Kỹ thuật phân tích tranh vẽ

Một phần của tài liệu luận văn sửa lần 3- huế 0974501575 (Trang 29 - 43)

Chương I. LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH

1.2. Một số vấn đề lý luận về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi

1.2.4. Lý luận hoạt động vẽ tranh của trẻ 6 tuổi

1.2.4.2. Kỹ thuật phân tích tranh vẽ

Trên cơ sở một bức tranh thực tế, cần diễn giải, trình bày những giả thiết về bức tranh theo xu hướng sau:

23

Miêu tả thực tế chung nhất, khái quát nhất bức tranh nhằm trả lời câu hỏi: nó như thế nào? Miêu tả những điều tri giác được trên tranh thể hiện sự khách quan, khả năng quan sát của người phân tích tranh vẽ. Miêu tả thực tế giúp tránh được sự phát biểu định kiến, hay áp đặt quan điểm cá nhân lên hình vẽ của trẻ.

Lý giải nội dung của bức tranh theo công cụ phân tích tranh đã được các nhà tâm lý học xây dựng và đã được biểu tượng hóa. Cần lưu ý bức tranh của trẻ vẽ luôn dựa trên nguyên tắc quy gán văn hóa - xã hội mà trẻ thuộc về.

Mỗi nền văn hóa đều có các quy tắc ứng xử riêng.

Sau khi đã phân tích toàn bộ bức tranh của trẻ, người phân tích tranh cần tóm lược xem bức tranh đó toát lên thông điệp gì là chủ đạo. Đó chính là kết luận.

Theo Elaine Fernandez, nhà tâm lý lâm sàng thực hành, khi phân tích một bức tranh cần lưu ý tới khía cạnh nội dung và hình thức hiển thị trên tranh.

Dưới đây là những khía cạnh nội dung và hình thức hiển thị cần phân tích trên tranh:

- Hình vẽ người

Theo Machover (1949), Dennis (1966), Wagner (1980), Klepsh (1982). [7]

Hình vẽ quá lớn chiếm gần hết tờ giấy

Xu hướng mạnh mẽ, bạo dạn, hiếu động, hung tính, bột phát, khó kiềm chế được nội tâm.

Hoặc ngược lại, nhút nhát, tự ti nhưng mong muốn qyền lực, muốn được để ý đến.

Hình vẽ bé tí hoặc vẽ người/ vật nhỏ xíu

Xu hướng nhút nhát, e ngại, tự có lại, bất an.

Có thể nhận thức không tốt về bản thân, lo lắng nội tâm

Hình càng bé càng tự ti và càng cảm thấy bản thân mìn ít có giá trị.

Vẽ một mình Cảm thấy cô đơn, đơn độc

24

Nếu vẽ một mình lớn ở giữa trung tâm có thể là lo lắng hoặc vị kỷ trung tâm

Vẽ hình người (cây, vật) nghiêng ngã

Cảm giác mất thăng bằng, không an toàn, bất an, không có chỗ dựa.

Chi tiết người

Không có mắt hoặc che mắt Không muốn tiếp xúc thị giác Thái độ cô lập

Có thể có dấu hiệu bệnh tâm thể Mắt quá to (không phải là

theo một trường phái nào đó)

Có xu hướng biểu hiện lo hãi Vẻ ngây thơ, dễ bộc trực

Tai quá to hoặc không có tai Quan tâm đến những lời nói của người khác về mình

Có thể bị điếc hoặc nặng tai.

Miệng cười Không có miệng

Có thái độ hợp tác, vui vẻ

Có vấn đề trong quan hệ mẹ con sớm

Nhe răng lớn Xu hướng tấn công, hung tính, phản ứng chống đối

Vai vuông to Xu hướng phòng vệ cá nhân, muốn mạnh mẽ Cằm tròn

Cằm nhọn, rõ nét

Vẻ ngây thơ, hiền lành, nhu mì

Cương nghị, mạnh mẽ, trực tính, xu hướng hành động

Tay nhỏ, gầy Biểu hiện yếu kém về năng lực xã hội

Mặc cảm tội lỗi (bàn tay làm điều xấu hoặc liên quan đến trộm cắp, giết người )

Thân người gầy Không thích bộc lộ, tránh rắc rối Hoặc mong muốn người nhỏ nhắn

25 Bộ phận bị tẩy xóa hoặc ẩy

xóa toàn bộ hình vẽ

Xu hướng lo âu

Không muốn sự tồn tại chỗ nào đó nên tẩy xóa

Hình người có giới tính không rõ ràng hoặc nói về bản thân nhưng hình người lại khác giới tính

Trẻ khó khăn trong việc đồng nhất hóa giới tính của bản thân (do thiếu vắng mô hình giới tính để đồng nhất bản thân với cha hoặc mẹ).

