Phân tích một số trường hợp điển hình

Một phần của tài liệu luận văn sửa lần 3- huế 0974501575 (Trang 66 - 85)

Chương III. THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ TRANH

3.2. Phân tích một số trường hợp điển hình

Giới tính: Nam Ngày sinh: 9/9/2013 Cân nặng khi sinh: 2,8 kg

Sức khoẻ: không có vấn đề sức khỏe bẩm sinh

Hoàn cảnh gia đình: Gia đình L là gia đình nhiều thế hệ gồm cụ, ông bà ngoại, bố mẹ, L và em trai. Bố mẹ đều làm tự do, thời gian đi làm từ sáng cho đến trước 7h tối về nhà. Tối bố mẹ dành thời gian vui chơi, dạy L học. Cả bố mẹ và L đều đánh giá gia đình hòa thuận, vui vẻ, L nhận được sự quan tâm, chăm sóc của cả gia đình.

Trẻ được giáo viên đánh giá: Rất nhanh nhẹn, thông minh, khá nghịch, “mau mồm, mau miệng”, học thuộc nhóm giỏi của lớp, hòa đồng với bạn bè.

Đánh giá của cha mẹ về con: Mối quan hệ của trẻ với bố mẹ rất thân thiết, trẻ với em trai cũng rất hòa thuận, vui vẻ. Chỉ có điều lúc L học thường bị em nhỏ hơn làm ảnh hưởng, mất tập trung học tập. Tuy vậy, L rất yêu thương em. Mẹ có nói nếu mà dành tặng gì thì L sẽ tặng, làm cho mẹ. L giống các bạn nhỏ khác, chơi thích với bố, còn ăn ngủ thích với mẹ.

60

Bố đánh giá L khá nghịch ngợm, rất yêu mẹ và em trai. Trẻ rất vui vẻ, hòa thuận với cả nhà.

Buổi đầu vẽ người: Phụ lục tranh số 1 Thời gian vẽ tranh: 25 phút

Nét mặt khi vẽ: rất vui vẻ, cười nói. Vừa vẽ vừa nói với các bạn: “Tớ vẽ mẹ tớ, Tớ yêu mẹ nhất!”

Khi cô giáo đi qua gọi cô để nói: “Con vẽ mẹ con, con yêu mẹ nhất!

Con có thể mang về tặng tranh cho mẹ con không?”

Khi nhận đươc yêu cầu vẽ tranh 1 người: trẻ rất hào hứng, trẻ nói to:

“Con vẽ mẹ con, con yêu mẹ nhất!” và đặt bút vẽ ngay, nhanh. Vừa vẽ vừa biểu cảm, nói cười vui vẻ.

Màu sắc: Trẻ sử dụng đường nét màu nâu, màu tô sử dụng chủ yếu màu nóng là hồng và nâu, vàng.

Đường nét: nét vẽ rõ ràng, nhận thức rõ từng bộ phận trên cơ thể, hình vẽ còn đơn điệu, sơ sài do trẻ còn nhỏ, chưa có nhiều kiến thức. Tuy nhiên nét vẽ của trẻ khá đều, nhẹ nhàng cho thấy trẻ cảm thấy rất thư thái, tâm trạng rất ổn định, khá nhanh nhẹn.

Trong tranh trẻ vẽ mẹ kiểu chân dung, bán thân từ bụng trở lên, trẻ vẽ mẹ khá lớn trong khung giấy cho thấy trẻ dành tình yêu cho mẹ rất nhiều. Hình vẽ khá lớn chiếm gần hết khung giấy cho thấy trẻ có xu hướng mạnh mẽ, bạo dạn, hiếu động, bột phát và kém kiềm chế nội tâm. Trẻ vẽ mẹ tóc dài rõ đặc điểm nữ giới, mặc áo hồng và có nhiều hoa. Đầu và thân mẹ có độ lớn như nhau cho thấy trẻ có suy nghĩ mẹ là người thông minh, trẻ vẽ mẹ có 2 hay vươn dài cho thấy trẻ nghĩ rằng khả năng giao tiếp xã hội của mẹ rất tốt.

61

Khi nộp bức tranh cho cô, trẻ có giải thích “Con vẽ mẹ con, mẹ con mặc áo hoa rất đẹp. Con yêu mẹ nhất!” Trẻ cảm thấy hài lòng và thấy bức tranh của mình đẹp, muốn mang về tặng mẹ ngay.

