1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BUỔI 4 KHÓA học 10 NGÀY

33 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn,...vì vậy vốn sống cũng như sự từng trải của ông in sâu vào trong sáng tác

Trang 1

BUỔI 4: TỔNG ÔN KIẾN THỨC NỀN (VĂN XUÔI – PHẦN 2)

- Tên khai sinh: Nguyễn Sen

- Sinh ra: tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài,

huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ trong một gia đình thợ

thủ công

- Lớn lên ở quê ngoại: làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ

Hoài Đức

- Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh - nơi gắn với tuổi

thơ và thời trai trẻ của ông: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức

- Bước vào tuổi thanh niên, ông phải làm nhiều việc để kiếm

sống như: dạy trẻ, kế toán hiệu buôn, thậm chí có lúc

ông từng thất nghiệp

- Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc

- Là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào Sau hơn 60 năm lao động nghệ thuật, Tô Hoài để lại cho nền văn học Việt Nam một khối lượng tác phẩm đồ sộ

- Phong cách nghệ thuật:

+ Lối kể chuyện có duyên + Biệt tài trong miêu tả ngoại cảnh + Sử dụng vốn kiến thức phong phú để đưa vào tác phẩm

- Trong sự nghiệp hoạt động nghệ thuật của mình, Tô Hoài

đã nhận được rất nhiều giải thưởng danh giá được nhà nước trao tặng

- Hiện tại ông đã xuất bản 200 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau và vinh dự trở thành là một trong số ít nhà văn hiện đại Việt Nam có nhiều đầu sách nhất từ xưa đến nay trong sự nghiệp sáng tác của mình

Trang 2

- Năm 1954 trở đi, ông tập trung vào sáng tác với những tác

phẩm để đời

- Gia đình: vợ là Nguyễn Thị Cúc cùng với bốn người con:

Đan Hà, Đan Thanh, Sông Thao, Phương Vũ (theo

Wikipedia)

- Năm 2014, ông mất tại Hà Nội

Đoạn văn:

Tô Hoài sinh ra trong một gia đình thợ thủ công Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như

dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn, vì vậy vốn sống cũng như sự từng trải của ông in sâu vào trong sáng tác… Đến với văn chương,

ông gây được tiếng vang lớn qua tác phẩm truyện “Dế Mèn phiêu lưu ký” Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc Trong

chiến tranh Đông Dương, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây

Bắc Với hơn 60 năm lao động nghệ thuật miệt mài, tâm huyết, với số lượng tác phẩm đồ sộ: 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác

nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác… Tác phẩm của ông đi vào lòng bạn đọc bởi

lối kể chuyện có duyên, tự nhiên, vốn am hiểu rộng, khéo léo đưa hiểu biết của mình vào trong tác phẩm

2 Văn bản

a Hoàn cảnh sáng tác

- Là kết quả của chuyến đi thực tế tới vùng Tây Bắc năm 1952

- Tại đây, ông đã có dịp tiếp xúc và cảm nhận nét văn hóa, phong tục tập quán và con người Tây Bắc

Trang 3

- Truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" in trong tập “Truyện Tây Bắc” – Tập truyện được trao giải nhất về truyện, kí - giải thưởng của

Hội văn nghệ Việt Nam 1954-1955 "Truyện Tây Bắc" là kết quả của chuyến thâm nhập thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội vào

giải phóng Tây Bắc (1952) Trong chuyến đi này, Tô Hoài đã sống và gắn bó nghĩa tình với đồng bào các dân tộc Thái, Mường,

Mông, cũng như học hỏi và biết thêm nhiều điều về phong tục tập quán nơi đây Nguồn cảm hứng mới lạ dưới cái nhìn của một

nhà văn nhân đạo đã giúp ông viết nên các tác phẩm: "Cứu đất cứu mường", "Mường Giơn" và "Vợ chồng A Phủ"

Trang 4

- Mị xuất hiện bên cạnh những vật vô tri, có cảm giác như người con gái ấy cũng không hề có một chút cảm xúc nào

