Rủi ro là điều không ai mong muốn nhưng trên thực tế rủi ro luôn song hành trong cuộc sống nói chung và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nói riêng. Trong khi đó, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Trong điều kiện các nguồn lực của doanh nghiệp là hữu hạn cho nên đòi hỏi doanh nghiệp luôn cân nhắc, tính toán, lựa chọn những giải pháp tốt nhất cho một vấn đề, một phương án đầu tư tối ưu,... Để có lựa chọn tốt nhất, các nhà quản lý sẽ phải so sánh mục tiêu mong muốn sao cho chi phí bỏ ra thấp nhất nhưng đạt được doanh thu là lớn nhất và lợi nhuận thu được ở mức tối đa, tức là hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra. Để hiểu thêm về lợi nhuận và rủi ro của các khoản mục đầu tư, nhóm 5 sẽ tiến hành xem xét các khái niệm, các cách xác định, phân loại lợi nhuận và rủi ro của khoản mục đầu tư, về mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro nhằm tạo nền tảng cho việc ra quyết định đầu tư. Đồng thời, hiểu được cơ sở lý thuyết cũng như ý nghĩa của mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), từ đó biết cách vận dụng mô hình vào thực tiễn.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Rủi ro là điều không ai mong muốn nhưng trên thực tế rủi ro luôn songhành trong cuộc sống nói chung và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nói riêng Trong khi đó, mục tiêucuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Trong điều kiện các nguồnlực của doanh nghiệp là hữu hạn cho nên đòi hỏi doanh nghiệp luôn cân nhắc,tính toán, lựa chọn những giải pháp tốt nhất cho một vấn đề, một phương án đầu
tư tối ưu, Để có lựa chọn tốt nhất, các nhà quản lý sẽ phải so sánh mục tiêumong muốn sao cho chi phí bỏ ra thấp nhất nhưng đạt được doanh thu là lớnnhất và lợi nhuận thu được ở mức tối đa, tức là hạn chế tới mức thấp nhất nhữngrủi ro có thể xảy ra
Để hiểu thêm về lợi nhuận và rủi ro của các khoản mục đầu tư, nhóm 5 sẽtiến hành xem xét các khái niệm, các cách xác định, phân loại lợi nhuận và rủi rocủa khoản mục đầu tư, về mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro nhằm tạo nềntảng cho việc ra quyết định đầu tư Đồng thời, hiểu được cơ sở lý thuyết cũngnhư ý nghĩa của mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), từ đó biết cách vận dụng
mô hình vào thực tiễn Trong quá trình hoàn thành bài, mặc dù đã cố gắngnhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự đóng gópcủa thầy và các bạn để bài làm của nhóm 5 hoàn chỉnh hơn
Nhóm 5 xin chân thành cảm ơn!
Trang 2DOANH LỢI VÀ RỦI RO
1. Doanh lợi của khoản đầu tư
1.1.Doanh lợi kỳ vọng và tỷ suất sinh lợi
Doanh lợi tuyệt đối
Thu nhập của khoản đầu tư vào một tài sản hay còn gọi là doanh lợi củamột tài sản được cấu thành bởi hai bộ phận: Thứ nhất là thu nhập do chính bảnthân tài sản đó mang lại và thứ hai là lỗ hoặc lãi do giảm hoặc tăng giá của tàisản đầu tư (còn được gọi là lỗ hoặc lãi về vốn)
Doanh lợi = Thu nhập từ tài sản + lãi (hoặc lỗ) về vốn
Để minh hoạ rõ hơn, chúng ta hãy nghiên cứu ví dụ sau:
Ví du:
Đầu năm giá một cổ phiếu của doanh nghiệp A là 37$ nếu mua 100
cổ phiếu, ta phải chi một khoản là 3700 $ Giả sử rằng: Sau 1 năm doanhnghiệp A sẽ trả lãi cổ phần là 1,85 $ cho 1 cổ phần và giá mỗi cổ phiếu tănglên là 40,33 $ Vậy ta sẽ nhận được:
Thu nhập từ cổ phần = 1,85$ x 100 = 185 $
Lãi về vốn = (40,33$ - 37$) x 100 = 333 $
Tổng số doanh lợi trong trường hợp có lãi về vốn:
Tổng doanh lợi = 185$ + 333 $ = 518 $
Doanh lợi tương đối
Ở trên trình bày về doanh lợi tính bằng số tuyệt đối Tuy nhiên, trênthực tế, người ta hay sử dụng thông tin về doanh lợi dưới dạng số tương đối
và gọi nó là doanh lợi tương đối Việc sử dụng doanh lợi tương đối rất thuậntiện vì nó không phụ thuộc vào lượng đầu tư thực tế của nhà đầu tư Thựcchất chúng ta chỉ muốn trả lời một câu hỏi sẽ nhận được bao nhiêu lãi từ
Trang 3một đơn vị vốn đầu tư.
