PHẠM THỊ HUẾ BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC HÀ NỘI, 2019... Một số vấn đề lý luận về biểu hiện tình cảm đối vớ
Trang 1PHẠM THỊ HUẾ
BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI, 2019
Trang 2PHẠM THỊ HUẾ
BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH
Chuyên ngành: Tâm lí học
Mã số: 60 31 04 01
Người hướng dẫn khoa học:
TS Cao Xuân Liễu
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp mới của luận văn 4
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương I LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.2 Một số vấn đề lý luận về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh 11
1.2.1 Khái niệm tình cảm, tình cảm đối với gia đình 11
1.2.1.1 Tình cảm 11
1.2.1.2 Tình cảm đối với gia đình 13
1.2.2 Một số đặc điểm tâm lý của trẻ 6 tuổi 14
1.2.2.1 Đặc điểm cơ thể 14
1.2.2.2 Những thay đổi về hoạt động 15
1.2.2.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 6 tuổi 16
1.2.3 Đặc điểm tình cảm của trẻ 6 tuổi 18
1.2.4 Lý luận hoạt động vẽ tranh của trẻ 6 tuổi 20
Trang 51.2.4.1 Hoạt động vẽ tranh 20
1.2.4.2 Kỹ thuật phân tích tranh vẽ 22
1.2.5 Biểu hiện tình cảm của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh 36
1.2.6 Vai trò của tình cảm gia đình đối với sự phát triển của trẻ 6 tuổi 38
1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện tình cảm gia đình của trẻ trong hoạt động vẽ tranh 40
1.2.7.1 Ảnh hưởng từ gia đình 40
1.2.7.2 Ảnh hưởng từ giáo viên 41
1.2.7.3 Ảnh hưởng từ đặc điểm của cá nhân trẻ 42
Tiểu kết chương 1 44
Chương II TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1 Tổ chức và khách thể nghiên cứu 45
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 46
2.2.1 Nghiên cứu tài liệu văn bản 49
2.2.2 Phương pháp chuyên gia 49
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động 50
2.2.4 Phương pháp quan sát 50
2.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 50
2.2.6 Phương pháp nghiên cứu xử lý số liệu thống kê bằng toán học 51
2.2.7 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 51
2.2.8 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 52
Tiểu kết chương 2 54
Chương III THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH 55
3.1 Đánh giá của giáo viên và cha mẹ trẻ về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh 55
3.2 Phân tích một số trường hợp điển hình 59
Trang 63.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện tình cảm của trẻ 6 tuổi trong hoạt
động vẽ tranh 75
3.5 Một số biện pháp tác động giúp trẻ biểu hiện tình cảm đối với gia đình trong hoạt động vẽ tranh 78
3.5.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 78
3.5.2 Các biện pháp tác động giúp trẻ biểu hiện tình cảm đối với gia đinh của trẻ trong hoạt động vẽ tranh 79
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
1.1 Về lý luận 84
1.2 Về thực tiễn 85
2 Kiến nghị 85
2.1 Đối với nhà trường và giáo viên tiểu học 85
2.2 Đối với gia đình 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Mức độ quan sát của cha mẹ đối với biểu hiện của trẻ trong khi vẽ tranh và mức độ trẻ bộc lộ tình cảm gia đình trong hoạt động vẽ tranh 57 Bảng 3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện tình cảm của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh 77 Bảng 3.3 Những biện pháp tác động giúp trẻ biểu hiện tình cảm đối với gia đình trong hoạt động vẽ tranh 80 Biểu 3.1 Mức độ hứng thú với hoạt động vẽ tranh của trẻ 6 tuổi 55 Biểu 3.2 Hứng thú của trẻ với các loại hình tranh vẽ 56
Trang 8Một trong những phương tiện để con người bộc lộ tình cảm tốt nhất là
hệ thống tín hiệu, bao gồm chữ viết và lời nói, trong đó, tranh vẽ là một loại hình của chữ viết Vẽ tranh chính là loại hình nghệ thuật giống như âm nhạc, khiêu vũ và nó thể hiện cảm xúc, tình cảm của con người Nhìn vào bức tranh, chúng ta có thể thấy được tâm trạng, tình cảm cũng như những suy nghĩ của người vẽ Đối với trẻ em, vẽ không chỉ đơn thuần là nghệ thuật mà còn là một loại hình ngôn ngữ, bởi vì trẻ sẽ bộc lộ những suy nghĩ của bản thân và phản ánh thế giới xung quanh thông qua những hình vẽ của mình Qua hoạt động
vẽ tranh trẻ được tự do tưởng tượng, bộc lộ cảm xúc, tình cảm, niềm vui, ý thích … của mình
Đặc biệt với trẻ lên 6 tuổi, những nét nguệch ngoạc của trẻ có nhiều ý nghĩa hơn trước đó Trẻ bắt đầu thường xuyên mô tả lại “thế giới thực” trong tranh vẽ của mình, thường xuyên thêm hình ảnh của mình, bạn bè, gia đình vào cùng trong tranh – vậy nên những gì trẻ lựa chọn vẽ vào, và vẽ như thế nào đều quan trọng Thông qua việc phân tích các bức vẽ ta có thể nhận ra những cảm xúc, tình cảm hoặc các vấn đề tâm lý mà trẻ gặp phải
Trang 92
Trên thế giới và Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu tâm lý trẻ qua tranh vẽ đã khẳng định rằng hình vẽ của trẻ không chỉ giúp các nhà tâm lý hiểu thêm về đặc điểm tâm lý của trẻ mà còn xem xét tới sự phát triển trí khôn Qua bức tranh, ta có thể phần nào đánh giá được trí lực và tình cảm của trẻ dễ hơn qua lời nói, đặc biệt đối với những trẻ chưa thể nói năng lưu loát hoặc những trẻ bị khiếm khuyết giao tiếp,…
Những hình vẽ cung cấp nhiều thông tin về tâm lý trẻ em.Vì thế những hình vẽ người, vẽ cây, vẽ nhà và đặc biệt là vẽ các thành viên trong gia đình hay nhóm người sẽ cho chúng ta hiểu rõ về sự phát triển cảm xúc, tình cảm của trẻ Đây chính là ý nghĩa và tác dụng có giá trị nhất trong việc khám phá trẻ qua hình vẽ hơn là dùng hình vẽ để đánh giá trí thông minh của trẻ
Một số nhà tâm lý học, giáo dục học, giáo viên trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã phát hiện ra vấn đề tâm lý của trẻ gặp phải thông qua hoạt động
vẽ tranh Từ đó, họ có sự tác động, can thiệp giúp trẻ phát triển một cách tốt nhất, cũng như giúp trẻ trị liệu để phát triển bình thường