- Trước cửa có một tảng đá đặt cạnh chuồng ngựa, hình ảnh của tảng đá ấy phải chẳng là tảng đá của số phận đang đè nặng lên Mị

- Khuôn mặt “buồn rười rượi” gợi ra một số phận đau khổ, bất hạnh, khiến cho người đọc vô cùng tò mò

về số phận của người con gái này

=> Cuộc sống tuổi thanh xuân, tương lai của Mị hứa hẹn biết bao điều tốt lành, tươi sáng Khi mùa xuân về, Mị

đã sống những giây phút tươi đẹp của tuổi thiếu nữ

Bi kịch thân phận

làm dâu gạt nợ

- Nguyên nhân: vì một món nợ truyền kiếp từ khi cha mẹ mới cưới nhau mà Mị bị bắt làm dâu gạt nợ cho nhà thống lí - một tên quan lại, địa chủ tham lam, sảo quyệt và tàn nhẫn ở Hồng Ngài

- Kể từ khi về làm con dâu nhà thống lí, Mị phải sống những ngày tháng đau thương, tủi nhục, tăm tối

Danh nghĩa là con dâu nhà quan nhưng thực chất Mị là bề tôi tớ không công Mị không chỉ bị hành hạ

về thể xác mà còn bị đày đọa về tinh thần Đăng kí http://thichhocchui.xyz/ tại Zalo 0383572270 Thích Học Chui

Trang 5

• Dưới mấy tầng áp bức, Mị phải sống kiếp sống như con vật, thậm chí không bằng con vật “bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”, “lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc làm giống nhau, tiếp nhau vẽ ra mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại.”

• Bị giam hãm, đày đọa trong cái địa ngục khủng khiếp của nhà thống lí, Mị đang chết dần, chết mòn theo năm tháng, tâm hồn lạnh lẽo, trống vắng Mị bị tê liệt cả lòng yêu đời, sức sống lẫn tinh thần phản kháng, mất hết ý thức về thời gian, không gian: “ở lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi”,

“mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”

• Hình ảnh căn buồng của Mị, kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, Mị ngồi trong đó trông

ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng Đó quả thực là một thứ địa ngục trần gian giam hãm thể xác Mị, cách li tâm hồn Mị với cuộc đời, cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô

=> Tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến miền núi ở đây đã được cất lên nhân danh quyền sống Chế độ ấy thực

sự đáng lên án, bởi vì nó làm cạn khô nhựa sống, làm tàn lụi đi ngọn lửa của niềm vui sống trong những con người vô cùng đáng sống

nghĩa nào nữa

- Khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ, Mị có phản ứng quyết liệt “đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc.”

- Mị đã từng muốn chết mà không được chết, vì cô vẫn còn đó món nợ của người cha Đây là một trong những biểu hiện đầu tiên của lòng ham sống – dám chết khi nghĩ rằng cuộc đời này không còn bất kỳ ý nghĩa nào nữa Nhưng đến lúc có thể chết đi, vì cha Mị không còn nữa thì Mị lại buông trôi, kéo dài mãi

sự tồn tại vật vờ Đây cũng chính là một trong những hành động thể hiện sự khát sống của Mị, dám sống

Trang 6

=> Đây là hai trong số những tín hiệu đầu tiên chứng tỏ rằng trong trái tim của cô gái này, nhất định vẫn ẩn chứa một lòng ham sống rất lớn

thiên nhiên và con người sức sống tiềm tàng

- Khung cảnh mùa xuân tươi vui tràn đầy sức sống và màu sắc: cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy hoa xòe như con bướm sặc sỡ, đám trẻ đợi Tết chơi quay, cười ầm lên trên sân trước nhà…

- Tiếng sáo rủ bạn đi chơi vọng vào tâm hồn Mị “thiết tha, bổi hổi” từng lời hát giản dị, mộc mạc nhưng

có sức mời gọi lớn lao đối với Mị: “Ta không có con trai con gái…”

- Bữa cơm Tết cúng ma đón năm mới rộn rã, chiêng đánh ầm ĩ và bữa rượu tiếp ngay bữa cơm bên bếp lửa