Công thức tính doanh lợi tương đối:
Doanh lợi tương đối =
Theo ví dụ 1, doanh lợi tương đối được xác định như sau:
Doanh lợi tương đối = == 0,14 = 14%
Do sự thuận tiện của doanh lợi tương đối, nên người ta quy ước khinói đến doanh lợi thì có nghĩa là doanh lợi tương đối
Doanh lợi của một khoản đầu tư là tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tưđược biểu thị bằng %
Tỷ suất sinh lợi:
Tỷ suất sinh lợi của một khoản đầu tư là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhậpnhận được từ việc đầu tư và giá trị đầu tư bỏ ra ban đầu
Ví dụ: Ông A bỏ ra 100$ để mua cổ phiếu, được hưởng cố tức là 7$ mộtnăm và sau một năm giá thị trường của cổ phiếu lúc đó là 106$ thì tỷ suất sinhlợi mà ông A nhận được từ việc đầu tư vào cổ phiếu này được xác định như sau:
Khoản tiền bỏ ra: 100$
Thu nhập ông A có được sau 1 năm bao gồm:
Cổ tức: 7$
Lợi nhuận do cổ phiếu lên giá: 106$ - 100$ = 6$
Tổng lợi nhuận ông A có được: 7$ + 6$ = 13$
Tỷ suất sinh lợi = = 0,13 = 13%/năm
1.2.Doanh lợi thực tế
Doanh lợi được tính toán theo cách ở trên được gọi là doanh lợi danhnghĩa Sở dĩ gọi đó là doanh lợi danh nghĩa là vì kết quả đó chưa được điềuchỉnh theo lạm phát Cũng với kết quả trên, nếu điều chỉnh nó theo tốc độ
Trang 4lạm phát thì sẽ có doanh lợi thực tế.
Lạm phát tác động đến doanh lợi thực tế như thế nào?
Giả sử đầu năm giá 1kg nhôm là 5$ Với 100$ vào đầu năm ta có thểmua được 20 kg nhôm Đến cuối năm do lạm phát là 5% nên giá nhôm tănglên 5%, nghĩa là giá 1kg nhôm vào cuối năm sẽ là 5$ + (5$ x 0,05) = 5,25$.Nếu đầu năm bỏ ra 100$ để mua cổ phiếu, cuối năm bán cổ phiếu và thuđược tổng số tiền là 115,5 $ Giả sử vào thời gian đó dùng tiền thu được đểmua nhôm sẽ mua được: 115,5/ 5,25 = 22 kg nhôm Nếu đo doanh lợi bằnglượng nhôm mua được thì doanh lợi tuyệt đối sẽ là: (115,5/5,25) - 20 = 2 kgnhôm Doanh lợi tương đối sẽ là: 2/20 = 0,1 = 10% Như vậy, doanh lợidanh nghĩa ở đây(của việc bán cổ phiếu) là 15,5% nhưng trên thực tế sứcmua chỉ tăng 10%, nói khác đi chúng ta chỉ thực sự giàu có hơn trước 10%,nghĩa là doanh lợi thực tế bằng 10%
2. Rủi ro và tỷ suất sinh lợi cần thiết
2.1.Định nghĩa và đo lường rủi ro
Trang 5cũng có thể xuống khiến bạn bị lỗ Kết quả là lợi nhuận bạn nhận được có thểkhác xa so với lợi nhuận bạn kỳ vọng.
Nếu rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt giữa lợi nhuận thực tế với lợinhuận kỳ vọng thì trong trường hợp trên rõ ràng đầu tư vào trái phiếu có thể xemnhư không rủi ro, trong khi đầu tư vào cổ phiếu thì rủi ro hơn nhiều, vì xác suấthay khả năng sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng trongtrường hợp mua trái phiếu thấp hơn trong trường hợp mua cổ phiếu
Phân phối xác suất
Để đo lường rủi ro, người ta dùng phân phối xác suất với hai tham số đolường phổ biến là kỳ vọng và độ lệch chuẩn Phân phối xác suất là một mô hìnhliên kết xác suất và tỷ suất sinh lợi của các tình huống
Lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn:
Về mặt thống kê, lợi nhuận kỳ vọng ký hiệu là E(R), được định nghĩa nhưsau:
E(R) =
Trong đó, Ri là lợi nhuận ứng với biến cố I, Pi là xác suất xảy ra biến cố I
và n là số biến cố có thể xảy ra Như vậy, lợi nhuận kỳ vọng chẳng qua là trungbình gia quyền của các lợi nhuận có thể xảy ra với trọng số chính là xác suất xảy
ra Về ý nghĩa, lợi nhuận kỳ vọng chưa xảy ra, do đó, nó là lợi nhuận khôngchắc chắn hay là lợi nhuận kèm theo rủi ro
Ví dụ: Minh họa cách tính tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng và phương sai của tỷsuất lợi nhuận
Trang 6σ2 =
Độ lệch chuẩn chính là căn bậc 2 của phương sai
