Trái phiếu, cổ phiếu, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu phổ thông, các quỹ tương hỗ, các quỹ phòng hộ và tiết kiệm bảo hiểm là những thuật ngữ khác nhau để chỉ các hình thức đầu tư. Giữa các lựa chọn đầu tư này có sự giống nhau, đều có cùng bản chất là đầu tư hoặc cho vay vốn nhằm thu được trong tương lai một khoản lợi tức từ việc đầu tư hoặc cho vay vốn đó.
Trang 21 NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT
1.1. Phân biệt các lựa chọn đầu tư
1.1.1 Sự giống nhau
Trái phiếu, cổ phiếu, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu phổ thông, các quỹ tương hỗ, các quỹ phòng hộ và tiết kiệm bảo hiểm là những thuật ngữ khác nhau để chỉ các hình thức đầu tư Giữa các lựa chọn đầu tư này có sự giống nhau, đều có cùng bản chất là đầu tư hoặc cho vay vốn nhằm thu được trong tương lai một khoản lợi tức từ việc đầu tư hoặc cho vay vốn đó.
1.1.2 Sự khác nhau
1.1.2.1 Trái phiếu
Tác giả Mạnh Yên cho rằng “Trái phiếu là loại chứng khoán qui định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thề, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn” (Mạnh Yên, 2007, tr.22)
Trái phiếu thể hiện quan hệ chủ nợ – con nợ giữa người phát hành và người đầu tư Phát hành trái phiếu là đi vay vốn Mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy, trái chủ
là chủ nợ của người phát hành Là chủ nợ, người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành Như vậy, khi đầu tư mua trái phiếu nghĩa là bạn đang cho mượn tiền Trái phiếu cũng được xem như là lựa chọn đầu tư có thu nhập cố định vì dòng tiền từ
nó là không thay đổi.
1.1.2.2 Cổ phiếu
Trang 3Lý Vinh Quang và các công sự cho rằng “Cổ phiếu là chứng chỉ đầu tư vốn, nó xác nhận phần hùn của người sở hữu cổ phiếu trong công ty cổ phần Người sở hữu cổ phiếu được gọi là
cổ đông, là chủ sở hữu vốn và có trách nhiệm về mặt pháp lý trong phạm vi của vốn góp Cổ đông được chia lãi theo tỷ lệ vốn góp vào công ty, nhưng phải chịu mọi rủi ro mà công ty gặp phải” (Lý và các cộng sự, 2006, tr.10)
Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu Khi công ty cổ phần có kết quả kinh doanh thuận lợi thì cổ đông được chia lãi theo phần góp vốn Nhưng khi kết quả kinh doanh không thuận lợi thì cổ đông phải chịu trách nhiệm chia sẻ rủi ro đó tương đương
tỷ lệ vốn góp của mình Khác với trái phiếu, cổ phiếu không có kỳ hạn, mà nó tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty phát hành Cổ phiếu là vốn trong khi đó trái phiếu là nợ.
1.1.2.3 Cổ phiếu phổ thông
Theo Công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam (CTS) thì cổ phiếu phổ thông còn gọi là chứng khoán vốn, là giấy chứng nhận phần hùn của người nắm giữ cổ phiếu đó
trong công ty cổ phần Các cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông có quyền hạn và trách nhiệm đối
với công ty như: được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty; phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình (CTS, 2000)
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông là những người đứng cuối cùng trong hàng ngũ những người có quyền đòi hỏi đối với tài sản và lợi tức của công ty Trong trường hợp phá sản, các cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông chỉ có thể mất khoản đầu tư vào công ty của họ Họ không chịu trách nhiệm cá nhân đối với các khoản nợ của công ty, trách nhiệm của họ là hữu hạn
Trang 41.1.2.4 Cổ phiếu ưu đãi
Theo Bùi Kim yến và các cộng sự (2008) thì cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu lai tạp có những đặc điểm của cổ phiếu phổ thông, vừa giống trái phiếu Cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu phổ thông nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: cổ tức
cố định hàng năm, không được quyền tham gia bầu cử vào Hội đồng quản trị hay Ban kiểm soát công ty Cổ phiếu ưu đãi cũng bị xếp hạng chi trả sau trái phiếu trong trường hợp công ty phá sản Nhưng lại được ưu tiên phân chia tài sản còn lại trước cổ phiếu phổ thông khi công ty phá sản (Bùi và các cộng sự, 2008)
