Bằng tất cả sự kính trọng và ngưỡng mộ ấy, chúng tôi chọn đề tài “Nghệ thuật trong thơ ca Tản Đà” để đưa đến các bạn cái nhìn sâu sắc nhất về một trong những nghệ thuật đỉnh cao của thơ ca hiện đại Việt Nam.
Trang 1chọn đề tài “Nghệ thuật trong thơ ca Tản Đà” để đưa đến các bạn cái nhìn sâu sắc nhất về một trong những
nghệ thuật đỉnh cao của thơ ca hiện đại Việt Nam
1 Tản Đà – tác gia tiêu biểu của văn học giao thời
Ông từng theo học chữ Nho Ông cũng là một trong những học trò đầu tiên của trường Qui Thức 1862, NguuễnKhắc Hiếu lấy vợ năm 27 tuổi
Ông đi thi mãi nhưng không đỗ đạt gì cả.Ông đã từng là một nhà nho rời nông thôn ra thành thị.Cuộc sốngthành thị lúc bấy giờ đã ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm và thái độ trước cuộc sống hiện tại của ông, cuộcsống ngày càng khó khăn, không làm quan được và cũng không muốn làm công chức cho Pháp Ông quyết địnhlàm một nghề mới là làm văn, làm báo chuyên nghiệp
Những năm cuối đời, từ năm 1934 đến 1939, cuộc sống gia đình khó khăn, thiếu tiền thuê nhà, bị tịch thu đồđạc, phải dọn ra ngoại thành Hà Nội Sau đó ông phát bệnh và mất ngày 07/06/1939
1.2 Sự nghiệp sáng tác của Tản Đà
Tản Đà bắt đầu sáng tác năm 1913 đến năm 1915 ông mới bắt đầu công bố tác phẩm của mình trên ĐôngDương tạp chí Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, ông tham gia vào rất nhiều thể loại và có nhiều đóng
Trang 2góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam, đáng kể đến trong số đó là thơ ca (gồm các bài thơ do ông tự sángtác và các bản dịch thơ Đường), văn xuôi (gồm tản văn, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch) và Báo chí.
Từ thập niên 1920 cho đến đầu thập niên 1930, văn đàn không có một nhà thơ nào xuất sắc và được yêu mếnnhư Tản Đà Kể cả khi phong trào thơ mới nổ ra, thì Tản Đà, sau khi “phái thơ mới” bị đả kích kịch liệt lại đượcchính những người đả kích mời về ngồi chiếu trên
Thơ là lĩnh vực sáng tác quan trọng nhất của Tản Đà Ông được coi là một thi sĩ, ông sáng tác rất nhiều thơ, thơcủa ông đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức
Thơ của Tản Đà diễn tả cảm giác say sưa, chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi mộng, hoài niệm về mối tìnhvới người tri kỷ Song cũng có những bài thơ mang đậm tính ẩn dụ, phê phán hiện thực
Tản Đà thường làm thơ theo thể cổ phong, đường luật, đường luật phá thể, lục bát hay song thất lục bát Ngoài
ra, ông còn có khả năng sáng tác dựa trên “từ khúc” một hình thức âm nhạc của Trung Hoa, đó là những bài như
“Tống biệt”; “Cảm thu tiễn thu” là một sự phá cách, phối hợp nhiều thể loại thơ có thể coi là một sự cách tân vềhình thức khá táo bạo
Ngoài ra, hát nói hay ca trù một thể loại văn vần nữa mà ở đó Tản Đà được sánh ngang với Nguyễn Công Trứ,Cao Bá Quát, Dương Khuê Hát nói của Tản Đà thể hiện một triết lý sống phóng khoáng, một tâm hôn hay mơmộng hoài cổ nhưng man mác nổi sầu nhân thế
Ngoài thơ tự sáng tác, thơ tự dịch của Tản Đà cũng được đánh giá rất cao Những bài thơ lục bát lục bát dịch từthơ đường của ông được xem là hay hơn những bản dịch khác, có bài còn hay hơn cả nguyên tác bởi không có
sự gò bó mà truyền tải cả tâm hồn mình vào đó
Các tác phẩm nổi bật: Khối tình con I (1916); Khối tình con II (1916); Tản Đà xuất sắc (1918); Còn chơi (1921); Khối tình con III (1932).