Trẻ là người lệ thuộc, cảm thấy mình bị áp chế. Cảm giác thấp kém về bản thân

Vẽ người hung, siêu nhân Mong muốn về sức mạnh, nam tính, cứng rắn Nhà du hành vũ trụ, lái tàu

biển, nhà thám hiểm

Mong muốn đi xa, muốn được giải thoát Cảm giác cô đơn, cảm giác bị kìm kẹp.

Công an Xu hướng muốn quyền lực, sự mạnh mẽ.

Vẽ thầy cô mặc đẹp, tay cầm sách.

Vẽ thầy cô xấu xí, lem nhem

Kính trọng, yêu quý thầy cô.

Ghét thầy cô.

- Vẽ gia đình

Theo Hulse (1951), Koppitz (1968), Di Leo (1973), Klepsh (1982) [7]

Các thành viên trong gia đình Vẽ các thành viên cách xa nhau.

Càng cách xa, càng thể hiện sự lạnh nhạt, không có tình cảm với nhau.

Vẽ bản thân bám sát với cha mẹ

Mong muốn được yêu thương, mong muốn được bảo vệ

Người ở vị trí trung tâm

Đề cao và yêu quý người đó

Người được vẽ trước Người được yêu quý nhất, người có giá trị nhất Cha mẹ đứng cạnh Gia đình hòa thuận.

26 nhau, nắm tay nhau.

Đứa trẻ đứng chen giữa cha mẹ.

Gia đình không hòa thuận, cha mẹ có cãi cọ, xích mích.

Nhân vật không có thực

Thể hiện sự mong muốn nào đó

Thành viên bị vẽ nhỏ, vẽ xấu xí, hoặc vẽ ở góc dưới bên phải tờ giấy

Không yêu quí người đó. Không muốn nhắc đến người đó.

Không vẽ bản thân Người có tính tự ti, mặc cảm hoặc không chấp nhận bản thân.

Vẽ bản thân giống với người nào đó.

Muốn đồng nhất với người đó. Cảm giác thấp kém về bản thân.

Bôi đen mặt người, không nhận được ra, hoặc bôi đen toàn thân

Không muốn nghĩ đến, không thừa nhận, muốn chối bỏ người đó. Cảm giác bi quan, cô đơn và cách biệt với mọi người xung quanh.

- Vẽ nhà, đồ vật và thú vật

Theo Roseline David (1971), Philippe Wallon (2001), Marvir Klepsh (1882)[7]

Nhiều cửa, các cửa sổ mở, cân đối với chi tiết xung quanh.

Nhà bé, cửa sổ bé.

Nhà không cửa, không đường vào.

Nhà có nhiều đường ra vào xung quanh.

Tính cởi mở, cảm thấy hài lòng với cuộc sống thực tế.

Có rối loạn tình cảm, khó khăn trong giao tiếp, người rụt rè, khép kín.

Người có lỗi lầm, thất bại. Mong muốn được thoát khỏi ngôi nhà đó.

Nhà có rào bao bọc, vẽ dồn vào phía trái tờ giấy

Mơ về quá khứ, muốn gắn bó với mẹ.

Nhu cầu sở hữu kỉ niệm gia đình

27

Nhà xấu xí Không có niềm vui trong cuộc sống gia đình, không muốn sống trong ngôi nhà đó.

Nhà vẽ đẹp, tỉ mẩn, có nhiều màu sắc, hoa lá bao quanh.

Yêu quí gia đình, mong ước cuộc sống đầm ấm, sự thanh bình.

Nhà có nhiều chi tiết, đồ vật Có nhiều kỷ niệm với ngôi nhà, có mối quan hệ tốt với cuộc sống thực tại.

Đồ vật không có biểu hiện của sự sống.

Đồ vật trong nhà rời rạc, thiếu thốn hoặc không có

Xu hướng cô đơn, nghèo cảm xúc.

Trống vắng, cô lập, đơn độc. Thiếu cảm giác về cuộc sống gia đình. Có thể nghèo nàn trí tuệ, cảm xúc.

