Trong sự nghiệp nghề Múa của mình, đã nhiều lần bà được đi biểu diễn ở nước ngoài và được dự đại hội thanh niên sinh - Đề tài thường viết: + Thơ viết cho thiếu nhi + Thơ viết về đề tài t
Trang 1BUỔI 1 – TỔNG ÔN KIẾN THỨC NỀN (THƠ – PHẦN 1) Văn bản:
SÓNG
(Xuân Quỳnh)
1 Tác giả
Xuân Quỳnh – Người phụ nữ sinh ra để yêu và làm thơ
- Tên khai sinh: Nguyễn Thị Xuân Quỳnh
- Quê: La Khê, Hà Đông, Hà Tây nay thuộc về Hà Nội
- Mẹ Xuân Quỳnh mất sớm, bố Xuân Quỳnh lấy một người vợ khác,
có con riêng nhưng sau đó chuyển vào Sài Gòn sinh sống
- Tuổi thơ của Xuân Quỳnh gắn liền với bà nội và chị gái là Đông
Mai
- Từ nhỏ, Xuân Quỳnh đã bộc lộ năng khiếu và niềm đam mê với
môn nghệ thuật múa, sau cuộc tuyển chọn khắt khe chị đã trúng tuyển
vào đoàn văn công nhân dân TW
- Vào tháng 2/1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn Công
Nhân Dân Trung Ương và đã ở đây bà đã được đào tạo thành một
diễn viên múa Trong sự nghiệp nghề Múa của mình, đã nhiều lần bà
được đi biểu diễn ở nước ngoài và được dự đại hội thanh niên sinh
- Đề tài thường viết:
+ Thơ viết cho thiếu nhi + Thơ viết về đề tài tình yêu
- Giọng thơ của Xuân Quỳnh: hồn nhiên, tươi tắn, dịu dàng, đôn hậu, gần gũi tựa như hơi thở nhưng chất chứa trong đó là những trăn trở, âu lo
- Phong cách nghệ thuật: Đôi khi bất tuân theo những quy luật của nghề thơ, cốt yếu chỉ muốn diễn tả những cảm xúc trong trái tim của mình
Trang 2- 1963 - 1964: Chuyển sang viết báo, làm thơ
- Năm 1967, bà được kết nạp và trở thành ủy viên Ban chấp hành của
hội nhà văn Việt Nam khóa III
Đoạn văn: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là người phụ nữ sinh ra trong cuộc đời với sứ mệnh để yêu và làm
thơ Với chị, tình yêu chính là sức mạnh giúp chị vượt qua mọi phong ba, bão tố trong cuộc đời, chị khát khao sống, khát khao yêu
và luôn muốn bày tỏ trọn vẹn những cảm xúc đủ đầy ấy trong những trang thơ của mình Đề tài Xuân Quỳnh lựa chọn cho những
vần thơ của mình là thơ viết cho thiếu nhi và thơ viết về đề tài tình yêu Trong việc làm thơ, đôi khi người nghệ sĩ này sẵn sàng bất
tuân theo những quy luật của nghề thơ điều quan trọng nhất là được diễn tả trọn vẹn những cảm xúc trong trái tim của mình
2 Văn bản
a Thông tin văn bản
- Được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Diêm Điền - tỉnh Thái Bình Khi chị vừa bước vào độ tuổi 25 khi đã
trải qua những cảm xúc đầu tiên trong tình yêu của mình
- In trong tập thơ “Hoa dọc chiến hào” (1968)
- Đó là những năm tháng dân tộc đang bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai, là khi thanh niên trai gái ào ào ra
trận, cho nên đặt bài thơ trong hoàn cảnh ấy mới thấy rõ được nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu đồng thời cũng là minh
chứng cho sức sống bất diệt của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ
b Thể thơ: 5 chữ - ngắt nhịp linh hoạt
c Hình tượng trong bài thơ: Sóng và em
d Âm hưởng bài thơ: Giống như âm hưởng của những con sóng ngoài đại dương
Trang 3+ Nghĩa biểu tượng: (3 nét nghĩa chính)
• Những trạng thái đối cực của tình yêu: Khi bước vào tình yêu con người
ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều những xác cảm khác nhau: vui, buồn, hờn ghen, hạnh phúc,…=> Chính điều này tạo nên sự hấp dẫn, bí ẩn của tình yêu
+ “Thuyền và biển” – Xuân Quỳnh:
“Vì tình yêu muôn thủa
Có bao giờ đứng yên”
+ “Em bảo anh đi đi”
“Em bảo: "Anh đi đi"
Sao anh không đứng lại?