Văn xuôi:
Bên cạnh khối lượng thơ ca đồ sộ mà Tản Đà để lại, không thể không nhắc đến văn xuôi Lúc sinh thời, Tản Đà
rất tự hào về văn xuôi của mình Ông từng nói: “Văn đã nhiều thay lại lắm lối”.
Là tác gia điển hình của nền văn học giao thời, nên văn xuôi của Tản Đà đại diện luôn cho cả tính chưa hoànthành, tính ngổn ngang của một thời đại.Văn xuôi là mảnh đất giao tranh của những xung đột tồn tại gay gắt bên
trong Tản Đà Đó là xung đột giữa “nhà nghệ sĩ” và “nhà tư tưởng đạo đức”, giữa văn chương nho học đã cũ
và văn chương của thời đại mới
Trang 3Kịch: Người cá; Tây Thi; Dương quý phi; Thiên Thai (diễn lần đầu năm 1916 tại Hải Phòng)
Báo chí :
Có thể nói, đối với một nhà Nho lỡ vận như Tản Đà thì báo chí là một ngả đường lập thân hấp dẫn
Làm báo chí là một phần trong sự nghiệp phong phú của Tản Đà Ông có phong cách làm báo rất đặc biệt,thường xuất hiện trong những cuộc bút chiến với giọng điệu khó lẫn
Ông từng làm cộng tác viên cho Nam Phong sau đó sang làm chủ bút cho Hữu Thanh Về sau ông sáng lập ra
An Nam tạp chí - tạp chí chuyên về mảng văn học đầu tiên của Việt Nam Đến cuối đời ông còn cộng tác vớiVăn học tạp chí và cả với Ngày nay, tờ báo trước đó đã mạt sát ông nặng nề
Có thể nói sự nghiệp báo chí cũng như sự nghiệp sáng tác của ông luôn gặp rất nhiều trắc trở Song, những đónggóp của ông trong buổi đầu sơ khai của báo chí Việt Nam là một giá trị mà người ta phải công nhận
2 Nghệ thuật trong thơ ca Tản Đà
2.1 Quan niệm về nghệ thuật của Tản Đà
Trước sự chuyển mình một cách đau đớn, nhục nhã sang hướng tư sản của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, mộthướng tư sản què quặt, xã hội mà nhà nho vẫn tiếp tục làm thơ, làm phú, một số bộ phận vẫn tiếp tục làm ca,làm vè, nền văn học cũ vẫn tồn tại khắp đất nước Bên cạnh đó là sự xuất hiện của một lớp nhà văn mới, mộtnền văn học có tính chất khác trước, tạo thành một cảnh tượng giao thời giữa hai nền văn học Lúc này, thị hiếucông chúng văn học đổi mới
Tương ứng với điều này, quan niệm về văn học, tư tưởng thẩm mỹ của người sáng tác cũng phải khác trước.Điều đó thúc đẩy hình thành một nền văn học lấy đề tài từ chính cuộc sống bình thường trong xã hội, conngười.Một nền văn học đề cao sự thực hơn đạo lý, quan sát mô tả hơn là giáo huấn, truyền đạt… văn không còngắn với sử, triết mà đã tách ra làm một nghệ thuật của cái đẹp Và trong xã hội bấy giờ, sáng tác như là mộtnghề để bán văn cho công chúng Văn học Việt Nam cũng bắt đầu đi vào hướng hiện đại hóa
Bởi vậy, văn học đã có sự chuyển mình để thay đổi phạm trù thi pháp, thay đổi cả hệ thống quan niệm, tư tưởng,thẩm mỹ, hệ thống thể loại… Song, để đạt tới điều đó, cần phải có sự chuẩn bị của với những cơ sở, tiền đề nhấtđịnh Giai đoạn văn học giao thời 1900 – 1930 bắt đầu có các yếu tố hiện đại hóa Trong đó, Tản Đà là một tácgiả tiêu biểu, người có vai trò quan trọng đóng dấu gạch nối giữa hai phạm trù thi pháp: trung đại và hiện đại
Xã hội tư sản đương thời có ba mẫu nhà Nho là ẩn dật, hành đạo và tài tử thì Tản Đà chính là nhà Nho tài tử
Tản Đà không còn là “văn nhân” kiểu xưa, ông thuộc thế hệ nhà văn đầu tiên xem việc sáng tác với ý thức lập
nghiệp văn học chứ không phải thi đỗ làm quan Khi Tản Đà từ giã bút lông, đổi qua bút sắt, “mang văn chương
đi bán phố phường”, thì văn học Việt Nam rơi vào tình trạng “bĩ cực” Ông bước vào văn nghiệp không giống ailúc đó, dùng văn chương để kiếm sống và lập nghiệp Nhưng cái nghề “bán văn buôn chữ” vừa tốn kém mà lạilời lại chẳng cao:
“Bao nhiêu củi nước mới thành văn,
Trang 4Được bán văn ra chết mấy lần.