=> Những yếu tố ngoại cảnh ấy không thể không tác động đến Mị, đặc biệt là tiếng sáo Tiếng sáo gọi bạn tình chính là âm thanh của hạnh phúc, là biểu tượng của tình yêu đôi lứa, nó đã xuyên qua hàng rào lạnh giá bên ngoài để “vọng” vào miền sâu thẳm trong tâm hồn Mị, đánh thức sức sống vẫn còn tiềm ẩn trong cõi lòng người thiếu nữ Tây Bắc này

* Diễn biến tâm trạng và hành động của Mị

- “Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi… Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu

Trang 7

sau bao tháng ngày câm lặng, Mị cất tiếng nói đầu tiên, là một bản tình ca yêu đương đầy xao xuyến:

“Mày có con trai con gái rồi / Mày đi làm nương / Tao chưa có con trai, con gái / Tao đi tìm người yêu”

- Ngày tết năm đó Mị cũng uống rượu, Mị lén uống từng bát, “uống ừng ực” rồi say đến lịm người đi Cái say cùng lúc vừa gây sự lãng quên vừa đem về nỗi nhớ

• Mị lãng quên thực tại (nhìn mọi người nhảy đồng, người hát mà không nghe, không thấy và cuộc rượu tan lúc nào cũng không hay)

• Mị lại nhớ về ngày trước (ngày trước, Mị thổi sáo cũng giỏi…), và quan trọng hơn là Mị vẫn nhớ mình là một con người, vẫn có cái quyền sống của một con người: “Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết Huống chi Mị và A Sử, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”

- Mị đã thức dậy với sức sống tiềm tàng và cảm thức về thân phận Cho nên trong thời khắc ấy, ta mới thấy trong lòng Mị đầy rẫy những mâu thuẫn Lòng phơi phới nhưng Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng, ngồi xuống giường, trông ra cái lỗ vuông mờ mờ trăng trắng Và khi lòng ham sống trỗi dậy thì

ý nghĩ đầu tiên là được chết ngay đi: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không còn buồn nhớ lại nữa.”

- Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mãnh liệt của tuổi xuân cứ lớn dần, cho tới khi nó lấn chiếm hẳn trọn

bộ tâm hồn và suy nghĩ của Mị, cho tới khi Mị hoàn toàn chìm hẳn vào trong ảo giác: “Mị muốn đi chơi

Mị cũng sắp đi chơi” Phải tới thời điểm đó Mị mới có hành động như một kẻ mộng du: Mị xắn miếng

mỡ, thắp sáng căn phòng u tối; quấn lại tóc, với thêm cái váy hoa, rồi rút thêm cái áo Tất cả những việc

đó, Mị đã làm như trong một giấc mơ

- A Sử biết Mị muốn đi chơi và chuẩn bị đi chơi, hắn tức lắm, đánh rồi trói đứng Mị vào cột, tắt đèn đóng

Trang 8

trong sự bế tắc và tuyệt vọng thế nhưng Mị thực tâm chẳng hề để ý tới những gì đang diễn ra với mình

Mị đang ở trong trạng thái mộng du đang chìm đắm với những giấc mơ về một thời xuân trẻ, đang bồng bềnh trong cảm giác du xuân Bây giờ, tiếng sáng vẫn đang rập rờn trong đầu của Mị, “Tiếng sáo đưa Mị

đi theo những cuộc chơi, những đám chơi” Tâm hồn Mị đang còn sống trong thực tại ảo, sợi dây trói của đời thực chưa thể làm kinh động ngay lập tức giấc mơ của kẻ mộng du Cái cảm giác về hiện tại tàn khốc, Mị chỉ cảm thấy khi vùng chân bước theo tiếng sáo mà tay chân đau không cựa được

- Nhưng nếu cái mơ không đến một lần nữa thì sự tỉnh ra cũng vậy Lại một giai đoạn chập chờn nữa giữa cái mơ và cái tỉnh, giữa tiếng sáo và nỗi đau nhức của dây trói và tiếng con ngựa đạp vách, nhai cỏ, gãi chân Nhưng bây giờ thì theo chiều ngược lại, tỉnh dần ra, đau đớn và tê dại dần đi, để sáng hôm sau lại trở về với vị trí của con rùa nuôi trong câm lặng, mà thậm chí còn câm lặng hơn trước

