1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BUỔI 2 KHÓA học 10 NGÀY

34 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơ này ban đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến” nhưng sau khi in lại đã được tác giả đổi tên thành “Tây Tiến” 1957 *Thông tin về binh đoàn Tây Tiến: Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thà

Trang 1

BUỔI 2 – TỔNG ÔN KIẾN THỨC NỀN (THƠ – PHẦN 2) Văn bản:

TÂY TIẾN

(Quang Dũng)

1 Tác giả

- Là người nghệ sĩ đa tài: Làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc

thứ gì cũng làm giỏi cả

- Con người:

+ Với gia đình, QD là một người trách nhiệm , ông gánh vác hết

mọi công việc nặng nhọc trong nhà, lúc nào cũng thể hiện sự quan

tâm và lòng yêu thương vợ con

+ Với bạn bè, nhà thơ Quang Dũng rất nể trọng và thường lui tới

với các văn nghệ sĩ nổi tiếng như Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Tô

Hoài, Nguyễn Tuân, Trần Lê Văn, cô Xuân Quỳnh, họa sĩ Phan…

- Quang Dũng làm thơ từ thời thiếu niên, năm 16 tuổi ông đã có bài thơ đăng báo

- Hành trình vào thế giới bút mực, minh họa chân dung cuộc đời

và sự nghiệp của Quang Dũng, ta thấy mạch tư tưởng nổi bật lên trước hết là lòng yêu đất nước

- Đề tài: Người lính và quê hương

- Giọng thơ: (4) Hồn hậu, phóng khoáng, lãng mạn, tài hoa

- Nhà thơ tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp

Đoạn văn:

2 Văn bản

a Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ

Cách ghi nhớ về hoàn cảnh sáng tác chi tiết của bài thơ như sau:

Trang 2

1947: Quang Dũng gia nhập binh đoàn Tây Tiến và giữ chức vụ đại đội trưởng

1948: Một khoảng thời gian sau đó, ông chuyển đến đơn vị khác

1948: Tham gia Đại hội thi đua ở Phù Lưu Chanh, những nỗi nhớ da diết về những người “ngồi kề vai bên nhau” như một lời

thúc giục Quang Dũng viết bài thơ Tây Tiến

Bài thơ này ban đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến” nhưng sau khi in lại đã được tác giả đổi tên thành “Tây Tiến” (1957)

*Thông tin về binh đoàn Tây Tiến: Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với quân đội

Lào chống quân đội của thực dân Pháp Chiến sĩ trong đoàn quân này phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh

viên (như nhà thơ Quang Dũng) Chiến đấu khắp các địa bàn thuộc tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa, Sầm Nứa

(Lào), trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội, nhưng "họ sống rất lạc quan và chiến

đấu dũng cảm”

b Bố cục phân tích

Bố cục phân tích

đường hành quân gian khổ

2 - 2 - 4 - 2 - 2 - 2

mênh mang, mờ ảo

Trang 3

3 Phân tích

14 câu thơ đầu: Hình ảnh

người lính Tây Tiến gắn

liền với thiên nhiên miền

Tây và những

chặng đường hành quân

gian khổ

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

- Mở đầu bài thơ bằng một tiếng gọi đầy thiết tha, trìu mến “ Tây Tiến ơi!”

- Các hình ảnh xuất hiện trong câu thơ:

+ Hình ảnh dòng sông Mã - Con sông gắn với chặng đường hành quân, gắn với những kỷ niệm của binh đoàn Tây Tiến, bên cạnh đó sông Mã còn xem như một “nhân chứng sống”

+ Hình ảnh binh đoàn Tây Tiến - Nỗi nhớ trực tiếp hướng tới những con người đã sẻ chia cho nhau những niềm vui gian khó trong chặng đường hành quân mà không ai khác chính là đoàn binh Tây Tiến

=> Nhận ra tất cả đã “xa rồi", chỉ còn trong kỷ niệm, chỉ còn trong tiềm thức Từ “xa rồi” là điểm rơi thấp nhất của câu thơ, chất chứa trong hai từ này là cả sự hụt hẫng và tiếc nuối