Nhưng thực tế việc tìm hiểu tâm lý trẻ thông qua các hoạt động trong giờ học, cụ thể là hoạt động vẽ tranh chưa được nhiều giáo viên quan tâm và biết tới cũng như giáo viên chưa có công cụ và kĩ năng cần thiết trong việc tìm hiểu tâm lý trẻ thông qua hoạt động vẽ tranh
Căn cứ vào những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa
chọn nghiên cứu đề tài: “Biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh” Qua đây chúng tôi mong muốn giúp cha mẹ và
giáo viên hiểu và quan tâm hơn tới việc tìm hiểu tâm lý của trẻ, từ đó có những phương pháp giáo dục trẻ phù hợp
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về biểu hiện tình cảm gia đình của trẻ 6 tuổi thông qua tranh vẽ và các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện này Trên cơ
Trang 103.2 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh
4 Giả thuyết khoa học
Trẻ 6 tuổi bộc lộ các tình cảm đối với gia đình qua tranh vẽ, từ đó nhà nghiên cứu có thể nhận ra được những đặc điểm tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi và các yếu tố ảnh hưởng đến tình cảm của trẻ đối với gia đình trong hoạt động vẽ tranh Có một số biện pháp tác động giúp trẻ biểu hiện tình cảm trong hoạt động vẽ tranh theo chủ đề gia đình
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình liên quan đến biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh
- Tìm hiểu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh
- Đề xuất một số biện pháp tác động giúp trẻ biểu hiện tình cảm đối với gia đình trong hoạt động vẽ tranh cho trẻ 6 tuổi
Trang 114
6 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ mức độ biểu hiện tình cảm gia đình của trẻ 6 tuổi thông qua tranh vẽ theo chủ đề gia đình, đồng thời nghiên cứu một số yếu
tố ảnh hưởng đến biểu hiện này
Địa bàn nghiên cứu - luận văn khảo sát tại Trường tiểu học Nguyễn Khả Trạc – Cầu Giấy – Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study)
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8 Đóng góp mới của luận văn
8.1 Đóng góp về mặt lý luận
Nghiên cứu góp phần hệ thống hoá và bổ sung một số vấn đề lý luận tâm lý học về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh vào tâm lý học nói chung và tâm lý học ứng dụng nói riêng, các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh
Trang 125
trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh là đặc điểm cá nhân trẻ, giáo viên và gia đình Các kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các công trình nghiên cứu về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ trong hoạt động vẽ tranh, cho thực tiễn nâng cao chất lượng cuộc sống trẻ và gia đình trẻ Đồng thời đưa ra một số biện pháp kịp thời nhằm nâng cao khả năng biệu hiện tình cảm đối với gia đình trong hoạt động vẽ tranh của trẻ
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Lý luận về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh
Trang 136
Chương I
LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới và trong nước đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn về biểu hiện tình cảm của trẻ 6 tuổi trong hoạt động
vẽ tranh của trẻ
1.1.1 Trên thế giới
Trong khi phản ánh thế giới khách quan con người không chỉ nhận thức thế giới đó mà còn tỏ thái độ của mình với nó Những hiện tượng tâm lý biểu thị thái độ của con người đối với những gì mà họ nhận thức được, hoặc làm ra gọi là tình cảm Vì lẽ đó, tình cảm đã sớm được đề cập đến trong quan điểm của Planton, Aristole, Hume… Tuy nhiên, lần đầu tiên tình cảm được thể hiện qua tranh là vào năm 1887, khi mà Corrado Ricci – nhà phê bình hội họa nổi tiếng đã in ra các hình vẽ của trẻ nhỏ và phát biện về ý nghĩa hình vẽ người trong tranh Phát hiện này đã mở đầu cho nhiều nghiên cứu về tranh vẽ khác sau này lần lượt ra đời như là nghiên cứu của Sully (1895), Partridge (1902), Kerschensteiner (1905), Levinstein (1905), Katzoaroff (1909 – 1910), Luquet (1913) [26]
Năm 1926, nhà tâm lý F.Goodenough đã đánh dấu một bước tiến quan trọng khi cho ra đời hệ thống đánh giá trí năng qua hình vẽ người của trẻ em,
hệ thống này năm 1963 đã được nhà tâm lý Harris điều chỉnh và được gọi là test Goodenough – Harris, sau đó đến năm 1972 Harris tiếp tục mở rộng và chuẩn hóa đầy đủ cùng với nhà tâm lý Roberts Hình vẽ người đã trở thành một công cụ trắc nghiệm trong nhiều test tâm lý đánh giá chỉ số thông minh (IQ) của con người [11]
Trang 147
Năm 1949 nhà tâm lý Karen Machover đã phân tích các hình vẽ về con người của trẻ em nhằm tìm hiểu nhân cách đã được phóng chiếu nên hình vẽ như thế nào Theo quan điểm này, các cảm xúc, tri giác cà tình cảm đều được đặt vào trong những bộ phận của thân thể, kết quả là hình thành hình ảnh – thân thể Theo Machover, chúng ta nên chú ý đến một số đặc điểm hình vẽ là:
Độ lớn của hình vẽ và vị trí đặt hình vẽ [11]
Năm 1960 nhà tâm lý Fisher nghiên cứu trên các thiếu niên phạm pháp
và ông thấy rằng, khi yêu cầu vẽ một người rồi vẽ một người nữa nhưng khác giới, khi yêu cầu này được nói ra cùng lúc thì điều đặc biệt là các em thường
vẽ hình người nữ trước và cả hai hình đều không có quần áo Hình vẽ người cũng được xem là một phần của test phân loại phát triển Denver, do hai nhà tâm lý Frankkenburg và Dodds xây dựng năm 1975 để phát hiện những rối nhiễu về phát triển ở trẻ nhỏ từ khi sinh đến 5 tuổi [11]
Hai nhà tâm lý Dilard và Ladsman vào năm 1968 đã đưa ra một công
cụ để đánh giá khả năng học tập của trẻ gọi là Thang xác định sớm Evanston (Evanston Early Idetification Scale – EEIS), thang này gồm 10 đề mục với số điểm khác nhau, khi trẻ vẽ thiếu một đề mục sẽ trừ số điểm tương ứng Kết quả sẽ cho biết, nếu một trẻ đạt điểm số trung bình cao, nghĩa là vẽ thiếu nhiều bộ phận, đó là trẻ cần có sự chăm sóc riêng (trẻ kém thông minh).[11]