Trong mục Thi đàn giảng tập của An Nam tạp chí và trong tập Bình Khang tân thanh, Tản Đà đem thơ củachính mình ra giảng Ông tự phụ là tài tình, nhưng chỗ tâm đắc chính là tài, là nghệ thuật.ngoài chỗ hay về bốcục, chọn ý, chọn chữ, chọn âm điệu Tản Đà còn tự hào về chỗ “Văn đã giàu thay lại lắm lối” (Hầu trời)
Trong cuộc sống xã hội tư sản, Tản Đà là một kẻ bất đắc chí, thất bại, thất vọng Nhưng quan điểm sáng tác của
ông rõ ràng, không dễ dãi mà lại rất có ý thức coi trọng văn nghiệp Ông chủ trương “văn chương là thiên mệnh” Tản Đà cho rằng: Văn chương phải được trả lại đúng chức năng của nó Tản Đà mong muốn dùng văn chương để làm nên một sự nghiệp “Có bóng mây hơi nước đến dân xã” Đã có lúc, ông mơ đến một chuyến
“Thiên du” Bài thơ Hầu Trời để lại cho người đọc ấn tượng sâu sắc về những lần được gặp gỡ, được đi hầu trời
để tìm lại cảm hứng, tìm lại thiên năng, để được Trời “giao nhiệm vụ và động viên, để phấn khởi hoàn thànhnhiệm vụ” Vốn là một nhà Nho tài tử nhưng ở một xã hội mới, Tản Đà đã tiếp thu luồng sinh khí văn học mới
mẻ được du nhập từ phương Tây Song, những sáng tác của ông cũng cho thấy sự gắn kết chặt chẽ với truyềnthống
Có thể nói, Tản Đà chưa thoát khỏi ràng buộc về chức năng đạo lý của quan niệm văn học cũ Mà quan niệmvăn học của ông thể hiện rất rõ trong bài thơ Hầu Trời Tản Đà chia văn chương của mình thành hai loại: “vănchơi” và “văn vị đời” Văn chơi gồm tiểu thuyết và thơ, được viết theo bút pháp người tài tử Còn cái nói về tư
tưởng, đạo lý, giáo huấn như: Đài gương, Lên sáu, Lên tám mới là văn vị đời Văn lý thuyết, vị đời được viết
theo yêu cầu của Nho giáo truyền thống Với loại “văn chơi” ông đã đưa cái tôi ngông nghênh của văn chươngngười tài tử ra chiếm chỗ trong thi đàn văn học Việt Nam.Và trong đó cái tôi của nhà Nho tài tử bắt đầu bằngnhững lời than thở, những tâm tình… để tạo điệu kiện cho sự ra đời của văn học tiểu tư sản vào giai đoạnsau.Trong loại này, Tản Đà sử dụng hầu hết tất cả các thể loại thơ ca truyền thống và cách tân trên từng thể loại
2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Tản Đà – sản phẩm độc đáo của văn học giao thời
Loại hình tác giả tài tử cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX , một giai đoạn giao thời, là hiện tương văn học độc
Trang 5đáo, tồn tại trong một bối cảnh đặc thù Có thể nói, những biến động xã hội có tác động rất lớn tới hồn thơ của
họ, ý thức về con người cá nhân, về bản ngã của đội ngũ tác giả này sẽ có những đặc trưng riêng Nó vừa là sựtiếp nối của tư tưởng nhà Nho tài tử, vừa phát triển cao hơn trong bối cảnh xã hội mới.Và cái tôi của Tản Đà lànổi bật hơn cả
Một cái tôi không cần giấu diếm gì, lấy chính mình để làm đề tài, viết tự truyệt về đời mình Đó chính là cái tôi
mới mẻ, bản ngã như đúng ghi nhận của Xuân Diệu về Tản Đà: “Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt nam hiện đại Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đàng hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám giữ một cái tôi” Bản ngã mà Tản Đà đã đóng góp vào tiến trình văn học
Việt Nam hiện diện một cách xuyên suốt mọi tác phẩm, một bản ngã vinh danh, tự nói về mình, đặt chính mìnhlàm nhân vật trung tâm của tác phẩm Cái tôi đó, thể hiện rất rõ qua 4 cung bậc khác nhau: ngông, đa tình, thú
và sầu
2.2.1 Cái “ngông”
“Ngông” là tỏ ra bất cần đến sự khen chê của người đời, có người nói, đó là thái độ khinh đời, ngạo đời dựa trên
sự tài hoa uyên bác của người nghệ sĩ Người Trung Hoa hiểu ngông là cuồng, là loạn Xét đến cùng, ngông thể
