

Trên hệ trục toạ độ vuông góc qui ước trục tung biểu thị giá cả và trục hoành biểuthị lượng cung Qs.

Từ biểu cung trên ta có thể vẽ đường cung như sau:

Hình 2.5: Đường cung về gạo

Đường cung trên đồ thị là đường thẳng Tuỳ theo mối quan hệ giữa giá cả và lượng cung củahàng hoá khác nhau mà đường cung có thể là đường thẳng, đường cong hay đường gấp khúcnhưng chúng đều có xu hướng chung là hướng lên trên, về phía bên phải

Trong đó: Qs: Lượng cung hàng hóa

Px: Giá của bản thân hàng hóaPy: Giá của hàng hóa đầu vào

S

Trang 20

Tx: Thuế đánh vào bản thân hàng hóaNx: Số lượng người tham gia vào sản xuất cùng hàng hóaTrong các đối số của hàm cung, ta thấy Px có vai trò quan trọng nhất Để đơn giảnhóa trong khảo sát hàm cung, có thể giả định các yếu tố ngoài giá Px không đổi – khi đóhàm cung được viết dưới dạng rút gọn như sau:

Qs = f (Px)Hàm cung thường được viết dưới dạng đổi vế, coi giá là hàm số, lượng cung có đối

số như sau:

Px = f (Qs)Trong trường hợp đặc biệt, quan hệ của hàm cung là quan hệ bậc nhất (tuyến tính),khi đó hàm cung được viết dưới dạng:

Px = a + b QsTrong đó: a, b là các hệ số đặc trưng cho quan hệ của hàm cung

Với biểu cung 2.3 Cung về gạo để xác định hàm cung dạng Px = a + b Qs, ta cóthể chọn hai cặp số liệu nào đó (chẳng hạn chúng ta chọn hai cặp cuối cùng) Từ số liệunày ta lập được hệ phương trình có hai ẩn là a và b

2.2.5 Sự vận động dọc theo đường cung và sự dịch chuyển của đường cung

2.2.5.1 Sự vận động dọc theo đường cung

Tại một điểm cụ thể trên đường cung, ta luôn xác định được mức giá bán tươngứng với một lượng cung nhất định

Sự vận động dọc theo đường cung là sự trượt dọc trên đường cung khi giá củahàng hoá thay đổi làm cho lượng cung hàng hoá thay đổi (các yếu tố khác giữ nguyênkhông đổi)

Trang 20

P

Q

S0

S1

CP

Trang 21

2.2.5.2.Sự dịch chuyển của đường cung.

Sự dịch chuyển của đường cung xảy ra khi cung hàng hoá dịch vụ thay đổi do cácyếu tố ảnh hưởng đến cung thay đổi (trừ giá cả của bản thân hàng hóa) Toàn bộ đườngcung sẽ dịch chuyển sang trái nếu cung giảm hoặc dịch chuyển sang phải nếu cung tăng

Bảng 2.4 cho biết các yếu tố tác động như thế nào đến đường cung (ví dụ đườngcung về gạo)

Bảng 2.4: Khảo sát sự trượt dọc và dịch chuyển của đường cung

Yếu tố tác động Tác động như

thế nào đến cung

Sự thay đổi đường cung

Giá của gạo tăng (Px) Tăng Đường cung không thay đổi, điểm

khảo sát trượt dọc theo đường cungGiá phân bón giảm (Py) Tăng Dịch chuyển đường cung sang phải

Áp dụng giống mới (T) Tăng Dịch chuyển đường cung sang phải

Số lượng nông trại trồng lúa

giảm (Nx)

Giảm Dịch chuyển đường cung sang trái

Chính phủ miễn thuế nông

nghiệp 2 năm (Tx)

Tăng Dịch chuyển đường cung sang phải

Lũ lụt làm mất mùa Giảm Dịch chuyển đường cung sang trái

2.3 CÂN BẰNG CUNG CẦU

2.3.1.Trạng thái cân bằng cung cầu

Trên thị trường, trạng thái cân bằng cung cầu đối với một hàng hóa nào đó chính làtrạng thái ứng với một mức giá nào đó, lượng cung ngang bằng với lượng cầu Mức giátương ứng tại trạng thái cân bằng được gọi là giá cân bằng Lượng hàng hóa tương ứng tạitrạng thái cân bằng được gọi là lượng cân bằng

Trang 22

Hình 2.8: Trạng thái cân bằng cung – cầu

Trong cơ chế thị trường, khi cầu của một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó xuất hiệnthì các nhà sản xuất sẽ tìm cách cung ứng những hàng hoá, dịch vụ đó để thoả mãn nhucầu của người tiêu dùng và thu lợi nhuận

Trạng thái cân bằng cung cầu đối với một loại hàng hoá nào đó là lúc cung củahàng hoá đó vừa đủ thoả mãn cầu đối với hàng hoá đó trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Lúc này thị trường hình thành sản lượng cân bằng và giá cân bằng

Trên đồ thị, giá cân bằng và sản lượng cân bằng là toạ độ của giao điểm giữađường cung và đường cầu