Đồ vật không có thực Mong muốn có đồ vật đó Vẽ con vật sống trong nhà, không có

người thân sống cùng

Cuộc sống thiếu tình cảm, cô đơn trống rải mơ ước cuộc sống hiền hòa.

Vẽ con vật dữ dằn, nhe răng Xu hướng hung tính, dễ gây hấn hoặc tự ti ước mơ có sức mạnh.

Con vật không có trong cuộc sống hàng ngày

Không chấp nhận thức tế, cuộc sống thiếu sự gần gũi, thân mật với các thành viên khác.

Đám mây đen, trời tối Xu hướng lo âu, cảm giác tương lai mờ mịt

- Một số hình vẽ dáng cây, rễ cây và nhân cách con người

Theo Bour (1961), Chirol (1965), Lief (1968), Cuerq (1974), Stora (1975), Abad Alegria (1985), DE Casstilla (1994), L. Fernandez (2005) [7]

28 Gốc cây lớn, bộ lá mở ra mềm mại thân cây rộng

Người hướng ngoại thích nghi tốt với cuộc sống

Cây phát triển phía trên Trí tuệ, thích mơ mộng Tranh vẽ nhiều cây rất lớn, tràn đầy

trên giấy

Người có nhu cầu bành chướng, năng động, làm việc có hiệu quả, có tình tò mò phân tán và không liên tục

Thân cây mảnh, gầy, bộ lá dẹt, rũ xuống, xoắn vào nhau, cành cây bị cắt cụt.

Người thụ động

Không có rễ cây, không có đường nền

Có cảm giác không an toàn, thiếu hụt

Rễ cây rất mảnh Kém tiếp xúc, hiểu biết thực tế

Các rễ cây vẽ bằng một nét Có tính thỏa mãn sự tò mò theo kiểu trẻ thơ. Mong muốn được biết những cái gọi là bí mật. Hành vi trẻ thơ.

Rễ cây nhọn vẽ bằng một nét (cây đứng trên các rễ cây nhọn)

Thái độ phản kháng, không thoải mái.

Không hài lòng một cách vô cớ với tình cảnh của mình.

29

Ví dụ về hình dáng cây và đặc điểm nhân cách:

30 - Đường nét vẽ, lực ấn và tốc độ vẽ

Theo Machover (1949), Hegar (1962), Roseline David (1971)[7]

Vẽ đường thẳng, dài Hướng ngoại, có khả năng đương đầu, sống theo nguyên tắc

Đường chéo Người có tính năng động

Cảm giác bất ổn, lo âu không xác định được hoặc mất thăng bằng

Đường cong, tròn Người nhạy cảm, mềm mại

Có xu hướng hành động lặng lẽ, nhẹ nhàng Người giàu hình ảnh, biểu tượng

Đường nét rắm rối, đường vẽ nhì nhằng, đan xen lẫn lộn và tràn lấp toàn bộ khoảng

Lo âu rõ rệt.

31 không gian của bức tranh.

Lực ấn nhẹ, nét vẽ mảnh mai hoặc quá nhỏ

Người nhẹ nhàng, nhút nhát, thiếu cương quyết.

Bị cảm xúc chi phối hành động hoặc bị ức chế do sợ hãi

Lực ấn mạnh, nét vẽ đậm Người hướng ngoại, có tính chủ động Có xu hướng cá tính, chống lại thực tế Nét vẽ không đều đậm nhạt Cảm giác bất an, lo lắng

Nét vẽ nhẹ nhàng, đều đặn Tâm trạng ổn định, thư thái Là người nhanh nhẹn

Nét vẽ mờ, không rõ ràng Giàu tình cảm, dễ xúc động

ĐÁnh bóng Xu hướng lo hãi

Nét vẽ rõ ràng Người độc lập, tính cách bền vững, lý trí Nét đứt quãng Người thiếu tự tin, rụt rè, mất tự chủ Nét vẽ là những chấm, gạch

nhỏ, lốm đốm

Tính tỉ mỉ, hành động theo trật tự tư duy Nét đậm, đường dài phóng

khoáng

Xu hướng phô trương sức mạnh, dễ gây hấn

Tốc độ vẽ nhanh, đường thẳng

Người hướng ngoại, chủ động, tự nhiên, không cảm thấy có trở ngại từ bên ngoài

Ưa hoạt động, phong phú về năng lượng vận động.