Buổi 2: Vẽ gia đình em Phụ lục tranh số 2 Thời gian vẽ: 30 phút

Mức độ tập trung: tập trung

Thứ tự vẽ tranh: Trẻ vẽ 1 bức tranh về mẹ, tô màu hình vẽ mẹ trước.

Sau đó tiếp tục vẽ tranh về gia đình. Trong bức tranh gia đình, đầu tiên vẽ mẹ, bố sau đó là em trai của trẻ rồi đến khung cảnh bên cạnh có ngôi nhà, cái cây và cuối cùng vẽ bầu trời.

Sau khi nghe yêu cầu: “Hãy vẽ bức tranh về gia đình của em!” Con vẫn vẽ bức tranh về mẹ. Con cắm cúi vẽ luôn 1 mạch bức tranh vẽ mẹ và khi gặp cô con nói “Con muốn tặng tranh cho mẹ con!”. Sau khi vẽ tranh xong, trẻ nắn nót viết tên “Bảo Lâm ? Có ạ Tớ yêu”. Đây là câu thoại mà trẻ trả lời bạn ngồi cạnh và cô giáo khi hỏi con: “Con rất yêu mẹ con nhỉ?, bạn hỏi “Cậu yêu mẹ câu lắm à?”.

Cô để trẻ hoàn thành tranh và yêu cầu trẻ vẽ bức tranh gia đình. Trẻ có vẻ không muốn vẽ nhưng khi cô nhắc lại bài vẽ cần vẽ cả gia đình thì cũng chấp nhận vẽ. Trẻ vẽ khá vội vàng, vừa vẽ vẫn vừa muốn nói trẻ thích vẽ mẹ hơn. Bố cục tranh trẻ vẽ hơi tập trung về phía trái của khung giấy, cho thấy trẻ có xu hướng nghĩ về quá khứ.

Màu sắc: trẻ sử dụng màu xanh lá cây làm tô màu nền bức tranh với cây, cỏ, tường nhà màu xanh non trên nền đất nâu. Bầu trời trẻ vẽ khá quang đãng, trong xanh cho thấy trẻ là người thích nghi tốt với hoàn cảnh hiện tại.

Hình vẽ các thành viên trong gia đình có tỷ lệ hợp lý, bố mẹ tương xứng với nhau với bàn tay to, đang giơ cao cho thấy trẻ đánh giá bố mẹ là

62

người trụ cột trong gia đình, chăm sóc cả nhà. Các thành viên trong gia đình trẻ tuy trẻ không vẽ bàn chân, nhưng lại vẽ 2 chân sát lại, chạm đất cho thấy mối quan hệ trọng gia đình trẻ có sự ổn định, bền vững. Hình vẽ em trai của trẻ nhỏ hơn đứng sát bên cạnh mẹ cho thấy em cần được mẹ quan tâm, chăm sóc.

Hình vẽ người trẻ vẽ khá đơn giản với khuôn mặt các thành viên là bố và em có nụ cười tươi. Mẹ trẻ thì không có tóc và không có miệng cho thấy có thể trẻ có vấn đề trong quan hệ mẹ con sớm.

Trong bức tranh trẻ không vẽ trẻ, khi được hỏi trẻ giải thích “Con đang đi học mà. Con đang ở trường, con vẽ bố mẹ với em con đang ở nhà.”

Trong bức tranh trẻ sử dụng những nét vẽ sơ sài, đơn điệu, có phần vội vàng. Khi tô màu trẻ tô cũng không cẩn thận, nguệch ngoạc, tô màu nền cho thấy sự chống đối, bị gò ép khi vẽ của trẻ. Trẻ không cảm giác thoải mái khi vẽ như những bức tranh trước của trẻ.

Buổi 3: Vẽ tranh ngôi nhà Phụ lục tranh số 4

Thời gian vẽ: 20 phút – trong quá trình vẽ tranh trẻ tập trung vào bức tranh, sau khi vẽ và tô màu hoàn thành tranh nộp ngay cho cô.

Bố cục tranh: Trẻ vẽ ngôi nhà lớn, chiếm phần lớn khung giấy, hơi nghiêng về phía trái của tờ giấy, với cây cỏ, chim, bầu trời tô điểm thêm cho tranh.

Màu sắc: Trẻ sử dụng nhiều màu sắc, có sự kết hợp giữa gam màu nóng và màu lạnh, ngôi nhà trẻ sử dụng tường màu xanh nước biển, mái nhà màu xanh lá cây, với màu nền bức tranh là màu cam.

Đường nét trẻ sử dụng nét thẳng, cong, tròn khá hài hòa trong bức tranh. Màu nét vẽ trẻ sử dụng màu đen, tuy nhiên đây là cách dạy của các cô giáo mỹ thuật để làm nổi bật thêm bức tranh, mà một số bạn trong lớp cũng có cách vẽ này.

63

Trong bức tranh này trẻ cũng sử dụng cách vẽ ngôi nhà, cây cỏ, bầu trời tương tự với bức tranh trước. Tuy nhiên ở bức tranh này ngay khi nhận yêu cầu vẽ tranh trẻ đã bắt tay vào tập trung vẽ, không nói chuyện, quan sát người xung quanh. Bức tranh, nét vẽ hài hòa, nét vẽ nhanh, đều cho thấy sự ổn định tâm lý và sự thoải mái khi trẻ vẽ tranh.

Ngôi nhà được trẻ vẽ đầu tiên, với cửa sổ, mái nhà cân đối, tuy nhiên phía bên trái ngôi nhà lại được trẻ vẽ thêm hình giống hình ánh đèn tỏa sáng, bức tranh hơi dồn về phía trái của khung giấy có thể trẻ hơi thiên về quá khứ, có điều gì đó ở quá khứ mà trẻ luyến tiếc. Tuy nhiên, trong bức tranh trẻ vẽ bầu trời quang đãng, trong xanh, ông mặt trời cười, cùng với những chi tiết như cây cỏ có hoa, chim đang bay trên trời cho thấy trẻ đang thích nghi với cuộc sống hiện tại.

Qua 3 tranh vẽ của trẻ nhận thấy sự đồng nhất về nét vẽ, cách thức vẽ tranh của trẻ qua 3 bức tranh với 3 yêu cầu vẽ tranh khác nhau. Qua quá trình phân tích tranh, quan sát, phỏng vấn trẻ, phỏng vấn cha mẹ trẻ và giáo viên chủ nhiệm lớp, cho thấy qua tranh vẽ trẻ thể hiện phần nào đặc điểm tính cách của bản thân cũng như biểu hiện tình cảm của trẻ qua tranh. Có những biểu hiện ngay tức thì tại thời điểm trẻ vẽ tranh được bộc lộ ra trên tranh vẽ, cũng có những biểu hiện thuộc về quá khứ, những điều mà trẻ luyến tiếc hay cả những cảm nhận, đánh giá của trẻ về con người, thế giới xung quanh cũng được bộc lộ qua tranh.

Trường hợp 2: N V Đ Ngày sinh: 26/7/2013 Cân nặng khi sinh: 2,3kg

Vấn đề sức khỏe khi sinh: Sinh non tuần thứ 35

Hoàn cảnh gia đình: Bố mẹ ly hôn. Trẻ không có anh chị ruột. Hiện nay trẻ chỉ sống với mẹ. Mẹ làm công an, có dành thời gian chăm sóc và

64

yêu thương. Mẹ vẫn luôn cảm thấy trẻ thiệt thòi vì sinh non và bố mẹ ly hôn. Thi thoảng trẻ gặp bố, bà nội và bà ngoại.

Trẻ được giáo viên chủ nhiệm đánh giá: Đức thích vẽ, thậm chí vẽ tranh trong một số giờ học, không tập trung cô phải thu tranh và màu vẽ.

Nề nếp chưa tốt. Học lực trung bình, cần cố gắng nhiều. Tính cách khá nhạy cảm, mềm yếu dễ khóc.

Đánh giá của mẹ đối với trẻ: Người thường xuyên quan tâm, chăm sóc trẻ nhất là mẹ. Người mà trẻ dành tình cảm nhiều nhất là mẹ. Mẹ đánh giá con vẫn yêu bố, cần có bố nên thi thoảng vẫn cho con gặp bố. Luôn lo lắng trẻ có sự thiếu hụt mặt nào đó cần cố gắng.Trẻ nghịch, không tập trung. Học chưa tốt. Con rất thích vẽ, vẽ khá tốt, mong muốn phát triển kỹ năng vẽ cho trẻ.

Buổi đầu vẽ người: Phụ lục tranh số 5 Thời gian vẽ: 35 phút

Mức độ tập trung: có tập trung – ban đầu còn ngập ngừng chưa muốn vẽ, sau khi nghĩ một lúc thì bắt đầu vẽ, khi đã vẽ thì rất tập trung vẽ một mạch.