Em bảo: "Anh đừng đợi"
Sao anh vội về ngay?
Lời nói thoảng gió bay Đôi mắt huyền đẫm lệ
Mà sao anh dại thế
Trang 4• Những trạng thái đối lập của người con gái khi yêu: Vui ngay đấy nhưng
cũng có thể buồn ngay đấy, hạnh phúc ngay đấy nhưng cũng có thể hờn
giận ngay đấy => Những đối lập tưởng chừng vô lý nhưng lại rất hợp lý
• Sự đối lập trong chính người con gái: Sự đối lập giữa bên trong và bên
ngoài/ Bên ngoài họ có thể mạnh mẽ, độc lập, tự chủ nhưng suy cho cùng
họ vẫn chỉ mang một trái tim yếu mềm và thuộc về phái yếu
- Từ “và": thể hiện mối quan hệ song hành Những trạng thái đối lập này thường
đi liền với nhau, không tách rời, tạo ra những xúc cảm đặc biệt trong tình yêu
Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể
- Thông điệp tình yêu mới mẻ:
+ Sông: Giới hạn chật hẹp
+ Bể - biển – đại dương – giới hạn rộng lớn, mênh mông
+ Mình – sóng: hình ảnh ẩn dụ thể hiện cho khát vọng của cái tôi trữ tình, sẵn
sàng đặt để những tình cảm tầm thường ở lại để theo đuổi tình yêu đích thực
giống như con sóng, vượt qua mọi khó khăn trở ngại, từ bỏ giới hạn chật hẹp là
sông tìm về biển lớn
Không nhìn vào mắt em
Mà sao anh dại thế Không nhìn vào mắt em Không nhìn vào mắt sầu Không nhìn vào mắt sâu?”
+ “Hương thầm” – Phan Thị Thanh Nhàn
Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay,
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm,
Bên ấy có người ngày mai ra trận
Họ ngồi im không biết nói năng chi Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi, Nào ai đã một lần dám nói?
Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Trang 5=> Người phụ nữ hiện đại dám đấu tranh vì tình yêu, vượt qua những thứ lễ giáo phong kiến để đến với hạnh phúc đích thực
=> Chủ động buông bỏ những giới hạn chật hẹp, tầm thường (sông) để tìm ra biển lớn tình yêu - tình yêu đích thực trong cuộc đời (biển, đại dương)
Anh không dám xin,
Cô gái chẳng dám trao Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao Không dấu được cứ bay dịu nhẹ
KHỔ 2: Khát
vọng tình yêu Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ
- Thán từ “Ôi”: bộc lộ mạnh mẽ những trạng thái cảm xúc trào lên trong lòng
- Đối “Ngày xưa” >< “Ngày sau”: chỉ khoảng thời gian quá khứ và hiện tại
- “Vẫn thế”: chỉ sự bất biến, không đổi thay
- Chủ thể: khát vọng tình yêu
+ “Bài thơ tuổi nhỏ” – Xuân Diệu:
“Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ, không thương một kẻ nào?”
+ “Đôi mắt xanh non” – Xuân Diệu:
“Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non
Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo
Trang 6- Không gian - điều kiện cần: bồi hồi trong lồng ngực của người trẻ
=> Khát vọng tình yêu là khát vọng của muôn đời, của quá khứ, của hiện tại, của tương lai, chỉ cần trong trái tim những người trẻ còn đang đập những nhịp ngân rung thì khát vọng tình yêu sẽ trường tồn mãi mãi Còn đại dương là còn sóng, còn những trái tim đang đập trong lồng ngực là còn tình yêu
Hãy để cho bà nói má thơm của cháu
Hãy nghe tuổi trẻ ca ngợi tình yêu.”
Từ nơi nào sóng lên
- Nhân vật em giờ đây đã không còn giấu mình sau những cơn sóng, không còn mượn lời sóng để nói hộ lòng mình nữa mà đã tách mình ra khỏi sóng để hạ lời
thì thầm hai tiếng “em - anh”
- Em đứng trước đại dương bao la, trước muôn ngàn những con sóng Và em bỗng lắng lòng lại nghĩ về anh, về bản thân em và về tình yêu của chúng ta
+ “Vì sao” – Xuân Diệu
“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu ”
+ “Xa cách” – Xuân Diệu
“Dẫu tin tưởng chung một đời, một mộng
Em là em, anh vẫn cứ là anh
Trang 7- Tự đặt ra một câu hỏi cho lòng mình, để truy tìm căn nguyên của con sóng
nhưng cũng chính là lúc em muốn truy tìm căn nguyên của tình yêu
Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau
- Tìm ra được khởi nguồn của con sóng là từ gió nhưng gió đến từ đâu thì em
chưa biết => Em đã thất bại trong cuộc truy tìm của mình
- Để trả lời cho câu hỏi của chính mình em đã buông nhẹ một cái lắc đầu đáng
yêu: “Em cũng không biết nữa”
- Trái tim em luôn đi tìm sự lý giải, cắt nghĩa tình yêu của chính mình:
+ Chúng ta yêu nhau từ bao giờ, yêu nhau vì điều gì,…
+ Nhưng tất cả đều là những câu hỏi khó để trả lời hoặc cũng có thể là sẽ chẳng
có câu hỏi nào trọn vẹn cả
Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành
Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.”