Đối với trẻ khuyết tật về trí tuệ, các nhà tâm lý đã sử dụng các trắc nghiệm vẽ hình người với hi vọng tìm thấy những đặc điểm khác biệt về trí tuệ hay nét đặc thù về tâm lý Vào năm 1965, Whitney lại nhận thấy các em thường thể hiện dạng tật của mình trên hình vẽ, hình vẽ của các em thường thể hiện hung tính nhiều hơn và mức độ này tùy thuộc vào tính chất khuyết tật Tuy nhiên nếu xét về mặt nhận thức và trí khôn thì theo một số nhà tâm lý khác như Wawrzasek, Johnson và Sciera (1958) đã cho thấy giữa trẻ khuyết tật và trẻ bình thường không có gì khác nhau Đối với những trẻ bị tim bẩm
Trang 158
sinh, theo Green và Levitt (1962) thì thấy các em thường vẽ hình người bé nhỏ hơn trẻ bình thường, hai ông cho rằng trẻ đã có cái nhìn “thu hẹp” về thân thể.[11]
Cũng vào năm 1968 Koppitz đã đưa ra hệ thống chấm điểm các hình vẽ người nhằm xây dựng chỉ số IQ cho trẻ từ 5 – 11 tuổi Hệ thống này năm
1981 đã được Dunleary, Hason và Ssasz ứng dụng để nghiên cứu các trẻ nhỏ
ở lứa tuổi vườn trẻ đến tiểu học Gần đây hơn, Burns (1970) và Kaufman (1972) đã đưa ra nghiên cứu về động thái gia đình, để có thể nhận xét, nhận thức, đánh giá bản thân cũng như mối quan hệ với những người xung quanh
trẻ qua vẽ tranh gia đình.[26]
Nghiên cứu dưới khía cạnh đánh giá sự lo sợ, căng thẳng của trẻ qua tranh vẽ, nhà tâm lý Johns (1971) đã xem xét tính ứng nghiệm của hình vẽ căn cứ trên vị trí đặt hình vẽ của trẻ trên trang giấy Vị trí ở góc cao bên trái thường cho biết, những trẻ này đang có sự lo hãi Còn các nhà nghiên cứu như Fox, Davisdson, Lighthall và Sarason (1958) thì lại xem xét về tình trạng cứng nhắc hay tẩy xóa của hình vẽ ở các em đang có tình trạng căng thẳng lo
sợ Còn với những em ổn định thì hình vẽ mềm mại và trông có vẻ vui nhộn hơn.[26]
Một số công trình nghiên cứu về tranh vẽ gia đình:
Nhà tâm lý Schildkrout (1972) cho rằng, các trẻ nữ thường ít có ý thức
về đồng nhất hóa giới tính hơn nếu so với trẻ nam Ông cho rằng các trẻ nữ đã trải qua một thời kỳ “lưỡng tính” (không xác định giới tính về mặt tâm lý) vì thế các em sẽ vẽ hình nam hay nữ là tùy theo ảnh hưởng trong gia đình, có quan tâm tới vấn đề trọng nam khinh nữ hay không.[14]
Năm 1974, nhà tâm lý Sims đã so sánh những phát hiện qua hình vẽ hoạt động gia đình với kỹ thuật chỉ báo quan hệ gia đình (FRI: Family Relations Indicator) chủ yếu chỉ ra những vấn đề về các mối quan hệ giữa cha
Trang 161.1.2 Ở Việt Nam
Những năm 1973, nhà tâm lý Nguyễn Văn Thành đã có những nghiên cứu về hình vẽ người để so sánh sự phát triển của trẻ bình thường với trẻ chậm phát triển.[26]
Đến thập niên 80, thì việc sử dụng các Test đánh giá chỉ số phát triển (IQ) được tiến hành với tính chất thử nghiệm tại các cơ sở dạy trẻ chậm phát triển của Trung tâm Sức Khỏe Tâm Thần TP.HCM (nay là bệnh viện Tâm thần TP.HCM) Tác giả Trần Thị Cẩm đã biên dịch bộ tài liệu “Sổ tay chẩn đoán tâm lý trẻ em” vào những năm 1987, cũng đã đề cập đến một số khía cạnh về các Test vẽ hình người, hình nhà và cây cối.[26]
Ngoài ra, trong một số sách về tâm lý giáo dục như cuốn Thử trắc nghiệm con bạn – do Văn Hòa (biên dịch) – Nxb Văn Hóa Thông Tin 1998,
có giới thiệu một trắc nghiệm vẽ hình người đơn giản Trong tập sách Tâm lý
& Sức khỏe do cố GS – BS Đặng Phương Kiệt (chủ biên) – Nxb Văn Hóa Thông Tin 2000, cũng có giới thiệu trong một chương về Test vẽ hình người
do tác giả Lê Khanh biên soạn
Trang 1710
Trung tâm Nghiên cứu Tâm Lý Trẻ Em (Trung tâm N – T) do cố BS Nguyễn Khắc Viện sáng lập năm 1989, đã có những công trình nghiên cứu khá công phu về lĩnh vực này.[23] Nhưng khuynh hướng hiện nay đối với các test vẽ hình người, chủ yếu chú trọng đến việc phát hiện những vấn đề của nội tâm của trẻ hơn là tìm cách đánh giá khả năng trí tuệ
Năm 1992, Bệnh viện Nhi trung ương đã tiến hành nghiên cứu trẻ em qua việc sử dụng hình trẻ vẽ người của trẻ tại một trường tiểu học ở Hà Nội Qua nghiên cứu, các tác giả đã nhận xét là có sự tương ứng giữa điểm vẽ người và điểm học tập Hình vẽ phản ánh trí thông minh theo tuổi rõ rệt nhất
7 – 10 tuổi Các tác giả cũng đưa ra nhận đình ối với trẻ gái và trẻ trai có những đặc điểm khác nhau [25]
Năm 2002, đã có sinh viên tâm lý Pháp tiến hành nghiên cứu hình vẽ người ở trẻ em tại Việt Nam dựa theo thang chấm điểm Goodenough và đã báo cáo trong bài giảng của mình ở Bệnh viện Nhi đồng 1 – TP Hồ Chí Minh.[23]
Tác giả Trần Thị Minh Đức (2009) cho ra đời cuốn sách “Nhận biết tâm
lý trẻ qua tranh vẽ” có thể coi là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu, phân tích tranh
vẽ của trẻ em trường giáo dưỡng có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam Trong cuốn sách, tác giả đưa ra các tranh vẽ cụ thể cũng như cách thức phân tích tranh giúp người đọc hiểu thêm về cách phân tích tranh cũng như những thông điệp
mà trẻ muốn gửi đến.[7]
Tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tranh vẽ của trẻ nhưng một
số tác giả cũng đã sử dụng tranh vẽ trong việc tìm hiểu, nghiên cứu trẻ em, gợi mở nhiều vấn đề lý thú cần đào sâu Tác giả Trần Thu Hương (2010) có bài viết về tranh vẽ gia đình của trẻ - nhìn từ góc độ tâm lý, hay như nghiên cứu về đánh giá rối nhiễu tâm lý ở trẻ bằng tranh vẽ: nghiên cứu trường hợp trẻ trai 12 tuổi (Hội thảo khoa học quốc tế tâm lý học đường lần thứ ba tại Đại
Trang 1811
học sư phạm TPHCM, 2012) Năm 2013, Nguyễn Minh Anh trình bày nghiên cứu về ứng dụng tranh vẽ trong chẩn đoán và tư vấn tâm lý Nghiên cứu trình bày khái quát về giá trị của tranh vẽ, một trong những phương pháp phóng chiếu quan trọng và hữu ích nhất về chẩn đoán và trị liệu tâm lý Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng test tranh vẽ như một công cụ phát hiện sự xung đột gia đình, từ đó làm rõ tính ứng dụng cao của phương pháp này trong việc nghiên cứu tâm lý của trẻ em trong điều kiện Việt Nam.[23]
Như vậy, có thể thấy rằng, nghiên cứu tâm lý trẻ thông qua tranh vẽ đã được một số nhà tâm lý quan tâm và nghiên cứu Các công trình nghiên cứu
về tranh vẽ của trẻ em ở Việt Nam được nghiên cứu trên rất nhiều đối tượng trẻ khác nhau như trẻ có những vấn đề rối nhiễu, hay thanh thiếu niên ở trường giáo dưỡng,… Tuy những nghiên cứu trên còn tương đối mới mẻ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu tình cảm của trẻ em qua tranh vẽ, là tiền đề để phát triển khoa học và ứng dụng khoa học đó vào nghiên cứu, chăm sóc trẻ em
1.2 Một số vấn đề lý luận về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi trong hoạt động vẽ tranh
1.2.1 Khái niệm tình cảm, tình cảm đối với gia đình
1.2.1.1 Tình cảm
Lịch sử nghiên cứu tình cảm đã trải qua hàng trăm năm với nhiều công trình lớn nhỏ trên khắp thế giới Tình cảm đề cập đến những rung động của con người đối với từng sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu, động cơ của chủ thể Tuy nhiên, tuỳ dưới các góc độ khác nhau mà các nhà khoa học
có những quan điểm, định nghĩa về tình cảm khác nhau
Dựa theo thuyết vỏ não của I.P Pavlop định nghĩa: Tình cảm là kết quả của sự hoạt động phối hợp giữa vỏ não và các trung khu dưới vỏ Khi ta tri giác một đối tượng nào đó sẽ nảy sinh hưng phấn trên vỏ não, trong những
Trang 1912
điều kiện nhất định sẽ được lan rộng xuống các trung khu dưới vỏ, sau đó được chuyển qua bộ phận dưới vỏ và có những biến đổi tương ứng trong cơ thể, từ đó có những biểu hiện tương ứng bên ngoài [15]
Theo thuyết sinh học do Viện sĩ Liên Xô (cũ) P.K.Anokhin định nghĩa rằng tình cảm là một sản phẩm của sự tiến hóa, là một phương tiện thích nghi trong đời sống Những bộ phận làm nhiệm vụ lập chương trình hành động và
bộ phận làm nhiệm vụ của cơ quan nhận cảm hành động Nếu kết quả hành động phù hợp với chương trình dự định thì nảy sinh những xúc cảm dương tính, ngược lại nếu không phù hợp sẽ nảy sinh xúc cảm âm tính Từ đó hình thành nên tình cảm.[26]
Học thuyết về thông tin do nhà bác học người Nga Ximono đề cập đến tình cảm như sau: Nếu thừa thông tin có cảm xúc dương tính (thoải mái, dễ chịu), nếu thiếu thông tin có cảm xúc âm tính (căng thẳng, khó chịu, bồn chồn) Nó cho ta thấy mối quan hệ tình cảm với nhu cầu, đồng thời cũng cho thấy vai trò của thông tin về những điều kiện thỏa mãn nhu cầu đối với sự nảy sinh tình cảm.[14]
Không chỉ có các nghiên cứu ở nước ngoài mà ở Việt Nam cũng có những nghiên cứu về tình cảm Cụ thể, trong các giáo trình, tài liệu, một số nhà tâm lý học cũng có những định nghĩa về tình cảm như sau:
Tác giả Phạm Minh Hạc đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về tình cảm như sau: “Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan với nhu cầu và động cơ của họ, tình cảm là sản phẩm cao cấp của
sự phát triển các quá trình cảm xúc trong những điều kiện xã hội” [8]
Định nghĩa trên được tác giả Đinh Phương Duy phát biểu một cách ngắn gọn: “tình cảm là thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những
Trang 2013
sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan có liên quan đến nhu cầu và động
cơ của họ” [6]
Trong cuốn Giáo trình Tâm lý học đại cương tác giả Nguyễn Xuân Thức
đã đưa ra định nghĩa: “tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan với nhu cầu và động cơ của con người” [19]
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, tuy tiếp cận dưới góc độ khác nhau về tình cảm nhưng các nhà tâm lý học đều thống nhất với nhau rằng tình cảm là một thuộc tính tâm lý chỉ có ở người, giúp con người thực hiện các chức năng
xã hội Tình cảm do một loạt sự vật, hiện tượng gây nên chứ không phải từng
sự vật hiện tượng riêng lẻ Tình cảm được hình thành từ những xúc cảm đồng loại, do sự tổng hợp hóa, động hình hóa, khái quát hóa các xúc cảm đó mà thành Xúc cảm là cơ sở, là phương tiện biểu hiện của tình cảm, ngược lại, tình cảm có ảnh hưởng trở lại, chi phối các cảm xúc của con người [19]
Tuy có rất nhiều quan điểm về tình cảm, tuy nhiên, trong phạm vi luận
văn, chúng tôi sử dụng định nghĩa về tình cảm như sau: Tình cảm được hiểu là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ
1.2.1.2 Tình cảm đối với gia đình
Trong lịch sử phát triển của xã hội, gia đình là tổ chức cơ sở đầu tiên đối với đời sống của mỗi cá nhân, là tế bào hợp thành đời sống xã hội, không
có gia đình để tái sản xuất ra bản thân con người, ra sức lao động thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, từ khi xã hội còn sơ khai đến thời đại văn minh, mỗi cá nhân sinh ra cho đến khi
từ biệt cõi đời đều gắn bó với gia đình
Gia đình có các chức năng cơ bản: chức năng duy trì nòi giống, chức năng kinh tế, chức năng giáo dục, chăm sóc con cháu, chức năng thỏa mãn
Trang 2114
các nhu cầu tâm lý người, chức năng chăm sóc người già yếu,… Trong tất cả các chức năng kể trên, chức năng giáo dục, chăm sóc con cháu là chức năng cơ bản và quan trọng nhất, vì nó quyết định đến tương lai của con người Những thành viên trong gia đình thường xuyên tương tác với nhau, sử dụng tình yêu thương, tình cảm như một sợi dây gắn kết trong gia đình, đặc biệt là các thành viên nhỏ như trẻ em, từ đó giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất
Tình cảm gia đình vì vậy được coi là tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất của con người Song, hiện nay do các yếu tố về văn hoá xã hội nên chưa
có định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ này Trong phạm vi luận văn, chúng tôi xin đưa ra khái niệm công cụ tình cảm đối với gia đình như sau:
Tình cảm đối với gia đình là những thái độ thể hiện sự rung động của con người đối với những sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ gia đình
có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ
1.2.2 Một số đặc điểm tâm lý của trẻ 6 tuổi
Ở mỗi một giai đoạn lứa tuổi có những đặc điểm phát triển, tâm lý riêng Đời sống tâm lí của học sinh tiểu học có những biến đổi và phát triển
Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,
Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng
Trang 2215
Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao trung bình khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng trung bình đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ).[24]
Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối
mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh
1.2.2.2 Những thay đổi về hoạt động
❖ Hoạt động của học sinh tiểu học
- Giai đoạn trẻ 6 tuổi, bắt đầu bước từ lứa tuổi mầm non lên tiểu học, hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập
Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động
+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân
và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, Ngoài ra, trẻ còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,
+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,
❖ Những thay đổi kèm theo
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương
Trang 231.2.2.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 6 tuổi
Đây là giai đoạn, tất cả các cơ quan cảm giác, tri giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính không chủ động, đại
thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định Ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan; tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
- Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy
- Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, xa rời thực
tế, chưa bền vững và dễ thay đổi
Trang 2417
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới càng gần gũi hơn với hiện thức và phản ánh đúng đắn, đầy đủ thực tế hơn Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, trong giai đoạn này tưởng tượng của các em bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
- Trí nhớ: Ở học sinh tiểu học loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm
ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm
ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
- Chú ý: Chú ý không chủ định được phát triển mạnh mẽ và có ưu thế, chú
ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Những gì mang tính mới mẻ, ngạc nhiên, bất ngờ, rực rỡ đều dễ dàng thu hút sự chú ý của các em Càng về cuối cấp, trẻ dần hình thành khả năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình, chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn này phát triển mạnh về cả ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng vì thế mà tăng lên Ngôn ngữ viết được hình thành và phát triển mạnh Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự
Trang 25- Tự đánh giá: Ở học sinh tiểu học, biểu tượng về mình và tự đánh giá được hình thành và cùng với chúng là các kĩ xảo tự kiểm tra, tự điều hành đã được xuất hiện
Ở lớp đầu tiểu học, từ chỗ đánh giá dựa vào ghi nhận của bố mẹ, thầy
cô, bạn bè thì đến cuối tiểu học việc đánh giá của trẻ ít dựa vào điều đó mà dựa vào mẫu chuẩn để đánh giá
Học sinh tiểu học có xu hướng đánh giá cao hơn khả năng của mình
1.2.3 Đặc điểm tình cảm của trẻ 6 tuổi
Cũng giống như tình cảm, đặc điểm tình cảm của trẻ 6 tuổi cũng là một đặc trưng tâm lí người, vì vậy có những đặc điểm sau:
Tính nhận thức: Tình cảm của con người được tạo nên bởi 3 yếu tố nhận thức, rung động và thể hiện cảm xúc Chủ thể luôn nhận thức được đối tượng, nguyên nhân gây ra tình cảm cho mình
Tính xã hội: Tình cảm chỉ có ở con người, nó không chỉ là những phản ứng tâm lý đơn thuần mà mang tính xã hội và thực hiện chức năng xã hội, được hình thành trong môi trường xã hội
Tính ổn định: Tình cảm là thái độ tính ổn định của con người với hiện thực xung quanh và với bản thân Nó là một thuộc tính tâm lý, khó hình thành
và cũng khó mất đi Nó ở dạng tiềm tàng của nhân cách, khi có điều kiện nó
Trang 2619
sẽ biểu hiện ra bên ngoài bằng những xúc cảm cụ thể Đặc điểm này giúp chúng ta phán đoán tình cảm của một người nào đó
Tính chân thật Tình cảm phản ánh chính nội tâm thực của con người
dù người ấy có cố tình che dấu bằng những “động tác giả” bên ngoài Theo K.Đ.Ushinxki - “Không có cái gì – không một từ nào, một ý nghĩ nào, thậm chí một hành vi nào của chúng ta lại biểu thị bản thân ta và thái độ của ta với thế giới một cách rõ ràng và hoàn toàn như cảm xúc của chúng ta
Tính "đối cực": Trong cùng một tình huống, hoàn cảnh, nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu khác sẽ bị kìm hãm, điều này làm phát triển những tình cảm có tính chất đối lập nhau như vừa yêu vừa ghét, vừa giận vừa thương Nếu thiếu những rung động tương phản thì đời sống tình cảm của con người sẽ buồn tẻ, đơn điệu và thậm chí bão hòa
Tính khái quát: Tình cảm có được là do quá trình tổng hợp hóa, động hình hóa, khái quát hóa những xúc cảm đồng loại Nó là thái độ của con người với một loạt các sự vật, hiện tượng Tình cảm phản ánh tính chất chung của nhiều xúc cảm đơn lẻ Chẳng hạn lòng nhân ái của trẻ được khái quát từ sự yêu mến cái tốt, sự tức giận với cái ác, sự thông cảm, đồng cảm với những hoàn cảnh bất hạnh, lương thiện… [8]
Ở độ tuổi 6 tuổi, trẻ mới bước từ lứa tuổi mẫu giáo lên lứa tuổi đầu tiểu học, tình cảm của trẻ mang tính cụ thể, trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng cụ thể sinh động, rực rỡ Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều.)