Sự phản kháng táo

bạo trong đêm

đông cởi trói cho A

Phủ

đêm Với Mị, bếp lửa là người bạn, là tri âm, là tri kỷ, là thứ hiếm hoi mang tới cho Mị một nguồn sáng ấm áp, giúp Mị vượt qua sự lạnh giá, cô đơn trên dẻo cao này Dù đã có nhiều lần, A Sử về và nhìn thấy Mị sưởi lửa, hắn đạp Mị ngã lăn nhưng Mị vẫn nhất quyết không bỏ thói quen này

* Diễn biến tâm trạng vfa hành động của Mị:

- Khi chứng kiến tình cảnh của A Phủ, mấy hôm đầu Mị vô cảm, thờ ơ với hiện thực trước mắt: “A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi” Câu văn như một minh chứng sự tê dại trong tâm hồn Mị Bởi trong hoàn cảnh của Mị, cô gái này thực sự đã quá khổ để có thể đồng cảm với nỗi khổ của người khác, thậm chí, trái tim của Mị bây giờ còn mất hết những cảm xúc, chỉ còn một trái tim đóng băng, lạnh giá vô cùng

Trang 9

- Bước ngoặt bắt đầu từ những dòng nước mắt: “Đêm ấy A Phủ khóc Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen” Và giọt nước mắt kia là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước Nó đưa

Mị từ cõi quên trở về với cõi nhớ Mị nhớ mình đã từng bị trói, đã từng đau đớn và bất lực Mị cũng đã từng khóc, nước mắt chảy xuống cổ, xuống cằm không biết lau đi được A Phủ, nói đúng hơn là dòng nước mắt của A Phủ, đã giúp Mị nhớ ra hoàn cảnh của mình, xót thương cho chính mình Và Mị đã nhớ lại mọi chuyện, biết nhận ra mình cũng từng có những đau khổ, mới có thể thấy có người nào đó cũng khổ giống mình Từ sự thương mình, Mị dần dần có tình thương với A Phủ, tình thương với một con người cùng cảnh ngộ Nhưng nó còn vượt lên giới hạn thương mình: “Mình là đàn bà … chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi còn người kia việc gì mà phải chết” Mị không cảm thấy sợ hãi, chỉ cảm thấy một điều duy nhất bây giờ: “Cha con chúng nó thật độc ác” Nghĩ thế, Mị cầm dao cắt dây trói cho A Phủ để rồi có khựng lại vài giây rồi bất ngờ chạy theo A Phủ Lòng ham sống của một con người như được thổi bùng lên trong Mị, kết hợp với nỗi sợ hãi, lo lắng cho mình Mị như tìm lại được con người thật, một con người còn đầy sức sống và khát vọng thay đổi số phận Đến bây giờ, tất cả những nỗi sợ hãi như cường quyền, bạo quyền hay thần quyền đều tan biến, chỉ còn lại trong Mị là một lòng ham sống

vô cùng mãnh liệt, trào sôi

- Hai người dắt tay nhau đi, chạy trong đêm tối, mặc kệ tất cả những khổ ải nơi Hồng Ngài này đề tới Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu, hai người được giác ngộ cách mạng và kết hôn với nhau, trở thành những chiến sĩ kiên trung trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc

NHÂN VẬT A PHỦ

Trang 10

Ấn tượng ban đầu

- A Phủ xuất hiện bất ngờ trong đám đánh nhau của trai làng bên với A Sử A Sử vào làng tìm đám chơi

có tiếng sáo, tiếng khèn nhưng vì đến muộn nên phải đứng ngoài A Sử và đám bạn đã tìm cách gây sự

và bị A Phủ đánh cho một trận nên thân

- Nhà văn đã miêu tả sức mạnh của A Phủ ngay từ lần xuất hiện này: “Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử” rồi “xộc tới ném cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp” Nhưng trong cuộc chiến chống cường quyền hùng dũng mà đơn độc này, A Phủ đã thua cuộc