Trong ví dụ trên, nếu ta lấy căn bậc 2 của phương sai σ2=0,00703 thì sẽ cóđược giá trị của độ lệch chuẩn là 0,0838 hay 8,38% Điều này có ý nghĩa là sựsai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng là 8,38% Lợi nhuận kỳvọng tính được là 9% với độ lệch chuẩn là 8,38%, có nghĩa là thực tế lợi nhuận
có thể biến động trong khoảng từ 9-8,38=0,62% đến 9+8,38=17,38%
2.2.Sự ghét rủi ro và tỷ suất sinh lợi yêu cầu
Để minh họa và phân biệt thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro, ta xem xét
ví dụ minh họa sau: Có 2 ô cửa 1 và 2 Đằng sau một trong hai ô cửa này là10.000$, trong khi của còn lại không có gì Bạn có quyền mở một trong hai ôcửa hoặc mở cửa số 1 hoặc mở ô cửa số 2 và có thể trúng giải thưởng là 10.000$nếu mở đúng ô cửa hoặc không nhận được gì nếu mở sai cửa Ngoài ra, bạn cóthể lựa chọn một khoản tiền là 3000$ nếu bạn từ bỏ quyền được mở của của bạn,cũng đồng nghĩa bạn từ bỏ lợi nhuận kỳ vọng để nhận lấy một số tiền chắc chắn.Với phương án mở cửa, bạn có cơ hội 50/50 sẽ nhận 10.000$ Số tiền kỳvọng của bạn do đó là: (10.000 x 0,5) + (0 x 0,5) = 5.000$ Nhưng khi bạn đượctrả 3.000$, bạn không quyết định được nên chọn phương án nào? Điều nàychứng tỏ rằng, bạn bàng quan khi đứng trước 2 phương án: (1) có được 5.000$
Trang 7với rủi ro kèm theo và (2) có được 3.000$ không có rủi ro kèm theo Số tiền3.000$ ở đây làm bạn cảm thấy không có khác biệt giữa việc lựa chọn lấy3.000$ với sự chắc chắn hoặc lấy 5.000$ với rủi ro kèm theo Số tiền này đượcgọi là số tiền chắc chắn tương đương (certainty equivalent- CE) với số tiền lớnnhưng rủi ro hơn Dựa vào số tiền chắc chắn tương đương này, người ta đưa rađịnh nghĩa thái độ đối với rủi ro như sau:
• Nếu một người yêu cầu CE < giá trị kì vọng người đó ngại rủi ro (riskaversion)
• Nếu một người yêu cầu CE = giá trị kì vọng người đó bàng quan vớirủi ro (risk indifference)
• Nếu một người yêu cầu CE > giá trị kỳ vọng người đó thích rủi ro (riskpreference)
Đối với người ngại rủi ro, chênh lệch giữa giá trị kỳ vọng và CE chính làphần giá trị tăng thêm để bù đắp rủi ro (risk premium) Trong phạm vi mônhọc này, chúng ta xem nhà đầu tư như là những người ngại rủi ro Do đó, khiquyết định đầu tư, nhà đầu tư phải xem xét đến quan hệ giữa lợi nhuận và rủi
ro Điều này có các ý nghĩa như sau:
• Nếu hai cơ hội đầu tư có cùng tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng như nhau thìnhà đầu tư sẽ chọn cơ hội đầu tư nào có rủi ro thấp hơn
• Nếu hai cơ hội đầu tư có cùng mức rủi ro như nhau, nhà đầu tư sẽ chọn
cơ hội đầu tư nào có tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cao hơn
• Nhà đầu tư nói chung là ngại rủi ro, do đó, muốn đầu tư vào dự án rủi
ro thì phải có giá trị tăng thêm và phần bù rủi ro
3. Rủi ro và tỷ suất sinh lợi mong đợi của danh mục đầu tư
3.1.Tỷ suất sinh lợi mong đợi của danh mục đầu tư
Trang 8của từng khoản đầu tư với giá trị của nó được tính theo tỷ lệ phần trăm
so với tổng số tiền đầu tư của một người đầu tư nào đó (tỷ trọng của từngchứng khoán trong danh mục đầu tư) Người ta gọi những tỷ lệ phần
trăm này là những trọng số của danh mục đầu tư
Tỷ suất lợi tức mong đợi ( lợi nhuận kỳ vọng) của danh mục đầu tư làtrung bình có trọng số của các lợi nhuận kỳ vọng của từng tài sản đầu tưriêng lẻ trong danh mục đầu tư
Cách tính:
Trong đó:
: tỷ trọng của tài sản i trong danh mục, với
: tỷ suất lợi tức kỳ vọng của tài sản i
Trang 9Rủi ro của danh mục đầu tư là khả năng làm cho mức sinh lời thực tếtrong tương lai của danh mục đầu tư khác với mức sinh lời dự kiến ban đầu.