Trang 8- Biết bao nhiêu thế kỷ trôi qua rồi, con người vẫn cứ mãi phân vân đi tìm câu trả lời cho tình yêu, say mê với tình yêu, dành trái tim của mình để sẵn sàng đập nhanh hơn vì một người
=> Quy luật của tình yêu là không có quy luật nào ca Bởi em vẫn sẽ can đảm bên cạnh anh, yêu anh bằng tất cả đủ đầy cảm xúc
- Tình yêu vốn dĩ là một ẩn số giữa hai tâm hồn chứa đầy bí mật chính vì vậy nó vẫn luôn là địa hạt bí ấy, hấp dẫn trái tim của muôn triệu con người trên thế giới này
KHỔ 5: Nỗi
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
- Biên độ: Mở rộng từ 4 lên đến 6 câu
+ “Thuyền và biển” – Xuân Quỳnh:
“Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau rạn vỡ Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ”
Trang 9+ Phá vỡ những quy luật về độ dài của một khổ trong cả bài
+ Để diễn tả cho thỏa, cho đạt sự ngút ngàn của nỗi nhớ
- Hai hình tượng “Sóng” và “Em” đan xen với nhau
+ 4 câu trước, em ẩn mình trong sóng để bộc lộ những cảm xúc trong lòng
+ 2 câu sau, em tác mình ra khỏi sóng để trực tiếp hạ lời thì thầm hai tiếng “em
– anh”
- Nỗi nhớ xuất hiện trong đoạn thơ:
+ Bao trùm không gian: “Dưới lòng sâu”, “Trên mặt nước”
+ Bao trùm thời gian: Ngày, đêm
+ Xuất hiện trong: Tiềm thức, ý thức, vô thức với cách nói lạ hóa (“Cả trong mơ
còn thức”)
=> Cái thức trong mơ chính là biểu hiện cao nhất của nỗi nhớ, nỗi nhớ bây giờ
không chỉ xuất hiện trong ý thức, tiềm thức mà còn xuất hiện cả trong vô thức
- “Lòng em”: là nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn của người nghệ sĩ
+ “Tương tư, chiều…” – Xuân Diệu:
“Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!”
+ “Sân ga chiều em đi” – Xuân Quỳnh
Sân ga chiều em đi Bàn tay da diết nắm Vừa thoáng tiếng còi tàu Lòng đã Nam đã Bắc Anh thương nơi em qua Những phố phường nhộn nhịp
Bỡ ngỡ trong ánh đèn Còn lạ người lạ tiếng
Trang 10+ Khi nói “Lòng em nhớ đến anh” có nghĩa là em đang dốc cả tâm can của mình
để trao gửi nỗi nhớ thương ấy đến anh – tình yêu đích thực của cuộc đời
=> Nỗi nhớ da diết, quặn thắt, khắc khoải, rộng lớn Bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu cũng là nỗi nhớ thương anh đang trào dâng
- Sử dụng phạm trù đối lập “Dẫu xuôi” >< “Dẫu ngược”, “phương Bắc” ><
“phương Nam”
+ Đặt giả thiết “dẫu” = Cho dù, chưa xảy ra
+ Cách nói lạ hóa “xuôi về phương Bắc”, “ngược về phương Nam” đã trở thành một tín hiệu nghệ thuật độc đáo – lời tâm tình, khát vọng của Xuân Quỳnh Đó
là những cụm từ chỉ giới hạn cách xa của không gian Dù ở nơi đâu trái tim của
em cũng chỉ hướng về một phương duy nhất
“Thuyền và biển” - Xuân Quỳnh
“Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu”
Trang 11=> Mượn phương hướng của trời đất để khẳng định lòng thủy chung là sáng tạo mới mẻ của Xuân Quỳnh
+ Cuộc đời này còn ẩn chứa rất nhiều những éo le mà em và anh cần phải trải qua
- Đất trời này dẫu có bốn phương tám hướng, có xuôi phương Nam hay ngược phương Bắc thì trái tim em cũng chỉ có duy nhất một phương để hướng về đó là phương anh – phương của hạnh phúc, của tình yêu, của khát vọng đợi, chờ, yêu, tin
KHỔ 7: Sự
Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ
+ “Thơ tình cuối mùa thu” – Xuân Quỳnh:
“Tình ta như hàng cây Đăng kí http://thichhocchui.xyz/ tại Zalo 0383572270 Thích Học Chui