- Nỗi nhớ được đề cập đến: “nhớ về rừng núi" - nhớ thiên nhiên Tây Bắc

- “Nhớ chơi vơi" - Nỗi nhớ thật đặc biệt có thể hiểu theo ý nghĩa:

+ “Tiếng hát con tàu” – Chế Lan Viên:

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chi là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

+ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” – Tố Hữu

Và những chị, những anh ngày đêm ra tiền tuyến

Mấy tầng mây gió lớn mưa to Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát

Dù bom đạn xương tan, thịt nát

Trang 4

+ Đang đứng giữa lưng chừng nỗi nhớ, một nỗi nhớ da diết, mênh mang

+ Nỗi nhớ quá rộng không biết đi về nẻo nào của nỗi nhớ thương

- Gieo vần “ơi” - như là một tiếng gọi, nhưng là gọi của lòng mình

Chữ “Ơi” ở đây là âm mở, tạo ra dư ba cho câu thơ

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi

- Hai địa danh Sài Khao, Mường Lát vốn là mốc không gian địa lý nay trở thành mốc thời gian lịch sử, in dấu những kỷ niệm của một thời chiến binh

- Hình ảnh người lính Tây Tiến:

+ Sài Khao: Nổi bật lên là hình ảnh đoàn binh mỏi mệt đi giữa một biển sương mờ phủ lấp

+ Mường Lát: Xóa tan đi sự mệt mỏi của chặng đường hành quân, cân bằng lại với hương thơm của hoa rừng nở về đêm

- Dùng từ ngữ rất tinh tế: “hoa về”, “đêm hơi”

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh…

+ “Nhớ” – Hồng Nguyên

Chúng tôi đi Nắng mưa sờn mép ba lô Tháng năm bạn cùng thôn xóm Nghỉ lại lưng đèo

+ “Đồng chí” – Chính Hữu

Đêm nay rừng hoang sương

Trang 5

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

- Đặc tả sự dữ dội và bình yên của thiên nhiên Tây Bắc

- Dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm => Từ láy: Địa hình gập ghềnh, hiểm trở, gấp gãy => Khó đi; “Đèo cao, dốc đứng"

- Đặc tả độ cao: Cồn mây heo hút - Hình ảnh: những người lính Tây Tiến đang hành quân qua những đồi núi chập chùng, núi cao tới nỗi súng có thể chạm vào mây => Chặng đường hành quân đầy hiểm nguy, khó khăn, gian khổ

- Hình ảnh “súng ngửi trời": sử dụng BPTT nhân hóa với mục đích:

+ Đặc tả độ cao của núi rừng núi Tây Bắc + Chất lính: sự dí dỏm, vui nhộn, lạc quan, yêu đời + Núi: cao thì cao vời vợi

+ Vực: sâu thì sâu thăm thẳm

- Đối: lên, xuống; ngàn thước: khoảng cách lớn

=> Hiểm trở => Người đọc giống như đang “chơi 1 trò bập bênh chóng mặt”

- Nơi đèo cao, dốc đứng, người lính đưa tầm mắt nhìn về những bản làng

- Hình ảnh những nếp nhà Pha Luông ẩn hiện trong làn mưa

=> Gợi ra sự bình yên trong chính cảnh vật và trong cả tâm hồn người lính

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

+ “Lên Tây Bắc” – Tố Hữu

Lại những ngày đi, vắt với sương

Ngô bung, xôi nhạt, nước lưng bương

Ðên mưa rình giặc tai thao thức Mùa lại mùa qua rét nhức xương

Trang 6

=> Quang Dũng kéo người đọc trở về với sự cân bằng

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên sũng mũ bỏ quên đời

- Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với 2 lớp nghĩa:

+ Những người lính mỏi mệt, nghỉ ngơi trên chặng đường hành quân

=> Hình ảnh rất đỗi giản dị, gần gũi nhưng lại vô cùng đẹp đẽ

+ Sự hy sinh của những người lính Tây Tiến => Tư thế coi cái chết

“nhẹ tựa lông hồng" => “Không bước nữa" sử dụng BPTT nói giảm nói tránh

=> Tư thế hiên ngang, coi thường cái chết của những chiến binh Tây Tiến thủa ấy

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

- Sự đe dọa nơi “rừng thiêng, nước độc"