Giá cân bằng và sản lượng cân bằng cũng có thể xác định bằng cách giải hệphương trình đường cung và đường cầu

Điểm cân bằng được hình thành từ hoạt động của nhiều người mua và nhiều ngườibán trên thị trường, nó không tồn tại vĩnh cữu, nó sẽ thay đổi khi cung, cầu hàng hoá thayđổi

2.3.2.Trạng thái dư thừa và thiếu hụt của thị trường

P0

P1

Trang 23

QD

E

S

P0

Q0Thiếu hụt

Dư thừa

Giá trầnGiá sàn

PF

PC

Khi giá mua bán thực tế của một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó trên thị trường khác

so với giá cân bằng, lúc này sẽ xảy ra tình trạng dư thừa hay thiếu hụt hàng hoá

Trong trường hợp giá mua bán thực tế trên thị trường lớn hơn giá cân bằng: P1 > P0,người bán sẽ bán nhiều hàng hoá, người mua giảm việc tiêu dùng, lượng cung sẽ lơn hơnlượng cầu ( QS > QD ), kết quả là xảy ra tình trạng dư thừa hàng hoá trên thị trường

Trong trường hợp giá mua bán thực tế trên thị trường nhỏ hơn giá cân bằng P2 < P0,người mua sẽ mua nhiều hàng hoá, người bán giảm sản lượng, lượng cung sẽ nhỏ hơnlượng cầu ( QS < QD ), kết qủa xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hoá trên thị trường

Hình 2.9: Trạng thái không cân bằng của thị trường

Do vậy, điều mà chúng ta quan sát thấy là bất cứ lúc nào giá cả thị trường cao hoặcthấp hơn giá cân bằng thì xuất hiện sự dư thừa hoặc thiếu hụt trên thị trường

Và để khắc phục hiện tượng thiếu hụt hoặc dư thừa này, người bán và người muaphải thay đổi hành vi của họ để đạt tới mức giá cân bằng

2.3.3 Sự thay đổi của trạng thái cân bằng

Quan hệ cung cầu trên thị trường sẽ hình thành nên giá cân bằng và sản lượng cânbằng cho các loại hàng hoá Một khi cung hay cầu thay đổi, hay là cả hai cùng thay đổi,thể hiện ở chỗ đường cung, đường cầu dịch chuyển trên đồ thị đều làm cho mức giá cânbằng và sản lượng cân bằng thay đổi

Trạng thái cân bằng mới được tồn tại khi mà đường cung, đường cầu mới xuấthiện Nếu quan hệ cung- cầu không ổn định thì giá cả và sản lượng cân bằng sẽ là một đạilượng luôn biến đổi

Giá cả cân bằng và sản lượng cân bằng có thể tăng hoặc giảm, với mức độ nhiều ít,tuỳ thuộc hướng thay đổi và mức độ thay đổi của cung và cầu

Trên thực tế đời sống kinh tế, trạng thái cân bằng cung – cầu không ổn định vĩnhviễn Mỗi một khi có sự biến động nào đó của thị trường (ví dụ về sự gia tăng dân số,thiên tai, thay đổi khí hậu ) sẽ làm dịch chuyển đường cung hoặc đường cầu hoặc cả hai

Trang 24

Hệ quả là điểm cân bằng bị dịch chuyển và như vậy trạng thái cân bằng đã bị thay đổisang một trạng thái mới.

Chúng ta có thể sử dụng đồ thị cung – cầu để phân tích cách thức tác động của cácyếu tố đến trạng thái cân bằng Việc tiến hành này thường được tiến hành theo 3 bước nhưsau:

- Xem xét yếu tố đã phân tích tác động đến cái gì? Đường cung, đường cầu hay

cả hai?

- Xác định hướng dịch chuyển của các đường bị tác động

- Xác định trạng thái cân bằng mới đã có sự thay đổi như thế nào đối với trạngthái cân bằng cũ

CHƯƠNG III LÝ THUYẾT HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG

Trang 24

Trang 25

* NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG:

Cân bằng cung – cầu của một hàng hóa là kết quả cọ sát giữa một bên là người tiêudùng và bên kia là người sản xuất Mỗi một người tiêu dùng, khi sử dụng tiền của mình đểmua chiếc xe, cái áo cho đến mớ rau đều có tính toán, cân nhắc và ra quyết định muahàng Vậy thì cái gì đứng đằng sau quyết định mua hàng của người tiêu dùng và ảnhhưởng như thế nào đến hành vi mua hàng của anh ta? Trong điều kiện người tiêu dùng bịhạn chế về thu nhập, anh ta quyết định mua hàng hóa như thế nào? Tất cả những vấn đềnhư vậy được nghiên cứu trong chương này Đây là một nội dung rất quan trọng trongnghiên cứu vi mô, giúp giải thích hành vi lựa chọn của người tiêu dùng – chủ thể đại diệncho phía cầu trên thị trường hàng hóa