Trang 12+ Để ngoài việc khẳng định một tình yêu thủy chung Xuân Quỳnh còn muốn san
sẻ những hạnh phúc của tình yêu
- Nghệ thuật đảo 2 câu cuối:
“Dù muôn vời cách trở Con nào chẳng tới bờ”
+ Để theo thông thường: Ý thơ thuận hơn và sự khẳng định trở nên chắc chắn,
đầy lý trí với một kết thúc bình ổn, có hậu
+ Kết cấu đảo: Khiến niềm tin sâu sắc mà vẫn mong manh, mang chút cảm tính
và vì thế niềm tin mãnh liệt chân chính vào đích đến cuối cùng của tình yêu như
có thêm dư vị đắng cay của người từng trải
- Hành trình của sóng tìm ra đại dương với rất nhiều những gian khổ nhọc nhằn,
có những khi sẽ gặp bão giông hay sóng gió Thế nhưng cuối cùng, vượt qua tất
cả mọi khó khăn trở ngại, sóng vẫn tìm được đến nơi đích thực thuộc về mình
- Cũng giống như hành tình của em tìm đến tình yêu của mình, bỏ qua tất cả
những giới hạn nhỏ bé, tầm thường để đến bên anh – tình yêu đích thực của cuộc
Trang 13- Cặp phạm trù đối lập “tuy” >< “vẫn”, “dẫu” >< “vẫn”: Thể hiện những triết lý
về sự vĩnh hằng của vũ trụ bao la đối lập với sự hữu hạn của đời người
- Giọng thơ trầm lắng như thể hiện những suy tư của người con gái trong tình yêu:
+ Cuộc đời này tuy dài nhưng vẫn chỉ là sự hữu hạn, rồi cũng sẽ qua đi Con người sẽ không còn đủ thời gian để yêu đương nồng nhiệt
+ Biển kia dẫu rộng thế nào, những đám mây rồi cũng sẽ bay về phía xa, khuất tầm mắt con người
=> Xuân Quỳnh là người rất đỗi nhạy cảm với những bước đi của thời gian Và chính sự nhạy cảm ấy đã dẫn chị tới tâm trạng lo âu, khắc khoải Thế nhưng đến với “Sóng”, Xuân Quỳnh đã vượt qua quy luật đó để tìm thấy sự lạc quan trong
+ “Vội vàng” – Xuân Diệu:
“Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”
+ “Hoa cỏ may” – Xuân Quỳnh:
“Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm đầy
Trang 14chính mình Lựa chọn sống tích cực, không chán nản, tuyệt vọng, sống hết mình cho mỗi phút giây
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,
Ai biết lòng anh có đổi thay?”
+ “Nói cùng anh” – Xuân Quỳnh
Em biết đấy là điều đã cũ Chuyện tình yêu, quan trọng gì đâu:
Sự gắn bó giữa hai người xa lạ Nỗi vui buồn đem chia sẻ cùng nhau
Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi Niềm đau đớn tưởng như vô tận Bỗng có ngày thay thế một niềm vui
+ “Tự hát” – Xuân Quỳnh:
“Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Trang 15Để ngàn năm còn vỗ
- “Biển”: Biển lớn tình yêu
- “Sóng”: Khát vọng hóa thân cho cái tôi cá nhân
- “Trăm ngàn”: Con số ước lệ chỉ sự vô cùng, vô tận
- Đứng trước những nỗi âu lo trăn trở thường trực khi nghĩ về sự mỏng manh của
kiếp người, cái tôi trữ tình – người con gái trong bài thơ đã hướng lòng mình đến
khát vọng hóa thân Nhìn thấy những con sóng ngoài đại dương đã trường tồn
qua hàng triệu năm, đối với Xuân Quỳnh đó là một trong những điều vĩnh cửu
Xuân Quỳnh đã lựa chọn con sóng để gửi gắm khát vọng của chính mình Đó là
khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu, để tình yêu của mình có thể trường tồn mãi mãi
- Đặt trong thời điểm ra đời ở đây cũng có thể hiểu: mang tình yêu cá nhân của
mình hòa nhập vào tình yêu Tổ quốc để tình yêu ấy trở nên có ý nghĩa hơn
=> Cái tôi cá nhân mong muốn được hóa thân, được tan ra thành trăm ngàn con
sóng nhỏ, được hòa vào đại dương để vĩnh viễn hát mãi khúc ca ngàn năm
- Người phụ nữ muốn được tan mình ra trở thành những con sóng để hòa nhập