+ Thác gầm thét => Thiên nhiên rất dữ dội, hung bạo + Cọp trêu người => Sự đe dọa của thú dữ

=> Biện pháp tu từ nhân hóa => Sự nguy hiểm nơi rừng núi Tây Bắc

Trang 7

- Chiều chiều, đêm đêm chỉ vòng thời gian tuần hoàn => Sự đe dọa

ấy không phải ngày một ngày hai mà là ngày nào những chiến binh Tây Tiến cũng phải đối mặt nơi rừng thiêng, nước độc

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

- Kéo lại sự cân bằng cho người đọc với những hình ảnh thật mềm mại, nhẹ nhàng

- “Nhớ ôi Tây Tiến”: Trực tiếp thể hiện cảm xúc - Nỗi nhớ: Nhớ về những bản làng trong khói bếp ban chiều => Một hình ảnh rất đẹp, rất bình yên, rất tình (tình cảm của người chiến sĩ với đồng bào)

- Mai Châu: Địa danh với tên gọi gợi ra sự thanh thoát, nhẹ nhàng đi kèm với hình ảnh “thơm nếp xôi" tạo ra những dư vị cảm xúc bình yên trong tâm hồn người đọc

- “Mùa em” – Chi tiết đặc sắc trong câu thơ – Có nhiều ý hiểu khác nhau - Mùa của sự đủ đầy, “mùa con ong đi lấy mật, con voi xuống sông uống nước, mùa em đi phát rẫy làm nương” mùa ta gặp nhau, mùa trao yêu thương, vương luyến nhớ để xa rồi sẽ mãi không quên

Trang 8

thiên nhiên miền Tây: hiểm nguy, dữ dội, gập ghềnh nhưng cũng

có những khung cảnh trữ tình, lãng mạn, bình yên Thiên nhiên không làm con người trở nên nhỏ bé, thiên nhiên tôn vinh con người và khiến con người trở nên đẹp hơn bao giờ hết

8 câu thơ tiếp: Kỷ niệm về

đêm liên hoan văn nghệ

đốt lửa trại và buổi chiều

sông nước Tây Bắc mênh

+ Cụm từ “hội đuốc hoa” gợi ra không khí của lễ hội + Tiếng reo vui “kìa em” thể hiện niềm vui, sự bất ngờ khi nhìn thấy những cô gái dân tộc xúng xính trong bộ xiêm ý lộng lẫy + Đêm liên hoan văn nghệ trong tiếng nhạc dập dìu - âm thanh của tiếng khèn

+ Có những vũ điệu của quân và dân + Ánh sáng, âm nhạc, tình người đã đưa tâm hồn người lính trở về miền đất lạ (Viên Chăn) và xây nên những hồn thơ

+ “Bao giờ trở lại” – Hoàng Trung Thông

Các anh đi Khi nào trở lại Xóm làng tôi Trai gái vẫn chờ mong Chờ mong chiến dịch thành công

Xác thù chất núi bên sông đỏ cờ Anh đi chín đợi mười chờ Tin thường thắng trận, bao giờ

về anh?

Trang 9

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

- Buổi chiều sông nước Tây Bắc mênh mang, mờ ảo + Không gian: sông nước Châu Mộc

+ Thời gian: Chiều sương + Người đi: Chiến binh Tây Tiến + Người ở lại: đồng bào Tây Bắc + Câu hỏi tu từ: có thấy, có nhớ thiên nhiên nơi đây và con người nơi đây hay không?

cánh hoa trôi trên dòng nước lũ thật thơ mộng, thể hiện góc nhìn lãng mạn của người chiến binh thủa ấy