n 1
j i j j
Trong đó:
n: là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư
Wi: là tỷ trọng của chứng khoán j trong danh mục
Wj: là tỷ trọng của chứng khoán k trong danh mục
σi,j: là đồng phương sai giữa lợi nhuận của chứng khoán j và k
Công thức tính phương sai của danh mục đầu tư gồm hai chứng khoán
j và k:
Từ công thức trên ta thấy phương sai của danh mục đầu tư phụ thuộcvào phương sai của từng chứng khoán cá biệt và hiệp phương sai giữa haichứng khoán đó Với hiệp phương sai được xác định như sau:
j i j
σi : là độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán i
σj: là độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán j
Khi i = j thì hệ số tương quan :
Trang 10Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư:
Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư:
3.3.Rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống
Trang 11tình hình năng lượng thế giới, Nó chính là phần rủi ro chung cho tất cả cácchứng khoán và do đó không thể giảm được bằng việc đa dạng hóa danh mụcđầu tư Loại rủi ro này còn được gọi là rủi ro thị trường và được đo bằng hệ
số bê – ta
Rủi ro có hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ và hầu hết các loạichứng khoán Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như GDP sụtgiảm, lãi suất biến động, tốc độ lạm phát thay đổi, là những nhân tố của rủi
ro hệ thống, những biến động này tác động đến sự dao động giá của chứngkhoán trên thị trường Và những công ty chịu ảnh hưởng cao của rủi ro hệthống là những công ty mà doanh số, lợi nhuận và giá chứng khoán thườngtheo sát các diễn biến kinh tế và những diễn biến trên thị trường chứngkhoán Phần lớn các công ty trong ngành công nghiệp cơ bản và khai khoáng,những ngành có định phí lớn hay những ngành liên quan đến sản xuất ô tôchịu ảnh hưởng rất cao của rủi ro hệ thống ví dụ như ngành thép, cao su…
Ví dụ:
Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp có
dự án đầu tư mới ở các vùng sâu vùng xa điều này sẽ làm cho chi phí trã lãivay của các doanh nghiệp có dự án đầu tư mới giảm, do vậy chính sách hạlãi suất cho vay của Nhà nước được xem là rủi ro hệ thống
Trang 12sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu chủ yếu là do kỳ vọng của nhà đầu
tư vào nó thay đổi và gọi là rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng của nhà đầu tư đốivới các sự kiện hữu hình hay vô hình Sự chờ đợi đối với chiều hướng sụtgiảm lợi nhuận của các công ty có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn cổphiếu giảm giá Nhà đầu tư thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực,hữu hình như sự kiện kinh tế, chính trị xã hội còn các sự kiện vô hình là các
sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý thị trường Rủi ro thị trường xuất phát từnhững sự kiện hữu hình nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu
tư nên họ hay có phản ứng vượt quá sự kiện đó Những sụt giảm đầu tiên trênthị trường là nguyên nhân gây nên nỗi sợ hãi của các nhà đầu tư và có thểdẫn tới hiện tượng tháo chạy làm tăng vọt số lượng bán khiến giá chứngkhoán rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở Tuy nhiên cũng không loại trừtrường hợp nhà đầu tư mua vào nhiều khi có những sự kiện bất thường xảy
ra, lúc đó giá chứng khoán sẽ tăng lên
- Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là sự biến động giá chứng khoán do sự thay đổi của lãi
suất gây ra Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường
và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là do dao động trong mứclãi suất chung Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãisuất trái phiếu chính phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lợi kỳ vọngcủa các loại chứng khoán khác, đó là các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty.Nhà đầu tư thường coi trái phiếu chính phủ không có rủi ro, lãi suất của tráiphiếu chính phủ là lãi suất chuẩn, là mức phí vay vốn không rủi ro Do dó,những thay đổi trong lãi suất trái phiếu chính phủ sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệthống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu rủi ro cao nhất.Khi đầu tư vào các chứng khoán có thu nhập cố định, nếu lãi suất thị trường