vào biển lớn tình yêu Khao khát sự đồng điệu tuyệt đích vô biên, phá vỡ mọi
Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”
+ “Thơ tình cuối mùa thu” – Xuân Quỳnh:
“Thời gian như là gió Mùa đi cùng tháng năm Tuổi theo mùa đi mãi Chỉ còn anh và em Chỉ còn anh và em Cùng tình yêu ở lại ”
+ “Nói cùng anh” – Xuân Quỳnh
Đấy tình yêu, em muốn nói cùng anh:
Trang 16giới hạn, mọi khoảng cách để sống trọn vẹn với tình yêu trong từng hơi thở nồng nàn
=> Khao khát được sống trong tình yêu vĩnh hằng không chỉ xuất hiện khi chị ở
độ tuổi 25 mà sau này khi đã đi qua những giông bão trong cuộc đời thì đó vẫn
là khát khao mà chị mong mỏi
vọng Lòng tốt để duy trì sự sống Cho con người thực sự Người hơn
Nhận xét về tác giả, tác phẩm
1 “ Sóng là một bài thơ về tình yêu Có hàng trăm dáng vẻ của thơ tình yêu Thơ tỏ tình, thơ mong nhớ, thơ hoài niệm, thơ đau khổ
vì thất tình Sóng là bài thơ giãi bày và chiêm nghiệm ” - Trần Đình Sử
2 “Xuân Quỳnh viết bài này “bợm” thật!” - Nhà thơ Vũ Cao
3 "Thơ Xuân Quỳnh là thơ của một cánh chuồn chuồn bay tìm chỗ nương thân trong nắng nôi dông bão của cuộc đời ” - TS Chu Văn
Sơn
4 “Đó là cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la rộng lớn, cuối cùng là khát vọng
được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở” - GS TS Trần Đăng Suyền
5 “Không mặt nạ, không son phấn, không vay mượn, không lên gân, Xuân Quỳnh đã gửi mình vào thơ Thơ Xuân Quỳnh là tính linh
Xuân Quỳnh Trường hợp Xuân Quỳnh thật điển hình cho qui luật: thơ là sự ký thác phận người vào chữ Có lẽ vì thế mà, dù đời thơ
Xuân Quỳnh đã dừng, sóng thơ Xuân Quỳnh vẫn vỗ khôn nguôi.” - TS Chu Văn Sơn
6 “Thơ Xuân Quỳnh chất chứa tình yêu thương con người, như một “bản năng gốc”, từ đó làm nên chất thơ rất đậm nét ở chị Xuân
Quỳnh làm thơ dễ dàng, như lời “tự hát” ấp ủ từ đâu đó, ngân nga mỗi khi có dịp, câu thơ trôi chảy kể cả những khi diễn đạt những điều
tế nhị, sâu kín Những tình cảm được biểu hiện tự nhiên, chân thực, một cách đầy chất thơ” - Nhà thơ Lê Thành Nghị
Trang 177 Nếu không làm thơ nữa, Xuân Quỳnh không còn là mình Thơ thực là nghiệp dĩ của chị Thơ Xuân Quỳnh là niềm đau đáu bình an
giữa thời tao loạn Khi binh lửa, đạn bom cuốn mọi thân phận, mọi nguồn lực vào cuộc chiến, thơ ca cũng không thể không say máu
anh hùng mà cất lời sắt máu Dù không thể cưỡng lại thời, song, những tiếng thơ thầm kín và mãnh liệt nhất, Xuân Quỳnh vẫn chỉ dành
cho niềm khao khát yên lành: cho góc vườn đôi lứa, tổ ấm sáng đèn, vành nôi sơ tán, chiếc tã ban mai, cho lời ru thèm mặt đất, tiếng gà
nhớ nắng trưa, cho những bông hoa nghẹn hương, những cánh chuồn lạc bão những thứ bé mọn thôi, vô nghĩa nữa, mà lại hằng nhen
nhóm, cưu mang, chăm chút cả cõi đời Đó mới thực là
những con sóng dưới lòng sâu của hồn thơ Xuân Quỳnh Theo cách ấy, Xuân Quỳnh là người đàn bà bước dưới đạn bom mà làm thơ về
sự sống Không bị mắc kẹt bởi nguồn thơ lửa máu, nên chị không phải bận lòng tìm lối ra như bao người khác Tạnh bom đạn, về lại
đời thường, mạch thơ Xuân Quỳnh vẫn cứ đà xưa mà tuôn chảy Chỉ khác là, giờ đây những tâm sự đàn bà nhất được dịp khơi sâu,
những tiếng lòng từng cắt xén được hồn nhiên biểu tỏ Thiết tha với một tình yêu nặng về gắn bó, chở che và chia sẻ, chị luôn trăn trở
với sự mong manh của yêu đương, sự bấp bênh của hạnh phúc, luôn băn khoăn về nỗi lạnh nhạt của thời gian, phôi pha của tuổi trẻ,
luôn nơm nớp với mưa bão bất thường, đổ vỡ xa xôi Đây là lúc những suy ngẫm về trái tim đập sau làn áo mỏng, về bàn tay ngón
chẳng thon dài luôn sóng sánh trong thơ chị Những dự cảm về nhà ga của chia ly gặp gỡ, con tàu của khát khao đi hồi hộp mỗi khi về
luôn cồn cào trong thơ chị Những nỗi cỏ dại bị dày xéo, hoa dại bị bỏ quên, mây trắng mải phiêu dạt, lá vàng ngày một thưa, cỏ may
thèm giữ mãi, hoa cúc muốn y nguyên luôn khắc khoải trong thơ chị Càng lo liệu đắp bồi, càng lo âu phấp phỏng Con sóng thơ trong
hồn chị càng về sau càng nặng trĩu những u uẩn của một lòng nữ vốn cả nghĩ cả lo Cất lên những nỗi niềm máu thịt ấy, Xuân Quỳnh
thực là người đàn bà của muôn thuở (T.S Chu Văn Sơn)
8 Với Xuân Quỳnh, thơ là sống, sống là thơ; sáng tạo và cách tân, tất tật là nhất thể Cho nên, tìm những miền thi cảm khác lạ cho
thơ, chế tác những hình thức tân kỳ cho thơ không phải thao thức của chị Cứ hết mình sống, hồn nhiên viết, trút trọn vẹn cái tôi của
mình vào mỗi thi phẩm, thi tứ, mỗi thi ảnh, thi điệu đó là cách thơ Xuân Quỳnh Không mặt nạ, không son phấn, không vay mượn,
không lên gân, Xuân Quỳnh đã gửi mình vào thơ Thơ Xuân Quỳnh là tính linh Xuân Quỳnh Trường hợp Xuân Quỳnh thật điển hình
Trang 18cho qui luật: thơ là sự ký thác phận người vào chữ Có lẽ vì thế mà, dù đời thơ Xuân Quỳnh đã dừng, sóng thơ Xuân Quỳnh vẫn vỗ
khôn nguôi (T.S Chu Văn Sơn)
• Tên thật: Nguyễn Kim Thành
• Quê: làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện
Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Gia đình:
• Cha ông là một nhà nho nghèo, không đỗ đạt và
phải kiếm sống chật vật nhưng lại thích thơ, thích
sưu tập ca dao tục ngữ
• Mẹ ông cũng là con của một nhà Nho, thuộc nhiều
ca dao dân ca Huế
=> Nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu
- Con người:
• Là người lãnh đạo ưu tú luôn thể hiện tầm nhìn, tư
tưởng trong việc chuẩn bị về phương thức công tác
của Đảng
- Lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam
- Chặng đường thơ song hành cùng chặng đường cách mạng: mỗi trang
sử vẻ vang của dân tộc đều được tái hiện qua những tập thơ của Tố Hữu
như Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta
Trang 19• Là một tấm gương mẫu mực thực hiện xuất sắc
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa
nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em là
chiến sĩ trên mặt trận ấy
• Tố Hữu - nhà thơ lớn có công khai sáng và dẫn dắt
nền văn học cách mạng Việt Nam và đối với ông,
trăm năm duyên kiếp ĐẢNG VÀ THƠ
• Sử dụng từ ngữ và cách nói quen thuộc từ dân gian
=> Nhà thơ chiến sĩ mẫu mực, tài ba
Đoạn văn: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, nhà thơ Tố Hữu được biết đến với hình ảnh của một nhà thơ – chiến sĩ Vừa là
người chiến sĩ trung thực vô ngần vừa là người nghệ sĩ trung thành gửi trọn lòng mình qua những tiếng thơ Chặng đường thơ của
ông song song với chặng đường cách mạng đầy gian khổ nhưng cũng đầy hào hùng của dân tộc Xuyên suốt sự nghiệp mấy mươi
năm cầm bút của mình, thơ Tố Hữu luôn tạo ra được ấn tượng đặc biệt với bạn đọc bởi chất trữ tình – chính trị đậm đà Ở đây có
thể hiểu là ông thường viết về những sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc nhưng lại bằng một giọng thơ thủ thỉ, tâm tình Bên
