1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng Thuật Tác Phẩm Bỉ Vỏ Của Nhà Văn Nguyên Hồng Và Nêu Các Đánh Giá Về Tác Phẩm Bỉ Vỏ

16 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 476,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng thuật tác phẩm Bỉ vỏ của nhà văn Nguyên Hồng và nêu các đánh giá về tác phẩm Bỉ vỏ. Nội dung xoay quanh cuộc đời Tám Bính, nổi bật nhất là bi kịch của nhân vật này. Toàn bộ tác phẩm dẫn người đọc đi từ tấn bi kịch này đến bị kịch khác.

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

BÀI GIỮA KỲ MÔN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

ĐỀ TÀI: TỔNG THUẬT TÁC PHẨM BỈ VỎ CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG

VÀ NÊU CÁC ĐÁNH GIÁ VỀ TÁC PHẨM BỈ VỎ

Giáo Viên Hướng Dẫn: Lê Thụy Tường Vi Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Ngân

MSSV: 1456010084

Trang 2

2

Mục lục

CHƯƠNG MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG TỔNG THUẬT 5

A Tổng thuật tác phẩm 5

B Tổng thuật các nghiên cứu 7

Phần thứ nhất: Bỉ vỏ là tấn bi kịch chồng chất bi kịch 7

Phần thứ hai: Bỉ vỏ là tác phẩm xuất sắc của văn học hiện thực 7

Phần thứ ba: Bỉ vỏ mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc 9

Phần thứ tư: Dấu ấn tôn giáo 11

Phần thứ năm: Những ý kiến phê bình 12

CHƯƠNG NHẬN XÉT 14

Thư mục tham khảo 16

Trang 3

3

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5 tháng 11 năm 1918, tại phố Hàng Cau, thành phố Nam Định

Trước khi cầm bút viết văn, Nguyên Hồng vốn dĩ lớn lên trong gia đình nghèo khó, lại phải chịu cảnh mô côi cha từ lúc 12 tuổi Đến khi mẹ đi bước nữa, Nguyên Hồng ở cùng bà nội và phải tự lập ăn học Năm 16 tuổi, cùng bà nội, mẹ và cha dượng ra Hải phòng sinh sống, Nguyên Hồng chính thức thôi học từ đây

Trong suốt tuổi thơ của mình, Nguyên Hồng hòa nhập hoàn toàn với môi trường của những người cùng khổ nhất trong xã hội cũ Có lúc tưởng chừng đã bị tha hóa, nhưng may mắn gặp được Thế Lữ, Nguyên Hồng quyết tâm theo nghề viết văn

Ngay từ những năm đầu cầm bút, Nguyên Hồng đã tạo được thành công và tiếng vang nhất định Thời điểm trước cách mạng tháng 8, tác phẩm của Nguyên Hồng xoay quanh tầng lớp cần lao khốn cùng nhất Điển hình là Bỉ Vỏ (tiểu thuyết - 1938), Bảy Hựu (truyện ngắn - 1941), Những ngày thơ ấu (truyện - 1941) …

Thời điểm sau cách mạng tháng 8, Nguyên Hồng được tiếp xúc nhiều hơn với kháng chiến và Đảng Cộng Sản Nhưng dường như tác phẩm trước và sau cách mạng đều khó phân biệt được thời điểm viết Chứng minh một điều rằng “Nguyên Hồng đã có

cả một quá trình gắn bó với cách mạng, với nhân dân.” (Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm, tr.89) Nhiều tác phẩm của Nguyên Hồng vẫn giữ nguyên vẹn được mạch văn sôi nổi, đầy sức sống Như Đất nước yêu dấu (ký - 1949), Đêm giải phóng (truyện vừa - 1951), Giữ thóc (truyện vừa - 1951)

Giai đoạn sau đó, Nguyên Hồng tham gia vào Hội Văn Nghệ Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, báo Văn nghệ, báo Văn… Năm 1958, Nguyên Hồng về thực tế lao động tại nhà máy Xi măng Hải Phòng Chính từ đây, bộ tiểu thuyết đồ sộ, tâm huyết cả đời - Cửa Biển ra đời

Những năm cuối đời, Nguyên Hồng về đồi Nhã Nam, Yên Thế sống, và xây dựng bộ tiểu thuyết dang dở Núi rừng Yên Thế Chưa kịp hoàn thành, ngày 2 tháng 5 năm

1982, Nguyên Hồng đột ngột từ trần

Trang 4

4

Năm 1996, Nguyên Hồng được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên

Bỉ vỏ là tập văn đầu tiên của Nguyên Hồng, được viết vào năm 1936 Sau đó nhận giải thưởng phóng sự tiểu thuyết của Tự Lực văn đoàn năm 1937, và xuất bản thành sách vào năm 1938

Trang 5

5

CHƯƠNG TỔNG THUẬT

A T ổng thuật tác phẩm

Câu chuyện bắt đầu ở Bền Sòi, Nam Định

Tám Bính sinh ra trong gia đình ngoan đạo bề ngoài, còn bên trong cha mẹ luôn cắn rứt nhau vì thiếu thốn Lớn lên, một mình Bính nuôi cả nhà bằng công việc đưa đò, nhưng vẩn bị cha mẹ đay nghiến vì không tinh ranh, giảo hoạt như người khác

Bi kịch thứ nhất

Tám Bính tình cờ gặp mặt, phải lòng và ăn nằm với người đàn ông sang trọng trẻ tuổi - tham Chung trên chợ Những mong tìm được hạnh phúc thật sự đời mình, nhưng ước

mơ đó sớm bị dập tắt bởi bi kịch ập đến

Đến lúc Bính có thai, tham Chung không bao giờ xuất hiện nữa “Trót đa mang nên phả đéo bòng”, Tám Bính sinh em bé trong khi bị cha mẹ ruồng bỏ Vì sợ hình phạt độc ác không biết có từ bao giờ của dân trong làng, Bính không còn cách nào khác phải bán con cho Phó lý

Bi kịch thứ hai

Với ước mơ tìm được chồng và buôn bán để sau này chuộc con, Tám Bính trốn lên Hải Phòng Suýt bị cưỡng hiếp hai lần Đến lần thứ ba, những tưởng gặp được bạn thân của tham Chung Nhưng cũng lại Sở Khanh đòi cưỡng hiếp Bính

Bi kịch thứ ba

Vợ tên Sở Khanh bắt gặp chồng như vậy, vu oan luôn cho Tám Bính làm “đĩ trăm thằng” Sau khi chịu biết bao nhiêu lời sỉ vả cay nghiệt còn bị kết cho bệnh lậu, Bính vào nhà “lục xì” của Tài-sế-cấu Sáu mươi đêm ròng rã tiếp khách, Bính ngày càng gầy rộc, đau bệnh tưởng sắp chết

Bi kịch thứ tư

Năm Sài Gòn là khách quen ở nhà “lục xì” Do phải lòng Tám Bính nên Năm lấy Bính về làm vợ Tưởng chừng đây là bến đỗ hạnh phúc của Bính và tìm đượ người yêu thương mình hết mực, nhưng Bính bệnh lại ngày một nặng hơn

Bi kịch thứ năm

Trang 6

6

Đến thời điểm Tám Bính được thuốc thang và may mắn có thai lần nữa, thì Năm Sài Gòn lại phải đi tù Tám Bính mới quyết tâm mở hàng nước lương thiện để làm lại cuộc đời khi Năm ra tù Lúc này, Bính xảy thai

Bi kịch thứ sáu

Năm Sài Gòn được thả, và ngay lập tức không cho phép Tám Bính buôn bán cực khổ Chính từ thời điểm đó, Bính bắt đầu cuộc đời “chạy vỏ” với Năm Không lâu sau, Năm

mở sòng bạc để “mõi” ví khách nhưng thua nặng Tức giận vì Bính để cho mình ra nông nỗi như vậy, Năm đuổi Bính ra khỏi nhà

Bi kịch thứ bảy

Bính về Nam Định buôn bán, rồi gặp lại Hai Liên, đoàn tụ với thằng Cun Nhưng cũng là lúc nghe tin cha mẹ bị bắt vạ, phải bỏ 80 bạc để thoát tội Tám Bính không còn cách nào khác đành làm lẽ của người mật thám giàu có Không lâu sau, cũng chính người này đã bắt giam Năm Sài Gòn vào xà lim của Sở mật thám Nam Định

Bi kịch thứ tám

Tám Bính lừa chồng mới cưới để cứu Năm Sài Gòn Sau đó, Bính “đi dọc” cùng Năm, bị tàu kẹp mất nửa bàn tay, rồi chuyển sang làm tiền ở đường thủy Tết năm đó, mặc dù vừa trúng mánh lớn, Bính vẫn trốn xuống bếp để khóc cho phận của mình

Bi kịch thứ chín

Vì tức bị Ba Bay giựt món hời, Năm Sài Gòn giết Ba Bay Một lần “đi dọc” bị phát hiện, phải chạy trốn, tình cờ vợ chồng Tám Bính xin ở nhờ nhà một ông bà theo đạo Đêm ấy, Bính đọc kinh lại sau nhiều năm lầm lỗi, xót xa không biết khi nào mới có giây phút trong lành như vậy trong cuộc đời sắp tới của mình

Bi kịch thứ mười

Năm Sài Gòn không “mõi” tiền của người đàn bà trên tàu, mà lại giằng lấy đứa bé có vòng chân, vòng tay vàng trên người rồi bơi về nhà Đứa bé chết khi Năm đặt xuống giường, Tám Bính bàng hoàng phát hiện nó là con của mình Chưa kịp đau đớn thì đội xếp, mật thám có cả người chồng mà Bính đã bỏ trước đó xông vào còng tay bắt cả Năm lẫn Bính đi

Câu nói cuối cùng của Tám Bính chỉ là “Thế là hết!”

Trang 7

7

B T ổng thuật các nghiên cứu

Phần thứ nhất: Bỉ vỏ là tấn bi kịch chồng chất bi kịch

Nội dung của Bỉ vỏ xoay quanh cuộc đời của Tám Bính, nổi bật nhất là những bi kịch của nhân vật này Toàn bộ tác phẩm, tác giả dẫn người đọc đi từ bi kịch này đến bi kịch khác Cho nên, quan niệm liên quan đến vấn đề này được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Ngô Thảo nhận định cụ thể về tấn bi kịch của Tám Bính “mỗi lần vùng lên lại bị dập xuống sâu hơn, mỗi lúc muốn vượt thoát ra khỏi vòng tội lỗi càng bị tội lỗi trói buộc chặt nghiệt hơn” (Dẫn theo Thao Nguyễn 2012, 100) Nguyễn Đăng Mạnh cũng đưa ra dẫn chứng

“có nhà phê bình đã trách Nguyên Hồng có cái tật dồn lên đầu nhân vật của mình đủ mọi tại họa có thể tưởng tượng ra được” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 48) Cùng chung nhận định như vậy, Nguyễn Đăng Điệp còn bổ sung thêm về khái niệm nhân vật chịu nạn trong Bỉ vỏ “nghĩa là họ sống trong chồng chất khổ đau, chồng chất bất hạnh Nhưng chính trong nỗi bất hạnh khủng khiếp ấy, vẻ đẹp cao quý của họ hiện lên thật trọn vẹn” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 38)

Lý giải cho việc sắp đặt bi kịch này của Nguyên Hồng, Nguyễn Thành Thi nói rõ rằng

“Nguyên Hồng trước hết muốn cho người ta cảm nhận được cái gánh nặng khổ đâu - cả thể xác lẫn linh hồn, nhất là linh hồn - nó nặng gánh đến mức nào, cần được cảm thông, chia sẻ khẩn thiết như thế nào” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 19) Hoàn toàn đồng tình với Nguyễn Thành Thi, Đào Đức Doãn cũng cho rằng nhân vật Tám Bính được

“Nguyên Hồng lấy đau thương để làm sức nặng thử thách sức bền của đức tin Thủ pháp nghệ thuật ấy là sự ảnh hưởng của quan niệm tôn giáo đối lập thể xác và linh hồn, đau thương và thánh thiện” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 68)

Trong khi Nguyễn Đăng Mạnh không phản đối ý kiến cho rằng chuỗi bi kịch của Tám Bính

là do Nguyên Hông chịu ảnh hưởng của đạo Cơ đốc với chủ nghĩa khắc kỷ Nhưng ông vẫn đưa ra nguyên nhân chủ yếu là “yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực Nguyên Hồng Một chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải thấu hiểu đến đáy sâu những đau khổ của những con người đau khổ nhất” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 49)