Tốc độ vẽ chậm, đường cong Người hướng nội, thụ động hay do dự, thận trọng.

Có xu hướng xung đột nội tâm Tẩy xóa toàn bộ hoặc bôi

đen không nhận ra

Không thừa nhận, không muốn nghĩ đến, chối bỏ thực tế.

32

Nhận xét về nét vẽ, L.Rernandez (2005) cho rằng: Nếu trên bức tranh có nhiều nét vẽ ấn tì, nhiều lực mãnh liệt, dữ dội, nhiều dục năng dồn vào, nghĩa là chủ thể có xu hướng bày tỏ sự chống đối lại hiện thực xung quanh, xu hướng tăng cường sức mạnh của niềm tin, tăng cường những cảm xúc mạnh, làm dồi dào sức sống. Trong khi nét vẽ nhẹ, mờ phản chiếu tính dễ bị tổn thương, hoặc sự mong manh dễ vỡ. Còn sự ứ đọng của nét vẽ dẫn đến sự co dúm thể hiện sự chế ngự những cảm xúc xấu.

- Sử dụng màu sắc: màu sắc chung, màu sắc nét vẽ Màu sắc chung

Theo Brick (1944), Buck (1964), Marzolf và Kirchner (1973), Hammer (1980), Mora (1993), Luscher (1997) và Faber (2000) [7]

Nhóm màu lạnh gần màu xanh da trời, xanh lá cây, tím xanh

Người có cảm giác lạnh lẽo.

Trầm lắng, hiền hòa, thụ động.

Xu hướng khép kín, nội tâm.

Màu nóng gần màu đỏ, cam, vàng, huyết dụ

Người có cảm giác ấm áp Hiếu động, có sức sống

Xu hướng thích nghi với ngoại cảnh Màu sáng và màu nóng Người hướng ngoại cởi mở, năng động Nhiều màu sắc Thích nghi tốt, vui tươi, lạc quan

Một, hai màu Xu hướng thu mình, không ổn định cảm xúc, khó thích nghi

Không sử dụng màu Nghèo nàn cảm xúc

Không thích nghi, thu mình Ít màu, thiên màu tối Hướng nội, kém ổn định cảm xúc

Khó tiếp xúc, bị ức chế, gò bó

Màu đỏ đậm Người năng nổ, xung động, có khả năng đường đầu, chống trả sự giận dữ, bạo lực, hủy diệt

33

Cảm giác sức mạnh, quyền lực, tính vị kỷ Dũng cảm, mạnh mẽ, nồng nhiệt, đam mê Xu hướng dâm dục

Nhiều màu đỏ Tích cực, kích thích liên tưởng trong não Thích hoạt động, thích nghi tốt

Cá tính mạnh, xu hướng hung tính, kiềm chế kém

Đỏ và cam Ít quyết đoán, do dự

Xanh da trời Thích nghi tốt, có tính kỷ luật Trung thực, trong sáng, khôn khéo Điềm tĩnh, công bằng, nhân văn

Xanh lá cây Nhiều ước mơ, tư chủ, thư thái, điềm tĩnh, cân bằng

Biểu hiện của tình yêu và sự khôn khéo Màu xám Mẫu thuẫn trong quan hệ xã hội, bướng bỉnh Da cam Thoải mái, nhiệt tình, vui vẻ với mọi người

xung quanh

Màu tím Căng thằng, u sầu

Khiêm tốn, chân thực, vâng lời

Màu nâu Cảm thấy bất an, lo lắng

Màu vàng Thông minh, nồng ấm, dễ chịu, vui vẻ

Là người có xu hướng tận tâm, dễ ghen tị hay phản bội

Vàng và xanh Cân bằng, quân bình, hài hòa

Màu hồng Khôn khéo, khiêm tốn, tinh tế, nhẹ nhàng

Trắng Trong sáng, nguyên vẹn, tinh khiết, sạch sẽ

34

nhưng gây cảm giác yếu đuổi

Đen Cảm giác buồn rầu, nặng nề, hỗn độn, tăm tối, mờ mịt

Tinh thần sa sút, chan nản, sợ hãi, cô độc Có xu hướng kiềm chế các phản ứng Màu sắc của nét vẽ

Theo Mora (1993), Luscher (1997) và Faber (2000) [7]