hiện một cá tính đặc biệt Khái niệm “ngông” trong văn học thường được dùng để chỉ định một kiểu ứng xử xã
hội và nghệ thuật khác thói thường của những nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ Tất nhiên, ý thức cánhân ấy cũng chỉ được phát triển mạnh mẽ trong những điều kiện xã hội nhất định, gắn liền với tổng thể nhữngquan niệm khá mới mẻ (trong khuôn khổ trung đại) về vũ trụ, nhân sinh và nghệ thuật
Trước hết, nổi bật trong thơ ca Tản Đà là một cái tôi rất “ngông”.Tản Đà không phải là một trường hợp “ngông”
cá biệt trong văn học Việt Nam Trước ông, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… đều ngông, nhưng đó là cáingông hào hùng Còn ở Tản Đà mới có cái kiểu ngông “gánh thơ lên bán chợ trời” Cái “ngông” ấy đi vào đậpphá, thách thức xã hội nhưng có nét hờn tủi tê tái trước xã hội, trước cuộc đời Đó cũng chính là bản ngã nhưcách nói của Xuân Diệu trên đây
Lần đầu tiên trong văn đàn Việt Nam, Tản Đà bộc bạch hết cái tôi của mình một cách không giấu diếm, lấymình làm đề tài… để nói lên những tâm tư, tình cảm, những mộng vui của bản thân, viết thư cho người yêutrong cơn mộng, làm thơ cho bạn bè của mình, kể về những nơi mình đã đặt chân đến và cả những cái thú ănchơi lịch lãm của chính mình Và rồi tự đưa con người cá nhân mình vào thơ:
“Văn chương thời nôm na.
Thú chơi có sơn hà.
Ba vì ở trước mặt.
Hắc giang bên cạnh nhà Tản Đà”
(Tự thuật)Lấy nôm na làm văn chương, lấy sơn hà làm cái thú chơi, gắn mình với sông núi quê hương, danh hiệu Tản Đàgắn với nước non, với quê hương hùng vĩ để xưng danh với đấng sang tạo muôn loài về con người mình, đấtnước mình
“Con tên Khắc hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á Châu về địa cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”.
Trang 6(Hầu Trời)Trước luồng gió của chủ nghĩa cá nhân tư sản và trào lưu văn học lãng mạn trên thế giới, xã hội nảy sinh nhucầu đòi giải phóng bản ngã, đòi tự do và đời sống tình cảm riêng tư chống lại sự kiềm hãm, đè nén của xã hộiphong kiến
Cái “ngông” của Tản Đà thực chất là sự phản ứng của xã hội đương thời ở góc độ nhân sinh quan Sự phản ứng
đó là hết sức táo bạo, thể hiện bản lĩnh của một nhân cách sống Hầu Trời đã cho thấy một cái tôi “ngông”, một
bản lĩnh táo bạo và một hồn thơ lãng mạn, phóng túng Hay ở bài Tiễn Công lên chầu trời, thêm một lần nữa,
Tản Đà lại tự xưng danh:
“Tôi tên Khắc Hiếu, họ là Nguyễn
Đã có từ phen đến đế cung Hầu Giời một chuyến từ năm ấy Thấm thoắt nay đà mấy chục đông”
Rồi phũ phàng nhận định về cuộc đời trôi dạt của khách chơi ngông nghênh:
“Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hương thời có cửa nhà thời không”
(Thú ăn chơi)
Đó là cái ngông, nhưng ngông đan xen với cả cái sầu.Tản Đà coi bốn phương là nhà, mang túi thơ đi khắp trongthiên hạ, mang cái ngông nghênh của mình thách thức với cả sông núi.Và ông cho rằng đó là định mệnh sắp đặtông như vậy, dù ông và mọi người có chấp nhận hay không Có thể nói trong sáng tác của mình, Tản Đà đã thực
sự là người kế tục của khuynh hướng văn học đã kịp thời trở thành truyền thống lịch sử Đã có lúc ông tự nhậnmình có tính ngông, không che giấu:
“Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông”
Trang 7trong đời hay trong thơ, hình ảnh của ông vẫn ngất ngưởng chu du khắp trời đất Có lúc mơ được lên cung trăngvui vầy cùng chị Hằng, hầu Trời, thoát li lên trời, đọc thơ cho trời nghe Chính cái ngông này phát triển hơnnhững nhà thơ trước đó.