1.1.2.5 Các quỹ tương hỗ
Theo Công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BSC) thì quỹ tương
hỗ là quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng quyền chọn, hàng hoá hay các chứng khoán trên thị trường tiền tệ, thường phát hành chứng khoán quỹ để huy động vốn Đây là một loại chứng khoán tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhỏ có khả năng tiếp cận với một danh mục đầu tư đa dạng và có một sự quản
lý chuyên môn Mỗi cổ đông đều có cơ hội được hưởng lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ nhưng đồng thời cũng phải chịu lỗ nếu như đầu tư không thành công (BSC, 1999)
Như vậy, một quỹ tương hỗ đơn thuần là một tập hợp các khoản đầu tư vào cổ phiếu và/hoặc trái phiếu Quỹ đầu tư tương hỗ là do một công ty tập hợp một nhóm người và tiến hành đầu tư tiền vốn của họ vào cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác Mỗi Nhà đầu tư sở hữu số cổ phần đại diện cho tỷ lệ nắm giữ của họ trong quỹ đó
1.1.2.6 Các quỹ phòng hộ
Trang 5Quỹ phòng hộ là một dạng quỹ đầu tư tư nhân không có tính đại chúng cao do chỉ có một
số lượng hạn chế các nhà đầu tư vào quỹ Về mặt pháp lý Quỹ thường được lập ra dựa trên quan
hệ góp vốn đầu tư của các cá nhân với nhau với một số lượng hạn chế những thành viên tham gia Quỹ có danh mục đầu tư tập trung vào từng nhóm tài sản hoặc từng phân loại tài sản, không
có nhu cầu đa dạng danh mục đầu tư hay bỏ trứng vào nhiều giỏ như các quỹ khác Khi thực hiện đầu tư, Quỹ phòng hộ có khuynh hướng sử dụng các công cụ phái sinh; đầu tư hai chiều (trường
và đoản); sử dụng đòn bẩy nợ lớn và rất hay đầu tư vào các chứng khoán chưa niêm yết (Mỹ Ý, 2011)
Như vậy, ngược hẳn với Quỹ tương hỗ, Quỹ phòng hộ có tính đại chúng thấp và ít bị quản chế bởi cơ quan quản lý giao dịch chứng khoán Quỹ tương hỗ còn bị bắt buộc phải có các bản cáo bạch đầy đủ, chi tiết và sẵn sàng cung cấp cho bất kỳ ai yêu cầu được xem, mà yêu cầu này có thể qua bưu điện hoặc thư điện tử Hoạt động phải được công bố rõ ràng hàng quý, nhất là
về các khoản đầu tư Quỹ phòng hộ thì không phải tuân thủ các yêu cầu khắt khe này.
1.1.2.7 Tiết kiệm bảo hiểm
Theo Luật bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2012) thì tiết kiệm bảo hiểm là một hình thức đầu
tư trong đó có sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi tiết kiệm cho người gửi tiền trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức nhận tiền gửi có tham gia bảo hiểm tiền gửi và lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản (Quốc hội, 2012)
Như vậy, tiết kiệm bảo hiểm an toan cho nhà đầu tư hơn so với các hình thức đầu tư thông qua gửi tiết kiệm thông thường Hình thức đầu tư tiết kiệm bảo hiểm bảo vệ người gửi tiền trước những rủi ro của thị trường tài chính và cũng là bảo vệ chính ngân hàng tham gia bảo hiểm tiền gửi Với hình thức đầu tư này, nếu có nhu cầu vốn đột xuất thì nhà đầu tư có thể rút trước hạn, thế chấp hoặc cầm cố thẻ tiết kiệm tại ngân hàng để vay vốn
Trang 61.2. Mức độ rủi ro của các lựa chọn đầu tư
Khi thực hiện đầu tư, nhà đầu tư có thể lựa chọn bất cứ hình thức đầu tư nào đã nêu ở trên Tuy nhiên, nhà đầu tư cần xác định xem mình định đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, mục tiêu đầu tư là gì để có chiến lược đầu tư phù hợp Đặc biệt, mỗi lựa chọn đầu tư đều có mức độ rủi ro khác nhau, nên khi lựa chọn hình thức đầu tư cũng cần thiết phải tính toán kỹ mức độ rủi ro mà mình có thể chấp nhận được Rủi ro là một phần của đầu tư và việc hiểu rủi ro là rất quan trọng cho nhà đầu tư Vậy thì đầu tư cổ phiếu có tốt không? Hay đầu tư vào trái phiếu thì tốt hơn? Hay
là đem tiền gửi tiết kiệm? Điều quan trọng là bất kể bạn đầu tư vào loại tài sản nào, bao giờ cũng có những rủi ro tiềm ẩn nhất định, và bạn cần phải nghiên cứu, cân nhắc trước khi thực hiện các quyết định đầu tư.