Trang 13tăng lên, cơ hội đầu tư vào các tài sản có mức lợi tức cao hơn sẽ mất đi.Trong đó sự tăng lên của lãi suất, giá thị trường của tài sản đã đầu tư sẽ bịgiảm và nhà đầu tư sẽ bị thiệt về giá khi bán các tái sản đó Thời hạn của cáctài sản đầu tư càng lớn, ảnh hưởng của lãi suất tới giá thị trường của nó sẽcàng lớn, mức độ tổn thất giá trị của chủ đầu tư sẽ càng cao
Lãi suất thay đổi làm cho chi phí và doanh thu của doanh nghiệp thay đổi
Sự thay đổi này phụ thuộc vào cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của DN.Nếu DN sử dụng nhiều nợ, lãi suất tăng lên làm tăng chi phí lãi vay phải trả
và làm cho lợi nhuận của DN sụt giảm, giá cổ phiếu giảm và ngược lại
Để hạn chế rủi ro lãi suất, nhà đầu tư cần nghiên cứu đầy đủ các nhân tốảnh hưởng đến lãi suất bao gồm: chu kỳ kinh tế, lạm phát, sự thay đổi trongchính sách tiền tệ của Chính Phủ, quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tàichính… Để dự báo được sự thay đổi của lãi suất trong tương lai; sử dụng cáccông cụ dẫn suất như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn…
- Rủi ro sức mua
Rủi ro sức mua là sự thay đổi giá trị thực của khoản đầu tư do sự thayđổi sức mua của đồng tiền Hay nói cách khác Rủi ro sức mua là tác động củalạm phát đối với khoản đầu tư, biến động giá càng cao thì rủi ro sức muacàng tăng nếu nhà đầu tư không tính toán lạm phát vào thu nhập kỳ vọng.Nếu lạm phát vượt qua tỷ lệ lạm phát dự tính, giá trị thực của đồng tiền sẽ bịgiảm và làm cho giá trị thực của khoản đầu tư bị giảm giá trị Nếu coi khoảnđầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, một người mua cổ phiếu đã bỏ lỡ cơ hộimua hàng hóa hoặc dịch vụ trong suốt thời gian đầu tư Trong khoảng thời
Trang 14gian đó, nếu giá cả dịch vụ tăng , nhà đầu tư sẽ mất đi một phần sức mua.Thông thường các nhà đầu tư dự kiến trước mức độ mất giá của đồng tiềnqua tỷ lệ lạm phát dự kiến và họ sẽ chỉ chấp nhận đầu tư khi lợi tức thu được
bù đắp cho họ tổn thất này Khi lạm phát thực tế khác với tỷ lệ lạm phát dựkiến, rủi ro sức mua sẽ phát sinh Nói một cách khác Cả giảm phát và lạmphát đều tác động tới giá chứng khoán do đó nhà đầu tư sẽ yêu cầu tỷ lệ lợitức khác đi
- Rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là rủi ro do tác động của tỷ giá đối với khoản đầu tư Khi nhà đầu
tư cho rằng đồng nội tệ có thể bị giảm giá trong tương lai thì nhà đầu tư đó sẽquyết định không đầu tư vào chứng khoán hoặc sẽ tìm cách thay thế chứngkhoán bằng tài sản ngoại tệ và khi đó giá trị chứng khoán sẽ bị giảm
Các nhân tố của rủi ro hệ thống:
Sự biến động ngoài dự kiến của lạm phát, lãi suất: lạm phát ngoài kỳ vọng ít
có tác động đến tỷ suất lợi tức của chứng khoán Sự thay đổi chính sách tiền tệcủa Chính phủ: Cũng tương tự như các nhân tố lãi suất, lạm phát, chính sách tiền
tệ ổn định không tạo ra sự biến động mạnh về giá của chứng khoán Và ngượclại, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước tạo tác độngmạnh trên toàn thị trường và ảnh hường đến giá hầu hết các chứng khoán
Tăng trường kinh tế: Chu kỳ tăng trưởng kinh tế cũng là một trong nhữngnhân tố rủi ro hệ thống Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế mạnh, giá chứngkhoán có xu hướng tăng lên và ngược lại, khi nền kinh tế chuyển sang giai đoạnsuy thoái, giá chứng khoán có xu hướng giảm
Dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tài chính: Dấu hiệu của
Trang 15khủng hoàng kinh tế và khủng hoảng tài chính là nhân tố tác động mạnh mẽ đếnthị trường chứng khoán theo chiều hướng tiêu cực Giá chứng khoán của hầu hếtcác mã chứng khoán giảm mạnh và có thể giảm liên tục trong một khoản thờigian.
Biến động chính trị và kinh tế khu vực: Đối với những nền kinh tế mở, sựbiến động mạnh của chính trị và kinh tế khu vực có thể tạo ra sự biến động giáchứng khoán trên diện rộng Tuy nhiên, đối với những thị trường chứng khoánmới hoặc những quốc gia có thương mại quốc tế kém phát triển, hoặc áp dụngchính sách khống chế tỷ lệ chứng khoán bán cho nhà đầu tư nước ngoài, tácđộng của những biến động chính trị và kinh tế khu vực đến thị trường chứngkhoán là không đáng kể
Biến động chính trị trong nước: Có thể nói biến động chính trị trong nước cótác động đến giá chứng khoán của hầu hết các chứng khoán và những tác độngnày có thể mạnh mẽ hơn các biến động về kinh tế Các tác động này có thể theochiều hướng tích cực và tiêu cực, tùy thuộc vào sự biến động chính trị
Thiên tai trên diện rộng làm đình trệ hoạt động của hệ thống trong dài ngày: Thiên tai trên diện rộng là một nhân tố rủi ro nằm ngoài sự vận hành của hệ thống kinh tế, trong đó có thị trường chứng khoán Điều này có thể tạo ra sự giảm giá chứng khoán trên diện rộng và kéo dài