Để rồi, trong hai chục năm dư cảnh cuối cùng, Tản Đà mới xót xa:
“Ngày xanh như ngựa, đầu xanh bạc Chán cả giang hồ, hết cả ngông”
(Tiễn ông Công lên chầu Giời)
Kế thừa truyền thống văn học dân tộc và phát triển lên với sắc thái mới trong hoàn cảnh xã hội mới, cái tôingông của người tài tử “vắt mình qua hai thế kỷ” nói lên được rất nhiều nhiều trong nhân cách, bản lĩnh và dựbáo cho những bi kịch mà họ đã, đang và sẽ chịu đựng
2.2.2 Cái “đa tình”
Trần Đình Hượu gọi đa tình là “một cái tật dễ thương” mà bất kì một người tài tử nào cũng mắc phải, bởi có tài
ắt sẽ có tật, Tản Đà cũng không nằm ngoài “cái tật” ấy
“Tài”, “tình” vốn là phẩm chất chính của người tài tử Đó là những con người tài hoa, đa tài, đa tình, đa cảm Đatình không chỉ đơn thuần là đam mê cái đẹp mà nó là cảm xúc dễ dâng trào trước vạn sự cuộc đời Và cũng bởi
dễ xúc động và nhiều tình cảm nên người nghệ sĩ dễ bị cuốn vào sắc đẹp và những số phận éo le của những conngười tài sắc
“Tình” làm con người ta đi trệch ra khỏi những lẽ thường, trệch ra khỏi khuôn khổ của lễ giáo.Cũng chính vìvậy mà Nho giáo không chấp nhận và đồng tình Các nhà Nho thường tỏ ra nghi ngại trước tình yêu, đặt ranhiều lễ tiết, lo nghĩ và hoài nghi cân nhắc Và sắc đẹp, đối với họ là thứ của “làm mất nước tan nhà” hay nhưcâu “hồng nhan họa thủy” là vậy Tản Đà trong cái mạch chung ấy thể hiện mạnh mẽ hơn khi tự nhận cái đa tìnhcủa mình là có di truyền: “Cho hay vẫn si tình là thói” (Đa tình) Để rồi tự soi mình trong gương, tự trào mộtcách duyên dáng:
“Trông gương mình lại ngợ mình, Phải chăng vẫn giống đa tình ngày xưa.”
(Nói chuyện với ảnh)Cái đa tình của Tản Đà thể hiện một nỗi sầu cô đơn với những khát khao cháy bỏng trong tình cảm Rồi cố tâmtìm đến giai nhân để được sẻ chia.Từ chỗ lấy tình tri kỷ thành tình luyến ái nam nữ Điều đó trở thành lăng kính
để soi rọi thế giới Vì thế “mọi sự” trong thơ ông đều xoay quanh tâm trạng yêu đương Khao khát yêu đương,muốn có tri kỷ để chia sẻ trong ông nhiều khi nó gần như trở thành một căn bệnh, làm ông âu sầu đau đớn.Thếnhưng nỗi đau ấy được ông thể hiện hết sức kín đáo và không ầm ĩ, một cách thể hiện đậm chất phương Đông.Cái phong tình, lãng mạn ấy đã vượt ra ngoài quan niệm thẩm mỹ khô khan, lý trí của Nho giáo:
“Quái lạ vì sao cứ nhớ nhau?
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu Bốn phương mây nước người muôn ngả
Trang 8Hai chữ tương tư một gánh sầu”
(Tương tư)
Sống trong tâm trạng của “khách phong lưu”, “bậc tài danh” của thời đại trước, Tản Đà đã đi qua xã hội bằngmột khối những mâu thuẫn không hề nhỏ Song song và còn có lúc đồng nhất với điều đó là cái tôi đa tình, đacảm
Tản Đà đã thể hiện niềm thương cảm cho bậc giai nhân tài tử, những người phụ nữ chưa chồng hoặc có chồng
mà không được gần nhau, sống xa cách để nhớ thương, lạnh lẽo lên đến tột cùng:
“Đêm thu gió lọt song đào Chồng ai xa vắng, gió vào chi đây”
Để rồi nâng nỗi buồn ấy cùng với gió lạnh, với thiên nhiên:
“Đêm thu gió lạnh đôi mày Gió ơi! có biết nỗi này cho chăng?”
(Hát tạp)Hay khuyên những người con gái khi còn trẻ thì nên đi lấy chồng, đừng để đến khi má đào tàn phai, một cáchtương tự ca dao trong văn học dân gian:
“Người ta có vợ có chồng
Em như con sáo trong lồng kêu mai
Má đào gìn giữ cho ai Răng đen, đen quá cho hoài luống công”
Riêng ông, trong cuộc đời của chính mình đã để lại cho đời ba bức thơ ngỏ:
Thư đưa người tình nhân không quen biết (Khối tình con, quyển 2, trang 56, 57):
“Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi Viết bức thư này gửi đến ai Non nước xa khơi, tình bỡ ngỡ
Ai tri âm đó, nhận mà con…”
Thư trách tình nhân không quenbiết (Tản Đà vận văn, tập 1, trang 91):
“Ngồi buồn ta lại viết thư chơi Viết bức thư này gửi trách ai Non nước bấy lâu lòng tưởng nhớ
Mà ai tri kỉ vắng tăm hơi…”
Thư lại trách người tình nhân không quen biết
“Ngồi buồn ta lại viết thư chơi Viết bức thư này lại trách ai
Trang 9Ai những nhớ ai, ai chẳng nhớ
Để ai luống những nhớ ai hoài! ”
Ba bức thư ấy thể hiện cái mong muốn tìm được sự đồng cảm, chia sẻ cảm thông Cái tình ấy cũng chính là thứtình yêu đặc biệt, đậm đà, lai láng, không bờ không bến, có sức lan tràn, cần phải san sẻ.Tản Đà là người đa tìnhnhưng lại không có may mắn gặp được giai nhân Những thứ không thể thỏa mãn được trong thực tế lại khúc xạvào trong văn chương thành những giấc mộng yêu đương, thành những khối tình tha thiết
Vì thế, Tản Đà đã thương cho chính mình và khóc cho đời với cái ngông riêng có Để rồi, Tản Đà tìm đến
Vương Chiêu Quân, Tây Thi, Dương Quý Phi để cùng san sẻ, tâm sự vì ở họ có nét đồng điệu, đồng cảm củakhách phong trần bạc mệnh Qua đó nhấn mạnh cái khát khao thoát tục, lên hầu Trời, bầu bạn cùng chị Hằngtrên cung trăng Cái đa tình ấy đang say ngất trước cái mộng cuộc đời lãng mạn quá đỗi, phong tình quá đỗi Đó
là sự ý thức cao độ về tình cảm, tình yêu mà không phải ai cũng nói lên được
2.2.3 Cái “thú”
Tản Đà tôn thờ tình yêu, ham chơi, ham rượu, thích ăn ngon Những khi thất vọng, bế tắc, ông có tư tưởngngông cuồng và yếm thế.Tất cả đều là sự phản ứng lại xã hội của nhà Nho tài tử Ông ca ngợi thú ăn chơi, đưahồn thơ phiêu du khắp mọi nơi, bước chân cùng nước chảy mây bay Cách sống phóng túng, giang hồ, say sưatrong men rượu và thơ ca, rồi những cuộc phiếm du, gặp gỡ trong mộng say… tất cả đều tiêu biểu cho hồn thơlãng mạn của ông Đối với ông, rượu và thơ là cứu cánh của cuộc đời, làm cho cuộc đời nửa mộng nửa say.Đồng thời đó còn là hứng thú thanh cao của các văn nhân Nho sĩ ngày trước, nhưng ở đây đậm màu sắc khoáilạc Xu hướng ưa khoái lạc và bản tính tự nhiên của Tản Đà nhưng lại bị xã hội dồn ép đi theo con đường ấy
“Trời đất sinh ta rượu với thơ, Không thơ không rượu sống như thừa.
