Một số đặc điểm tâm lý của trẻ 6 tuổi

Một phần của tài liệu luận văn sửa lần 3- huế 0974501575 (Trang 21 - 25)

Chương I. LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH

1.2. Một số vấn đề lý luận về biểu hiện tình cảm đối với gia đình của trẻ 6 tuổi

1.2.2. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ 6 tuổi

Ở mỗi một giai đoạn lứa tuổi có những đặc điểm phát triển, tâm lý riêng. Đời sống tâm lí của học sinh tiểu học có những biến đổi và phát triển.

1.2.2.1. Đặc điểm cơ thể

So với lứa tuổi mẫu giáo, lứa tuổi học sinh nhỏ đang diễn ra một sự kiện toàn đáng kể về cơ thể.

Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,...

Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,...

Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng.

15

Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg. Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao trung bình khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng trung bình đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ).[24]

Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh.

1.2.2.2. Những thay đổi về hoạt động

❖ Hoạt động của học sinh tiểu học

- Giai đoạn trẻ 6 tuổi, bắt đầu bước từ lứa tuổi mầm non lên tiểu học, hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập.

Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động.

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,... Ngoài ra, trẻ còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,...

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,...

❖ Những thay đổi kèm theo

- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,...

các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ.

- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương

16

pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt.

- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình). Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình.

1.2.2.3. Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 6 tuổi

Đây là giai đoạn, tất cả các cơ quan cảm giác, tri giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.

- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính không chủ động, đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định. Ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan; tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,...).

- Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động.

Nhờ hoạt động học tập, các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn ở mức độ thấp với đa số học sinh tiểu học.

- Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, xa rời thực tế, chưa bền vững và dễ thay đổi.

17

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới càng gần gũi hơn với hiện thức và phản ánh đúng đắn, đầy đủ thực tế hơn. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,.... Đặc biệt, trong giai đoạn này tưởng tượng của các em bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.

- Trí nhớ: Ở học sinh tiểu học loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.

Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em...

- Chú ý: Chú ý không chủ định được phát triển mạnh mẽ và có ưu thế, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế.

Những gì mang tính mới mẻ, ngạc nhiên, bất ngờ, rực rỡ đều dễ dàng thu hút sự chú ý của các em. Càng về cuối cấp, trẻ dần hình thành khả năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình, chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế.

- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn này phát triển mạnh về cả ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng. Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể.

Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng vì thế mà tăng lên. Ngôn ngữ viết được hình thành và phát triển mạnh. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự

18

đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.

- Tự đánh giá: Ở học sinh tiểu học, biểu tượng về mình và tự đánh giá được hình thành và cùng với chúng là các kĩ xảo tự kiểm tra, tự điều hành đã được xuất hiện.

Ở lớp đầu tiểu học, từ chỗ đánh giá dựa vào ghi nhận của bố mẹ, thầy cô, bạn bè thì đến cuối tiểu học việc đánh giá của trẻ ít dựa vào điều đó mà dựa vào mẫu chuẩn để đánh giá.

Học sinh tiểu học có xu hướng đánh giá cao hơn khả năng của mình.

Một phần của tài liệu luận văn sửa lần 3- huế 0974501575 (Trang 21 - 25)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(118 trang)