8 câu tiếp: Hình tượng

người lính Tây Tiến hào

Trang 10

- “Không mọc tóc”, “xanh màu lá”: để ngụy trang hay do hoàn cảnh sống khắc nghiệt => hình ảnh chân thực nhưng đó cũng là cách nói

dí dỏm hóa, vui tươi hóa của Quang Dũng về những người đồng đội của mình

- “dữ oai hùm”: tinh thần vượt lên trên khó khăn vì mục tiêu chiến đấu phía trước Nét hào hùng được nhấn mạnh giữa một hiện thực nhiều gian khổ

=> Những chi tiết tả thực đã khắc họa diện mạo rất độc đáo, đồng thời phản ánh hiện thực gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi chiến trường Tác giả không hề né tránh hiện thực, và điều đó thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc càng thêm mãnh liệt nơi những người lính Tây Tiến Mượn hình ảnh ẩn dụ để gợi tả chất kiêu hùng: đối lập giữa cái yếu đuối về thể chất (xanh xao tiều tụy) là sức mạnh của tinh thần, ý chí, ngang tàn, lẫm liệt (“dữ oai hùm”) Qua đó ta thấy được khí thế và quyết tâm của người lính Tây Tiến

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”

- “Mắt trừng” là đôi mắt mở to, đầy cảnh giác, chứa đựng ý chí căm thù giặc, lòng quyết tâm

- “Gửi mộng qua biên giới” là giấc mộng lập công, giấc mộng chiến

Quen nhau từ buổi "một hai"

Súng bắn chưa quen Quân sư mươi bài Lòng vẫn cười vui kháng chiến

+ “Đồng chí” – Chính Hữu:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

+ “Tiếng hát con tàu” – Chế Lan Viên

Con nhớ anh con, người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công

Trang 11

- Mơ về Hà Nội với “dáng kiều thơm”: người chiến sĩ Tây Tiến phần lớn là thanh niên trí thức xuất thân từ thủ đô, ra đi theo tiếng gọi của

Tổ quốc Giấc mơ của họ không phải sự bi lụy mà là động lực để họ vững tin hơn trong những tháng ngày gian khổ, “dáng kiều thơm” ở đây phải chăng là những cô gái Hà thành đầy dịu dàng, duyên dáng

mà những chàng trai trẻ ngày đêm mơ về => tâm hồn lãng mạn của người lính trẻ

=> Nhịp thơ thiết tha hơn, nối dài lý tưởng hào hùng nhưng cũng rất đỗi hào hoa của những người lính, những sinh viên tuổi đời còn rất trẻ đã quyết tâm gánh lấy “mối nợ” với non sông

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

C1: Sự hy sinh của những chiến binh Tây Tiến

- Sử dụng hầu hết từ Hán Việt tăng sự trang trọng cho câu thơ và giảm bớt sự bi thương trước bao mất mát, hy sinh của người lính Tây Tiến + “biên cương”: nơi xa xôi, hoang vu, tạo cảm giác tiếc thương, không khí như chùng xuống, xót xa

+ “mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

+ “Lên Tây Bắc” – Tố Hữu

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá nguỵ trang reo với gió đèo

Trang 12

+ “rải rác”: số lượng ít ỏi, không tập trung trên một khu vực mà là rừng sâu biên giới ít có người qua lại, không có điều kiện hương

=> Những người lính Tây Tiến hy sinh khi làm nhiệm vụ, nơi biên cương rải rác những ngôi mộ xa xứ, không một vòng hoa, không một nén nhang, không một giọt nước mắt tiễn đưa Họ đã hiến dâng cuộc đời mình thầm lặng thế cho Tổ quốc

=> Quang Dũng tôn trọng hiện thực và đã tái hiện hiện thực trên những trang thơ của mình

C2: Lời thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh + Chiến trường là mưa bom, bão đạn là nguy hiểm cận kề + Trời xanh là tuổi trẻ, tương lai, hy vọng

+ Chẳng tiếc: Thái độ bất cần, ngạo nghễ => Thể hiện tư thế của những chiến binh Tây Tiến thủa ấy, sẵn sàng hy sinh thân mình cho độc lập tự do của đất nước, dân tộc