Rủi ro phi hệ thống
a Khái niệm
Rủi ro phi hệ thống là rủi ro xảy ra đối với một công ty hay một ngànhnghề kinh doanh nào đó, nó độc lập với các yếu tố như tình hình kinh tế,chính trị hay những yếu tố mang tính chất hệ thống có ảnh hưởng đến toàn bộchứng khoán có trên thị trường
Ví dụ:
Trang 16Ban quản lý dự án công ty A sai lầm khi đưa ra quyết định đầu tư vàomột dự án không hiệu quả Điều nay xảy ra làm cho lợi nhuận của công ty Agiảm nhưng không ảnh hưởng gì đến các công ty khác Do đó, kỹ năng quản lýcủa ban quản lý doanh nghiệp là yếu tố rủi ro phi hệ thống chứ không phải là
có hệ thống
Vụ việc Nhật Bản kiện hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu qua Nhậtchứa quá nhiều dư lượng chất kháng sinh cho phép điều này ảnh hưởng đếntoàn doanh nghiệp trong ngành thủy sản Việt Nam
Tổng rủi ro = Rủi ro hệ thống + Rủi ro phi hệ thống
Rủi ro phi hệ thống chỉ ảnh hưởng đến một công ty hay một ngành nào
đó Chẳng hạn, một cuộc đình công hay một đối thủ cạnh tranh phát triển sảnphẩm mới hay một phát minh ra công nghệ tiên tiến của công ty nào đó làmảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty hay một ngành chứ không thể ảnhhưởng đến toàn bộ thị trường nói chung Loại rủi ro phi hệ thống có thể cắtgiảm được bằng chiến lược đầu tư đa dạng hóa, tức là đầu tư vào nhiều tàisản hay nhiều cơ hội đầu tư khác nhau nhằm phân tán rủi ro Còn rủi ro hệthống không thể cắt giảm bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư vì rủi ro hệthống tác động lên doanh nghiệp theo cùng một chiều, bắt nguồn từ nhữngyếu tố vĩ mô nói chung
Hình dưới đây biểu diễn sự kết hợp hai loại rủi ro và mối quan hệgiữa rủi ro với số lượng chứng khoán trong danh mục đầu tư, theo đó khi sốlượng chứng khoán trong danh mục đầu tư tăng lên thì rủi ro nói chung giảmxuống
Nếu nhà đầu tư nắm giữ một danh mục đầu tư gồm 2 chứng khoán, nếuthêm vào chứng khoán thứ 3, mức giảm rủi ro sẽ nhiều hơn trường hợp ngườinày nắm giữ một danh mục đầu tư gồm 10 chứng khoán và thêm vào chứngkhoán thứ 11
Trang 17Nếu n có xu hướng tăng dần số lượng chứng khoán trên thị trường, rủi
- Rủi ro kinh doanh
Là rủi ro xuất phát từ tình trạng hoạt động của công ty, khi có nhữngthay đổi trong tình trạng này công ty có thể sẽ bị sút giảm lợi nhuận và cổtức Nói cách khác, nếu lợi nhuận dự kiến tăng 10% hàng năm trong nhữngnăm tiếp theo, rủi ro kinh doanh sẽ cao hơn nếu như lợi nhuận tăng tới 14%hay giảm xuống 6% so với lợi nhuận nằm trong khoảng 9 - 11% Rủi ro kinh
Trang 18doanh có thể được chia làm hai loại cơ bản: Bên ngoài và nội tại Rủi ro kinhdoanh nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty Mỗicông ty có một loại rủi ro nội tại riêng và mức độ thành công của mỗi công tythể hiện qua hiệu quả hoạt động.
Mỗi công ty có một kiểu rủi ro bên ngoài riêng, phụ thuộc vào các yếu
tố môi trường kinh doanh cụ thể của công ty Các yếu tố bên ngoài, từ chi phítiền vay đến sự cắt giảm ngân sách, từ mức thuế nhập khẩu tăng đến sự suythoái của chu kỳ kinh doanh , và yếu tố quan trọng nhất là chu kỳ kinhdoanh Doanh số của một số ngành công nghiệp thép, ô tô có xu hướng bámsát chu kỳ kinh doanh trong khi doanh số của một số ngành khác lại có xuhướng đi ngược lại Các chính sách chính trị cũng là một phần của rủi ro bênngoài, các chính sách tiền tệ và tài khoá có thể làm ảnh hưởng đến thu nhậpthông qua tác động về chi phí và nguồn vốn
- Rủi ro tài chính
Là rủi ro liên quan đến việc công ty tài trợ vốn cho hoạt động củamình Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúcvốn của một công ty Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo
ra cho công ty những nghĩa vụ trả lãi mà phải được thanh toán cho chủ
nợ trước khi trả cổ tức cho cổ đông nên nó có tác động lớn đến thu nhập của
họ Rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được trong phạm vi mà các nhàquản lý có toàn quyền quyết định vay hay không vay Một công ty không vay
nợ chút nào sẽ không có rủi ro tài chính
Bằng việc đi vay, công ty đã thay đổi dòng thu nhập đối với cổ phiếuthường Cụ thể là, việc sử dụng tỷ lệ vay nợ gây những hệ quả quan trọng đối
Trang 19với những người nắm giữ cổ phiếu thường, đó là làm tăng mức biến độngtrong thu nhập của họ, ảnh hưởng đến dự kiến của họ về thu nhập, và làmtăng rủi ro của họ.