cạnh đó, trong trang thơ của nhà thơ này, chúng ta cũng dễ dàng cảm nhận được tính dân tộc đậm đà thể hiện qua nội dung và
hình thức của bài thơ Tố Hữu được đánh giá là một trong số những nhà thơ xuất sắc nhất của mảng thơ ca kháng chiến
2 Văn bản
a Hoàn cảnh sáng tác
• Việt Bắc là căn cứ điểm Cách mạng vững chắc của Cách mạng Việt Nam Nơi đây người dân Việt Bắc đã đùm bọc, che chở và
sát cánh cùng cán bộ, bộ đội để bảo vệ nền độc lập dân tộc
• 5/1954, ta giành thắng lợi trên chiến trường Điện Biên Phủ
• 7/1954, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết
• 10/1954, các cơ quan trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc tiếp quản thủ đô Hà Nội Đây là sự kiện trọng đại
và nhân sự kiện chính trị, thời sự quan trọng này, Tố Hữu viết bài thơ để nói về cuộc chia tay giữa cán bộ miền xuôi và nhân dân
Trang 20• Bài thơ in trong tập “Việt Bắc” là bản hùng ca của kháng chiến
Chú ý :
• Bài thơ được đặt trong hoàn cảnh đặc biệt: cuộc chia ly giữa những người gắn bó với nhau sâu nặng, chia ngọt sẻ bùi Nay
trong giờ phút chia tay gợi nhắc kỷ niệm quá khứ, khẳng định nghĩa tình bền chặt, thủy chung và những hẹn ước tương lai
• Đây là cuộc chia ly đặc biệt vì người ra đi không phải rời gia đình, quê hương mà thực chất là trở về cái đích của họ chính là
quê hương, gia đình, người thân là cuộc sống hòa bình
• “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và là thành công xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp
• Bài thơ là khúc hùng ca, bản tình ca về Cách mạng, về kháng chiến, về con người kháng chiến, thể hiện rõ phong cách nghệ
thuật thơ Tố Hữu
b Thể thơ: Lục bát – Đậm đà tính dân tộc
c Lối đối đáp, xưng hô mình ta thường gặp trong ca dao
d Bố cục phân tích
Bố cục phân tích
1 8 câu thơ đầu - Khúc hát chia ly giữa người đi kẻ ở 4 - 4
2 12 câu thơ tiếp: Những năm tháng chia ngọt sẻ bùi của đồng bào Việt Bắc với cán bộ Cách mạng 4 - 4 - 4
3 22 câu thơ tiếp: Khẳng định lòng thuỷ chung tình nghĩa và tái hiện lại vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc 4 - 6 - 6 -
6
Trang 215 10 câu: Tái hiện lại kỷ niệm những ngày kháng chiến gắn với thiên nhiên VB 6 - 4
7 16 câu thơ cuối: Người ra đi nhớ Việt Bắc cũng chính là nhớ nơi ghi dấu bao hoạt động của Trung ương Đảng và
Chính phủ
8 - 8
3 Phân tích
1 8 câu thơ đầu -
* Hình thức đối đáp quen thuộc trong ca dao:
Có người ra đi và người ở lại (mình - ta), tuy nhiên đối đáp chỉ là hình thức bên ngoài còn thực chất bên trong là lời độc thoại , tự biểu hiện cái Tôi trữ tình của tác giả Cho nên dù là lời của người
ra đi hay lời của người ở lại đó vẫn là tiếng lòng chung của con người kháng chiến => Nghệ thuật phân thân của chủ thể trữ tình khiến cảm xúc trong cuộc chia tay càng thêm sâu sắc, mãnh liệt, lưu luyến
* 4 câu đầu: Lời của người ở lại
“Phút chia tay ta chỉ nắm tay mình Lời chưa nói thì bàn tay đã nói Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại Còn bồi hồi trong những ngón tay ta.”
(Lưu Quang Vũ)
“Cái tình tha thiết, bâng khuâng bồn chồn thì lời thơ nào tả cho hết được? Tình cảm càng thắm đượm, càng nồng nàn thì ngôn từ càng
Trang 22• Câu hỏi tu từ: Người ở lại - Đồng bào VB - hỏi người ra đi: khi về với Hà Nội rồi liệu còn nhớ nơi đây nữa hay không?
• “Ấy" - cá nhân hóa khoảng thời gian 15 năm - khoảng thời gian đong đầy kỷ niệm của đồng bào Việt Bắc và cán bộ
CM Đại từ “ấy” khiến những danh từ chỉ thời gian trước
nó bị đẩy về quá khứ xa xăm, thành thời gian của nỗi nhớ thương, ngậm ngùi, tiếc nuối
• “Thiết tha, mặn nồng" => Để diễn tả tình cảm gắn bó, bền chặt của cán bộ CM và đồng bào VB trong 15 năm qua
Đây vốn dĩ là những từ ngữ chỉ dùng khi nói về tình cảm của đôi lứa, uyên ương nhưng lại được Tố Hữu đưa vào đây thật phù hợp, thật đẹp, thật tình Tình cảm giữa cán bộ
CM và đồng bào Việt Bắc keo sơn, bền chặt
• Câu hỏi tu từ “có nhớ”, “có nhớ không”: Nhắc nhớ về những năm tháng đã trôi qua Câu hỏi này khiến cho con người trăn trở suy ngẫm vì sự tha thiết nghiêm nghị trong giọng thơ Câu hỏi hướng về không gian chia thành hai miền: xuôi - ngược, gợi sự quấn quýt gắn bó ta - mình, thể hiện nỗi nhớ người ở lại nhưng đồng thời cũng là lời chất vấn của người trở về thủ đô phồn hoa đô thị Liệu người ra
đi có nhớ về Việt Bắc, về cội nguồn và quá khứ Câu thơ
bất lực… Cái ngôn ngữ của bàn tay nóng ấm gắn liền với trái tim đầy xúc động, run rẩy hơn mọi lời nói khác, nhất là cuộc chia lí với chính mình này Cho nên biết nói
gì cho thỏa chứ không phải không biết nói gì, không có gì để nói.”
(Tố Hữu)
Trang 23- Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn
chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm
nay
gợi ra suy ngẫm về nghĩa tình, đạo lý, về cội nguồn thủy chung Liệu người ra đi còn nhớ về Việt Bắc, cội nguồn, nhớ quá khứ hay không?
• Nhìn cây nhớ núi: Nhớ về thiên nhiên VB / Nhìn sông nhớ nguồn: Cội nguồn của nghĩa tình
=> Hai câu hỏi tu từ với hình thức điệp từ ngữ cấu trúc, vận dụng tinh tế và sáng tạo văn học dân tộc, 4 câu thơ thể hiện ân tình sâu nặng của đồng bào Việt Bắc với người kháng chiến
* 4 câu thơ tiếp: Lời đáp lại của người ra đi - Tiếng lòng của người ra đi
• Tiếng ai - Đại từ phiếm “ai” “Ai” là người ở lại nhưng mang tính chất phiếm chỉ, không rõ ràng, không phải những người cụ thể Đó là tiếng ai đó, hay tiếng núi rừng, tiếng suối sông Việt Bắc hay tiếng lòng chưa cất thành lời
Tình tri kỷ khiến người đi thấu hiểu nỗi lòng tha thiết của người ở lại Hay nỗi lòng tha thiết của người đi gặp được
sự đồng vọng của người ở thể hiện một tấm lòng thủy chung
• Câu thơ như một lời hồi đáp của người ra đi rằng chúng tôi
đã nghe thấy những điều gửi gắm của người của ở lại - đồng bào VB
Trang 24+ “Bâng khuâng”: sự đan xen của nhiều cảm xúc, có vui, có buồn,
có lưu luyến nhớ nhung
+ “Bồn chồn”: cảm giác nôn nao, phấp phòng không yên, không
chỉ biểu hiện ở nội tâm mà còn hiện ra trong bước chân, gương
mặt, ánh mắt
=> Nhấn mạnh vào mặt cảm xúc của người ra đi: Lòng đầy lưu
luyến, bâng khuâng Bước đi ngập ngừng cứ đi rồi lại dừng, ngoái
nhìn cảnh vật và con người nơi đây => Vừa vui, vừa buồn; vừa
tiếc nuối, vừa hào hứng,
• “Áo chàm” => Hoán dụ cho đồng bào VB Trong giây phút
chia ly, nếu “tiếng ai” là âm thanh mơ hồ, là tiếng lòng
người ở lại vang lên nhờ sự đồng cảm của người đi thì hình
ảnh chiếc “áo chàm” lại hiện lên cụ thể đến não lòng
+ Áo chàm là biểu tượng đơn xơ xúc động, hình ảnh trang phục
quen thuộc của đồng bào VB
+ Màu chàm: màu thể hiện cho sự giản dị, mộc mạc, bền bỉ, chịu
thương chịu khó, màu của nghĩa tình
=> Đồng bào Việt Bắc, tô đậm những vẻ đẹp phẩm chất của người