Tình cảm là mặt phát triển phong phú và sâu sắc nhất so với các chức năng tâm lý khác, chi phối mạnh mẽ cuộc sống của trẻ, là động lực mãnh liệt
Trang 2720
thúc đẩy trẻ hành động Nhu cầu được yêu thương của 6 tuổi là rất lớn Trẻ vui mừng khi được người lớn hay bạn bè thương yêu, khen ngợi và thấy buồn khi bị người khác thờ ơ, lạnh nhạt, trách phạt Tình cảm của trẻ 6 tuổi mang đậm tính dễ xúc cảm, đó là nét nổi bật trong đời sống tình cảm của trẻ
Những biểu hiện tình cảm của trẻ 6 tuổi được thể hiện trên nhiều phương diện như là: phương diện sản phẩm của hoạt động, phương diện ngôn ngữ, phương diện cử động biểu cảm
1.2.4 Lý luận hoạt động vẽ tranh của trẻ 6 tuổi
1.2.4.1 Hoạt động vẽ tranh
Vẽ là một hoạt động biểu hiện nhiều đặc trưng tâm lý của một con người [16] Trong các thời kỳ phát triển ban đầu của trẻ nhỏ, hình vẽ nói lên được nhiều hơn lời nói
Do đó, kỹ thuật về phân tích hình vẽ cũng là kĩ thuật lý tưởng để phát hiện các thông tin nội tâm của trẻ Quan sát hành vi của trẻ khi vẽ cũng có những tác dụng nhất định Trẻ em thể hiện rất nhiều những cảm xúc vui, buồn, hạnh phúc, ước mơ của mình qua tranh vẽ Vì thế, tranh vẽ cũng được coi là hình thức giao tiếp của trẻ đối với thế giới xung quanh
Từ việc tìm hiểu các bức vẽ của trẻ, người lớn, người chăm sóc hay giáo dục trẻ có thể thấu hiểu tâm tư, tình cảm của trẻ để kịp thời giúp đỡ, bảo
vệ và giáo dục trẻ phát triển tự nhiên, lành mạnh hơn
Trước 6 tuổi: Trẻ bắt đầu có sự chọn lựa giữa một hình mẫu phải sao chép cho đúng với hình vẽ theo sở thích của mình Do khả năng tổng hợp chỉ mới bắt đầu phát triển, nên hình vẽ của trẻ chưa có chủ đề, khi xong rồi thì tùy theo cảm tính để đặt tên
Giai đoạn 6 tuổi: Trẻ đã có ý thức mình muốn vẽ cái gì Các thao tác của trẻ dần dần trở nên chính xác, trẻ sao chép lại được các mẫu tự, các hình cong và thẳng, trẻ sao chép đúng hình thoi Tranh vẽ của trẻ 6 tuổi đang ở giai
Trang 2821
đoạn thực tại trí tuệ (6 - 12 tuổi) Thông qua tranh vẽ trẻ liệt kê những gì trẻ biết về thế giới đồ vật (chẳng hạn khi vẽ nhà trẻ đã biết vẽ cả những cái gì bên trong nhà trên một mặt phẳng Thực tế không thể nhìn thấy nhưng trẻ lại có thể vẽ như nhìn xiên qua được.)