Anh bị bắt sống, trói chân tay và xọc gậy mang về nhà thống lí Pá Tra

Số phận bất hạnh

- Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cha mẹ và làng bản đều chết trong trận dịch đậu mùa, A Phủ bị kẻ xấu bắt đem bán

- A Phủ lưu lạc đến Hồng Ngài, không gia đình, người thân, phải tự mình kiếm sống

- A Phủ không thể lấy nổi vợ, do không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc Tất cả những gì anh có chỉ là chiếc vòng vía lằn trên cổ

Tính cách đặc biệt

- Gan góc, ngay thẳng, không cam chịu bạo quyền:

• Trong trận làng chết vì dịch đậu mùa, khi mới 10 tuổi, A Phủ bị bắt đem bán cho người Thái, nhưng “không chịu ở dưới cánh đồng thấp” nên đã trốn lên núi cao, lưu lạc đến Hồng Ngài

• Khi trưởng thành, trong lần đi chơi Tết, A Phủ đã không nề hà con quan mà đã ra tay trừng trị

Trang 11

Trong bữa tiệc

• Sau khi bị đánh đập tàn bạo, A Phủ bị bọn thống lí, chức việc trói chặt vào kiếp đời nô lệ Đầu tiên chúng buộc tội cho A Phủ vì đánh con quan nhưng làng tha cho tội chết, chỉ bắt nộp vạ Sau

đó thống lí vừa gán nợ cho A Phủ một cách trắng trợn, vừa bày cách để A Phủ trả nợ, cái cách

vô lí và vô nhân đạo: “Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền thì tao bắt mày làm con trâu con ngựa nhà tao Đời mày, đời con đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi” Như vậy dưới hình thức cho vay này, A Phủ chính thức trở thành tôi đòi cho nhà chúa đất phong kiến

Trang 12

- Bị trói, bị bỏ đói, gắng gượng trong vô vọng suốt mấy ngày đêm, chàng thanh niên khỏe mạnh ngày nào nay đã không còn chút sức lực, chỉ biết trút dòng nước mắt tuyệt vọng Đến khi được Mị cắt dây trói, A Phủ như một cái xác trực “ngã khuỵu xuống, không bước nổi”

- Nhưng khi khát vọng sống một lần nữa được đánh thức mãnh liệt, A Phủ đã quật sức chạy, quyết tâm vùng chạy để thoát khỏi gông cùm, xiềng xích và đến Phiềng Sa, chàng trai gan góc, táo bạo ấy đã trở thành tiểu đội trưởng du kích

CHI TIẾT TIẾNG SÁO

Khái quát

- Chi tiết tiếng sáo được lặp lại nhiều lần trong tác phẩm – Đặc biệt trong đêm tình mùa xuân – Là một trong những tác nhân quan trọng nhất đánh thức tâm hồn chai sạn của Mị trong đêm mùa xuân

• Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi

• Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng

• Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đường

• Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi,

=> Tiếng sáo xuất hiện từ xa đến gần, từ bên ngoài tới bên trong nhận thức của Mị, chiếm lấy tâm hồn Mị

Trang 13

- Tiếng sáo kêu gợi quá khứ tươi đẹp, ước mơ về cuộc sống hạnh phúc, đồng thời tiếng sáo là chất xúc tác trực tiếp khơi gợi sức sống tiềm tàng của Mị “Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”, “Mị vùng bước đi”

- Tiếng sáo là chi tiết nghệ thuật đặc biệt tố cáo bản chất của giai cấp thống trị thực dân phong kiến miền núi, cự tuyệt quyền sống, quyền làm người của con người

- Thể hiện tư tưởng của tác phẩm: Sức sống con người cho dù bị giẫm đạp, trói buộc nhưng vẫn luôn âm

ỉ chờ cơ hội bùng lên => Giá trị nhân đạo

=> Nếu tiếng chân ngựa đạp vào vách là sự lên tiếng của hiện thực phũ phàng thì tiếng sao lại là hiện thân của những ước mơ, hoài niệm

=> Là tác nhân đánh thức niềm khát khao sống trong lòng Mị, gợi lại cả một khoảng trời ký ức đẹp đẽ, thể hiện ước mơ, khao khát tuổi trẻ và hơn hết là tấm lòng đồng cảm, xót thương của Tô Hoài với số phận nhân vật của mình

CHI TIẾT NẮM LÁ NGÓN

Khái quát

Nắm lá ngón (xuất hiện 3 lần):

- Cô tìm về cha già, tay cầm nắm lá ngón

- Lần lần, mấy năm qua, bố Mị chết Mị không còn tưởng đến có thể ăn lá ngón tự tự nữa,

- Sau khi uống rượu, nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này thì Mị chỉ muốn ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa Đăng kí http://thichhocchui.xyz/ tại Zalo 0383572270 Thích Học Chui

Trang 14

Ý nghĩa

- Lần xuất hiện 1: lá ngón là hình ảnh đại diện cho một lối thoát đầy tăm tối, đây tuy là lối thoát ngắn và

dễ dàng nhất, nhưng lại là một lối thoát trốn bỏ hiện tại một cách nghiệt ngã Khẳng định tâm hồn cao đẹp, dũng cảm của Mị, thà chết chứ không muốn sống như trâu ngựa

- Lần xuất hiện 2: cho thấy tâm can đã nguội lạnh của Mị Sự ra đi của nắm lá ngón, nội ám ảnh, day dứt

về cái chết giờ đã không còn trong tâm trí Mị nữa Thay vì phản kháng, Mị trở nên chấp nhận, chịu đựng

- Lần xuất hiện 3: Sự thức tỉnh trở lại của Mị, nhưng trở lại là Mị có ý định chết đi, chết ngay để giải thoát

- Tư tưởng nhân đạo của nhà văn:

+ Tố cáo chế độ cai trị khắc nghiệt, độc ác, dồn ép con người đến cái chết

+ Ca ngợi, khẳng định vẻ đẹp của người con gái, của người dân vùng núi: hiếu thảo, bản lĩnh, dung cảm

+ Phát hiện sức sống, sức phản kháng của con người khi bị áp bức, đày đọa Lá ngón là tiếng kêu ngầm của đồng bào hướng về Cách mạng

4 Tổng kết

a Giá trị nhân đạo và hiện thực:

* Giá trị hiện thực:

- Khái niệm: Giá trị hiện thực của tác phẩm văn học là toàn bộ hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm văn học, tùy vào

ý đồ sáng tạo mà hiện tượng đó có thể đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau

- Biểu hiện trong Vợ Chồng A Phủ:

• Phản ánh bộ mặt của giai cấp thần quyền (nhà thống Lý) và cường quyền (hủ tục cúng trình ma)

Trang 15

• Phản ánh đời sống của nhân dân lao động: họ bị chà đạp về cả thể xác lẫn tinh thần (Mị và A Phủ); sự vùng lên đấu tranh của

họ

=> “Có áp bức, có đấu tranh”

* Giá trị nhân đạo:

- Khái niệm: Là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn

với nỗi đau của những con người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống Đồng thời, nhà văn còn thể hiện sự nâng niu, trân

trọng với những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vươn dậy của con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc

đời

- Biểu hiện trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ:

• Tiếng nói cảm thông trước nỗi khổ của nhân dân lao động (Mị và A Phủ)

• Lên án tố cáo tội ác của giai cấp thống trị, phong kiến miền núi đã đẩy những con người vô cùng đáng sống vào hoàn cảnh không

còn muốn sống hoặc sống như một cái xác không hồn Dồn đẩy họ đến bước đường cùng

• Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của con người: lòng ham sống mãnh liệt, lòng nhân ái,…

• Mở đường cho nhân vật: Hình ảnh Mị và A Phủ cùng chạy trốn trong bóng tối, đến khu du kích Phiền Sa, gặp cán bộ A Châu và

được giác ngộ cách mạng chính là hướng đi mà nhà văn đã định hướng cho nhân vật của mình Đi theo ánh sáng của cách mạng

để tự giải phóng cho chính bản thân mình và giải phóng cho quê hương

b Nội dung:

- Tác phẩm là câu chuyện về những người dân lao động vùng cao Tây Bắc không cam chịu bọn thực dân, chúa đất áp bức, đày

đọa, giam hãm trong cuộc sống tăm tối đã vùng lên phản kháng, đi tìm cuộc sống tự do Tác phẩm khắc họa chân thực những

nét đặc sắc về phong tục, tập quán, tính cách và tâm hồn người dân các dân tộc thiểu số

Trang 16

- Qua tác phẩm, tác giả lên án bọn thực dân, chúa đất độc ác dã man tàn bạo; bày tỏ sự cảm thông thấu hiểu nỗi thống khổ của

người dân nghèo miền núi và khẳng định sức sống ngoan cường, khát vọng tự do tiềm tàng ở người dân lao động Và ở Mị, khát

vọng ấy đã trở thành sức mạnh tiềm tàng trong đêm tình mùa xuân, đặc biệt là trong đêm đông cứu A Phủ với hành động xin cầu

A Phủ “cho tôi theo với, chứ ở đây tôi chết mất” hòng thoát khỏi cuộc sống ngục tù, tăm tối

c Nghệ thuật:

- Thành công đặc sắc nhất của Vợ Chồng A Phủ là nghệ thuật xây dựng tâm lí nhân vật

- Là một thiên truyện đầy chất thơ - những rung cảm của nhà văn trước thực tại đời sống

- Ngôn ngữ giản dị, phong phú, đầy sáng tạo

Nhận định về tác giả, tác phẩm

1 “Riêng với Hà Nội, sự nghiệp văn chương của Tô Hoài là một kho báu”

(Phạm Xuân Nguyên)

2 “Không chỉ hấp dẫn người đọc ở nguồn tư liệu tươi rói về đời sống văn nghệ một thời mà còn ở giọng kể và cách tạo không

khí truyện trong tác phẩm của Tô Hoài… Sự linh hoạt của ngòi bút và phong cách văn xuôi hấp dẫn của Tô Hoài có lẽ bắt

nguồn từ chính quan niệm của ông: cuộc đời như là văn chương”

(Nhà phê bình văn học Đỗ Hải Ninh)

3 “Văn chương của Tô Hoài sẽ còn mãi nhanh biếc theo thời gian Vì nó lưu giữ cho chúng ta đời sống Vì nó phả lại nhịp đập

của lịch sử Vì nó nói lên câu chuyện muôn đời của kiếp nhân sinh”

(PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân)

4 “Có những nhà thơ nhà văn làm vinh dự cho chữ Hán, chữ Nôm Anh Tô Hoài, cùng với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,

làm vinh dự cho chữ Quốc ngữ”

(Hữu Thỉnh)