1.2.1 Rủi ro đầu tư trái phiếu
Trái phiếu được xem như là lựa chọn đầu tư có thu nhập cố định vì dòng tiền từ nó là không thay đổi Khi đầu tư vào trái phiếu an toàn hơn nhiều so với cổ phiếu nhưng không có nghĩa là không có rủi ro Trái phiếu Chính phủ thường được coi là có mức độ rủi ro thấp nhất vì Chính phủ luôn có khả năng thu thuế hoặc phát hành tiền để trả nợ nhưng ngược lại lợi nhuận cũng thấp hơn Mức độ rủi ro lớn hơn là trái phiếu của các công ty lớn, kinh doanh ổn định, khả năng phá sản thấp Doanh thu của các doanh nghiệp tồn tại nhiều yếu tố rủi ro hơn nên công ty phải trả mức lãi suất cao hơn một chút so với trái phiếu Chính phủ Tiếp đến là trái phiếu của các công ty nhỏ, ít tên tuổi, hoạt động không ổn định bằng những công ty lớn Do khả năng phá sản của những công ty này cao hơn nên lãi suất trái phiếu mà công ty này trả cho nhà đầu tư phải cao hơn Nhìn chung, khi đầu tư vào trái phiếu, dù là loại trái phiếu nào đi nữa thì cũng có khả năng đối diện với các rủi ro sau đây:
Trang 7Rủi ro tín nhiệm: Mức độ rủi ro tín nhiệm của trái phiếu được đánh giá dựa trên các yếu
tố kinh tế và khả năng hoàn trả lãi và gốc trái phiếu của nhà phát hành Rủi ro tín nhiệm được thể hiện qua hệ số tín nhiệm Hệ số tín nhiệm do các công ty đánh giá tín nhiệm ấn định Hệ số tín nhiệm càng cao thì trái phiếu được coi là càng an toàn Nếu khả năng không trả được lãi và gốc tăng lên khi nhà phát hành bắt đầu chịu tổn thất lớn thì rủi ro sẽ tăng lên và lợi tức dự tính của các trái phiếu này sẽ giảm.
Rủi ro lãi suất: Là rủi ro khi giá cả của trái phiếu bị hạ do sự gia tăng lãi suất thị trường
Khi lãi suất thị trường càng tăng, giá trái phiếu càng giảm Khi lãi suất thị trường càng giảm, giá trái phiếu sẽ càng tăng Nguyên nhân chính là do lãi suất của trái phiếu đã được ấn định từ trước nên khi lãi suất thị trường giảm, trái phiếu cũ với mức lãi suất cao hơn sẽ trở nên hấp dẫn hơn và ngược lại Trái phiếu có thời gian đáo hạn càng dài thì mức độ tăng hay giảm giá càng cao.
Rủi ro lạm phát: Lạm phát là kẻ thù của nhà đầu tư trái phiếu bởi nó ăn mòn giá trị đồng
tiền Lạm phát càng cao, lãi suất thực của trái phiếu (bằng lãi suất danh nghĩa của trái phiếu trừ lạm phát) càng giảm, do vậy làm mất giá trị của trái phiếu Nếu một trái phiếu trả lãi bảy phần trăm/năm, lạm phát bình quân năm phần trăm thì lãi suất thực của trái phiếu là hai phần trăm Nếu lạm phát giảm xuống còn ba phần trăm thì lãi suất thực sẽ là bốn phần trăm (Thanh Niên, 2006)
Rủi ro thanh khoản: Tính thanh khoản là sự dễ dàng chuyển trái phiếu sang tiền mặt
trong một thời gian ngắn và không bị sụt giảm giá trị tiền tệ của trái phiếu đó.Trong điều kiện thị trường thiếu tính thanh khoản, nhà đầu tư trái phiếu sẽ khó lòng tìm được người sẵn sàng mua lại trái phiếu, hoặc nếu tìm được thì phải bán lại với giá rẻ hơn so với giá trị thực của trái phiếu Thông thường, trái phiếu của các công ty sẽ có tính thanh khoản kém hơn trái phiếu của kho bạc.
Trang 8Rủi ro khi thị trường chứng khoán sụt giá mạnh: Thông thường giá trái phiếu không
biến động nhiều như giá cổ phiếu, do vậy khi thị trường chứng khoán sụt giá mạnh, các nhà đầu
tư có xu hướng chuyển đầu tư từ cổ phiếu sang trái phiếu, qua đó đẩy giá trái phiếu tăng lên Tuy nhiên, khi thị trường chứng khoán đã xuống đến mức đáy, nhà đầu tư lại có xu hướng chuyển sang cổ phiếu đang ở mức giá thấp, điều đó làm giá trái phiếu giảm trở lại.
Rủi ro về tái đầu tư: Là rủi ro khi người nắm giữ trái phiếu không thể tái đầu tư số lãi
được trả vào một đầu tư có lãi suất tương đương với lợi tức cho đến lức đáo hạn Điều này làm cho lợi tức đến ngày đáo hạn trên thực tế khác với lợi tức đến ngày đáo hạn nguyên thủy ban đầu Các trái phiếu không có cuống phiếu thì sẽ không có rủi ro tái đầu tư vì không có khoản lãi nào được trả trong suốt thời gian nó tồn tại.
Rủi ro về chính trị: Là dạng rủi ro xuất phát từ những biến động mạnh về tình hình
chính trị như là một cuộc đảo chính hoặc chiến tranh…Khi những bất ổn chính trị xảy ra, trái phiếu có khả năng bị mất giá trị do đồng tiền bị suy giảm Cũng có thể thời gian thu hồi vốn và lãi lúc đáo hạn bị kéo dài Hoặc thậm chí có thể dẫn đến trường hợp bị mất toàn bộ tiền đã đầu tư vào trái phiếu.
Rủi ro về tỉ giá hối đoái: Khi đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư đã tính toán một loạt các
yếu tố bất lợi, khác với tình huống đầu tư trong nước như chi phí giao dịch, thuế, những rủi ro về chính trị…Trong đó, yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn nhất là rủi ro về tỷ giá hối đoái Đây
là rủi ro xảy ra khi những biến động bất lợi trong tỷ giá hối đoái (giữa nước mà nhà đầu tư đầu tư vào và nước nơi nhà đầu tư cư trú) làm giảm lợi nhuận đầu tư, trong trường hợp lợi nhuận đó được chuyển thành nguyên tệ để đem về nước (Mạnh Yên, 2007)
Trang 91.2.2 Rủi ro khi đầu tư cổ phiếu
Cổ phiếu hấp dẫn nhiều nhà đầu tư do nó có lợi nhuận tiềm năng cao hơn hẳn so với tiền trái phiếu, nhưng bù lại mức độ rủi ro cũng cao hơn do mức độ dao động giá cổ phiếu lớn hơn trái phiếu rất nhiều Giá cổ phiếu trên thị trường luôn biến động và chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau từ kinh tế, lãi suất, lạm phát, chính trị, đến tâm lý v.v Bên cạnh những rủi ro
có thể xuất hiện giống khi đầu tư trái phiếu như: thanh khoản, chính trị, tỷ giá hối đoái… thì khi lựa chọn đầu tư cổ phiếu còn có thể đối diện với những rủi ro cơ bản sau đây:
Rủi ro thị trường: Rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các nhà đầu tư đối với
các hiện tượng trên thị trường Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường thường khiến một số nhà đầu tư hoang mang và họ sẽ cố gắng rút vốn về điều này làm gia tăng số lượng bán, làm giá
cả cổ phiếu rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở Cổ phiếu không bao giờ trụ mãi ở một mức giá
mà sẽ luôn biến động Điều này vừa tạo nên sức hấp dẫn cho thị trường chứng khoán nhưng cũng làm nảy sinh rủi ro Hiện tại, diễn biến giá chứng khoán bị chi phối bởi nhiều yếu tố như kinh tế
vĩ mô (lạm phát, lãi suất, tiền tệ), yếu tố bên ngoài (tình hình thế giới, thiên tai) Đặc biệt, rủi ro thị trường cũng biến động theo những kỳ vọng về khả năng sinh lời và tâm lý của nhà đầu tư Do
đó, rủi ro thị trường rất khó nắm bắt Nhà đầu tư chỉ có thể tính toán và ước lượng rủi ro thị trường ở mức độ tương đối.
Rủi ro liên quan đến hoạt động kinh doanh: Những nhân tố nội tại gắn liền với các nhà
phát hành cổ phiếu như: nhân tố về kỹ thuật sản xuất, nhân tố về thị trường tiêu thụ, nhân tố về tình hình tài chính doanh nghiệp, nhân tố về con người… trong quá trình hoạt động kinh doanh đều có thể gây biến động về giá cổ phiếu, dẫn đến rủi ro cho nhà đầu tư Doanh nghiệp sẽ gặp rủi
ro khi sản phẩm, dịch vụ đã trở nên lỗi thời, không đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng Hoặc công ty làm ăn sa sút vì chiến lược phát triển và đầu tư không phù hợp Trong trường hợp
Trang 10đội ngũ quản trị của công ty non yếu, rủi ro kinh doanh càng cao Trên thị trường chứng khoán, nhiều nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu của những công ty như vậy đã lâm vào hoàn cảnh "dở khóc
dở cười" khi những cổ phiếu của các công ty này bị ngừng giao dịch.
Rủi ro đặc trưng của ngành: Khi đầu tư chúng khoán, nhà đầu tư sẽ phải chịu thêm rủi
ro từ ngành Chẳng hạn, từ giữa năm 2008, thị trường bất động sản và nguyên vật liệu bắt đầu lao dốc do bị tác động mạnh bởi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu Kết quả là, giá các cổ phiếu thuộc các nhóm ngành này cùng bị "vạ lây", giảm hơn 80 phần trăm so với đầu năm 2008 Chẳng hạn,
cổ phiếu TDH (Công ty Phát triển Nhà Thủ Đức) đã giảm xuống còn 28.900 đồng (31.12.2008)
từ mức 141.000 đồng/cổ phiếu (Ngọc Thủy (2009)
Rủi ro từ thông tin: Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu có nguồn gốc rất sâu đậm từ số lượng
và chất lượng thông tin mà nhà đầu tư cần để làm cơ sở đưa ra các quyết định đầu tư Rủi ro luôn rình rập ở mọi nơi và nhà đầu tư sẽ phải trả giá sớm hay muộn, đắt hay rẻ, khi không nắm được các thông tin chính xác nhất, đầy đủ và kịp thời nhất liên quan đến môi trường đầu tư, chất lượng
cổ phiếu và tình hình thị trường
Một báo cáo tài chính hoặc cáo bạch chưa được kiểm toán, thẩm định bởi các tổ chức độc lập, chuyên nghiệp, có uy tín và trình độ chuyên môn cao; một thông tin đến chậm hoặc bị cắt xén, không chính xác về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu, về môi trường pháp lý và về các nhà đầu tư khác trên cùng “sân chơi”, hoặc đơn giản là về tình hình thời tiết hay dịch bệnh nào đó đều có thể gây ra thiệt hại khôn lường cho nhà đầu tư cổ phiếu
Rủi ro từ các quy định và chất lượng dịch vụ của sàn giao dịch: Vì yêu cầu đặc thù
đòi hỏi bắt buộc hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thông qua các tổ chức trung gian, môi giới, nên các nhà đầu tư có thể phải chịu nhiều rủi ro liên quan đến các quy định, quy trình nghiệp vụ và chất lượng dịch vụ của các tổ chức trung gian Điển hình là các rủi ro liên quan đến
Trang 11việc tổ chức khớp lệnh và phân lô giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán có tổ chức Việc khớp lệnh định kỳ gây rủi ro cho nhà đầu tư vì họ không thể hủy ngang lệnh đã đặt trước khi kết thúc phiên khớp lệnh, bất chấp những biến động mới bất lợi trên thị trường, nếu họ không muốn chịu phạt về sự thay đổi quyết định này Khớp lệnh định kỳ có thể gây rủi ro cho nhà đầu
tư vì dễ gây tình trạng cung - cầu ảo trên thị trường và cả tình trạng nghẽn mạch, quá tải hoặc phân biệt đối xử theo kiểu bỏ rơi nhà đầu tư nhỏ ở các sàn giao dịch.
Trong khi đó, việc khớp lệnh liên tục, mặc dù cho phép các nhà đầu tư đặt lệnh thận trọng, chính xác hơn, được giải quyết nhu cầu mua - bán nhiều hơn, nhanh chóng, bình đẳng hơn
và giảm thiểu tình trạng cung - cầu ảo trên thị trường chứng khoán, song có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư ở chỗ: khớp lệnh liên tục là giao dịch trên cơ sở khớp liên tục các lệnh mua- bán cổ phiếu ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch, không phải chờ đến thời điểm định kỳ như kiểu khớp lệnh định kỳ.
Trong nguyên tắc xử lý khớp lệnh liên tục này thì quyền ưu tiên luôn dành cho các lệnh mua có mức giá cao hơn và các lệnh bán có mức giá thấp hơn Trường hợp các lệnh mua và bán
có đồng mức giá thì quyền ưu tiên sẽ dành cho lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước Đến đây, rủi ro cho nhà đầu tư có thể xuất hiện theo hai cách: hoặc rủi ro vì lệnh mua - bán của họ bị nhập vào hệ thống chậm hơn so với các nhà đầu tư khác có lệnh tương tự nên không thực hiện được sớm hoặc hết các lệnh đã đặt; hoặc rủi ro vì họ buộc phải mua - bán bằng hết các chứng khoán đã đặt lệnh theo mức giá thị trường thời điểm hiện hành cao (khi mua vào) hoặc thấp hơn (khi bán ra) so với mức lệnh đã đặt.
Rủi ro từ các chấn động thị trường: Các nhà đầu tư chứng khoán, nhất là các nhà đầu
tư nhỏ, có thể phải gánh chịu nhiều rủi ro liên quan đến các chấn động thị trường trong nước hoặc nước ngoài gây ra, bởi: các trào lưu mua, bán cổ phiếu theo tâm lý đám đông; các hoạt
Trang 12động đầu cơ, tung tin đồn thất thiệt, gây nhiễu thông tin và tự đánh bóng, thổi giá hoặc thậm chí lừa đảo gây biến động thị trường hòng trục lợi; các chấn động thị trường khác từ nước ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á hồi năm 1997 là một ví dụ điển hình (Văn Nam, 2009)
1.2.3 Rủi ro khi đầu tư cổ phiếu phổ thông
Cổ phiếu phổ thông hay còn gọi là cổ phiếu thường Nó là loại cổ phiếu thông thường nhất trong các công ty cổ phần Bên cạnh những rủi ro mà nó có thể gặp phải như trên, nó có một
so rủi ro khác khi so sánh với cổ phiếu ưu đãi
Nhận tiền và lợi tức sau cùng: Về dài hạn theo nghĩa tăng trưởng vốn thì cổ phiếu phổ
thông mang lại lợi nhuận cao hơn hầu hết các khoản đầu tư khác Điều này xuất phát từ giá trị khi cổ phiếu luôn đi kèm với rủi ro nhất Nếu công ty phát hành phá sản và mất thanh khoản thì các cổ đông nắm giữ cổ phiếu phổ thông sẽ không nhận được tiền, sẽ không được chia phần giá trị tài sản còn lại khi thanh lý trước khi thanh toán cho các chủ nợ, trái chủ và các cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu của công ty không có thời hạn hoàn trả, vì đây không phải là khoản nợ đối với công ty Ngay cả khi xác định giá trị sổ sách cổ phiếu phổ thông,trong trường hợp công ty phát hành cả cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia cho số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành.
Cổ tức thay đổi theo kết quả kinh doanh và cơ cấu cổ đông: Cổ đông phổ thông phải
gánh chịu những rủi ro mà công ty gặp phải, tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trong phạm vi số lượng vốn góp vào công ty Cổ tức của cổ đông phổ thông được tính theo giá trị cổ phiếu họ nắm giữ Tuy nhiên mức cổ tức này không phải là cố định mà có thể thay đổi theo tình hình kinh doanh của công ty cũng như là cơ cấu các cổ đông Ví dụ khi công ty phát hành 100 cổ phiếu, mà bạn sở hữu một trong số đó tức là bạn đã sở hữu một phần trăm công
Trang 13ty và hưởng cổ tức theo tỉ lệ đó Nhưng khi công ty quyết định phát hành thêm 100 cổ phiếu nữa, mua lại hay hủy bỏ số cổ phiếu đang lưu hành thì tỉ lệ sở hữu của bạn sẽ bị thay đổi, không còn
là một phần trăm nữa, và do đó mức cổ tức của bạn cũng tăng hoặc giảm theo (NA NA, 2012)
1.2.4 Rủi ro khi đầu tư cổ phiếu ưu đãi
Cổ tức cố định: Khác với cổ tức của cổ phiếu phổ thông, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi
được xác định trước và thường được xác định bằng tỷ lệ phần trăm cố định so với mệnh giá của
cổ phiếu hoặc bằng số tiền nhất định in trên mỗi cổ phiếu Trong trường hợp công ty phát hành
cổ phiếu ưu đãi có kết quả kinh doanh tốt thì họ không được chia thêm cổ tức vì cổ tức của họ đã được xác định trước Hơn nữa, mặc dù có quyền ưu tiên được thanh toán trước trong trường hợp giải thể hay thanh lý công ty, nhưng vẫn bị xếp sau người nắm giữ trái phiếu.
Hạn chế về bầu cử, ứng cử và kiểm soát công ty: Tương tự như cổ phiếu phổ thông,
nhưng cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát và không tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của công ty Đây là rủi
ro mang tính đặc trung của cổ phiếu ưu đãi so với các cổ phiếu khác.
Hạn chế chuyển nhượng: Đối với các cổ phiếu ưu đãi, thường là các công ty phát hành
cho người trong công ty hoặc các đối tác chiến lược Giá phát hành thường rẻ hơn so với giá cổ phiếu phổ thông Vì vậy, các cổ phiếu ưu đãi bị hạn chế chuyển nhượng trong một khoảng thời gian nào đó, thường là ba năm Sau ba năm mới được giao dịch chuyển nhượng, sang tên, tuy nhiên có thể một năm nếu công ty vừa phát hành bán đấu giá được một năm mà đã có quyết định lên sàn giao dịch Vì số lượng ít và không được phép sang tên khi chưa cho phép nên còn được gọi là cổ phiếu hạn chế chuyển nhượng
Trang 141.2.5 Rủi ro khi đầu tư vào quỹ tương hỗ
Thay vì tiêu tốn thời gian để tìm hiểu thông tin và thực hiện đầu tư nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận thì chúng ta có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách mua cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ của các quỹ tương hỗ Về mặt lý thuyết, quỹ tương hỗ là một ý tưởng tuyệt vời nhưng thực tế thì không phải quỹ đầu tư nào cũng luôn có đủ khả năng khiến cho tiền của chúng ta sinh sôi nảy
nở Không phải các quỹ tương hỗ đều có khả năng như nhau và việc đầu tư vào các quỹ không
dễ dàng Do các quỹ tương hỗ cũng thực hiện đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và thị trường tiền tệ nên bản thân việc đầu tư vào các quỹ tương hỗ cũng có thể phải đối diện với các rủi ro xảy ra đối với cổ phiếu, trái phiếu như: rủi ro thị trường, rủi ro lạm phát, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro do mất khả năng thanh toán của tổ chức bên cạnh đó, khi đầu tư vào các quỹ tương hỗ, nhà đầu tư còn có thể gặp một số rủi ro sau đây:
Rủi ro pháp lý: hoạt động đầu tư hiện nay ngày càng phát triển phù hợp với xu thế phát
triển kinh tế tại các nước và trên thế giới Nhằm hướng dẫn, quản lý và điều hành các hoạt động đầu tư thì Chính phủ các quốc gia đã, đang và sẽ cho ra đời nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động đầu tư Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những rủi ro nhất định liên quan đến yếu tố pháp lý như: sự phù hợp của các văn bản luật này với các luật pháp quốc tế khác, các quy định về thuế cũng như khuyến khích đối với các hình thức đầu tư luôn thay đổi, chế độ kế toán và kiểm soát hoạt động quản lý quỹ…
Rủi ro xung đột lợi ích: Các công ty quản lý quỹ cũng sẽ gặp phải những xung đột nhất
định về lợi ích giữa các quỹ đầu tư và các sản phẩm tài chính khác do công ty quản lý quỹ điều hành Không có qui định rõ ràng về tỷ lệ lợi nhuận giữa các sản phẩm đầu tư do công ty quản lý quỹ điều hành Tiền của các nhà đầu tư đóng góp vào quỹ có thể được sử dụng đối với các sản
Trang 15phẩm tài chính khác, điều này rất dễ đến thiệt hại cho nhà đầu tư Rủi ro này thuộc dạng rủi ro không hệ thống, có thể kiểm soát được
Rủi ro về tiến độ giải ngân: Quá trình phân bổ tài sản của quỹ vào các công ty đã nêm
yết hoặc chưa nêm yết sẽ phụ thuộc nhiều vào tiến độ thực hiện của cổ phần hóa, quyết định chấp thuận được niêm yết của các công ty theo chính sách của Chính phủ và Nhà nước Rất nhiều trường hợp, các nhà đầu tư thực hiện đầu tư các danh mục thông qua quỹ tương hỗ nhưng các qu4y lại không giải ngân được Do vậy, nhà đầu tư cũng cần quan tâm đến khả năng xảy ra đối với rủi ro về tiến độ giải ngân của quỹ.
Rủi ro giảm sút giá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ: Rủi ro này phát sinh chủ yếu do sự
giảm giá của các loại cổ phiếu trên thị trường phi tập trung (thị trường OTC) và cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán mà quỹ đầu tư Khi đó, giá trị tài sản ròng của quỹ sẽ bị giảm sút
và ảnh hưởng trực tiếp đến thị giá của chứng chỉ quỹ trên thị trường mà nhà đầu tư đang sở hữu
Có những thời điểm thị trường tiêu cực, mặc dù giá trị tài sản ròng của quỹ cao nhưng giá thị trường của chứng chỉ quỹ lại thấp hơn rất nhiều, gây thiệt hại cho nhà đầu tư.
1.2.6 Rủi ro khi đầu tư vào quỹ phòng hộ
Quỹ phòng hộ với mục đích phòng ngừa rủi ro biến động giá chứng khoán trên thị
trường, theo đó các quỹ phòng hộ mua các chứng khoán có khả năng tăng giá, đồng thời bán khống các chứng khoán có khả năng giảm giá nhằm giảm thiểu sự bất ổn và rủi ro để bảo toàn vốn và thu lợi trong mọi điều kiện thị trường Bằng cách đó, tác động của sự biến động giá trên thị trường bị loại bỏ bởi vì nếu thị trường tăng thì khoản lỗ do bán khống sẽ được Do vậy, các quỹ phòng hộ giá sẽ hoạt động với ít rủi ro hơn so với các loại quỹ đầu tư khác tại một thị trường giá xuống Nhưng ngay bản thân khi đầu tư vào quỹ phòng hộ cũng chứa đựng rủi ro Một nhà nghiên cứu chiến lược đầu tư dày dạn kinh nghiệm, đồng thời cũng là chuyên gia phát hiện
Trang 16những dấu hiệu bong bóng của Ngân hàng đầu tư Morgan Stanley cho rằng, cơn sốt quỹ đầu tư phòng hộ giá tại cả Mỹ và châu Âu chứa đựng đầy đủ những dấu hiệu của một “quả bong bóng” kinh điển Ông đoán chắc rằng rất nhiều quỹ đầu tư phòng hộ giá mới thành lập sẽ bị bùng nổ và các nhà đầu tư vào những quỹ này sẽ bị thiệt hại nặng (Báo mới (2009)
Rủi ro do nguyên tắc thanh khoản linh hoạt ban đầu để tối đa hóa hiệu quả đầu tư:
Năm 2008, thế giới có gần 7.000 quỹ phòng hộ và tài sản mà các quỹ này quản lý khoảng 2.000
tỉ USD Suy thoái kinh tế toàn cầu khiến nhiều quỹ phòng hộ giảm giá trị tài sản, thậm chí thua
lỗ và đổ bể Nguyên do chính là do trong quá trình hoạt động, các quỹ phòng hộ đã ứng dụng nguyên tắc ứng biến, thanh khoản linh hoạt ban đầu để tối đa hóa hiệu quả đầu tư, trở thành quỹ đầu cơ chấp nhận rủi ro có khi còn cao hơn cả rủi ro của thị trường, dẫn đến thua lỗ, làm giảm giá trị tài sản của quỹ (Mỹ Ý, 2011)
Rủi ro từ sự quản lý quỹ: Quỹ phòng hộ có đặc điểm là không bị quản lý chặt chẽ bởi
pháp luật, nó ít minh bạch hơn các quỹ đầu tư truyền thống khác và chính điều này giúp giao dịch tại quỹ phòng hộ dễ dàng hơn nhưng lại chứa đựng rủi ro cho nhà đâu tư vào quỹ Việc quản
lý quỹ phòng hộ được thực hiện một cách hết sức chủ động và theo các chiến lược đầu tư linh hoạt và rất đa dạng Người quản lý quỹ không có nghĩa vụ thông báo với các nhà đầu tư ngay cả trong trường hợp họ thay đổi chiến lược đầu tư của quỹ.
Tính minh bạch của quỹ phòng hộ không cao: Điều này được thể hiện ở việc quỹ
thường không công bố cụ thể về danh mục đầu tư và về mức đòn bẩy của mình Việc công bố thông tin cho các nhà đầu tư được thực hiện dưới dạng gửi thư riêng đến từng người Đặc điểm này trên thực tế đã dẫn đến tình trạng không bình đẳng giữa các nhà đầu tư do nội dung các thư
mà quỹ gửi đến từng khách hàng có sự khác biệt Có một số khách hàng được ưu ái hơn và được tiếp cận nhiều thông tin về hoạt động của quỹ hơn một số nhà đầu tư khác
Trang 171.2.7 Rủi ro khi đầu tư tiết kiệm bảo hiểm
Cùng với trái phiếu, tiết kiệm là lựa chọn đầu tư chịu ít rủi ro nhất trong số các lựa chọn đầu tư nêu trên Nó lại càng ít rủi ro hơn nữa khi khoản tiết kiệm lại được tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi Tuy nhiên, không vì thế mà lựa chọn đầu tư tiết kiệm bảo hiểm sẽ không
có rủi ro, rủi ro tuy ít nhưng vẫn có thể xuất hiện.
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có qui mô nhỏ: khi một tổ chức có qui mô nhỏ đứng ra thực
hiện bảo hiểm tiền gửi cho nhà đầu tư đồng nghĩa với việc rủi ro cho nhà đầu tư có thể xảy ra Càng rủi ro hơn khi quy mô của tổ chức bảo hiểm tiền gửi vẫn còn khiêm tốn với nguồn thu chủ yếu đến từ phí bảo hiểm và đóng góp từ các tổ chức tín dụng Khi có vấn đề xảy ra đối với khoản đầu tư tiết kiệm tại tổ chức tín dụng, quỹ rất khó có thể tự xử lý được các khoản đầu tư tiết kiệm bảo hiểm.
Mức chi trả thấp so với khoản đầu tư: Khi hạn mức chi trả cho các khoản đầu tư tiết
kiệm được bảo hiểm thấp, rủi ro xảy ra thì các nhà đầu tư không thể lấy lại được tất cả khoản tiền đầu tư tiết kiệm của mình được Hạn mức chi trả càng thấp thì rủi ro càng cao và ngược lại Chẳng hạn như ở Việt Nam, hạn mức chi trả tối đa của Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) đặt ra chỉ có 50 triệu trên mỗi tài khoản tiết kiệm Một người gửi một tỉ đồng mà chỉ được đền bù 50 triệu đồng, khi tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền đầu tư tiết kiệm cho khách hàng gặp sự cố, rõ ràng không thể trông chờ DIV (Thanh Phong, 2012)
1.3 Tầm quan trọng của quản trị rủi ro đối với phát triển sản phẩm mới
Sản phẩm mới là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp
Do liên tục phải đối mặt với thị trường cạnh tranh gay gắt, với nhu cầu thường xuyên thay đổi của khách hàng và với những tiến bộ trong công nghệ nên các doanh nghiệp thường có chiến
Trang 18Phát triển một sản phẩm mới ra thị trường luôn là huyết mạch của hầu hết các doanh nghiệp Song bất kể tầm quan trọng là thế, quá trình này thường gặp rất nhiều khó khăn bởi nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao, khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển ngày càng mạnh thì chu kỳ sống của sản phẩm sẽ có xu hướng ngày càng ngắn đi Việc phát triển và tung sản phẩm mới ra thị trường vốn vô cùng tốn kém và không phải sản phẩm nào cũng có khả năng bám trụ được
Như châm ngôn xưa có nói, không có gì là chắc chắn cả Không phải mọi quan niệm - ngay cả những thứ trông có vẻ hứa hẹn trong các giai đoạn nghiên cứu và phát triển - có thể tồn tại ngoài thương trường Thậm chí những công ty thành công, lớn mạnh sau đây đôi khi cũng gặp những rủi ro trong quá trình phát triển và tung ra sản phẩm mới
1.3.1 Rủi ro do có quá nhiều hay quá ít thời gian để phát triển sản phẩm
Một số công ty có quá nhiều thời gian để phát triển và tung ra sản phẩm mới Trong trường hợp này, thường thì các đối thủ cạnh tranh đã nắm được thong tin và ra sức phá hoại việc phát triển sản phẩm này hoặc lập tức cho ra đời một sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm
đó Hoặc do thời gian phát triển dài, thị trường có thể đã đổi thay và sản phẩm hay dịch vụ không còn phù hợp nữa Sự thay đổi của thị trường Mỹ khiến cho các sản phẩm phim gia đình
Polavision của Polaroid và đĩa hình Selecta Vision của RCA hứng chịu thất bại vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 khi vẫn còn đang trong thời gian phát triển Lý do là các sản phẩm này đã không còn phù hợp trong một thị trường đã đổi thay Người tiêu dung lúc đó đã quen và chuộng công nghệ mới của đầu máy video và các sản phẩm phụ của nó (Hendon (1992)
Những công ty khác lại có quá ít thời gian chuẩn bị để phát triển và tung ra sản phẩm mới nên đã không có những thử nghiệm một cách đầy đủ Năm 1957, nhằm cạnh tranh với các sản phẩm của Chevrolet nên Ford đã nhanh chóng cho ra đời chiếc xe Edsel Tuy nhiên do gấp rút