Bố cục tranh: trẻ vẽ 3 cái cây từ lớn đến nhỏ, bầu trời có mây, ông mặt trời cùng với cây hoa, nấm dưới nền đất khá cân đối, điều này cho thấy trẻ có xu hướng thích nghi được với cuộc sống hiện tại.

Sau khi nghe yêu cầu của cô, em hãy vẽ người. Trẻ do dự không muốn vẽ, con nói “Đ không biết vẽ người”. Sau khi cô động viên trẻ bắt đầu vẽ, trẻ vẽ bầu trời trước. Sau đó trẻ vẽ cây bên phải to nhất trước với quả đỏ, nhánh cây có 3 nhánh, tiếp theo cây ở giữa với hoa vàng và ít quả đỏ, cuối cùng là cây nhỏ nhất thân cây có duy nhất 1 nhành cây với quả đỏ.

Sau đó trẻ vẽ cỏ, mỗi bên thân 2 cây lớn có 1 cành hoa. Cuối cùng trẻ trang trí đất với cây nấm, hoa và tô màu tranh.

65

Trẻ gửi gắm hình ảnh người mà trẻ yêu thương nhất vào hình ảnh những cái cây với độ lớn khác nhau. Mỗi chi tiết trong tranh trẻ đều vẽ rất cẩn thận, tỉ mỉ, bức tranh thấy rõ màu sắc tươi sáng, nhiều hoa, quả cho thấy trẻ dành rất nhiều tình cảm cho bức tranh, hay là cho những người được hình tượng hóa qua hình ảnh cái cây.

Khi trò chuyện cùng trẻ, trẻ trả lời câu hỏi “Đ vẽ 3 cái cây, cây này có gia đình không? Cây này đang cảm thấy thế nào? (chỉ vào cây nhỏ nhất trong tranh)? của người quan sát như sau: “Đ vẽ gia đình cây, cây bố, cây mẹ và cây con (trẻ chỉ từ cây to nhất, cây tiếp theo bên cạnh và cây nhỏ nhất trong tranh). Cây con rất yêu bố và mẹ.”

Khi được hỏi sao cây bố mẹ lại có 2 cây hoa bên cạnh Đ nhỉ? Trẻ giải thích 2 cây hoa này là hai cây của riêng bố mẹ. Cây bố và cây mẹ rất thích những cây hoa này.”

Trong tranh trẻ vẽ hoàn toàn phù hợp với những gì trẻ nói, trẻ vẽ cây to nhất và cây nhỏ nhất có kiểu cách gần giống nhau với kiểu thân thẳng, vòm lá 1 nét um tùm và có nhiều quả trên cây, cho thấy 2 cây này cùng một giới là trẻ cùng với cha của trẻ, giống như trẻ giải thích cây bố và cây con.

Cây bố được vẽ to hơn cây con, với 3 cành cây lớn vươn lên trên cho thấy trẻ đánh giá khả năng giao tiếp, sức khỏe của người bố khá tốt.

Cây ở giữa có kiểu vòm lá tán tròn khác và có thêm hoa vàng khác với 2 cây còn lại, trẻ giải thích đó là cây mẹ. Trẻ vẽ cây lớn và cây nhỏ nhất cách xa nhau, cho thấy có vấn đề tình cảm cha và con. So với hoàn cảnh của trẻ là hoàn toàn phù hợp vì bố mẹ trẻ đã ly hôn, thi thoảng trẻ với gặp bố, tình cảm bố dành cho trẻ cũng không nhiều, sự quan tâm chăm sóc chủ yếu từ phía mẹ.

Trẻ vẽ bên cạnh 2 cây lớn đều có 2 bông hoa trên một ụ đất bám sát vào cây, cho thấy cả bố và mẹ trẻ đều có một mối quan tâm khác là ai đó,

66

mà trẻ không có anh chị em ruột. Cây hoa bên phía cây cha thì trẻ tô toàn màu đỏ, bên phía cây mẹ thì trẻ tô màu cánh hoa đỏ, nhụy vàng, từ đó có thể nhận định rằng bố và mẹ trẻ có 2 mối quan tâm khác nhau. Trong quá trình trao đổi phỏng vấn chị L P (mẹ trẻ) có chia sẻ: “vợ chồng chị ly hôn cũng mấy năm rồi, cả 2 đều có người khác và thi thoảng chị cũng đưa con đi chơi cùng với bạn chị. Còn không biết bố cháu như thế nào?”