Các nhà tâm lý học cho rằng hình vẽ của trẻ có chức năng như ngôn ngữ vì trẻ dùng hình vẽ để bộc lộ ý nghĩ của trẻ Những đồ vật mà trẻ vẽ đều
có đặc tính người như ông mặt trời có mặt cười, cửa sổ có mắt, cửa chính có miệng Tóm lại hình vẽ của trẻ trong giai đoạn này thực tế hơn giai đoạn trước, hình người bắt đầu có nhiều cử chỉ kèm theo
Vẽ tranh là một trong những kỹ thuật phóng chiếu đặc thù cho trẻ em Phóng chiếu là sự phóng lên, gán cho người khác những cảm xúc ham muốn
mà không thể chấp nhận là chính của bản thân; đây là một cơ chế tự vệ nhằm giữ thăng bằng cho bản thân Tranh vẽ để phát hiện các đặc điểm nhân cách được đặt cơ sở trên nguyên tắc phóng chiếu, có nghĩa là sự chuyển ra bên ngoài những trải nghiệm, hình dung, ước muốn của bản thân… Khi vẽ một vật nào đó, con người thường một cách vô thức, có khi là một cách có ý thức, thể hiện quan hệ, thái độ của mình đối với vật đó Con người có xu hướng vẽ những gì quan trọng nhất đối với họ trước Những thứ yếu sẽ được quan tâm
ít hơn Nếu một vấn đề nào đó làm họ bận tâm hơn thì sẽ thể hiện những dấu
ấn của sự lo âu trên hình vẽ [23]
Khi trẻ em chưa có đủ kỹ năng nói hoặc viết, thì vẽ là phương án quan trọng để tự bộc lộ Tuy chưa phải hoàn toàn nhưng kỹ thuật này có thể tìm được những thông tin về trẻ, giúp trẻ bộc lộ cảm xúc mà những kỹ thuật khác chưa tìm ra được
Một kỹ thuật phóng chiếu tốt nhất phải cho phép chủ thể phóng chiếu nhân cách toàn bộ của trẻ, cả ý thức lẫn vô thức trên một chất liệu ít được cấu
Trang 29Như vậy, người ta có thể đạt tới tâm tư sâu xa của trẻ và phân biệt được những nét lớn về tình cảm của trẻ Tuy nhiên cần lưu ý tránh, những nhận định vội vàng: cần phải biết rằng đằng sau một bức tranh vẽ nhìn bề ngoài đơn giản, nhưng cần chú ý đến những chi tiết và tìm ra tính chất tượng trưng
mà đôi khi bức tranh chứa đựng Cần thật thận trọng và chấp nhận việc rà soát lại nhiều lần ý kiến của mình về những điểm tưởng như đã đạt được rồi.[11]
Trong các thời kỳ phát triển ban đầu của trẻ nhỏ, hình vẽ nói lên được nhiều hơn lời nói, đa số trẻ đều thích vẽ vì kỹ thuật vẽ khá dễ dàng với trẻ Do
đó, hình vẽ là kỹ thuật lý tưởng để phát hiện các thông tin nội tâm của bản thân trẻ nhỏ Vẽ không chỉ là phương pháp giao tiếp của trẻ mà còn là phương tiện phát triển tính tự lập Trong khi vẽ, trẻ có thể tập trung vào bức vẽ, cách biệt với xung quanh, độc lập với những ý nghĩ của mình và bộc lộ được những nỗi tâm tư, tình cảm của bản thân Khi trẻ vẽ cũng cần lưu ý, quan sát nét mặt, cử chỉ, hành vi của trẻ khi vẽ mang lại rất nhiều thông tin hữu ích khi phân tích tranh
1.2.4.2 Kỹ thuật phân tích tranh vẽ
Trên cơ sở một bức tranh thực tế, cần diễn giải, trình bày những giả thiết về bức tranh theo xu hướng sau:
Trang 3023
Miêu tả thực tế chung nhất, khái quát nhất bức tranh nhằm trả lời câu hỏi: nó như thế nào? Miêu tả những điều tri giác được trên tranh thể hiện sự khách quan, khả năng quan sát của người phân tích tranh vẽ Miêu tả thực tế giúp tránh được sự phát biểu định kiến, hay áp đặt quan điểm cá nhân lên hình
vẽ của trẻ
Lý giải nội dung của bức tranh theo công cụ phân tích tranh đã được các nhà tâm lý học xây dựng và đã được biểu tượng hóa Cần lưu ý bức tranh của trẻ vẽ luôn dựa trên nguyên tắc quy gán văn hóa - xã hội mà trẻ thuộc về Mỗi nền văn hóa đều có các quy tắc ứng xử riêng
Sau khi đã phân tích toàn bộ bức tranh của trẻ, người phân tích tranh cần tóm lược xem bức tranh đó toát lên thông điệp gì là chủ đạo Đó chính là kết luận
Theo Elaine Fernandez, nhà tâm lý lâm sàng thực hành, khi phân tích một bức tranh cần lưu ý tới khía cạnh nội dung và hình thức hiển thị trên tranh Dưới đây là những khía cạnh nội dung và hình thức hiển thị cần phân tích trên tranh:
Xu hướng nhút nhát, e ngại, tự có lại, bất an
Có thể nhận thức không tốt về bản thân, lo lắng nội tâm
Hình càng bé càng tự ti và càng cảm thấy bản thân mìn
ít có giá trị
Vẽ một mình Cảm thấy cô đơn, đơn độc
Trang 31Chi tiết người
Không có mắt hoặc che mắt Không muốn tiếp xúc thị giác
Thái độ cô lập
Có thể có dấu hiệu bệnh tâm thể Mắt quá to (không phải là
theo một trường phái nào đó)
Có xu hướng biểu hiện lo hãi
Vẻ ngây thơ, dễ bộc trực Tai quá to hoặc không có tai Quan tâm đến những lời nói của người khác
Cằm nhọn, rõ nét
Vẻ ngây thơ, hiền lành, nhu mì Cương nghị, mạnh mẽ, trực tính, xu hướng hành động
Tay nhỏ, gầy Biểu hiện yếu kém về năng lực xã hội
Mặc cảm tội lỗi (bàn tay làm điều xấu hoặc liên quan đến trộm cắp, giết người )
Thân người gầy Không thích bộc lộ, tránh rắc rối
Hoặc mong muốn người nhỏ nhắn
Trang 3225
Bộ phận bị tẩy xóa hoặc ẩy
xóa toàn bộ hình vẽ
Xu hướng lo âu Không muốn sự tồn tại chỗ nào đó nên tẩy xóa
Hình người có giới tính không
rõ ràng hoặc nói về bản thân
nhưng hình người lại khác
giới tính
Trẻ khó khăn trong việc đồng nhất hóa giới tính của bản thân (do thiếu vắng mô hình giới tính để đồng nhất bản thân với cha hoặc mẹ) Trẻ là người lệ thuộc, cảm thấy mình bị áp chế Cảm giác thấp kém về bản thân