=> Tinh thần đáng quý, đáng trọng của những chàng trai trẻ

C3: Hình ảnh về với đất mẹ của những chiến binh Tây Tiến thủa ấy + “áo bào”: Chiếc áo lính các anh đang mặc Điều kiện chiến tranh khắc nghiệt, thiếu thốn đến không có cả chiếu để bọc thi thể người lính đã hi sinh

+ “về đất”: nói giảm, nói tránh để giảm bớt đau thương và cũng là sự ngợi ca, trân trọng dành cho người anh hùng của quê hương đất nước

Trang 13

C4: Khúc điếu văn mang tầm vóc thiên nhiên, vũ trụ - Vẻ đẹp bi tráng của những chiến binh Tây Tiến

+ “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là sự nghiêng mình tiễn đưa đầy thành kính với các anh trong khúc hùng ca sông Mã

=> Người lính ra đi không hẹn ngày về, hy sinh cả tuổi trẻ cả thanh xuân

=> Không trốn tránh hiện thực, tác giả đã khắc họa sự hi sinh của người lính một cách thanh thản, thầm lặng và cao cả, gây xúc động lòng người, lay động thiên nhiên

4 câu thơ cuối: Khúc vĩ

thanh

Tây Tiến người đi không hẹn ước

- Người đi không hẹn ước => Ra đi chiến đấu không ước hẹn ngày

về, tinh thần hi sinh vì nước, xả thân vì dân tộc, vì lý tưởng vĩ đại trong tim

- Người đi ở đây là tác giả: Tác giả đã ra đi không hẹn ngày về lại đơn vị cũ Trong khi đoàn binh hàng quân càng về phía Tây càng xa cách, hi vọng ngày lặp lại càng mong manh Trong khoảng cách không gian dịu vợi, nỗi nhớ đồng đội của nhà thơ càng tỏa ra mênh mông

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

- Mỗi bước chân hành quân đi lên, dốc đèo và những bản làng mờ sương lùi lại phía sau Hoàn cảnh chiến đấu rất khắc nghiệt, có bao

+ “Bài thơ ấy” – Giang Nam

Tây Tiến biên cương mờ lửa khói

Quân đi lớp lớp động cây rừng

Và bài thơ ấy con người ấy Vẫn sống muôn đời với núi sông

Trang 14

nhiêu gian khổ, thiếu thốn nên hành trình chiến đấu là những hy sinh tiếp nối, càng khó có hi vọng trở về

- Do hoàn cảnh lịch sử quá ngặt nghèo, cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn đầu chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, đòi hỏi phải lấy tính mạng để đổi độc lập tự do Bao thế hệ thanh niên cầm súng ra chiến trường với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”

=> Ý thơ lột tả lí tưởng chiến đấu cao cả của anh bộ đội cụ Hồ, làm nổi bật phẩm chất yêu nước anh hùng của họ

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

- Mùa xuân năm ấy: Thời điểm thành lập binh đoàn Tây Tiến

- Do tinh thần bi tráng ấy mà mùa xuân thành lập đoàn quân trở thành một mốc lịch sử ghi nhận công lao to lớn của những con người anh hùng bỏ mình vì nước

- Những trái tim và linh hồn ấy còn ở lại với Sầm Nứa, tan vào với núi sông nên sẽ bất tử với thời gian

- Sầm Nứa: Địa danh lịch sử, nơi đoàn binh Tây Tiến đã giải phóng thành công có trận đánh vang dội tại đây

- Về phía tác giả: Nỗi nhớ trào lên trong lòng da diết bởi lẽ có bao nhiêu kỉ niệm chiến đấu với đoàn quân kể từ mùa xuân ấy, do đó

Trang 15

đã gợi lại nơi Sầm Nứa trên kia, vẫn gắn bó với đoàn quân Sự phân thân ấy cho thấy tình đồng chí, đồng đội thắm thiết của nhà thơ

=> Cách nói chẳng về xuôi thể hiện thái độ bất cần, khinh bạc, thể hiện chất lãng tử kiêu hùng nên tinh thần hi sinh mang vẻ đẹp lãng mạn

=> Cảm hứng “lãng mạn, anh hùng” trong những vần thơ Quang Dũng

Nhận xét về tác giả và tác phẩm

1 “Quang Dũng đứng riêng một ốc đảo, đặc biệt với bài thơ Tây Tiến, ông không có điểm gì chung với những nhà thơ khác, ông