Nét vẽ màu đen Xu hướng mặc cảm tội lỗi, bi quan

Nét vẽ màu ghi nhạt Tư duy thiếu sự đột phá, đổi mới gắn với nguyên tắc

Nét vẽ màu không rõ ràng Tinh thần lộn xộn, lần lộn của tư duy Nét vẽ màu xanh Tình cảm êm dịu, nồng ấm

Nét vẽ màu xanh lạnh Coi trọng tư duy ý nghĩa

Nét vẽ màu xanh da trời Trực giác, trong sáng, niềm tin, trẻ thơ

Nét vẽ xanh đen Tình cảm nồng ấm hoặc ngược lại khô khan, nghiêm khắc. Mặc cảm tội lỗi

Nét vẽ màu xanh lá cây Sự sống tràn trề

Nét vẽ màu đỏ Dễ kích động, đam mê

Nét vẽ màu tím Tính kiêu hãnh, khắc khổ, huyền bí - Vị trí hình vẽ - biểu tượng không gian của hình vẽ

Theo quan điểm của Stora (1975), Arthus, Grunwald và Koch (1985) về biểu tượng chữ thập và lý thuyết miền. Không gian hình vẽ chiếm ưu thế trên giấy vẽ cho chúng ta biết thời điểm tại hiện: hiện tại, quá khứ, tương lai.

Không gian phía bên trái và bên dưới gắn với quá khứ và sự bị động (ý nghĩ không dẫn đến hình dung công việc, kế hoạch không kết thúc bằng việc thực hiện). Không gian này gắn liền với sự trầm cảm. Không gian phía bên phải và

35

bên trên tượng trưng cho tương lai và tính chủ động. Không gian này gắn liền với sự năng động, cụ thể.

Hình vẽ tập trung vào bên phải tờ giấy

Miền chủ động

Hướng ngoại, linh hoạt, chủ động đương đầu với cuộc sống, có tính mục đích, nhiều dự định, có tham vọng hướng vào tương lai

Năng động, quan tâm đến người khác, xã hội hóa.

Gắn bó với bố.

Hình vẽ tập trung vào phía bên trái tờ giấy

Miền thụ động

Hướng nội thích sự ấm cúng, thanh bình, đơn lẻ hướng về quá khứ, kỉ niệm xưa

Thụ động xa cách với bên ngoài, người khác.

Thể hiện sự ham muốn và luyến tiếc.

Gắn bó với mẹ

Hình vẽ tập trung ở phía trên cao tờ giấy

Xu hướng tinh thần, lý tưởng hóa Hướng ra bên ngoài, phát triển trí tuệ, lý trí.

Tự đánh giá cao bản thân, tự tin, kiểm soát bản thân.

Có mong muốn huyễn hoặc, đôi khi xa rời thực tế, khó đặt được mục đích. Quan tâm đến đời sống tâm linh.

Hình vẽ tập trung ở phía dưới thấp tờ giấy

Xu hướng vật chất, thực tế

Nhu cầu bản năng, vô thức, coi trọng tình cảm, bảo thủ.

Hình vẽ tập trung ở chính giữa tờ giấyThất vọng, trốn tránh thực tế, chống lại quá khứ, thoái lui, từ chối.

Nếu vẽ quá phía dưới: có xu hướng đánh giá thấp bản thân.

Hình vẽ tập trung ở chính giữa tờ

Cái tôi cá nhân Ý thức và tự ý thức bản thân tốt

36

giấy Tính nhạy cảm, nội tâm

Hình vẽ chiếm một không gian quá nhỏ

Có xu hướng lo âu

Hình vẽ dồn vào một góc nhỏ tờ giấy

Thiếu tự tin, lệ thuộc, cảm giác không an toàn.

Khi phân tích, đọc tranh vẽ của trẻ cần tiến hành từ đọc trực cảm, tổng thể (ấn tượng ban đầu) trước. Sau đó bình thường xem hình vẽ của trẻ có tương ứng với độ tuổi phát triển không? Cuối cùng đọc phân tích diễn giải cụ thể từng chi tiết của bức tranh. Tổng hợp 3 cách phân tích, đọc tranh trên kết hợp với các kết qua quan sát khi trẻ vẽ tranh, thu thập thông tin sau khi vẽ tranh sẽ đưa ra những nhận định chính xác, có mức độ tin cậy cao.

Một phần của tài liệu luận văn sửa lần 3- huế 0974501575 (Trang 29 - 43)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(118 trang)