3.1 LÝ THUYẾT VỀ LỢI ÍCH

Với những người tiêu dùng, mục đích của hành vi tiêu dùng là nhằm thỏa mãn nhucầu, song mục tiêu của họ là nhu cầu phải được thỏa mãn ở mức cao nhất, tức là quá trìnhquá dùng phải đem lại cho họ lợi ích tối đa

Hành vi lựa chọn tiêu dùng tối ưu có thể giúp người tiêu dùng đạt được mục đích

là thỏa mãn nhu cầu đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi ích Như vậy lý thuyết về lợi ích lànền tảng, là cơ sở để phân tích các hành vi lựa chọn tiêu dùng cụ thể

3.1.1 Khái niệm về lợi ích và lợi ích cận biên

Có thể nói, động cơ đầu tiên đưa người tiêu dùng đến mua sắm hay tiêu dùng mộthàng hoá hay dịch vụ nào đó tức là mong muốn được tiêu dùng chúng Tuy nhiên, khácvới các nhà tâm lý hoặc xã hội học, các nhà kinh tế không quan tâm đến việc phát hiện ranguồn gốc của sở thích mà chỉ xem xét sở thích ảnh hưởng thế nào đến quyết định tiêudùng

Giả sử thu nhập và giá cả của một số sản phẩm là cho trước, người tiêu dùng sẽquyết định mua sản phẩm nào là tuỳ thuộc vào lòng ham muốn của mình đối với sảnphảm đó, nên khi người tiêu dùng sử dụng một sản phẩm nào đó, người đó sẽ đạt một sốlợi ích và khi số lượng tiêu dùng tăng lên thì số lượng lợi ích cũng tăng lên

- Lợi ích (Utility) là một khái niệm để chỉ sự thoả mãn hay sự hài lòng đạt được từ

việc tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ Kí hiệu: U

Lợi ích mang tính chủ quan vì cùng một sản phẩm đối với người này nó mang lạilợi ích rất cao nhưng đối với người khác có thể là rất thấp thậm chí quấy rầy họ, hoặc

* MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG:

- Xác nhận các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn của người tiêu dùng

-Tiếp cận mô hình toán để xác định lựa chọn tiêu dùng cá nhân nhằm đạt mục tiêu tối đa hóa lợi ích

- Biết được cách thức đo lường độ co dãn của cầu và cung

Trang 26

cùng để thoả mãn một nhu cầu người tiêu dùng thích dùng hàng hoá này hơn hàng hoákhác, hoặc cách thoả mãn nhu cầu cũng có thể khác nhau ở mỗi người tiêu dùng Ví dụ,đối với người miền Bắc họ thích uống trà thì nhu cầu của họ về trà sẽ cao hơn nhu cầu của

họ về cà phê

- Tổng lợi ích (Total Utility) là sự hài lòng đạt được từ việc tiêu dùng toàn bộ hàng hoá,

dịch vụ Số lương lợi ích sẽ tăng lên khi số lượng sản phẩm được tiêu dùng tăng lên Kí hiệuTU

- Lợi ích cận biên (Marginal Utility) là lợi ích tăng thêm khi tiêu dùng thêm một đơn

vị hàng hoá hay dịch vụ

+ Nếu tổng lợi ích (TU) là một hàm không xác định (không liên tục) thì

MU =

1 2

1 1 2

Q Q

TU TU

Trong đó: ∆ TU là sự thay đổi về tổng lợi ích

∆Q là sự thay đổi về số lượng sản phẩm tiêu dùng+ Nếu tổng lợi ích là hàm xác định (liên tục) và có dạng TU = f (Q) thì

Ta thấy:

- Khi lượng hàng hoá tiêu thụ tăng thì tổng lợi ích sẽ tăng nhưng tốc độ tăng chậmhơn

- Tổng lợi ích đạt giá trị cao nhất khi lợi ích cận biên bằng không

- Khi lợi ích cận biên giảm thì lượng hàng hoá tiêu thụ sẽ tăng

Hầu hết các hàng hoá đều mang lại cho con người lợi ích

3.2.2 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần

Quy luật này được phát biểu như sau: Khi số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó

được tiêu dùng tăng lên thì lợi ích cận biên của hàng hoá dịch vụ đó có xu hướng giảm dần xuống và ngược lại, trong một thời điểm nhất định.

Quy luật này đúng với hầu hết các sản phẩm, nhưng nó chỉ đúng khi xem xét mặthàng đó trong thời gian ngắn

Sở dĩ lợi ích cận biên giảm dần là do giảm sự hài lòng hay sự thích thú của mỗichúng ta đối với một mặt hàng khi tiêu dùng thêm mặt hàng đó

Ý nghĩa của quy luật lợi ích cận biên giảm dần: Khi ta tiêu dùng nhiều hơn một

mặt hàng nào đó thì tổng lợi ích sẽ tăng, tuy nhiên với tốc độ ngày càng chậm, việc tăng chậm này là do lợi ích cận biên giảm khi ta tiêu dùng thêm hàng hoá dịch vụ đó.