Giả sử chúng ta có hai công ty có hoạt động kinh doanh như nhau, chỉkhác nhau về cơ cấu vốn: Công ty C, nguồn vốn hoàn toàn từ 1 triệu cổ phiếuthường, bán với giá 20 đôla/1cổ phiếu Công ty khác, công ty D, có nguồnmột nửa là từ cổ phiếu thường 500.000 cổ phiếu, bán với giá 20 đô la/ cổphiếu và một nửa là từ vay nợ 10 triệu USD với lãi vay là 5% Như vậy, tàisản có của mỗi công ty là 20 triệu USD, dự kiến sẽ có lợi nhuận 1 triệu USD,hay là 5% trên tổng tài sản Chúng ta giả sử rằng không có thuế thu nhậpcông ty Thu nhập 1 triệu USD có thể dễ dàng chuyển đổi sang thu nhập chomỗi cổ phiếu Công ty C sẽ có lãi 1 đô la/1 cổ phiếu Công ty D phải trả lãi500.000 đô la và phần còn lại chia cho cổ phiếu cũng được lãi 1 đô la/1cổphiếu Tại điểm này, cả hai công ty đều có mức thu nhập trên cổ phiếu là 1 đô
la Như vậy ta không thấy có hệ quả của việc vay nợ đối với thu nhập của cổđông Nhưng nếu năm tiếp sau đó, lợi nhuận cả hai công ty tăng thêm 50%,vậy trong trường hợp của công ty D, cổ đông được hưởng thêm 1 đôla/cổphiếu nhiều hơn cổ đông của công ty C chỉ được hưởng thêm 0,5 đôla/cổphiếu, vì lợi nhuận D lúc đó là 1,5 triệu USD mà vẫn chỉ phải trả lãi suất 5%trên số tiền cho vay Ngược lại, nếu lợi nhuận giảm 50% sẽ làm cho lợi nhuậntrên 1 cổ phiếu của công ty C giảm xuống 50% từ 1 đô la xuống 0.5 đô lanhưng lợi nhuận trên một cổ phiếu của Công ty D sẽ giảm từ 1 xuống 0 Qua
đó chúng ta thấy được những hậu quả trực tiếp mà rủi ro tài chính gây racho thu nhập của nhà đầu tư chứng khoán
3.4.Đa dạng hóa đầu tư để tránh rủi ro
Trang 20 Khái niệm
Đa dạng hóa đầu tư chính là phân tán rủi ro, việc bỏ vốn đầu tư vào cáctrái phiếu, cổ phiếu có độ rủi ro khác nhau dựa trên những tỷ lệ đầu tư khônggiống nhau trên thị trường, xây dựng lên một cơ cấu tài sản hợp lý để có thểhạn chế tối đa rủi ro đầu tư Phân tán hoá đầu tư chứng khoán tuy không hoàntoàn có thể xoá bỏ được hết các rủi ro nhưng nó có thể làm giảm bớt mức rủi
ro đó, “Không nên để tất cả trứng vào cùng một rổ” là câu nói minh chứngcho trường hợp này
Nội dung
- Một là, đầu tư vào nhiều loại chứng khoán Nếu như đầu tư tất cả vốnvào một loại cổ phiếu nào đó, nếu tình hình kinh doanh của công ty đó khôngđược tốt, thậm chí đi đến phá sản thì nhà đầu tư không những không thu được
cổ tức mà còn bị mất cả vốn Nếu như đầu tư vào nhiều loại chứng khoán,cho dù có một vài loại chứng khoán trong số đó gặp rủi ro thì ta vẫn có thểthu được lợi từ những chứng khoán khác để bù đắp lại thiệt hại
- Hai là, khi tiến hành đầu tư vào nhiều loại chứng khoán cũng cầnphải chú ý đến phương hướng đầu tư Nhà đầu tư không những đầu tư vàocác cổ phiếu có mức thu lợi cao mà còn phải đầu tư vào các trái phiếu tuy cómức thu lợi thấp nhưng tương đối an toàn Cho dù mất vốn trong đầu tư cổphiếu nhưng vẫn còn trái phiếu, không đến mức phải mất hoàn toàn Rủi ro làvấn đề cốt yếu mà các nhà đầu tư phải nghĩ đến trước khi thực hiện đầu tư vàluôn có một quy luật bất biến là "ở đâu rủi ro cao thì ở đó lợi nhuận cao", nênnhiều nhà đầu tư đã lao đầu vào những loại chứng khoán rủi ro cao với tưtưởng "được ăn cả ngã về không" Tuy nhiên, một nhà chơi chứng khoánkhôn ngoan phải biết suy tính rủi ro cao đến mức nào thì chấp nhận được vàlợi nhuận thấp đến mức nào thì vẫn chấp nhận được để đầu tư ăn toàn hơn
Trang 21Hình vẽ dưới đây minh họa sự cắt giảm rủi ro nhờ kết hợp đầu tư đadạng vào hai chứng khoán A và B thay vì chỉ đầu tư vào một loại chứngkhoán duy nhất Hai chứng khoán này có hệ số tương quan nghịch nên khikết hợp hai chứng khoán này lại trong một danh mục đầu tư thì rủi ro sẽ đượcloại trừ.