đứng biệt lập như một hòn đảo giữa các nhà thơ kháng chiến” - Vũ Quần Phương

2 “Một bài thơ kỳ diệu và có một vị trí đặc biệt trong lòng công chúng, một bài thơ được kỷ niệm 60 năm ngày sáng tác (năm

2008), một bài thơ làm sống dậy cả một trung đoàn, khiến địa danh Tây Tiến trường tồn trong lịch sử và ký ức mỗi người Nó

như một viên ngọc sáng trong tâm hồn Việt, tấm lòng Việt và thơ ca Việt” - Nhà phê bình văn học Nguyễn Xuân Nguyên

3 Nhà thơ Quang Dũng khu biệt độc lập như một ốc đảo cheo leo giữa biển khơi xa vắng và lẻ loi hiu quạnh như một vì sao cô

độc trong không gian văn chương kháng chiến, nhưng là một người thơ tài năng hiếm hoi, không khác chi một loài hoa lạ ngan

ngát hương rừng Với những bài thơ xuất sắc được nhiều người, đa phần là sinh viên học sinh và cả những chiến sĩ cách mạng

Trang 16

và lính cộng hòa ưa thích, Quang Dũng, tác giả “Tây Tiến” xứng đáng là ngòi bút thơ áo lính tài hoa trong thi đàn dân tộc -

(Nguyễn Thanh)

4 Nhà thơ Quang Dũng như "bóng mây qua đỉnh Việt" và là một áng mây bay qua sông núi nước Việt Mây Quang Dũng bay đến

đâu, hoa lá cỏ cây và núi sông như có hồn theo đến đấy - Nhà thơ Vân Long

5 “Quang Dũng cũng là một cây bút năng nổ, người ta còn nhớ tên bài bút ký ‘Xiếc khỉ’ của ông nhưng cần biết rằng bài đó nằm

trong cả loạt bút ký mà Quang Dũng gọi là “tập ảnh” về các sinh hoạt văn hóa văn nghệ ngoài đời thường của dân thường ở vùng

Hà Nội đương thời.” - Lại Nguyễn Ân

6 “Câu thơ như một tuyệt bút thiên nhiên về sông Mã Tôi chưa đọc câu thơ nào viết về sông Mã hay hơn thế Âm vang của câu

thơ là khí tiết của con sông chiến trận, quả cảm và dũng mãnh trong độc khúc binh lửa của mình mà tạo nên chất hiệp sĩ của tứ

thơ.” - Nhà thơ Phan Quế

7 “Tây Tiến là sự tiếp tục của một dòng thơ lãng mạn nhưng đã được tác giả thổi vào hồn thơ rất trẻ, rất mới, khác hẳn những tiếng

thơ bi lụy não nùng Cũng khơi nguồn cảm hứng từ một thời gian khổ và oanh liệt của lịch sử đất nước nhưng Tây Tiến đã được

thể hiện một cách đặc sắc qua ngòi bút Quang Dũng, với một tâm trạng cụ thể- nỗi nhớ đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến

Chính niềm thương nhớ da diết và lòng tự hào chân thành của tác giả về những người đồng đội của mình đã khiến người đọc của

nhiều thế hệ rung cảm sâu xa và đó cũng chính là âm hưởng chủ đạo của bài thơ này…” - Vũ Thu Hương, in trong Vẻ đẹp văn

Trang 17

Văn bản:

ĐẤT NƯỚC

(Nguyễn Khoa Điềm)

1 Tác giả

- Quê hương xứ Huế

- Xuất thân trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu

nước và cách mạng,

- Người trí thức, sớm tham gia cách mạng, từng bị địch bắt

giam và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

- Nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

- Thể loại sở trường: Trường ca

- Đề tài: Đất nước và con người Việt Nam

- Phong cách thơ: tài hoa, uyên bác, vừa đĩnh đạc truyền thống mà vẫn hiện đại, nghiêm cẩn, trang trọng, tinh tế, trữ tình, luôn có sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng giữa chất chính luận, triết luận và những cảm xúc nồng nàn mãnh liệt của con tim