Vẽ người hung, siêu nhân Mong muốn về sức mạnh, nam tính, cứng rắn Nhà du hành vũ trụ, lái tàu
biển, nhà thám hiểm
Mong muốn đi xa, muốn được giải thoát Cảm giác cô đơn, cảm giác bị kìm kẹp
Vẽ thầy cô mặc đẹp, tay cầm
sách
Vẽ thầy cô xấu xí, lem nhem
Kính trọng, yêu quý thầy cô
Đề cao và yêu quý người đó
Người được vẽ trước Người được yêu quý nhất, người có giá trị nhất Cha mẹ đứng cạnh Gia đình hòa thuận
Trang 3326
nhau, nắm tay nhau
Đứa trẻ đứng chen giữa
Bôi đen mặt người,
không nhận được ra,
hoặc bôi đen toàn thân
Không muốn nghĩ đến, không thừa nhận, muốn chối
bỏ người đó Cảm giác bi quan, cô đơn và cách biệt với mọi người xung quanh
Nhà không cửa, không đường vào
Nhà có nhiều đường ra vào xung
trái tờ giấy
Mơ về quá khứ, muốn gắn bó với mẹ Nhu cầu sở hữu kỉ niệm gia đình
Trang 3427
Nhà xấu xí Không có niềm vui trong cuộc sống gia
đình, không muốn sống trong ngôi nhà
đó
Nhà vẽ đẹp, tỉ mẩn, có nhiều màu sắc,
hoa lá bao quanh
Yêu quí gia đình, mong ước cuộc sống đầm ấm, sự thanh bình
Nhà có nhiều chi tiết, đồ vật Có nhiều kỷ niệm với ngôi nhà, có mối
quan hệ tốt với cuộc sống thực tại
Đồ vật không có biểu hiện của sự
Đồ vật không có thực Mong muốn có đồ vật đó
Vẽ con vật sống trong nhà, không có
Đám mây đen, trời tối Xu hướng lo âu, cảm giác tương lai
mờ mịt
- Một số hình vẽ dáng cây, rễ cây và nhân cách con người
Theo Bour (1961), Chirol (1965), Lief (1968), Cuerq (1974), Stora (1975), Abad Alegria (1985), DE Casstilla (1994), L Fernandez (2005) [7]
Trang 35Cây phát triển phía trên Trí tuệ, thích mơ mộng
Tranh vẽ nhiều cây rất lớn, tràn đầy
Có cảm giác không an toàn, thiếu hụt
Rễ cây rất mảnh Kém tiếp xúc, hiểu biết thực tế
Các rễ cây vẽ bằng một nét Có tính thỏa mãn sự tò mò theo kiểu trẻ
thơ Mong muốn được biết những cái gọi là bí mật Hành vi trẻ thơ
Rễ cây nhọn vẽ bằng một nét (cây
đứng trên các rễ cây nhọn)
Thái độ phản kháng, không thoải mái Không hài lòng một cách vô cớ với tình cảnh của mình
Trang 3629
Ví dụ về hình dáng cây và đặc điểm nhân cách:
Trang 3730
- Đường nét vẽ, lực ấn và tốc độ vẽ
Theo Machover (1949), Hegar (1962), Roseline David (1971)[7]
Vẽ đường thẳng, dài Hướng ngoại, có khả năng đương đầu, sống
theo nguyên tắc Đường chéo Người có tính năng động
Cảm giác bất ổn, lo âu không xác định được hoặc mất thăng bằng
Đường cong, tròn Người nhạy cảm, mềm mại
Có xu hướng hành động lặng lẽ, nhẹ nhàng Người giàu hình ảnh, biểu tượng
Đường nét rắm rối, đường vẽ
nhì nhằng, đan xen lẫn lộn
và tràn lấp toàn bộ khoảng
Lo âu rõ rệt
Trang 38Có xu hướng cá tính, chống lại thực tế Nét vẽ không đều đậm nhạt Cảm giác bất an, lo lắng
Nét vẽ nhẹ nhàng, đều đặn Tâm trạng ổn định, thư thái
Là người nhanh nhẹn Nét vẽ mờ, không rõ ràng Giàu tình cảm, dễ xúc động
Nét vẽ rõ ràng Người độc lập, tính cách bền vững, lý trí Nét đứt quãng Người thiếu tự tin, rụt rè, mất tự chủ
Trang 3932
Nhận xét về nét vẽ, L.Rernandez (2005) cho rằng: Nếu trên bức tranh
có nhiều nét vẽ ấn tì, nhiều lực mãnh liệt, dữ dội, nhiều dục năng dồn vào, nghĩa là chủ thể có xu hướng bày tỏ sự chống đối lại hiện thực xung quanh,
xu hướng tăng cường sức mạnh của niềm tin, tăng cường những cảm xúc mạnh, làm dồi dào sức sống Trong khi nét vẽ nhẹ, mờ phản chiếu tính dễ bị tổn thương, hoặc sự mong manh dễ vỡ Còn sự ứ đọng của nét vẽ dẫn đến sự
Nhóm màu lạnh gần màu xanh
da trời, xanh lá cây, tím xanh
Người có cảm giác lạnh lẽo
Trầm lắng, hiền hòa, thụ động
Xu hướng khép kín, nội tâm
Màu nóng gần màu đỏ, cam,
vàng, huyết dụ
Người có cảm giác ấm áp Hiếu động, có sức sống
Xu hướng thích nghi với ngoại cảnh Màu sáng và màu nóng Người hướng ngoại cởi mở, năng động
Nhiều màu sắc Thích nghi tốt, vui tươi, lạc quan
Một, hai màu Xu hướng thu mình, không ổn định cảm xúc,
khó thích nghi Không sử dụng màu Nghèo nàn cảm xúc
Không thích nghi, thu mình
Ít màu, thiên màu tối Hướng nội, kém ổn định cảm xúc
Khó tiếp xúc, bị ức chế, gò bó Màu đỏ đậm Người năng nổ, xung động, có khả năng đường
đầu, chống trả sự giận dữ, bạo lực, hủy diệt
Trang 4033
Cảm giác sức mạnh, quyền lực, tính vị kỷ Dũng cảm, mạnh mẽ, nồng nhiệt, đam mê
Xu hướng dâm dục Nhiều màu đỏ Tích cực, kích thích liên tưởng trong não
Thích hoạt động, thích nghi tốt
Cá tính mạnh, xu hướng hung tính, kiềm chế kém
Xanh da trời Thích nghi tốt, có tính kỷ luật
Trung thực, trong sáng, khôn khéo Điềm tĩnh, công bằng, nhân văn Xanh lá cây Nhiều ước mơ, tư chủ, thư thái, điềm tĩnh, cân
bằng Biểu hiện của tình yêu và sự khôn khéo Màu xám Mẫu thuẫn trong quan hệ xã hội, bướng bỉnh
Da cam Thoải mái, nhiệt tình, vui vẻ với mọi người
xung quanh
Khiêm tốn, chân thực, vâng lời
Màu vàng Thông minh, nồng ấm, dễ chịu, vui vẻ
Là người có xu hướng tận tâm, dễ ghen tị hay phản bội
Vàng và xanh Cân bằng, quân bình, hài hòa
Màu hồng Khôn khéo, khiêm tốn, tinh tế, nhẹ nhàng
Trắng Trong sáng, nguyên vẹn, tinh khiết, sạch sẽ