Công danh hai chữ mùi men nhạt,
Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ.
Mạch nước sông Đà tim róc rách, Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ.
Còn thơ còn rượu còn xuân mãi, Còn mãi xuân còn rượu với thơ.”
(Ngày xuân thơ rượu)
Những cuộc chơi của Tản Đà thật đa dạng và khoái lạc Có cái chơi của thơ rượu đầy ngất ngưởng, có cái chơi
trong thú giang hồ xê dịch - ở đó cái Tôi của ông tìm thấy mình trong cảnh sắc non nước: Chơi Hòa Bình, Chơi Huế, Nhớ cảnh cầu Hàm rồng Cái mới mẻ trong những bài thơ nói trên (dù chưa thật nhiều về số lượng) là tư
thế của Tản Đà khi đến với thiên nhiên như một khách du để tìm kiếm và thưởng ngoạn cái đẹp
Thơ, rượu ở dây không hoàn toàn là những khoái trá vật chất mà phải có nguồn cảm hứng Nguồn cảm hứng ấy
là cảnh vật thiên nhiên, riêng đối với tác giả là núi Tản sông Đà mến yêu muôn thuở Đặc biệt thơ và rượu đều
có thể giải thoát con người ra khỏi trần lụy, say là sống ngoài đời và để nhìn thời cuộc thay đổi:
“Rượu say thơ lại khơi nguồn, Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng tình.
Rượu thơ mình lại với mình,
Trang 10Khi say quên cả cái hình phù du.”
Nếu thơ là một cố gắng của tri thức để nhảy vọt ra khỏi biên giới thực tại thì rượu là một trạng thái thụ động của
cơ thể Điều này gợi nhớ đến những câu thơ hay của Hà Nguyên Thạch về tương quan giữa thơ, rượu và cuộcđời:
“Còn những chén rượu sầu lòng chưa uống rượu,
Nên làm thơ còn có nghĩa chờ say, Lúc say khướt sẽ quay cuồng hoài vọng, Chạy quanh đời nghe hồn nhẹ như mây.”
(Nguyệt san Tản văn, Sài Gòn 1970)Chỉ có ra đời, trải đời mới có thể thấu đời và đau nỗi đau của đời như Tản Đà đã nhắc đến trong thơ mình:
“Mảnh hình hài quen giả giá như xưa nay, Chút sinh tướng lúc này coi mới hiện.”
Chỉ có khi say, con người ta mới có thể thoát ra khỏi những cấu thức của trần lụy, của thân thể phù du, tạo chothần trí lưng chừng Phút thoát nghiệp trong hơi cay là một thứ cứu rỗi của Tản Đà trong trần thế phôi pha, chonên nhà thơ vừa say sưa, vừa tả cái say sưa một cách say sưa Âu say sưa ấy cũng là một cách để tránh say đắm:
“Trăm năm thơ túi rượu vò, Nghìn năm thi sĩ, tửu đồ là ai?”
Hầu như các thi bá đời xưa lấy rượu làm nguồn cảm hứng cho các sáng tác của mình, và Tản Đà cũng khôngngoại lệ Nhờ có rượu mà người nghệ sĩ có thể say hết cái say cuộc đời, ngông hết cái ngông của mình:
“Say sưa nghĩ cũng hư đời,
Hư đời hư vậy, say thời cứ say.
Đất say đất cũng lăn quay, Trời say mặt cũng đỏ gay như cười.”
(Lại say)
Tản Đà đã say, đã sống trọn vẹn trong cái say của chính mình, cái say ngạo mạn và thách thức Phải chăng người nghệ sĩ đang say vì rượu? Không Rượu chẳng qua chỉ là cái cớ, là một trò chơi tiêu khiển,và say chính làmột cách chơi Rượu thể hiện tiếng nói và say để nhìn ngắm cuộc đời Cái say của Tản Đà, một trong những thúsay lừng lẫy nhất trong văn chương Việt Nam, đó là một trong những cái chơi độc đáo của Tản Đà
2.2.4 Cái “sầu mộng”
Tình cảnh chán đời và sầu:
Không phải đến Tản Đà văn học Việt Nam mới biết đến chữ “sầu”.Trong văn học truyền thống sầu là một phạmtrù thẩm mỹ có ý nghĩa to lớn Sầu còn là một tiêu chí quan trọng để phân biệt giữa văn học mang tính nghệthuật với bộ phận văn học chức năng