Đoạn văn: Nguyễn Khoa Điềm được coi là một trong những đại diện tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước Thấm nhuần tư tưởng từ gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và còn sớm tham gia cách mạng

nên đề tài mà ông thường đưa vào những tác phẩm của mình chính là về đất nước và con người Việt Nam Những trang thơ của

Nguyễn Khoa Điềm có sức hấp dẫn bởi sự tài hoa, uyên bác, vừa đĩnh đạc truyền thống mà vẫn hiện đại, trang trọng, trữ tình, luôn

có sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng giữa chất chính luận, triết luận và những cảm xúc nồng nàn mãnh

liệt của con tim

2 Văn bản

a Hoàn cảnh sáng tác:

Ngày đăng: 02/12/2021, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1 14 câu thơ đầu: Hình ảnh người lính Tây Tiến gắn liền với thiên nhiên miền Tây và những chặng đường hành quân gian khổ - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
1 14 câu thơ đầu: Hình ảnh người lính Tây Tiến gắn liền với thiên nhiên miền Tây và những chặng đường hành quân gian khổ (Trang 2)
14 câu thơ đầu: Hình ảnh người  lính  Tây  Tiến  gắn  liền với thiên nhiên miền  Tây và những  - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
14 câu thơ đầu: Hình ảnh người lính Tây Tiến gắn liền với thiên nhiên miền Tây và những (Trang 3)
- Hình ảnh người lính Tây Tiến: - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh người lính Tây Tiến: (Trang 4)
- Dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm => Từ láy: Địa hình gập ghềnh, hiểm trở, gấp gãy => Khó đi; “Đèo cao, dốc đứng" - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
c khúc khuỷu, thăm thẳm => Từ láy: Địa hình gập ghềnh, hiểm trở, gấp gãy => Khó đi; “Đèo cao, dốc đứng" (Trang 5)
- Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với 2 lớp nghĩa: - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với 2 lớp nghĩa: (Trang 6)
- Kéo lại sự cân bằng cho người đọc với những hình ảnh thật mềm mại, nhẹ nhàng  - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
o lại sự cân bằng cho người đọc với những hình ảnh thật mềm mại, nhẹ nhàng (Trang 7)
• Hình ảnh đối lập “dòng nước lũ - hoa đong đưa”: Hình ảnh cánh hoa trôi trên dòng nước lũ thật thơ mộng, thể hiện góc  nhìn lãng mạn của người chiến binh thủa ấy  - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
nh ảnh đối lập “dòng nước lũ - hoa đong đưa”: Hình ảnh cánh hoa trôi trên dòng nước lũ thật thơ mộng, thể hiện góc nhìn lãng mạn của người chiến binh thủa ấy (Trang 9)
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo  Núi không đè nổi vai vươn tới  Lá nguỵ trang reo với gió đèo  - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
t đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới Lá nguỵ trang reo với gió đèo (Trang 11)
C3: Hình ảnh về với đất mẹ của những chiến binh Tây Tiến thủa ấy + “áo bào”: Chiếc áo lính các anh đang mặc - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
3 Hình ảnh về với đất mẹ của những chiến binh Tây Tiến thủa ấy + “áo bào”: Chiếc áo lính các anh đang mặc (Trang 12)
* Khái quát hình tượng Đất Nước: - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
h ái quát hình tượng Đất Nước: (Trang 19)
• Đất Nước được cụ thể hóa bằng những hình ảnh thơ gợi cảm, là lời kêu gọi tinh thần đoàn kết dân tôc,̣ là lời nhắc nhở  về ý thức trách  nhiêṃ của mỗi người đối với Đất Nước  - BUỔI 2   KHÓA học 10 NGÀY
t Nước được cụ thể hóa bằng những hình ảnh thơ gợi cảm, là lời kêu gọi tinh thần đoàn kết dân tôc,̣ là lời nhắc nhở về ý thức trách nhiêṃ của mỗi người đối với Đất Nước (Trang 24)
w