Còn với Phan Cự Đệ, ông lại “có cảm tưởng dường như ngòi bút của nhà văn chìm sâu một cách triền miên trong sự khổ đau, say sưa trong một thứ chủ nghĩa cùng khổ” (Dẫn theo Hà Minh Đức, Hữu Nhuận 2001, 111)

Phần thứ hai: Bỉ vỏ là tác phẩm xuất sắc của văn học hiện thực

I Tiền đề xã hội

Trang 8

8

Lấy bối cảnh những năm nửa đầu thế kỷ XIX, dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, biến động kinh tế ở thành thị tạo nên độ chênh lệch rất lớn giữa các khu vực sống khác nhau

Bộ mặt xã hội vì thế đã thay đổi sâu sắc, xuất hiện tầng lớp tiểu tư sản thị dân, và bộ phận công chúng mới ở các đô thị Đáng chú ý là ở nông thôn, do cuộc sống ngày càng khó khăn, khiến nông dân đói khổ bỏ ruộng nương để lên thành thị

Từ hoàn cảnh thực tế như vậy, Nguyên Hồng xây dựng xã hội trong tiểu thuyết Bỉ vỏ có người dân Nam Định, Hải Phòng bỏ làng ra tỉnh để kiếm sống Phan Cự Đệ chỉ ra rằng

“Nguyên Hồng không miêu tả trực tiếp quá trình những người nông dân bị phá sản, bị cướp đoạt, bỏ làng quê ra thành phố nhưng anh thấy rõ số đông dân nghèo ở Hải Phòng,

Hà Nội, Nam Định là những người lìa hẳn quê lên đây” (Dẫn theo Hà Minh Đức, Hữu Nhuận 2001,108)

Dân số đô thị ngày càng đông, đời sống ngày càng phức tạp, thành phần dân cư ngày càng đa dạng Nhìn chung, một số ít người từ nông thôn ra thành thị được làm việc trong đồn điền của thực dân Đa số trở thành phu xe, con ở, hoặc buôn gánh bán bưng ngoài đường Và cuối cùng là một số còn lại bị bần cùng hóa, lưu manh hóa Chính Bỉ vỏ đã khai thác thành công chất liệu từ bộ phận dân cư này, Vũ Ngọc Phan nói “Nguyên Hồng cho ta thấy trong Bỉ vỏ là cả “một xã hội gian phi”, một xã hội ăn cắp” (Dẫn theo Hà Minh Đức, Hữu Nhuận 2001, 43)

Tuy có những chuyển biến kinh tế, nhưng cơ bản về chất thời điểm trước Cách mạng tháng Tám vẫn duy trì một chế độ xã hội cũ Thực dân thi hành chính sách bóc lột khiến nhân dân bị đẩy vào bi kịch, tầng lớp dân nghèo thành thị loay hoay chưa tìm được lối thoát và phương hướng đấu tranh để giành quyền sống Cho nên, Nguyên Hồng phác họa nhân vật Tám Bính trong Bỉ vỏ là một ví dụ điển hình cho hiện thực xã hội này Phan

Cự Đệ cho rằng Tám Bính “đã bị cái chế độ độc ác, vô lương biến thành lưu manh, gái điếm” (Dẫn theo Hà Minh Đức, Hữu Nhuận 2001,109) Còn Nguyễn Minh Châu lại nhận xét cụ thể hơn rằng Tám Bình “đã bị cái “xã hội chó đểu” của chế độ thực dân, phong kiến xô đẩy từ cửa địa ngục này sang cửa địa ngục khác” (Dẫn theo Hà Minh Đức, Hữu Nhuận 2001, 380)

Có thể thấy thông qua việc xây dựng xã hội trong tiểu thuyết Bỉ vỏ, Nguyên Hồng đã tự khẳng định mình là nhà văn hiện thực chủ nghĩa chắc chắn Như Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét “từ hiện tượng một cô gái bị lưu manh hóa, tác giả phân tích cả một chuỗi nguyên nhân xã hội ở nông thôn và thành thị với một cơ cấu xã hội duy trì những phong tục vô nhân đạo, với những tổ chức chính trị những công cụ bạo lực bênh vực cho bọn

có tiền…” (Dẫn theo Thao Nguyễn 2012, 71)

II Tiền đề văn học

Trang 9

9

Chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa hiện thực của phương Tây, nhiều nhà văn cho rằng tác phẩm phải bắt nguồn từ những sự thật vốn có trong đời sống hay có thể có thật Bỉ vỏ ra đời trong thời gian đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam, cho nên ít nhiều tiểu thuyết này cũng đã bị chi phối bởi quan niệm chủ nghĩa hiện thực này Như Phan Cự Đệ nhận xét “tác phẩm của Nguyên Hồng là một trong những hiện tượng trong sáng và tương đối thuần nhất của văn học hiện thực phê phán, ít bị pha tạp bởi những khuynh hướng tiêu cực đương thời” (Dẫn theo Hà Minh Đức, Hữu Nhuận 2001, 128)

Khi phân chia tác phẩm theo khuynh hướng tả thực của văn học hiện đại, Bỉ vỏ được Bùi Đức Tịnh xếp vào loại tả mặt trái của xã hội ăn chơi trụy lạc (Bùi Đức Tịnh, 445) Cùng với đó, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng còn được Vũ Tuấn Anh nhận định là “tác phẩm xuất sắc của văn học hiện thực bởi sự mới mẻ của đề tài.” (Vũ Tuấn Anh 2012, 373) Tuy nhiên, Nguyễn Đăng Mạnh lại cho rằng đề tài lưu manh, gái điếm không mới mà còn được ưa thích với nhiều cây bút tiểu thuyết trước Cách mạng tháng Tám Nguyễn Đăng Mạnh cũng chỉ ra rằng Bỉ vỏ khác ở chỗ không chú ý đặc biệt đến “chuyện lạ”, “giật gân” mà

“qua nhân vật Tám Bính lại muốn nói về những nối thông khổ ghê gớm đã đè giúi xuống tận bùn đen một cô gái trong trắng lương thiện” (Dẫn theo Thao Nguyễn 2012, 71) Nguyễn Minh Châu cũng đồng tính văn học hiện thực bấy giờ đã có nhiều người viết về người nghèo khổ nhưng Bỉ vỏ của Nguyên Hồng có điều đặc biệt hơn Bởi vì “ít có ngòi bút nào đề cập đến những con người ấy một cách da diết, thông thiết đến mức như ngòi bút Nguyên Hồng” (Dẫn theo Hà Minh Đức, Hữu Nhuận 2001, 378)

Phần thứ ba: Bỉ vỏ mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc

Có rất nhiều quan niệm về chủ nghĩa nhân đạo của Nguyên Hồng Nhưng nổi bật nhất trong tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ, ta có thể nói đến quan niệm chung như sau:

Thứ nhất, trong tác phẩm Bỉ vỏ, chủ nghĩa nhân đạo lấy cảm hứng từ bản thân tác giả,

tức là cảm thương cho số phận của chính mình Nguyên Hồng đã tự bộc bạch trong Tôi

viết Bỉ vỏ rằng “Tám Bính chính là tôi, Bỉ vỏ là văn của tôi (…) Tám Bính chính là tôi, là

tôi” (Dẫn theo Lê Hồng My 2005, 132) Có thể thấy rõ ràng nhân vật Tám Bính hòa nhập làm một với tác giả, với cuộc đời tác giả và cả kỳ vọng của tác giả Như Vũ Anh Tuấn nhận xét “Nguyên Hồng luôn thành thật phơi trải lòng mình trên từng trang viết” (Vũ Anh Tuấn 2001, 34)

Sở dĩ có một nguồn cảm hứng da diết đến vậy là vì Nguyên Hổng đã trải qua rất nhiều đau khổ của người lao động nghèo khó Bạch Văn Hợp chỉ ra rằng “cốt lõi trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyên Hồng chính là đạo lí của những người lao động nghèo mà ông đã hấp thụ được từ kinh nghiệm sống đầy đau khổ của bản thân và gia đình” (Dẫn

Trang 10

10

theo Nguyễn Thành Thi 2005, 39) Còn theo cách nói của Nguyễn Thành Thi, nhân vật Tám Bính trong Bỉ vỏ lại là “niềm thương, nỗi đau trộn máu và nước mắt đời ông” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 20) Chính vì cuộc đời Nguyên Hồng đã có quá nhiều bất hạnh nên không chỉ đồng tính với hai nhận xét trên mà Đào Đức Doãn còn cho rằng “khía cạnh đau thương của con người là phần định hướng tự giác ban đầu của ngòi bút Nguyên Hồng” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 66)

Thứ hai, đau thương của bản thân không phải là giá trị nhân đạo chủ yếu mà Nguyên Hồng đem lại Hơn hết còn là chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc đối với lớp người cùng khổ

Cụ thể, khi viết Bỉ vỏ, Nguyên Hồng đồng cảm với số phận của Tám Bính Nguyễn Đăng Điệp đã khẳng định rằng “một mặt, vạch trần bộ mặt xấu xa của xã hội cũ, đồng thời, tỏ lòng cảm thông sâu sắc với những thân phận đầy éo le bi kịch như Tám Bính” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 31) Ngoài đồng cảm, Nguyên Hồng còn dành tình yêu thương cho nhân vật Tám Bính, như Vũ Tuấn Anh nhấn mạnh rằng Bỉ vỏ là tác phẩm hiện thực xuất sắc bởi văn phong sắc bèn mà thống thiết và, “nhất là tấm lòng yêu thương của nhà văn đối với những hạng người mà xã hội và hoàn cảnh đã dồn đến cùng đường” (Vũ Tuấn Anh 2012, 373)

Thứ ba, Nguyên Hồng viết về nỗi thống khổ và cảm thương, nhưng giá trị nhân đạo của

Bỉ vỏ còn là vẻ đẹp của lớp người dưới đáy xã hội này Theo cách của Nguyễn Thành Thi thì “chuyện về “Bỉ vỏ Tám Bính và về những Hai Liên, Năm Sài Gòn kia là “một cái gì tinh khiết của hồn, xác” mà nhà văn muốn “để lại” cho cõi đời mà ông yêu mến” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 21) Nổi bật nhất trong tác phẩm Bỉ vỏ là vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Tám Bính Tuy trải qua rất nhiều bi kịch, có cả hành vi tha hóa nhưng thẳm sâu “vẫn có thể mang một tâm hồn trong sạch” như lời của Vũ Ngọc Phan nhận xét (Dẫn theo Thao Nguyễn 2012, 191) Còn nói theo cách của Nguyễn Thị Anh Thảo, Tám Bính mang một vẻ đẹp “tâm hồn cao thượng không hoen ố bùn nhơ” (Nguyễn Thị Anh Thảo

2014, 80) Thậm chí, theo Đào Đức Doãn, vẻ đẹp ấy đã vươn lên thánh thiện “đẹp đẽ ngay cả trong những bất hạnh thảm khốc nhất: làm đĩ, “chạy vỏ” và giết người”, dường như đẩy đến mức “lý tưởng hóa” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 66)

Có thể thấy Nguyên Hồng đã làm nổi bật tinh thần nhân đạo chủ nghĩa thông qua hình ảnh người phụ nữ mà Đào Đức Doãn cho rằng đó là “những người chất lên vai cả những đau thương tinh thần với một mô típ phổ biến là: phải tha phương cầu thực vì thành kiến

và tai tiếng” (Dẫn theo Nguyễn Thành Thi 2005, 66) Nhưng cũng chính những người đàn bà như Tám Bính bao giờ cũng mang những phẩm chất tốt đẹp, chẳng hạn như

“phẩm chất tốt đẹp của lương tri luôn thức tỉnh trong họ” (Vũ Tuấn Anh 2012, 375) Cụ thể hóa hơn, Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét phẩm chất đó là “tình nghĩa thủy chung của người vợ đối với chồng” (Dẫn theo Thao Nguyễn 2012, 74) Trong một bài viết khác, Nguyễn Đăng Mạnh bổ sung thêm phẩm chất thủy chung của Tám Bính trong Bỉ vỏ là

“thủy chung trong tình yêu chân thật, chứ không phải thủy chung theo lễ giáo phong kiến”

Ngày đăng: 27/11/2021, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w