Cành cây ở phía cây nhỏ nhất chính là trẻ có bộ lá đóng, cho thấy trẻ là người hướng nội. Cả 3 cây trẻ vẽ không có rễ cây, tuy vẽ đường nền nhưng khi tô trẻ để khoảng màu xanh lá giữa thân cây với nền đất cho thấy trẻ cảm thấy không an toàn hoặc thiếu hụt gì đó.

Khi được hỏi gia đình trẻ có bao nhiêu người, mỗi lần trẻ trả lời một khác. Hiện nay con đang sống cùng ai, mỗi lần trẻ cũng trả lời một khác.

Giống như những câu hỏi trước, câu hỏi con yêu thương ai nhất nhà thì trẻ cũng né tránh câu hỏi và trả lời “Đ không biết”. Qua phỏng vấn trao đổi với trẻ nhận thấy rõ ràng trẻ không muốn nói đến gia đình, các thành viên trong gia đình của trẻ.

Buổi 2: Vẽ gia đình trẻ - Phụ lục tranh số 6 Thời gian vẽ: 35 phút

Mức độ tập trung: khi mới bắt đầu nghe yêu cầu vẽ gia đình của em, trẻ khá do dự nhìn trước nhìn sau, rồi lại nhìn vào khoảng không trong lớp.

Sau đó trẻ vẽ tranh (phụ lục số 7), rồi lại lật mặt giấy nghĩ sau đó vẽ 1 hình người giới tính nam đeo kính, 1 hình đầu người giới tính nữ rồi dừng lại suy nghĩ, sau đó tẩy sạch 2 hình này. Trẻ tiếp tục ngồi suy nghĩ 1 chút sau đó cầm bút vẽ 1 mạch tranh, rất tập trung, khuôn mặt trẻ như dãn ra, cảm thấy thư thái hơn trước cho thấy trẻ đã cảm thấy hài lòng, thoải mái hơn với những gì mình đang tái hiện.

67

Bố cục tranh: Ở tranh vẽ này trẻ cũng sử dụng hình vẽ cây, hoa, cây cỏ với nhiều quả tương tự như bức vẽ trước của trẻ cho thấy trẻ vẫn dành nhiều tình cảm cho gia đình của mình. Ở bức vẽ này, trẻ cũng hình tượng hóa gia đình của trẻ vào hình ảnh 2 cái cây, ngôi nhà, có ông mặt trời.

Ngay từ khi bắt đầu vẽ trẻ đã do dự không biết nên vẽ gia đình mình như thế nào, thể hiện qua việc trẻ vẽ tranh có 1 hình người với bầu trời sau đó lại lật giấy vẽ để vẽ bức tranh mới. Ở mặt giấy mới trẻ vẽ 2 hình: hình người có giới tính nam trước sau đó vẽ hình đầu người giới tính nữ, sau đó lại lấy tay che tranh và xóa sạch hình đi. Tuy là trẻ xóa sạch hình vẽ, nhưng việc trẻ vẽ hình người giới tính nam trước cho thấy trẻ dành tình cảm cho cha mình hơn, sau đó khi mới vẽ hình đầu người giới tính nữ trẻ đã muốn xóa hết tranh đi, cho thấy trẻ không muốn thừa nhận sự tồn tại hoặc trẻ thấy lo hãi bố mẹ trẻ.

Ở tranh vẽ gia đình (phụ lục 6) trẻ chuyển hóa tâm tư, tình cảm, gia đình của trẻ thông qua hình ảnh 2 cái cây, 2 hình ảnh cây này tương tự hình ảnh cây bố và cây con ở bức tranh trước của trẻ, lần này trẻ cũng giải thích đây là cây bố và cây con. Thực tế trẻ không sống cùng với bố và ít gặp bố nhưng lại vẽ hình ảnh mình, cạnh cây bố cho thấy trẻ mong muốn bố, nhưng giữa 2 cây lại có đám cỏ, giữa trẻ và bố có những rào cản và sự xa cách nhất định.

Ngôi nhà được vẽ bên phải khung giấy, với nhiều cửa sổ đóng kín, cửa lớn được trẻ vẽ nhưng tô màu cùng với màu của bức tường, có thể hiện sự rụt rè, khép kín, khó khăn trong giao tiếp với những người xung quanh.

Ở buổi vẽ tranh này khi được trao đổi về gia đình trẻ, thành viên trong gia đình, trẻ yêu quý ai nhất, trẻ vẫn né tránh câu trả lời, nếu có trả lời thì các câu trả lời liên tục khác nhau.

Một phần của tài liệu luận văn sửa lần 3- huế 0974501575 (Trang 66 - 85)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(118 trang)