Ngày đăng: 02/12/2021, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Trước cửa có một tảng đá đặt cạnh chuồng ngựa, hình ảnh của tảng đá ấy phải chẳng là tảng đá của số phận đang đè nặng lên Mị - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
r ước cửa có một tảng đá đặt cạnh chuồng ngựa, hình ảnh của tảng đá ấy phải chẳng là tảng đá của số phận đang đè nặng lên Mị (Trang 4)
• Hình ảnh căn buồng của Mị, kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, Mị ngồi trong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh căn buồng của Mị, kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, Mị ngồi trong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng (Trang 5)
* Ngoại cảnh: Mùa xuân về trên vùng cao Tây Bắc có ý nghĩa như “một hoàn cảnh điển hình” làm khơi dậy ở - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
go ại cảnh: Mùa xuân về trên vùng cao Tây Bắc có ý nghĩa như “một hoàn cảnh điển hình” làm khơi dậy ở (Trang 6)
- Lần xuất hiện 1: lá ngón là hình ảnh đại diện cho một lối thoát đầy tăm tối, đây tuy là lối thoát ngắn và dễ dàng nhất, nhưng lại là một lối thoát trốn bỏ hiện tại một cách nghiệt ngã - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
n xuất hiện 1: lá ngón là hình ảnh đại diện cho một lối thoát đầy tăm tối, đây tuy là lối thoát ngắn và dễ dàng nhất, nhưng lại là một lối thoát trốn bỏ hiện tại một cách nghiệt ngã (Trang 14)
HÌNH TƯỢNG CÂY XÀ NU, RỪNG XÀ NU Liên hệ mở rộng - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
i ên hệ mở rộng (Trang 20)
=> Xà nu trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo, chứa đựng ý nghĩa tư tưởng sâu xa của tác phẩm - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
gt ; Xà nu trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo, chứa đựng ý nghĩa tư tưởng sâu xa của tác phẩm (Trang 20)
- Hình ảnh xà nu trong tác phẩm còn tạo nên một không gian nghệ thuật mang đậm hương vị sử thi của câu chuyện - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh xà nu trong tác phẩm còn tạo nên một không gian nghệ thuật mang đậm hương vị sử thi của câu chuyện (Trang 21)
• Hình ảnh những cây xà nu non, mới mọc, thay thế những cây đã ngã “ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời gợi nhắc đến thế  hệ trẻ của dân làng Xô Man với sức sống mãnh liệt, mạnh mẽ, ham mê lí  tưởng, tiếp nối thế hệ đi trước trong cuộc  - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh những cây xà nu non, mới mọc, thay thế những cây đã ngã “ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời gợi nhắc đến thế hệ trẻ của dân làng Xô Man với sức sống mãnh liệt, mạnh mẽ, ham mê lí tưởng, tiếp nối thế hệ đi trước trong cuộc (Trang 22)
• Hình ảnh cây xà nu đại thụ ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng: - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh cây xà nu đại thụ ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng: (Trang 23)
• Hình ảnh bàn tay Tnú bốc cháy đã tố cáo tội ác dã man của quân giặc. Chúng thâm hiểm, độc ác, dùng vật thân thiết nhất của dân làng Xô Man là nhựa xà nu để tra tấn anh - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh bàn tay Tnú bốc cháy đã tố cáo tội ác dã man của quân giặc. Chúng thâm hiểm, độc ác, dùng vật thân thiết nhất của dân làng Xô Man là nhựa xà nu để tra tấn anh (Trang 25)
• Hình ảnh này còn cho thấy sự dũng cảm, can trường, khí phách bất khuất của người anh hùng, dù đau đớn nhưng Tnú không thèm kêu van - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh này còn cho thấy sự dũng cảm, can trường, khí phách bất khuất của người anh hùng, dù đau đớn nhưng Tnú không thèm kêu van (Trang 26)
Ý nghĩa điển hình - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
ngh ĩa điển hình (Trang 27)
- Hình tượng cụ Mết mang bóng dáng của người anh hùng Núp - người con ưu tú của cuộc kháng chiến chống Pháp được nhà văn khắc họa trong “Đất nước đứng lên” - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
Hình t ượng cụ Mết mang bóng dáng của người anh hùng Núp - người con ưu tú của cuộc kháng chiến chống Pháp được nhà văn khắc họa trong “Đất nước đứng lên” (Trang 28)
Hình ảnh cụ Mết giúp người đọc nhận thức được nhiều điều: biết sống hướng về cội nguồn, tự hào về các thế hệ cha anh, trân trọng những hi sinh mất mát của họ để thấy giá trị của tự do, độc lập trong cuộc sống hiện tại, biết  sống có lí tưởng để vươn tới m - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh cụ Mết giúp người đọc nhận thức được nhiều điều: biết sống hướng về cội nguồn, tự hào về các thế hệ cha anh, trân trọng những hi sinh mất mát của họ để thấy giá trị của tự do, độc lập trong cuộc sống hiện tại, biết sống có lí tưởng để vươn tới m (Trang 30)
Heng là hình ảnh của một cây xà nu non còn mang trong mình bao sinh lực tràn trề hứa hẹn sẽ trở thành cây xà nu mạnh mẽ và bất tử - BUỔI 4   KHÓA học 10 NGÀY
eng là hình ảnh của một cây xà nu non còn mang trong mình bao sinh lực tràn trề hứa hẹn sẽ trở thành cây xà nu mạnh mẽ và bất tử (Trang 31)
w