Quy luật này được hầu hết các nhà kinh tế học thừa nhận, tuy nhiên nó chỉ là quyluật trừu tượng và thực tế ta không thể đo được lợi ích cận biên

Trang 26

Trang 27

Bởi vậy lợi ích cận biên âm và đường lợi ích đi xuống, tổng lợi ích giảm Tuy nhiêntrong thực tế không phải việc tiêu dùng mọi hàng hoá đều dẫn đến lợi ích cận biên âm.

Khái niệm tổng lợi ích cận biên giải thích vì sao ta lại mua một hàng hoá, dịch vụ

cũng như vì sao ta lại thôi mua chúng vào thời điểm nào đó Trên thực tế, khoái cảm giảmxuống với mỗi chiếc bánh ăn thêm Chiếc bánh thứ nhất có thể gây cảm giác ngon miệngnhưng đến chiếc thứ tư, thứ năm có thể gây cảm giác buồn nôn, chúng ta thấy lợi ích cậnbiên của chiếc bánh thứ nhất cao hơn chiếc bánh thứ hai Đối với sản phẩm khác cũngvậy, cốc bia thứ hai không thể ngon hơn cốc bia thứ nhất Các nhà kinh tế đã khái quáthiện tượng đó thành quy luật gọi là quy luật lợi ích cận biên giảm dần

Qui luật lợi ích cận biên giảm dần chi phối rất lớn đến hành vi ứng xử của ngườitiêu dùng trong việc ưu tiên lựa chọn mua sắm hàng hoá trong một ngân sách tiêu dùng

có hạn

Bảng dưới đây minh họa mối quan hệ giữa tổng lợi ích và lợi ích biên liên quanđến tiêu dùng của cá nhân đối với bánh mì (trong một khoảng thời gian xác định) nhưsau:

Số chiếc bánh Tổng lợi ích (U) Lợi ích biên (MU)

Bảng 3.1: Mối quan hệ giữa tổng lợi tích và lợi ích biên khi tiêu dùng bánh mì

Như bảng trên cho thấy, lợi ích biên liên quan đến mỗi chiếc bánh mì tăng thêm chỉ

là mức thay đổi tổng lợi ích khi có thêm một chiếc bánh mì tiêu dùng Chẳng hạn, lợi íchbiên của tiêu dùng chiếc bánh mì thứ ba là 50 do tổng lợi ích tăng lên 50 đơn vị (từ 130lên 180)

3.2.3 Lợi ích cận biên và đường cầu

Trong mục này chúng ta sẽ dùng khái niệm lợi ích cận biên, lợi ích, và quy luật lợiích cận biên giảm dần để giải thích vì sao đường cầu lại dốc xuống dưới về phía phải

Qua mối quan hệ giữa lợi ích cận biên và giá cả ta thấy: Khi lợi ích cận biên củaviệc tiêu dùng hàng hoá càng lớn thì người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho nó vàkhi lợi ích cận biên giảm thì sự sẵn sàng chi trả cũng giảm đi Như vậy, có thể dùng giá để

đo lợi ích cận biên của một hàng hoá nào đó, nếu so sánh ta thấy có sự tương tự củađường cầu và dạng của đường lợi ích cận biên tuy sự tương tự này là ngẫu nhiên nhưng

nó cũng thể hiện một điều là đằng sau đường cầu chứa đựng năng suất cận biên giảm dần

Trang 28

của người tiêu dùng hay do quy luật năng suất cận biên giảm dần làm cho đường cầu dốcxuống phía dưới.

Đồ thị:

3.2.4 Thặng dư tiêu dùng (CS - Consumer Surplus)

Thặng dư tiêu dùng là chênh lệch giữa số tiền mà người tiêu dùng sẵn sàng trả với

số tiền mà họ thực trả cho một hàng hóa hoặc dịch vụ Tức là sự chênh lệch giữa lợi íchcận biên (MU) với chi phí thực tế để thu được lợi ích đó

Chi phí thực tế chính là chi phí cận biên (MC - Marginal Cost)

Thặng dư tiêu dùng kí hiệu là CS

Khi vẽ đường cầu dốc xuống điển hình của

một thị trường, thặng dư của của người tiêu dùng

tại một mức giá là phần diện tích nằm dưới đường

cầu và trên đường giá – diện tích của hình tam giác

Trong đó: P1 là giá khi Q = 0

P0 là giá thị trường hay giá tại mức sản lượng QE

Ví dụ: Giả sử một cốc nước chanh với giá thị trường là:

Po = 1000 đồng, đây là chi phí cận biên của người tiêu dùng

Trang 29

Nếu thực trạng của người tiêu dùng đang rất khát họ sẵn sàng trả cho cốc nước thứnhất với giá P1 = 6000 đ, nhưng thực tế họ chỉ phải trả 1000đ theo giá thị trường (P0) Dovậy, người tiêu dùng sẽ thu được nhiều hơn lượng họ phải trả Người tiêu dùng là ngườitối đa hoá lợi ích nên họ sẽ mua và uống nước chanh cho đến khi lợi ích cận biên của cốcnước cuối cùng bằng chi phí cận biên của nó.

3.2 SỰ CO DÃN CỦA CẦU

3.2.1 Khái niệm về co dãn của cầu

Lý thuyết của cầu được xây dựng ở các phần trước mang tính chất định tính cho tathấy một số mặt bản chất trong hành vi của người tiêu dùng Trên thực tế, các nhà kinhdoanh rất muốn biết mức bán của họ sẽ thay đổi như thế nào khi giá của hàng hoá đó haythu nhập hay giá của các hàng hoá khác thay đổi Các nhà hoạch định chính sách củaChính phủ khi đưa ra chính sách thuế cũng muốn biết cung, cầu sẽ thay đổi như thế nàodưới tác động của giá cả và thu nhập Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu phươngpháp đo về mặt lượng ảnh hưởng của giá cả hàng hoá, thu nhập và giá cả hàng hoá khácđến lượng cầu bằng công cụ hệ số co dãn của cầu

Vậy sự co dãn của cầu là gì?

Sự co dãn của cầu là một công cụ dùng để đo lường sự phản ứng của người tiêudùng trước những thay đổi của thị trường

Vậy sự co dãn của cầu là tỷ số giữa sự thay đổi tính theo phần trăm của lượng cầuvới sự thay đổi tính theo phần trăm của một trong các nhân tố ảnh hưởng đến lượng cầuvới điều kiện các yếu tố khác không đổi

Kí hiệu : E D (Elasticity Demand)

3.2.2 Phân loại co dãn của cầu

Tùy theo yếu tố ảnh hưởng, có thể chia co dãn của cầu thành :

- Co dãn của cầu theo giá hàng hóa

- Co dãn của cầu theo thu nhập

- Co dãn của cầu theo giá hàng hóa liên quan

3.2.2.1 Co dãn của cầu theo giá hàng hóa

Ta thấy, đường cầu là đường có độ dốc đi xuống, nó cho biết quan hệ định tínhgiữa cầu với giá tức là sản lượng tăng khi giá giảm và ngược lại Nhưng chúng ta phảibiết quan hệ về mặt định lượng, nghĩa là lượng cầu tăng hay giảm bao nhiêu phần trămkhi giá giảm hay tăng 1% và trên thực tế cho chúng ta thấy:

- Đối với một số mặt hàng số lượng cầu có thể tăng hay giảm rất chậm khi giảmhoặc tăng giá của nó: gạo, xăng dầu

=

= % Sự thay đổi lượng cầu %∆ Q

% Sự thay đổi của yếu tố ảnh hưởng đến cầu %∆ i

E0

Trang 30

- Đối với một số mặt hàng lượng cầu có thể tăng hay giảm rất nhanh khi giảm hoặctăng giá của nó: hàng xa xỉ

Vì vậy, chúng ta phải triển khai một thước đo mức độ đáp ứng của người tiêu dùngđối với sự biến động của chính nó Thước đo này gọi là độ co dãn của cầu theo giá ED P.

Do đó, độ co dãn của cầu theo giá là tỷ số giữa mức thay đổi tính theo phần trămlượng cầu của một mặt hàng nào đó với mức thay đổi tính theo phần trăm tương ứng củagiá cả chính mặt hàng đó, với điều kiện các nhân tố khác không đổi

Từ công thức trên ta thấy:

- Do P và Q nghịch biến nên ED P luôn nhỏ hơn 0, vì vậy để đơn giản người ta thườngchỉ xét |EDP|

- Độ co dãn của cầu khác với độ dốc của đường cầu, độ dốc của đường cầu là

∆P/∆QD

- Độ co dãn của cầu được tính độc lập hoàn toàn cho từng loại hàng hoá cụ thể nênchúng ta có thể so sánh độ co dãn của cầu đối với nhiều hàng hoá khác nhau, tức là có thể

ED Px khác E D Py.

* Cách tính hệ số co dãn của cầu theo giá

- Phương pháp 1: Co dãn khoảng (phương pháp đoạn đường cầu): Phương pháp này

sử dụng khi các trị số P và Q nằm trong một khoảng hữu hạn nào đó của đường cầu vớiP1, P2 ứng với Q1, Q2

ED Px =

Q ).

P P (

P ).

Q Q

( P

) P P ( Q

) Q Q

( x P

% Dx Q

%

1 2

1 2 1

2

1 2

- Phương pháp 2: Co dãn điểm (phương pháp điểm đường cầu)

Nếu quan hệ giữa P và Q được biểu diễn bởi phương trình: Q = F(p) thì

P P Q Q

∆ =

P

Q

Q P = Q′(p) Q P

* Phân loại độ co dãn của cầu theo giá

Trang 30

% Sự thay đổi lượng cầu %

% Sự thay đổi của giá %

=

=

ED

P

Trang 31

Vì ED P ≤ 0 nên:

Trường hợp 1: E < -1 hay |E| > 1 thì cầu co dãn tương đối trong miền giá cả hiện thời

(người tiêu dùng tương đối nhạy cảm với giá) hay gọi tắt là cầu co dãn

Trường hợp 2: 1 < E < 0 hay |E| < 1 thì cầu ít co dãn (khi tăng giá người tiêu dùng

không giảm bao nhiêu mức tiêu dùng của họ) hay cầu kém co dãn

P2

D

QP

D

Trang 32

Trường hợp 5: E = ∞ thì cầu co dãn hoàn toàn.

* Các yếu tố ảnh hưởng đến co dãn của cầu theo giá

- Phần trăm của thu nhập chi cho mật hàng đang xem xét: Phần trăm của thu nhập chicho mặt hàng đang xem xét nhỏ thì cầu co dãn ít, phần trăm của mặt hàng chi cho mặthàng đó lớn thì cầu co dãn nhiều Thực chất, đây là vai trò của hàng hoá đối với ngườitiêu dùng

- Sự sẵn có của hàng hoá thay thế: Nếu hàng hoá thay thế có sẵn thì cầu ít co dãn,hàng hoá thay thế hiếm thì cầu co dãn nhiều

- Khoảng thời gian xem xét: Nếu thời gian ngắn thì cầu có xu hướng không co dãn,thời gian nhiều thì cầu có xu hướng co dãn

- Thị hiếu của người tiêu dùng: Nếu hàng hoá được ưa chuộng thì cầu co dãn ít vàngược lại

* Ý nghĩa của E D

P để ước tính tổng doanh thu

Tổng doanh thu của người cung ứng là lượng tiền thu được do bán sản phẩm Nóđược xác định bằng tích giữa lượng sản phẩm bán ra và giá bán sản phẩm đó

Tổng doanh thu = Giá cả x Lượng sản phẩm bán ra = P x Q

Chúng ta thấy rõ ràng, tổng doanh thu của người sản xuất khi bán ra một loại hànghoá nào đó cũng bằng với tổng mức chi của người tiêu dùng khi họ mua hàng hoá đó.Mua và tiêu dùng hàng hoá của người tiêu dùng được thể hiện qua độ co dãn của cầu theogiá (ED P), vì vậy có thể căn cứ vào E D P để tăng hoặc giảm giá nhằm tăng doanh thu.

Sự thay đổi của tổng doanh thu sẽ phụ thuộc vào tốc độ giảm cầu so với tốc độ tănggiá hay phụ thuộc vào sự co dãn của cầu đối với giá cả hàng hoá đó

Giả sử rằng giá kẹo lạc từ 400đ lên 450đ thì tổng doanh thu sẽ ra sao Với giá 450đmột chiếc, ta có tổng doanh thu giảm xuống còn 900đ Trong trường hợp này việc tănggiá sẽ dẫn đến việc giảm tổng doanh thu

Một cách khái quát chung ta có các trường hợp:

- Giá tăng sẽ làm tăng tổng doanh thu nếu cầu không co dãn, hoặc co dãn ít (lEl <1)

Trang 32

DP

Q

P0

Trang 33

- Giá tăng sẽ làm giảm tổng doanh thu nếu cầu co dãn nhiều (lEl >1)

- Giá tăng sẽ không làm thay đổi tổng doanh thu nếu như cầu co dãn đơn vị (lEl = 1)

GiảmTăngCao nhất

TăngGiảmCao nhất

Qua đồ thị ta thấy, khi giá ở mức P1 thì doanh thu của nhà sản xuất là diện tích tứgiác OP1AQ1 và với giá ở mức P2 thì doanh thu của nhà sản xuất là diện tích tứ giácOP2BQ2 Ta thấy OP1AQ1 < OP2BQ2 nên khi giá giảm thì doanh thu của nhà sản xuất sẽtăng lên và ngược lại, hay |EDP| > 1 khi giá giảm thì doanh thu tăng

3.2.2.2 Co dãn của cầu theo thu nhập

Giữ nguyên chính giá của hàng hoá đó và giá cả của các hàng hoá khác có liên quan,chúng ta xem xét mức độ phản ứng của người tiêu dùng với mức thu nhập của họ (bỏ quatiết kiệm)

Thực tế cho thấy, khi thu nhập tăng thì chi tiêu tăng làm cho lượng hàng hoá tiêudùng tăng Tuy nhiên, lượng cầu đối với các hàng hoá tăng khác nhau do đó cách thứctiêu dùng chi cho những mặt hàng khác nhau tuỳ thuộc vào mức thu nhập của người tiêudùng và vai trò, tính chất của từng hàng hoá đối với người tiêu dùng nên ta có định nghĩa

cụ thể sau:

Tỷ trọng phần ngân sách của một hàng hoá mà người tiêu dùng chi trả cho nó là tỷ

lệ giữa giá cả của nó nhân với lượng cầu và chia cho tổng chi tiêu hoặc thu nhập củangười tiêu dùng

Trang 34

Tỷ trọng ngân sách hàng hoá x =

TC

Qdx Px

Tỷ trọng này cho biết tỷ lệ thu nhập hay chi tiêu của người tiêu dùng chi cho hànghoá x là bao nhiêu?

Do đó, độ co giãn của cầu đối với thu nhập của một hàng hoá nào đó là tỷ số giữamức tăng số lượng cầu của hàng hoá đó tính theo phần trăm với mức thay đổi của thunhập tính theo phần trăm

Với Y = (Y1 + Y2)/2 ; Q = (Q1 + Q2)/2

- Nếu 0 < |EDyx| < 1 thì mặt hàng x là hàng thiết yếu

- Nếu |EDyx| ≤ 0 thì mặt hàng x là hàng hoá thứ cấp

- Nếu |EDyx| ≥ 1 thì mặt hàng x là hàng hoá cao cấp

3.2.2.3 Co dãn của cầu theo giá hàng hóa liên quan

% thay đổi lượng

% thay đổi thu =

EDYx =

Y

YQ

Q

YY

Y

QQ

×

2 1

2 1

Trang 35

Định nghĩa: Độ co giãn chéo của cầu của một mặt hàng x xét theo sự thay đổi giá

của một mặt hàng i là tỷ số mức thay đổi tính theo phần trăm lượng cầu của mặt hàng xvới mức thay đổi tính theo phần trăm giá tương ứng của mặt hàng i

Pi i

P x Q Dx

Q

1 2

1 2

Pi Pi

Qx Qx

EDx,i > 0 khi x và i là hai hàng hoá thay thế cho nhau.

EDx,i < 0 khi x và i là hai hàng hoá bố sung cho nhau.

EDx,i = 0 khi tăng giá mặt hàng i thì không làm thay đổi lượng cầu hàng hóa x thì x

và i là hai loại hàng hoá không liên quan

3.3 LỰA CHỌN SẢN PHẨM VÀ TIÊU DÙNG TỐI ƯU

3.3.1 Tối đa hóa lợi ích người tiêu dùng

* Mục đích của người tiêu dùng

Các phân tích trên về cầu vẫn dựa trên giả định mua một sản phẩm riêng lẻ vớimức giá khác nhau Nhưng trên thực tế, quyết định tiêu dùng phải giải quyết vấn đề lựachọn và sẽ mua hàng hoá nào trong số nhiều hàng hoá với mức giá chấp nhận được

Mục đích của người tiêu dùng là đạt được sự thoả mãn tối đa bằng nguồn thu nhậphạn chế, việc chi mua của họ đều phải chấp nhận một chi phí cơ hội vì việc chi mua hànghoá này đồng thời giảm cơ hội chi mua hàng hoá khác Vì vậy, cần phải giải quyết như thếnào để đạt được sự thoả mãn tối đa Sự lựa chọn của người tiêu dùng sẽ bị ràng buộc bởi:

- Nhân tố chủ quan là sở thích của họ

- Nhân tố khách quan là thu nhập hay ngân sách tiêu dùng và giá cả của hàng hoáđó

* Phương pháp lựa chọn sản phảm tiêu dùng tối ưu

Cơ sở để giải thích sự lựa chọn là lý thuyết về lợi ích và quy luật cầu

+ Theo lý thuyết lợi về ích người tiêu dùng sẽ ưu tiên sự lựa chọn cho sản phẩm cólợi ích hơn

+ Theo quy luật cầu việc lựa chọn còn phải xét tới giá cả hàng hoá mà ta cần, do đóphải so sánh lợi ích thấy trước của mỗi sự tiêu dùng với chi phí của nó tức là tỷ lệ lợi íchcủa một đồng khi trả cho thị trường loại hàng hoá đó (MU/P) và việc lựa chọn sản phẩmphải phù hợp nhất với lượng thu nhập có thể có

Việc tiêu dùng tối ưu có nghĩa là chúng ta lựa chọn một cơ cấu tiêu dùng hàng hoá tối

đa tổng lợi ích Điều kiện để tối đa hoá lợi ích là: lợi ích cận biên tính trên một đồng củahàng hoá này phải bằng lợi ích cận biên tính trên một đồng của bất kỳ hàng hoá nào khác

MUx MUi

Trang 36

= = (1)

Px Pi

Tức là: - Để tối đa hoá lợi ích ta phải so sánh giữa lợi ích cận biên và giá cả, nếu một

đồng để mua sản phẩm x mang lại lợi ích cận biên lớn hơn một đồng để mua sản phẩm i(MUx/Px > MUi/Pi) thì chúng ta sẽ chọn mua sản phẩm x vì lựa chọn như thế cho phépchúng ta tăng tổng lợi ích

- Nếu (1) xảy ra tức là không thể làm tăng tổng lợi ích được nữa (tổng lợi íchlớn nhất) bằng cách chọn hàng hoá này mà không chọn hàng hoá kia

3.3.2 Giải thích bằng đường ngân sách và đường bàng quan

Lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng có thể giải thích bằng mô hình đường ngânsách và đường bàng quan

Như trên đã nói, sự lựa chọn của người tiêu dùng phải vừa phù hợp với nhân tốkhách quan là thu nhập, giá cả và vừa phải phù hợp với nhân tố chủ quan là sở thích củangười tiêu dùng

* Đường ngân sách (BL- Budget Line): Thể hiện sự ràng buộc vào ngân sách và giá

cả của người tiêu dùng, nó chia không gian lựa chọn thành hai miền:

+ Kết hợp có thể đạt được

+ Kết hợp không thể đạt được và đồng thời thể hiện tất cả các sự kết hợp có thể đểlựa chọn hai hàng hoá x và i, do vậy đường ngân sách còn gọi là đường giới hạn khả năngtiêu dùng

- Phương trình đường ngân sách có dạng:

x X

i P x P i

Giả định toàn bộ thu nhập của người

tiêu dùng chi cho tiêu dùng mà không có tiết

kiệm

Trang 36

xi

BL

Ngày đăng: 05/12/2021, 17:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.3.1.2. Mục tiêu của sự lựa chọn - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
1.3.1.2. Mục tiêu của sự lựa chọn (Trang 8)
Hình 1.1: Đường giới hạn khả năng sản xuất. - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 1.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất (Trang 9)
Bảng 2.1: Biểu cầu về gạo - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Bảng 2.1 Biểu cầu về gạo (Trang 13)
Hình 2.1. Đường cầu - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 2.1. Đường cầu (Trang 13)
Hình 2.2. Sự vận động dọc theo đường cầu - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 2.2. Sự vận động dọc theo đường cầu (Trang 15)
Hình 2.3. Sự dịch chuyển đường cầu - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 2.3. Sự dịch chuyển đường cầu (Trang 16)
Hình 2.5: Đường cung về gạo - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 2.5 Đường cung về gạo (Trang 19)
Hình 2.6. Sự di chuyển dọc đường cung Hình 2.7. Sự di chuyển đường cung - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 2.6. Sự di chuyển dọc đường cung Hình 2.7. Sự di chuyển đường cung (Trang 20)
Bảng 2.4 cho biết các yếu tố tác động như thế nào đến đường cung (ví dụ đường cung về gạo) - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Bảng 2.4 cho biết các yếu tố tác động như thế nào đến đường cung (ví dụ đường cung về gạo) (Trang 21)
Hình 2.8: Trạng thái cân bằng cung – cầu - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 2.8 Trạng thái cân bằng cung – cầu (Trang 22)
Hình 2.9: Trạng thái không cân bằng của thị trường - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 2.9 Trạng thái không cân bằng của thị trường (Trang 23)
Bảng dưới đây minh họa mối quan hệ giữa tổng lợi ích và lợi ích biên liên quan đến tiêu dùng của cá nhân đối với bánh mì (trong một khoảng thời gian xác định) như sau: - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Bảng d ưới đây minh họa mối quan hệ giữa tổng lợi ích và lợi ích biên liên quan đến tiêu dùng của cá nhân đối với bánh mì (trong một khoảng thời gian xác định) như sau: (Trang 27)
Khi vẽ đường cầu dốc xuống điển hình của một thị trường, thặng dư của  của người tiêu dùng tại một mức giá là phần diện tích nằm dưới đường cầu và trên đường giá – diện tích của hình tam giác Po,P1E trên hình 3.2. - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
hi vẽ đường cầu dốc xuống điển hình của một thị trường, thặng dư của của người tiêu dùng tại một mức giá là phần diện tích nằm dưới đường cầu và trên đường giá – diện tích của hình tam giác Po,P1E trên hình 3.2 (Trang 28)
Hình 3.1: Quan hệ giữa lợi ích cận biên và đường cầu - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 3.1 Quan hệ giữa lợi ích cận biên và đường cầu (Trang 28)
Lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng có thể giải thích bằng mô hình đường ngân sách và đường bàng quan. - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
a chọn tối ưu của người tiêu dùng có thể giải thích bằng mô hình đường ngân sách và đường bàng quan (Trang 36)
AVC có hình lòng chảo, phần dốc lên biểu thị hiệu suất giảm dần vì thế cần chú ý khi sử dụng công suất nhà máy. - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
c ó hình lòng chảo, phần dốc lên biểu thị hiệu suất giảm dần vì thế cần chú ý khi sử dụng công suất nhà máy (Trang 47)
- Hình thức cạnh tranh phi giá: Trong cạnh tranh hoàn hảo không có sự cạnh tranh phi giá - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình th ức cạnh tranh phi giá: Trong cạnh tranh hoàn hảo không có sự cạnh tranh phi giá (Trang 57)
Bảng 5.1: Bảng so sánh các loại thị trường - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Bảng 5.1 Bảng so sánh các loại thị trường (Trang 58)
Hình 5.1: Đường cầu doanh nghiệp Hình 5.2: Đường cầu ngành - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 5.1 Đường cầu doanh nghiệp Hình 5.2: Đường cầu ngành (Trang 59)
Hình 5.3: Tối đa hóa lợi nhuận trong ngắn hạn - BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 5.3 Tối đa hóa lợi nhuận trong ngắn hạn (Trang 62)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w