Ví dụ: Bạn có bao giờ để ý vì sao những người bán hàng rong trên phố
lại thường bán những sản phẩm chẳng liên quan gì đến nhau như ô và kínhrâm Ban đầu bạn sẽ thấy thật lạ, liệu có ai sẽ mua 2 sản phẩm này cùng mộtlúc không? Có lẽ là không ai cả Và đó cũng chính là câu trả lời, người bánhàng rong biết khi trời mưa sẽ dễ bán ô và khó bán kính râm Khi trời nắngthì ngược lại Bằng cách bán cả hai sản phẩm hay đa dạng hóa danh mục sảnphẩm, người bán hàng rong giảm thiểu được rủi ro tay trắng trong một ngàybất kỳ Đó là đa dạng hóa danh mục đầu tư
4. Rủi ro có thể đa dạng hóa và rủi ro không thể đa dạng hóa
4.1.Rủi ro có thể đa dạng hóa và không thể đa dạng hóa
Rủi ro có thể đa dạng hóa (rủi ro phi hệ thống) có thể triệt tiêu qua đa
dạng hóa danh mục đầu tư Đây là những rủi ro riêng biệt của chứng khoán
Trang 22Rủi ro không thể đa dạng hóa còn gọi là rủi ro thị trường, rủi ro hệ thống
gắn với những yếu tố vĩ mô như lạm phát, lãi suất, thiên tai, chiến tranh… Rủi
ro hệ thống tác động đến tất cả chứng khoán trên thị trường
4.2.Đo lường rủi ro thị trường ( rủi ro có hệ thống ) và hệ số β
Mô hình định giá vốn tài sản
- Nguồn gốc
Mô hình định giá tài sản vốn( CAPM) do William Sharpe phát triển từnhững năm1960 và đã được ứng dụng từ đó đến nay Mặc dù còn có một số môhình khác nỗ lực giải thích động thái thị trường nhưng mô hình CAPM là môhình đơn giản về mặt khái niệm và có khả năng ứng dụng sát với thực tiễn Cũngnhư bất cứ mô hình nào khác, mô hình này dựa trên những giả định nhằm đơngiản hóa hiện thực, nhưng nó vẫn cho phép chúng ta rút ra những ứng dụng hữuích Đấy là sự đánh đổi giữa tính chất đơn giản và tính hiện thực khi phát triển
mô hình Một mô hình xây dựng quá phức tạp sẽ khó sử dụng nhưng quá đơngiản sẽ không phản ánh đúng hiện thực Do đó cần có sự đánh đổi giữa sự đơngiản và hiện thực
- Khái niệm
Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là mô hình mô tả mối quan hệ giữarủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng bằng lợinhuận phi rủi ro cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệthống của chứng khoán đó Rủi ro không toàn hệ thống không được xem xéttrong mô hình này, do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hóa
để loại bỏ rủi ro này
- Những giả định
Mô hình bắt đầu bằng những giả định cần thiết Những giả định có tác dụnglàm đơn giản hóa các vấn đề nghiên cứu nhưng vẫn đảm bảo không thay đổi tínhchất của vấn đề Trong mô hình CAPM, chúng ta lưu ý những giả định sau:
• Thị trường vốn là hiệu quả ở chỗ nhà đầu tư được cung cấp thông tin đầy
đủ, chi phí giao dịch không đáng kể, không có những hạn chế đầu tư, và không
Trang 23có nhà đầu tư đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả của một loại chứng khoán nào đó.Nói khác đi, giả định thị trường vốn là thị trường hiệu quả và hoàn hảo.
• Nhà đầu tư kỳ vọng nắm giữ chứng khoán trong thời gian một năm và cóhai cơ hội đầu tư: đầu tư vào chứng khoán phi rủi ro và đầu tư vào danh mục cổphiếu thường trên thị trường
- Nội dung của mô hình.
• Quan hệ giữa lợi nhuận cá biệt và lợi nhuận thị trường – đường đặc thù chứngkhoán
Đường đặc thù chứng khoán là đường thẳng mô tả mối quan hệ giữa mốiquan hệ giữa lợi nhuận của chứng khoán cá biệt với lợi nhuận của danh mục đầu
tư thị trường Danh mục đầu tư thị trường là danh mục đại diện cho các cơ hộiđầu tư trên thị trường vốn Danh mục đầu tư thị trường được lựa chọn tùy theotừng loại thị trường Ví dụ ở Mỹ người ta chọn S&P 500 Index trong khi ởCanada người ta chọn Toronto Stock Exchange 300 Index (TSE 300) Lấy ví dụminh họa đường đặc thù chứng khoán giữa cổ phiếu của Remico, Ltd so vớidanh mục thị trường TSE 300 Giả sử lợi nhuận của cổ phiếu Remico và danhmục thị trường TSE 300 ứng với bốn tình huống khác nhau tùy theo tình trạngnền kinh tế như sau: