Chọn hai tập thơ Sự mất ngú của lứa của Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung để tìm hiểu những cách tân của hai nhà thơ trong quá trình sáng tạo nghệ thuậ
Trang 1"6027.0007 a ,.)HA , 1
1 Lí do chọn đề tài - ¿se Ske S191 E21121111111111111111111111.111 111111 1
” âm 2
3 Mục đích của để tài -¿-©22z22Ez22 1221112711 E1 crrree 12
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu -s¿+£++z+++z+rxzrzrxxrrrrerrrsee 13
BI yn i0 )0010 i00 0.4 13 690900840) 0vì 00a 0 14
7 Cầu trúc luận văn -:-s s+ k+Exx+ESEkEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEkrrkrrrerrerree 14 Chương 1 ĐÓI MỚI THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI VÀ SỰ XUẤT HIỆN
CUA NGUYÊN QUANG THIÊU VÀ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG 15 1.1 Những đổi mới trong thơ Việt đương đại -¿©ccsccccccccsee 15
1.1.1 Đổi mới quan niệm về thơ -. 22©22+2+2EEZ+EE2EEEEEEEErEkzrrxerrserex 15
1.1.1.2 Thơ là trò chơi -.-¿-222+2222+z2222EErEEEEEreErrErrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrree 16
1.1.1.3 Thơ là nghiệm sinh về những giá trị nhân sinh - 17
1.1.2 Đổi mới về thi pháp nghệ thuật -2-2-¿2c++2c+++cx++rxesrxecrx 18
1.1.2.1 Sự mở rộng biên độ thể loại -¿-©2sz++sz+cxsezcxzerrsee 18 1.1.2.2 Kết cấu linh hoạt và hiện đại -.-¿-22¿©222cceccvzcrervrererrseee 20 1.1.2.3 Ngôn ngữ dụng công và thả phóng . 5-55 c+ se cseereers 21 1.1.2.4 Hình ảnh siêu thực và tượng trưng «+ «+xcserseersees 23
1.2 Sự xuất hiện của Nguyễn Quang Thiều và Trương Đăng Dung 25 1.2.1 Sự mắt ngủ của lửa và cột mốc cho dòng chảy cách tân 25
1.2.2 Những kỉ niệm tưởng tượng và dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại/
hậu hiện hai eee eeeeeecesccccccccccssssssssssssssssevsesssssesesceeceecesssssssssssssssessesssssssseseeseeeeee 29
Trang 22.2 Hé thống các biểu tượng nghệ thuậật 655 5+ S+£+x+sesvsseskrseree 63
2.2.1 Hinh twong nguoi phu m0 65 2.2.2 Biểu tuong dOng SONG eccescsecscsescssessssessseeesssecssseesseccsssssssessssesssseessseeeses 71
2.2.3 Biểu tượng mặt trời ¿ 2+22+++2+xEtEEkeeEEkrerkkrsrkkrrrrkrrrkrrrrree 71 2.2.4 Biểu tượng giÓ s¿55+c2c+t22 222112211121112211271121112111 11 crtxe 79
2.2.5 Biểu tượng con đường . 2 +<©++z+E+EeSEEEeSEEECErkxrrrkkrrrrkrrrree 81
Chương 3 ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG SỰ MÁT NGỦ CỦA
LỬA VÀ NHỮNG KỈ NIỆM TƯỞNG TƯỢNG - 84 Ea 84
3.1.1 Dán ghép các sự kiện - biến cố ¿ ¿©sz+cvse+cxxrcrxerrrxee 84
3.1.2 Dán ghép không gian - thời Øia1 - - 555 + + sessrseererree 87 3.2 Những chuyên động ngôn ngữ trong thơ -¿csz2csz+cse+ 93 3.2.1 Ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường, thế sự -¿-<cc-«¿ 93 3.2.2 Ngôn ngữ thơ giàu chất tượng trưng, siêu thực -+ 95 3.2.3 Ngôn ngữ thân thể trong thơ 2- 2+ 5¿2c++2cxz+zxcerxrerxrrrxerree 98
3.3.2 Giọng điệu trăn trở SUY fƯ 5 St ng grưy 109
KẾT LUẬN 5-5656 SS SE XE EE11111111111111 1111111111111 1x te 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 22- 22 22+EEEEEE2EEE2EEE2EEEEEEEEAEEEEerrkrrrk 120
Trang 31.1 Cách tân là thuộc tính của sáng tạo, là quy luật ban chat, là con
đường sống còn của văn học nghệ thuật Thơ Việt Nam vốn tiềm tàng một
khát vọng đổi mới Có những cái mới được hoan nghênh, nuôi dưỡng, nảy nở
và phát triển, trái lại có cái mới bị dè biu mỉa mai rồi nhanh chóng thui chột
Thời kì trung đại, chúng ta đã học tập kĩ thuật và mĩ học Đường thi để
sáng tạo thơ Việt Đến những năm 1930 - 1945 của thế kỉ XX, sự gặp gỡ với
phương Tây đã làm cả một nền thơ xưa một phen điên đảo lung lay Sự thức
tỉnh của ý thức cá nhân đã mở đường cho những sáng tạo Chưa bao giờ cùng
một lúc xuất hiện nhiều phong cách thơ độc đáo đến thế Thơ mới đã phát
triển lên đến đỉnh điểm rồi dần dần đi đến khủng hoảng như một thông lệ Vì vậy nhu cầu làm mới Thơ mới, thoát khỏi từ trường của Thơ mới khi Thơ mới
đi vào chỗ bế tắc đã được đặt ra Trong dòng chảy của Thơ mới, họ hiểu rằng
xu hướng lãng mạn đã quá đủ đối với độc giả tiên tiến đương thời Hành trình lãng mạn u buồn của nó đã đến lúc phải đi đến hồi kết thúc
Những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là thời kì cả dân tộc
gánh trên vai nhiệm vụ lịch sử vô cùng nặng nề Tuy vậy, ý thức vé su tìm tòi
cách tân vẫn không hề lụi tắt ở những người nghệ sĩ có bản lĩnh nghệ thuật, nhạy cảm với nhu cầu đổi mới Nhưng dù sao đi nữa thì đổi mới của thơ chống Mỹ vẫn nằm trong hệ hình tư duy thơ truyền thống Đó không phải là những bứt phá, phá cách, những thể nghiệm để mang đến một kiểu thơ mới,
một cách đọc mới
1.2 Sau năm 1975, nhu cầu đổi mới, cách tân thơ càng thể hiện mãnh
liệt Trong số những cây bút xuất hiện sau năm 1975, Nguyễn Quang Thiều
và Trương Đăng Dung là hai hiện tượng nỗi bật với những cách tân mạnh mẽ,
Trang 4Chọn hai tập thơ Sự mất ngú của lứa của Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung để tìm hiểu những cách tân của hai nhà thơ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, chúng tôi muốn khăng định những đóng góp nổi bật trên lộ trình cách tân của họ Một nhà thơ đã
xuất hiện khá lâu trên thi đàn văn học và một cây bút vừa cho ra mắt tập thơ đầu tay vào năm 2011 Là hai nhà thơ cùng thế hệ, cùng được học ở nước
ngoài nhưng nếu Nguyễn Quang Thiều chịu ảnh hưởng của nền văn hóa châu
Mỹ Latinh và ảnh hưởng từ quê hương, gia đình thì Trương Đăng Dung chịu
ảnh hưởng của nền văn hóa châu Âu và triết học hiện sinh Hai tập thơ Sự
mắt ngủ của lứa và Những kí niệm tưởng tượng có những cách tân giống và khác nhau như thế nào, mang lại cho nền thơ ca đương đại những hiệu ứng thấm mĩ ra sao? Đó là những câu hỏi mà luận văn sẽ góp phần lí giải dé khẳng định giá trị nghệ thuật của những cây bút giàu khát vọng sáng tạo
1990 của Lê Lưu Oanh (1998), Tỉ n trình th t Nam hi i cua Ma
Giang Lan (2000), V ng t conch của Nguyễn Đăng Điệp (2003), M y
Vv Vv t Nam 1975 - 2000 của Phạm Quốc Ca (2003), và gần đây nhất, công trình gây được tiếng vang lớn về thơ là cc acái khác của Đỗ Lai Thúy (2012), Đó là những công trình nghiên cứu dài hơi,
có hệ thống về thơ đương đại Việt Nam
Trang 5cách tân của từng nhà thơ trong sự riêng lẻ, tách biệt cũng như trong mối quan
hệ cộng sinh Dưới đây chúng tôi xin được hệ thống hóa những công trình nghiên cứu cũng như những bài viết về hai tập thơ Sự mắt ngú của lứa của Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung 2.1 Budi đầu, tập thơ Sự mắt ngú cúa lứa đã làm dây lên những ý kiến
tranh luận nhiều chiều, đa dạng những thái độ khen - chê Với tập thơ, Nguyễn Quang Thiều thực sự đã làm cuộc vượt thoát ngoạn mục khi bỏ lại sau lưng
những vần điệu, thói quen, cách nhìn đơn tuyến mà ta từng thấy trong tập thơ
đầu tay của ông: Ngồi nhà mười bay tuổi (1990), Nxb Thanh niên
Trong Tiểu luận phê bình V ngt con ch , Nguyễn Đăng Điệp đã quan tâm đặc biệt đến nhà thơ Nguyễn Quang Thiều Một thi pháp mới mẻ
của thơ Nguyễn Quang Thiều được nhà phê bình này phát hiện ra: “Là một
nhà thơ có ý thức khai phá lối đi riêng những trạng thái “mắt ngủ” của trái tim đây “lửa” Nguyễn Quang Thiêu hợp với thơ tự do mà ở đó, không loại trừ
“sự xâm lăng” của chất văn xuôi Giọng thơ Nguyễn Quang Thiéu, qua
những điểm mạnh của thơ tự do, vừa tung phá, trẻ trung mà không kém phân
sâu sắc” [13, tr 34] Bằng cách đó, Nguyễn Quang Thiều đã đóng góp cho nền thơ đương đại Việt Nam thêm những vần thơ đậm chất văn xuôi Và cũng
trong Tiểu luận V ngt conch với bài viết Nguy n Quang Thi €,
1 a, nh ng va dòng sông, nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp đã lắng nghe tiếng vọng từ “riển chữ” trên dòng sông thơ Nguyễn Quang Thiều
và cất lên những nhận định khá sắc sảo về hướng đi đúng đắn của sự cách tân Đồng hành cùng với mạch nguồn mĩ cảm trong thơ Nguyễn Quang Thiều, ông
đã khái quát những nét đổi mới trong thơ Nguyễn Quang Thiều: “Thực ra, Nguyễn Quang Thiều đổi mới thơ ca bằng cách làm rất “cổ điển” Với anh,
Trang 6Thành công trong tập Sự mắt ngú cúa lứa đã tạo ra tiếng vang mạnh mẽ, sức ngân vang ấy lan tỏa bởi cảm xúc chân thành mà nhà thơ gửi gắm qua những thể nghiệm ngôn từ đầy sáng tạo
Mã Giang Lân, trong Tỉ n trình th ¡ Vi t Nam có viết: “Nhìn hiện thực với một nỗi lo âu về sự xuống cấp của nhân cách và những giá trị
tinh than là cái nhìn tích cực, điều này có thể nhận thấy qua tập thơ Sự mắt ngủ của lúa của Nguyễn Quang Thiêu, tập thơ đã được đánh giá như là tiếng
nói có trách nhiệm về những van dé thé sự nhân sinh” [41, tr 392] Mã Giang
Lân đã chỉ ra rằng Nguyễn Quang Thiều không miêu tả cái hiện thực bên ngoài khách quan mà miêu tả hiện thực là thế giới ý nghĩa mà con người sống trong đó Tất cả những gì mà con người tìm thấy có ý nghĩa đối với cuộc sống
và từ đó khám phá những con đường để đi tới cuộc sống có ý nghĩa tốt đẹp
hơn, thú vị hơn trong nghệ thuật mới là hiện thực
Tác giả Đông La trong bài viết V n Quang Thi u khẳng định những cách tân mới mẻ của thơ Nguyễn Quang Thiều: “Nguyễn
Quang Thiéu cũng là một thi sĩ thường không viết những diéu dé người đọc
thích thú mà anh viết nhiều về những điều buộc người ta phải suy nghĩ Chúng hoàn toàn xa lạ và không cân thiết cho những ai sớm thỏa mãn với những gì quen thuộc gân gũi Chúng chỉ cần cho những người thích khám phá” [43] Có thể thấy, với tài năng của mình, Nguyễn Quang Thiều đã đem
đến cho thơ Việt một cấu trúc thơ mới lạ, những hình ảnh rời xa nhau trong những kết dính mờ nhạt, tinh thần phản tỉnh mãnh liệt làm đồ vỡ những trật tự
cũ, tường minh từng góc sâu tăm tối trong kí ức mỗi người, tạo những góc
nhìn tỉnh táo, sắc lạnh vào đời sống hiện thực Theo tác giả Đông La thì
Nguyễn Quang Thiều đã thực hiện sự lạ hóa trong quá trình thay đổi cách
Trang 7Sáng 28.6.2012 tại Viện Văn học Việt Nam diễn ra cuộc tọa đàm khoa
học t Nam hi ¡ và Nguy n Quang Thi u” nhân tập thơ Châu thổ của ông trình xuất bản Trong bản đề dẫn của mình, PGS TS Nguyễn
Đăng Điệp khẳng định Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng nỗi bật trong
số những cây bút từ sau năm 1975, với những cách tân ráo riết, táo bạo Bản thân thơ Nguyễn Quang Thiều, kế từ tập Sự mất ngủ của lứa in năm 1992, đã
định hình một giọng điệu, ngôn ngữ, phổ hình riêng và mới trong thơ ca Việt Nam hiện đại và là một thứ thơ có từ trường
Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến khi bàn về tập thơ Sự mất ngủ của lửa trong bài viết Nguy n Quang Thi u, | a th c (Nh n ng ngh thu t gi along Sw mat ngui cia lita) “Lita chdy trong tho Thiéu khéng phai
là lửa của sự hiểm nguy Trong cái nhìn tổng thể, lửa của Thiểu không đe dọa, không phân nộ mà thấp sáng an ủi Lửa Thiểu là ngọn lửa lạnh Lửa âm
tinh, dm áp nơi bào thai mẹ Lửa Thiéu duoc goi về trong niềm hoài hương
dằng dặc nơi chốn quê xa, trong cõi tưởng” [15, tr 40] Nguyễn Mạnh Tiến
đã diễn giải về cõi thơ Thiều thường trực một cảm thức lưu vong và nuôi dưỡng không nguôi niềm hoài hương quê mẹ Hiểu điều ấy rồi, chúng ta sẽ không thấy ngạc nhiên khi vấp phải những dòng tự sự trữ tình mang cảm thức
ki di noi Thiéu
Ý thức tiếp cận thơ Nguyễn Quang Thiều ở góc nhìn tương tác như thế
tiếp tục được thể hiện trong bài viết Sự mất ngủ cúa lứa hay s thao th c
camth của tác giả Đông La: “Ngọn lửa trong thơ Nguyễn Quang Thiêu là ngọn lửa của tình yêu, ngọn lửa của lương tri, sự mắt ngủ chính là sự thao thức, sự trăn trở nghĩ suy về toàn bộ đời sống con người nếu ta đã đọc
và đồng cảm được với thơ anh, ta sẽ nhận ra Sự mất ngú cúa lửa chính là
Trang 8Hầu hết các bài viết, các đại biểu đều khẳng định vị trí của Nguyễn
Quang Thiều như một thi sĩ cách tân trong dòng chảy thi ca đương đại Những
tham luận và trao đổi làm sáng tỏ dần câu chuyện: trong khi đi tìm một sự
cách tân đến triệt để như vậy, với những câu thơ dài, tự do, trương nở về cú pháp và ngữ nghĩa
Khảo sát một số công trình nghiên cứu trên chúng tôi thấy rằng thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn là một mảnh đất màu mỡ, ân giấu nhiều bí ẩn cho những ai thích khám phá tìm tòi Những bài viết mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tổng quan về thơ ông mà chưa đi sâu vào thế giới thơ đầy biểu tượng, hình ảnh với nhiều sức ám gợi Và đây chính là tiền đề để người viết đi sâu vào tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật cũng như những nỗ lực cách tân của Nguyễn
Quang Thiều cho nền văn học đương đại Song người viết chỉ dựa trên những
tìm hiểu của mình để khảo sát một tập thơ Sự mắt ngủ cúa lứa, tập thơ đạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993
2.2 Năm 2011, tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung đã giành giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội Bạn đọc không chỉ biết đến Trương Đăng Dung, “một trong những nhà khoa học uy tín nhất Việt Nam” (TS Mai Bá Ấn) mà còn biết đến một Trương Đăng Dung, tác giả của
những vần thơ với những cách tân, hiện đại và đặc biệt ấn tượng cả về nội
dung lẫn hình thức Hành trình sáng tác của Trương Đăng Dung từ những
năm 1978, với bài thơ đầu tay: Âm hướng mùa hè được in trên báo Văn nghệ
2.9.1978 nhưng phải đến 25 năm sau đó các bài tiếp theo mới lần lượt được in trên Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Thơ Hầu hết các bài thơ của ông đều chiếm được cảm tình của những nhà phê bình và công chúng yêu thơ Có thể nói tư duy triết học ăn sâu trong con người Trương Đăng Dung vì thế nó đã
Trang 9mạnh mẽ đối với người đọc
Chỉ trong chưa đầy một năm đã có hơn ba mươi bài phê bình về tập thơ
Những kí niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung, một hiệu ứng thẩm mĩ
xã hội hiếm thấy trong đời sống thơ Việt đương đại Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy khi viết lời tựa cho tập thơ đã cho rằng: “Thơ Trương Đăng Dung là thơ
- thời - gian” [10, tr 9] Ngoài ra Đỗ Lai Thúy còn khẳng định: “Trương Đăng Dung là nhà thơ có tư tưởng Mỗi bài thơ, thậm chí mỗi câu thơ của anh đều gửi gắm đến cho người đọc một thông điệp nào đó về cuộc đời Có
điều, khác với thơ cổ điển, thông điệp thơ anh không phải là những bưu kiện
để người đọc nhận trọn gói, mà là những chấm phá phía chân trời vẫy gọi
người đọc đến thám mã và dong sang tao” [10, tr 10 - 11] Theo dé, mdi tập
thơ phải có thông điệp riêng được toát ra một cách nhất quan từ vẻ đẹp của các bài thơ đứng cạnh nhau Như vậy, Trương Đăng Dung đã mang đến cho mỗi câu thơ, mỗi bài thơ của mình một đời sống, một số phận đề hút độc giả vào trường thơ do chính ông tạo ra
NÑ_, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhận định rất sâu sắc về tập thơ Những kí niệm tướng tượng của Trương Đăng Dung: “Có thể nói, Những kỉ niệm tưởng tượng đã trở thành Vật chứng trước thời gian của Trương Đăng Dùng, nghĩa là thơ đã hiện hữu hóa ÿ thức sống của nhà thơ, biến cdi sống tự nhiên thành một cái sống được nhận thức, do đó đối với Trương Đăng Dung
có thể nói như R Descartes: Tôi làm thơ, vậy tôi tôn tại Giải thưởng trao cho Những kỉ niệm tưởng tượng là sự khẳng định một tập thơ hay, một giọng thơ
mới lạ, một sảng tạo thơ đích thực và cũng khẳng định một hướng đi tốt đẹp
cho thơ” Theo nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên thì Những kỉ niệm tưởng
Trang 10mình và của nhân quần, nhà thơ nghiệm sinh về lẽ vô thường của cuộc đời, về
những ảo ảnh đời người, về những đường chân trời chưa tới và những bức tường ngăn cách, chia rẽ, biệt lập trong cõi nhân gian, trong mỗi con người
có những nhận định khái quát về tập thơ nhân đọc bài M
của nhà thơ Trần Anh Thái: “Mộ sáng tác thơ đặc sắc đến rùng mình! Đọc
bài trên phongdiep.net, tôi cũng bị “ám anh” theo người bình, và thấy nó ánh lên một thứ “thi pháp ” khác lạ Khác lạ không chỉ với thơ phương Đông (điều quá rõ!) mà có lẽ cả trong thơ phương Tây Thỉ sĩ Anh - An Rudyard Kipling,
ở đâu khác nữa thì không biết chứ ở bài thơ “Những kỉ niệm tưởng tượng” của Trương Đăng Dung, Đông và Tây đã “tay nắm trong tay” rồi” [71] Từ
một bài thơ Những kỉ niệm tưởng tượng, một trong những bài thơ đặc sắc
nhất trong tập thơ Những kí niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung, nhà
thơ Trần Anh Thái và nhà thơ Đỗ Quyên đều bị “ám ảnh” bởi một lối thơ với
“cách sử dụng hình ảnh, cách kiến tạo bài thơ, cách sắp xếp ngữ pháp câu
thơ rất riêng, tạo nên một hiệu quả nghệ thuật khác thường ` [7 1]
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Thụy Kha là người khá kĩ tính trong việc đánh giá thơ ca Nhưng trong một bài phỏng vấn:
cùng c in trên báo Sức khỏe và Đời sống, Nguyễn Thụy Kha đã rất trân trọng và khen ngợi tập thơ Vhững kí niệm tướng tượng của Trương Đăng Dung: “Tôi rất thiện cảm với tập Những kỉ niệm tưởng tượng của anh Trương Đăng Dung mà Hội Nhà văn Hà Nội vừa trao giải, đấy là một sự tìm tòi, một sự cách tân” Trong bài phỏng vẫn, Nguyễn Thụy Kha khẳng định một cách chắc chắn rằng thơ Trương Đăng Dung là thơ cách tân khi so sánh với thơ Đỗ Doãn Phương là thơ tân kì Theo Nguyễn Thụy Kha,
Trang 11mới không phải sự quái dị, không phải sự kì dị và càng không phải sự lập di Nhà nghiên cứu văn học - nhà thơ Inrasara trong bài viết
đã khăng định những đóng góp trên hành trình sáng tạo thơ của Trương Đăng Dung: “Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung, không dày, nhưng đủ đây trong suy nghiệm về thời gian, đau khổ và cái chết qua thứ ngôn ngữ “thỏa thuận” Chỉ có thi st đích thực mới có thể sử dụng thứ ngôn ngữ “thỏa thuận” như phương tiện thiện xảo mà không tổn hại đến ngôn ngữ như là ngôn ngữ” [38] Như vậy, Inrasara rất có thiện cảm và đánh giá rất cao tập thơ của Trương Đăng Dung
về phương diện mờ hóa ngôn ngữ, theo nhà nghiên cứu thì tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng thực sự là: “một tập thơ hay và độc đáo, hay một cách
thâm trầm và đĩnh đạc”
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Th à ph
viết: “Trở đi trở lại trong Những ki niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung là tiếng cựa mình của thời gian,
của tình yêu và cái chết, là nỗi bắt an trước một thực tại phi lí Đó là một thế
giới ngập đây hiện sinh trong cái nhìn trắc ẩn của một kẻ sớm tự nguyện đứng về phe nước mắt” (16, tr 28] Như vậy, nhà phê bình đã có những nhận
định đầy đủ và sâu sắc về tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương
Đăng Dung Đó là gợi ý quan trọng cho quá trình thực hiện luận văn mà
người viết lây ra được từ bài phê bình này
Trên báo 7ổ Quốc, Nguyễn Thanh Tâm có bài viết n
v ¡ Những kỉ niệm tưởng tượng Sử dụng hình thức đối thoại, tác giả bài viết
đã có những kiến giải, nhìn nhận rất độc đáo và mới lạ về tập thơ Những kí
niệm tướng tượng của Trương Đăng Dung: “Đó là thơ của niềm suy tưởng,
Trang 12thơ của triễt học ngôn ngữ, triết học hiện sinh, tiếng thơ trên những tram tu
về bản thé và thời gian, Ông ấy là nhà thơ có tư trưởng” [75] Qua việc
phân biệt giữa tư tưởng nghệ thuật và quan niệm về thơ như một thành tố loại
hình với thơ mang tư tưởng, người viết đã một lần nữa khẳng định Giáo sư Trương là một nhà thơ có tư tưởng Chính ở những nơi mà những suy tưởng triết học lắng xuống, ngôn ngữ thơ hiện lên với vai trò thứ nhất, tư tưởng nghệ thuật của Trương Đăng Dung mới hiện lên một cách rõ rệt Chính vì có tư
tưởng nên dẫu chăng cần lạm dụng kĩ thuật tân kì, thơ Trương Đăng Dung vẫn đầy những yếu tố cách tân
Trong một luận văn Thạc sĩ bảo vệ tháng 10.2013 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, học viên Lê Thị Quế với đề tài Hình tượng tác giả trong các
công trình nghiên cứu, dịch thuật và sáng tác văn học của Trương Đăng
Dung, tác giả luận văn từ việc nghiên cứu các hoạt động nghiên cứu, dịch
thuật và sáng tác văn học của Trương Đăng Dung, đã khẳng định những đóng góp của Trương Đăng Dung trong quá trình đổi mới Thông qua việc đi tìm hình tượng tác giả trong các công trình nghiên cứu, dịch thuật vá sáng tác văn học, tác giả luận văn đã chỉ ra nỗi cô đơn của chủ thé sáng tạo trong thơ Trương Đăng Dung cũng là sự tiếp nối cái cô đơn của hình tượng tác giả trong khoa học Trương Đăng Dung thơ không hề mâu thuẫn với Trương Đăng Dung khoa học ở tư tưởng và cách thể hiện độc đáo những tư tưởng đó, đúng như ông khẳng định: “không có sự mâu thuẫn giữa người làm lí luận và người làm thơ lí luận phê bình diễn giải thế giới nghệ thuật của nhà thơ, còn nhà thơ thì khám phá, giãi bày cái thế giới bên trong của chính mình, cả
hai đều cần đến tâm hôn và trí tuệ”
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của những nhà phê bình, nghiên cứu, nhà thơ về tập thơ Những kí niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung Có thể kể đến những bài viết tiêu biểu như: Ám
Trang 13(Hoang Thuy Anh), V (Lê Hồ
(Trần Ngọc Lan), Ở những bài viết này, tuy mỗi nhà phê bình đánh giá từ những bình diện, góc độ khác nhau nhưng đều thống nhất khắng định thơ Trương Đăng Dung là thơ thời gian Thời gian thơ Trương Đăng Dung là thời gian bên trong con người, thời gian được ông cảm nhận song trùng với thân phận con người, với tình yêu và cuộc sống
Những bài viết như: C ong trong t Những kỉ niệm tưởng tượng (Hoài Nam), Ñ
Dung (Nguyễn Trọng Đức), C
Dung (Hồ Tấn Nguyên Minh), đều với một giọng khăng định bao trùm lên
tập thơ Những kí niệm tướng tượng là một nỗi buồn nhân thế Nỗi buồn ấy
được thể hiện ở nhiều cung bậc, trạng huống khác nhau nhưng đều có cội nguồn từ một con người có ý thức trách nhiệm cao đối với cuộc đời và con
Ý nghĩa của một bài thơ có khả năng mời gọi người đọc nỗ lực hơn Nghệ thuật thơ của Trương Đăng Dung gắn với các khuynh hướng sáng tác hiện đại, hậu hiện đại” [25] Trong bài viết này, Mai Thị Liên Giang chú ý nhiều đến phương diện từ ngữ trong thơ Trương Đăng Dung và đặc biệt nhấn mạnh tính trò chơi ngôn ngữ Theo chị, trong mối quan hệ giữa người đọc và thơ Trương Đăng Dung, trò chơi không chỉ có giá trị như một ân dụ hiệu nghiệm
Trang 14để con người nhận thức được nhiều mặt của đời sống, nó còn là phương thức
để con người kiến tạo nên những giá trị của đời sống và chính bản thân mình Cùng với những công trình nghiên cứu, phê bình, giới thiệu về tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng, chúng tôi có tham vọng tìm ra sự cách tân về nội dung tư tưởng và các thủ pháp nghệ thuật của tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung, để khẳng định tài năng và đóng góp của Trương Đăng Dung đối với nền văn học nước nhà
Nhìn lại các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy các nhà nghiên
cứu, phê bình đã có những phát hiện đáng quí về thơ Nguyễn Quang Thiều và
Trương Đăng Dung nhưng chưa có ai tập trung nói về yếu tố cách tân của hai nhà thơ này Các bài viết hoặc chỉ giới hạn trong một vài bài thơ, hoặc chỉ phân tích, luận bình thơ chứ không đi sâu vào vấn đề cách tân thơ Dó đó, những yếu tô cách tân trong tinh thần hậu hiện đại của hai tập thơ Sự mắt ngú
cúa lứa của Nguyễn Quang Thiều và Những kí niệm tưởng tượng của
Trương Đăng Dung là vấn đề mới mẻ, cần được khảo sát, nghiên cứu
3.1 Từ năm 1975 đến nay thơ đã vận động ra sao khi công cuộc đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội đang ngày càng sâu, rộng Với đề tài này, người viết muốn thâm nhập và khám phá một thực tiễn sáng tác cụ thê của hai nhà thơ cùng thế hệ để góp phần khẳng định những giá trị thơ đương đại sau những nỗ lực cách tân đổi mới
3.2 Thực hiện đề tài, người nghiên cứu còn muốn giải mã những yếu tố
tạo nên thành công của hai tập thơ về mặt nội dung và hình thức Trên cơ sở
đó, luận văn hướng đến đánh giá khách quan những hiệu ứng thâm mĩ mà hai
tập thơ tạo ra, cho riêng thơ và cho cả đời sống lí luận Giữa dòng dư luận về những cách tân nghệ thuật của thơ Việt đương đại, người viết muốn góp một
tiếng nói khách quan và hệ thống đối với những cách tân về nội dung tư tưởng
Trang 15và hình thức nghệ thuật của hai tập thơ: Sự mất ngú của lứa của Nguyễn Quang Thiều và Những kí niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung
4 ng, ph m vỉ nghiên c u
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những cách tân nghệ thuật trong hai tập thơ Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu những cách tân về nội dung và nghệ thuật trong hai tập thơ:
- Sự mắt ngú của lửa (1992)
- Những kỉ niệm tưởng tượng (2011)
Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiểu một số bài thơ khác của Nguyễn Quang Thiều và Trương Đăng Dung, một số tác phẩm của các tác giả khác
như một sự so sánh cần thiết để làm nổi bật nội dung trọng tâm của luận văn
Đề triển khai đề tài, người viết sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
5.1 Phương pháp phân tích, tống hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp sẽ đưa ra cái nhìn khái quát về những
đổi mới cơ bản của thơ trữ tình Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay Qua đó,
những nét chung và riêng trong cách tân về phương diện nội dung và nghệ thuật trong hai tập thơ Sự mắt ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung cũng sẽ được làm rõ thông qua phương pháp này
Trang 165.3 Phương pháp cấu trúc - hệ thông
Phương pháp cấu trúc - hệ thống sẽ góp phần đắc lực trong việc xem xét mối quan hệ giữa các yếu tô thuộc về nội dung và nghệ thuật của hai tập thơ Sự mất ngú của lửa của Nguyễn Quang Thiều và Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung trong thế vận động của dòng chảy văn học
Luận văn sẽ hướng đến những đóng góp có ý nghĩa sau:
- Góp phần làm sáng rõ thêm những đổi mới cơ bán của thơ trữ tình Việt Nam từ sau năm 1986 qua những quan điểm, quan niệm mới về thơ của những người cầm bút đương đại
- Thấy được những hướng đi riêng của Nguyễn Quang Thiều và Trương Đăng Dung trong hành trình khám phá thế giới nghệ thuật
Trang 17N IDUNG
NGUY N QUANG THI
1.1.1 Đổi mới quan niệm về thơ
1.1.1.1 Thơ là thơ
Quan điểm “văn di tdi dao”, “thi dĩ ngôn chí” được coi như thứ thâm
mĩ của thơ văn suốt 10 thế kỉ Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thơ đã là một phương tiện đề kêu gọi, tập hợp sức mạnh tinh than của quần chúng nhân dân Thơ đã phát huy được chức năng cải tạo xã hội, đã tham dự trực tiếp vào đời sống chiến đấu của toàn dân Vì thế, thơ tất yếu gắn
bó mật thiết với chính trị, lối tư duy dựa trên nền tảng cảm xúc cộng đồng đã chỉ phối toàn bộ quá trình sáng tạo của nhà thơ
Khi chiến tranh đã lùi xa, thơ kháng chiến được nhìn nhận, đánh giá bởi một hệ mĩ cảm mới, một thang giá trị mới Thời nay, thơ tiếp tục được đề cao
song không phải đề cao chức năng xã hội Người ta nhận thấy rằng cần phải
trả lại cho thơ bản chất đích thực của nó Thơ trước hết phải là thơ Thơ
không phải là công cụ Khả năng to lớn của thơ ca phải xuất phát từ chính đặc trưng, bản chất nghệ thuật của nó Chức năng bồi đắp tâm hồn tình cảm của thơ được đề cao hơn bao giờ hết, nhất là trong hoàn cảnh sự sa sút về đời sống tỉnh thần như hiện nay Thơ là thơ, thơ không phải vụ lợi, uốn mình nên thơ cũng rat trung thực trong việc phản ánh hiện thực Hiện thực phản ánh không phải chỉ ở bề mặt mà còn ở bề sau, bề sâu, bề xa, ở những góc khuắt, hiện
thực được phản ánh như nó vốn có, sẵn có, và sẽ có.
Trang 18Thơ hôm nay còn chấp nhận cái ảo Nếu không chỉ chấp nhận phan ánh hiện thực một cách đơn thuần, thơ sẽ có thiên hướng tiếp cận cuộc sống ở một
phía khác nhiều ưu thế hơn so với các loại hình văn học nghệ thuật Tắt nhiên
sự ảo diệu, lung linh, đa nghĩa luôn là đặc điểm quen thuộc của thơ ca muôn đời song với thơ ca giai đoạn này, chất ảo của thơ được khai thác dưới góc độ đời sống tâm linh Con người ở thế kỉ này nhiều khi quan tâm đến đời sống tâm linh nhiều hơn là hiện thực cuộc sống lồ lộ đưới ánh mặt trời
Quan niệm thơ là thơ cũng hé mở tính chất bất định, khó hình dung,
không thể định nghĩa của thơ Chính vì tính chất bất định, khó hình dung đó
mà thơ trở nên hấp dẫn, bất ngờ, tạo khoảng không bao la cho sáng tạo Nếu
trước đây đã có những định nghĩa về thơ thì hôm nay phải bổ sung, thay đổi,
thậm chí không thể định nghĩa bởi thơ hôm nay dường như không chấp nhận
bắt kì khuôn khổ có định nào
1.1.L2 Thơ là trò chơi
Trước hết đây là một thái độ khước từ những trói buộc, những trọng
trách một thời thơ phải gánh vác, lo toan; thé hiện thái độ tự do sáng tạo Quan
niệm này cũng cấp cho thơ những phẩm chất mới: sự phóng khoáng, tự do, đối lập với tính trang trọng mực thước của thơ truyền thống Trò chơi cũng tạo nên tính ngẫu hứng, sự lôi cuốn bất ngờ Nó gợi ra những khía cạnh mới trong quan hệ giữa nhà thơ và bạn đọc: người chơi không bị áp đặt; trò chơi chỉ thành công khi có sự tham gia từ nhiều phía Nhà thơ là người sáng tạo ra trò
chơi, đề xuất trò chơi và anh ta lôi cuốn độc giả vào trò chơi của mình
Quan niệm thơ là trò chơi có ý nghĩa giải thiêng đối với thơ (nếu trước
đây người ta đưa thơ vào đền đài, lăng miếu; giờ đây người ta đưa thơ ra sân chơi, bàn chơi) nhưng không đồng nhất với việc hạ thấp vai trò của thơ Thời nay, không ít người coi văn chương là trò chơi, thơ là trò chơi nhưng là “chơi
Trang 19that”, “choi nghiém tic” (Lé Dat), vi thé không phải ai cũng dám chơi, cũng chơi được Người chơi phải có bản lĩnh, có tài năng
Một số nhà thơ quan niệm rằng: chơi là chơi với chữ Với nhiều thủ
thuật: co giãn chữ, phân mảnh, dán ghép, sắp đặt, bài trí chữ, họ đã mang lại cho chữ muôn hình dạng khác nhau, khơi gợi vô số cảm xúc khác nhau
Phát hiện ra trò chơi này là một minh chứng cho sự nhạy cảm của họ trước những tiềm năng dồi dào của ngôn ngữ, của tiếng Việt Trần Dần là một trong những người đầu tiên khởi xướng thơ “dòng chữ” ở Việt Nam Dũng cảm,
táo bạo và quyết liệt, “đòi chôn tiển chiến” từ những năm kháng chiến chống
Pháp, Trần Dần đã đi tìm cho mình một con đường riêng Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng đồng cảm với những quan niệm này,
họ muốn cắt bỏ cho ngôn ngữ cái ách ngữ nghĩa lắm khi biến nó thành con bò chở thông tin thông tục, muốn tạo nghĩa mới cho con chữ
Thực tế đã có những quan niệm khác nhau về ngôn ngữ thơ ca Mặc dù, cho đến nay, có một số người vẫn không thể đồng cảm với những thể nghiệm của thơ “đòng chữ”, họ vẫn coi nó như những trò chơi hình thức, ít giá trị nhân bản Tuyên ngôn cũng như thực tế sáng tác của những người đi tiên phong đã gây ảnh hướng nhất định đối với các nhà thơ đương đại, nhất là các cây bút trẻ Càng ngày thơ Việt Nam càng có chiều hướng trở về đúng bản
chất của một loại hình nghệ thuật đặc thù: nghệ thuật của ngôn từ Các nhà thơ trẻ rất có ý thức trong việc xác lập trở lại những giá trị đã bị đánh mắt của
thơ, trong đó đáng chú ý nhất chính là ngôn ngữ
1.1.1.3 Thơ là nghiệm sinh về những giá trị nhân sinh
Quan niệm về thơ, xét cho cùng cũng là một cách tiếp cận kinh nghiệm
sống, tiếp cận những giá trị tỉnh thần do nhà thơ sáng tạo nên Mỗi nhà thơ sống trong một thời đại cụ thể, trong một không gian tỉnh thần cụ thể Vì thế,
thơ họ một mặt thể hiện những suy tư cá nhân độc đáo nhưng mặt khác những
Trang 20suy tư ấy phải thể hiện được tâm thế và trạng thái tỉnh thần của thời đại mình
Xã hội thời buổi kinh tế thị trường đã làm cho cuộc sống khởi sắc hơn, nhưng
mặt khác, con người dường như sống với nhau lạnh lùng hơn, tình cảm giữa những cá nhân trong xã hội ngày càng hoen gi Bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, khiến các nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây mà buộc họ phải thích ứng với những thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc sống Điều
đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật Gắn liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tư duy nghệ thuật là vị thế của nhà thơ trong hoàn cảnh mới Nhà thơ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà anh ta phải góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc Ấn của con người trên cơ sở trình bày cảm nhận của mình về các giá trị Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo
ra được quan niệm riêng của mình về đời sống
Những quan điểm trên cho thấy một quan niệm mới về chức năng của thơ, về vai trò sáng tạo của người nghệ sĩ Thơ không còn được dùng để “chở
Trang 21Đổi mới thơ được đặt ra như một nhu cầu tất yếu trong quá trình vận
động văn học Và tương tác thể loại để tích hợp chất văn xuôi chính là sự vận
động mà thơ đã và đang thực hiện trên lộ trình cách tân của mình Chủ trương
khuyến khích gieo trồng những thứ hoa quả lạ trên cánh đồng văn chương đã
tạo điều kiện hình thành bầu không khí văn học cởi mở và dân chủ hơn
Ngày nay theo tinh thần của hậu hiện đại thì tính bình đẳng giữa các thé
loại văn học được xác lập Theo đó, tác phẩm không phải là một cấu trúc chặt
chẽ, khép kín mà là những liên văn bản Đó là sự đan xen giữa các diễn ngôn trong một văn bản chính Văn bản thơ trở thành không gian tiếng vọng của văn xuôi do đó cũng là điều dễ hiểu Trước sự đa dạng, phong phú về nhu cầu
và thị hiểu của công chúng, ý thức đưa thơ đến với sự bung phá thi pháp thể loại dé trở về với những miền khuất lắp mà bấy lâu bị xem là vùng đất cắm kị của văn chương đã được định hình rất rõ trong tư duy của các nhà thơ
Với việc xem tiểu thuyết là thể loại thống soái, là diễn viên chính trên
thi đàn văn học, các nhà thơ trẻ hôm nay có xu hướng đây câu thơ theo trục đọc và trục ngang vừa mang lại mĩ cảm mới cho người đọc cũng như phù hợp
với nhu cầu đổi mới thơ ca Hầu hết các nhà thơ trẻ thuộc thế hệ sau năm
1975 đều không muốn làm thơ theo những thể cách luật Họ muốn giải phóng thực sự cho ý tưởng cảm xúc khỏi những khuôn mẫu thể loại có sẵn Không ít nhà thơ viết truyện rất ngắn nhưng vẫn cứ xếp nó vào mục thơ Có người viết
thơ như viết tiểu luận ngôn ngữ Đinh Linh và Đặng Thân đã làm như thế Nhà thơ thích thú kết hợp và trộn lẫn các thể loại để tạo nên một thể loại văn chương khác, mới Khi họ muốn gọi nó là bài thơ thì đó chính là bài thơ
Thơ ca Việt Nam sau năm 1975 nói riêng và cả nền thơ dân tộc nói
chung đã vận hành trong xu hướng muốn tiệm cận với thi ca nhân loại Quả
thực, sự thay đối của cuộc sống và quá trình giao lưu văn hóa Đông Tây đã gợi mở những hướng đi mới cho đội ngũ sáng tác Đặc biệt là sau năm 1986,
Trang 22với sự khai mở của đường lối văn hóa, hơn bao giờ hết thơ dịch được trình làng nhiều Những vần thơ đậm chất phóng sự, chất văn xuôi của Maiacopxki,
Nadim Hikmet, Whitman, là nhân tố tích cực để các nhà thơ nhìn lại chính
mình và có đường hướng thay máu cho thơ ca dân tộc
Tóm lại, tương tác thể loại vốn là một đặc trưng nội tại của thể loại trên hành trình phá bỏ lôgic nghệ thuật truyền thống dé tìm sự cách tân, sáng tạo
Hành trình phát triển của thơ, theo đó cũng là một hành trình hướng đến sự hoàn thiện về thi pháp nhưng không bằng cách tự đóng mình trong cấu trúc cố
định của thể loại mà linh hoạt vượt khung thể loại, tạo nên những cách tân
mới mẻ cho đời sống thi ca
1.1.2.2 Kết cấu linh hoạt và hiện đại
Cùng với những cách tân đổi mới về hình thức thơ thì cách tổ chức kết cấu bài thơ cũng hết sức đa dạng và ở nhiều trường hợp đã vượt ra khỏi
những cách kết cấu, lập tứ quen thuộc Đặc biệt ở lối thơ “vụt hiện”, hay ở những thể nghiệm của Trần Dần, Lê Đạt, để cho các chữ tự tạo sinh ý nghĩa
Còn ở các trường ca thì tác phẩm thường được tổ chức thành các chương,
khúc mà kết cấu bên trong là mạch trữ tình - chính luận Một số tác giả lại thử nghiệm lối thơ rất ngắn, bài thơ chỉ gồm 2 - 3 dòng Tập thơ #foa giấu mặt
của Mai Văn Phấn, mỗi bài thơ rất ngắn chỉ vẻn vẹn có ba câu: “Ngập ngừng/ Con cá bơi/ Quanh phần cơm cúng vừa chỉa” (Ngày giỗ tổ); “Ngậm ngụm nước/ Sơ/ Con ong rời nhụy hoa” (Yên tĩnh),
Một trường hợp khác, có lẽ cũng nên nhắc đến là Đoàn Văn Chúc, tức
“Chúc bờ sông”, theo lối gọi của bạn bè, nhưng không chỉ vì ông ở mép ria sông Hồng mà vì một lối sáng tác thơ chênh vênh, ngoại vi của ông Ông là một dịch giả, nhà nghiên cứu văn hóa và là bạn của Trần Dần, Lê Đạt, Đặng
Đình Hưng, Văn Cao, bởi “cùng một lứa bên trời lận đận” Ông có tập thơ một chữ rất độc đáo:
Trang 23ĐOÀN VĂN CHÚC
Thơ một chữ
nhan đề: VỢ CHÒNG
nội dung: XONG
bình luận: “Cái bòng bong ấy gọi là XONG” (Trần Dần)
minh họa: BÙI XUÂN PHÁI
Việc tổ chức câu thơ cũng được tự do hóa Câu thơ điệu nói được hình
thành trong quá trình hiện đại hóa thơ ca đã được đây mạnh hơn trong giai đoạn 1945 - 1975 Nhưng nhìn chung câu thơ ở giai đoạn này được tổ chức như những phát ngôn hướng nội Cùng với xu thế trở về đời sống thế sự và riêng tư, cái tôi trữ tình trong thơ 1975 cũng mang xu hướng hướng nội và vì thế, câu thơ, lời thơ cũng là những phát ngôn hướng nội Khi thơ tự do và thơ không vần đã trở thành phô biến thì các dòng thơ cũng được giãn nở hoặc co lại một cách rất tự do, sự liên kết giữa các dòng thơ, câu thơ cũng có xu hướng phá bỏ những trật tự lôgíc thông thường Nhịp điệu tuy vẫn còn là một yếu tố cần thiết, nhưng nó đã hết sức linh hoạt, ngay cả trong những thê thơ
có số chữ hạn định ở mỗi dòng Đặc biệt ở một số trường hợp, nhịp điệu câu
thơ đã gần như câu văn xuôi và gần như không có vai trò gì đáng kể trong
việc tô chức câu thơ
1.1.2.3 Ngôn ngữ dụng công và thả phóng
Trong tỉnh thần đổi mới thơ ca, một bộ phận những người cầm bút tỏ rõ
thái độ trân trọng, nâng niu, thậm chí đam mê, săn sóc kĩ lưỡng, tỉ mỉ đến
từng con chữ Trong tay họ, mỗi chữ có giá trị như một sinh mệnh Họ nhọc
lòng, lao tâm khổ tứ với chữ Họ tạo ra những kết hợp hoàn toàn mới lạ: lạ
hóa ngôn từ, gia tăng giá trị của những từ ngữ quen thuộc bằng những cách kết hợp độc đáo, thậm chí tạo nên những “kì chữ” Các từ ngữ nếu đứng độc lập sẽ chắng gây nên cảm xúc gì mới mẻ, thậm chí phần nhiều các chữ đều
Trang 24quá cũ mòn Nhưng đột nhiên chúng trở nên mới lạ, sống động, đầy sức gợi khi đứng cạnh nhau trong những kết hợp đầy sáng tạo
Trong không khí đổi mới ngày càng quyết liệt của thơ đương đại, cuộc
“phá vây chữ” là tham vọng của cả nhóm Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường,
Đặng Đình Hưng Họ đã mang đến cho người đọc những mĩ cảm mới Mỗi người có thể có những cách diễn giải khác nhau đối với mỗi văn bản thơ tùy thuộc vào trí năng, kinh nghiệm, vốn văn hóa và độ ngân rung cảm xúc khác nhau nhưng nhìn chung họ đã tạo được những ấn tượng của riêng mình
Đổi mới thơ, các nhà thơ không những dụng công với ngôn ngữ mà còn thả phóng ngôn ngữ Đi theo hướng này, các nhà thơ để cho ngôn ngữ thoải
mái du hành khắp thôn cùng hẻm vắng, lăn lóc với đời Điều dễ thấy là sự tấn
công ngày càng quyết liệt của ngôn ngữ đời thường, của khẩu ngữ, tiếng lóng;
một bộ phận là thứ ngôn ngữ sống sit, bui bam, xa lạ với những mĩ từ Sự đổi
mới trong quan niệm về việc phản ánh hiện thực trong thơ, khao khát được nói thật, cảm hứng phê phán khiến ngôn ngữ thơ phải thay đổi để tìm một sự tương xứng cần thiết Người ta không thể phơi bày một hiện thực trần trụi, gai góc bằng một thứ ngôn ngữ mĩ lệ, giàu chất thơ Thứ ngôn ngữ đền đài trang nhã mực thước đã dần mắt đi ngôi vị thống soái Việc đưa những hình ảnh thô tháp, trần trụi, lắm lem bùn đất của đời thường vào thơ không còn là chuyện
lạ Từ sau năm 1975, ngôn từ trong thơ đương đại có xu hướng xích lại gần
hơn với đời sống hiện thực Từ ngôn từ “cơm bụi” vỉa hè quán xá của Bùi
Chí Vinh, Nguyễn Duy đến thứ ngôn ngữ phi thơ, phi thẩm mĩ của các nhà
thơ theo xu hướng hậu hiện đại là cả một bước đi dài Đến họ, ngôn từ đã tiến thêm một bước mới: từ đời thường hóa, đến trần tục hóa và thô tục hóa Bằng cách của mình, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Nhiên Hạo, Lynh Bacardi,
đặc biệt là nhóm Mở miệng họ chủ trương bình đẳng ngôn từ, bình đẳng đề tài Có người cho rằng đây là một cách ứng xử nhằm mở rộng phạm vi của thi
Trang 25liệu để có thể phơi bày cái nhơ nhớp của thực tại Họ cho rằng đây là một hình thức để biểu hiện tinh thần tự do, tự giải phóng mình ra khỏi những khuôn khổ, kìm kẹp đối với ý thức cá nhân Lại nhiều người bất bình cho rằng các nhà thơ này đã tùy tiện “xé /hjr” tiếng Việt và tiếng Việt trong tay các
“phù thủy chữ” nhiều khi chỉ còn là xác chữ Lối viết như thế này đầy rẫy trong văn trẻ, đặc biệt trong thơ Thời hôm nay, khoái cảm và điên rô hợp lí của Nguyễn Thúy Hằng là một công trình kì khu, tập trung đủ các ngón chơi:
cat dan, ghép mảnh, bậc thang, leo dòng, hội họa, sắp đặi, nhưng nhiều người đều có cảm giác rằng đó là một “nôi lẩu thập cẩm” Ý niệm về sự giản
dị trong sáng trong thơ bỗng trở nên xa vời Có lẽ điều lớn nhất những nhà thơ này làm được là đã tạo nên một cú shock mạnh cho độc giả
Xu hướng thả phóng ngôn từ này còn thể hiện ở việc thơ hôm nay đã
mở rộng cửa để dung nạp lớp ngôn từ mới của đời sống hiện đại: tiếng Anh, ngôn từ email, Internet, dấu ấn của thời đại văn minh công nghệ và kĩ thuật, giao lưu hội nhập ngôn ngữ và văn hóa Những ngôn từ tưởng chừng hết sức
xa la với thơ ca và dường như chẳng có một phẩm chất thơ nào đã đi vào địa hạt thơ tự nhiên như một tất yếu
1.1.2.4 Hình ảnh siêu thực và tượng trưng
Không thê nói sử dụng biểu tượng trong thơ là một cách tân bởi thơ ca xưa nay vốn không xa lạ gì với biểu tượng Biểu tượng nghệ thuật được sử
dụng rộng rãi và phát huy ưu thế của nó trong thơ của mọi thế hệ Các loại
biểu tượng cũng hết sức đa dạng, từ những hình ảnh sẵn có trong thiên nhiên,
những “mẫu gốc ” trong tâm thức văn hóa dân tộc, các bộ phận của con người đến các hình ảnh kì ảo là sản phẩm của trí tưởng tượng hoặc đột hiện từ tâm linh, vô thức
Di cảo thơ của Chế Lan Viên rất phong phú các hình ảnh biểu tượng Cùng một hình ảnh, Chế Lan Viên có thể thể hiện rất nhiều ý tưởng và ngược
Trang 26lại, một ý tưởng có thé diễn đạt bằng nhiều hình anh: hoa (tugng trưng cho cái đẹp sức sống, tình yêu thầm kín, nghệ thuật, khát vọng sáng tạo, phẩm chất, nhân cách người, ), ngọn đèn, trang giấy, viên ngọc (Khát vọng sáng tạo), bình đựng lệ (những khổ đau của kiếp người), tro bụi, đáy mổ, huyệt tối, đầu
lâu, bóng toi, (cái chết và sự hư vô), Hệ thống hình ảnh biểu tượng của
Lê Đạt, Hoàng Cầm đậm màu dục tính: bãi nổi, sông thon, đổi mêm, mây lưu thủy, mắt thuyền quyên, đùi bãi ngô non ngo ngó sông đây, bướm lượn, hoa bay, gáy nê ông chiều lả liễu lam bay, (Lê Đạt), khăn, yém, do, chim cau căng mứt mạch tắm, (Hoàng Cầm) Có những hình ảnh biểu tượng là sản phẩm độc đáo, đóng dấu ấn bản quyền của người sáng tạo: men, cây tam cúc,
cỗ xe hồng, lá diêu bông, quả vườn ối, (Hoàng Cầm), bến lạ (Đặng Đình
Hưng), người đi tim mat (Hoang Hung), tháp Bay - on bốn mặt, tro và lửa, người xâu kim, người tử tù đan áo, thợ đào sông, người dệt thảm, người tìm
trầm giữa ngàn cao lắm hồ, gió lật lá sen hồ, (Chế Lan Viên), hoa phù
dung (Hoàng Phủ Ngọc Tường), giác mơ hình chiếc thới, siêu thi mat (Tran Quang Quý), con ngựa trắng và rừng quả đẳng, chăn trâu đốt lửa, chim mỏ vàng và hoa có độc, ngựa hoang, ngựa mù, (Đồng Đức Bồn), người dệt tầm
gai, nhật thực, đồng rử (Vi Thùy Linh),
Biểu tượng thơ cùng với dòng chảy cảm xúc của nhân vật trữ tình làm nên một bản sắc riêng cho thơ Trong thơ ca Việt Nam đương đại, cùng với nỗ lực cách tân hình thức thơ, các nhà thơ cũng hết sức chú ý tới việc xây dựng những “mẫu góc”, những nguồn sống dồi dào trên đất mẹ thi ca bằng những biểu tượng giá trị, không chỉ gợi hình cao mà còn mang giá trị văn hóa, thâm
mĩ sống động
Trang 271.2.S xu thi ne aNguy n Quang Thi
1.2.1.8 m tng c al avacét mốc cho dòng chảy cách tân
Nguyễn Quang Thiều sinh năm 1957 tại Thôn Hoàng Dương, Xã Sơn Công, Huyện Ứng Hòa, (Tỉnh Hà Tây) nay là Hà Nội, một làng quê ven bờ sông Đáy Chính con sông Đáy là nơi đã in dấu nhiều sáng tác thơ ông, trở thành nguồn cảm hứng đồi đào cho thơ, cũng là điểm tựa tỉnh thần cho thi si tìm về Hầu như bao trùm những hồi ức, thương nhớ, độc thoại, đối thoại
của thơ Thiều đều được dựa trên những thi cảnh của không gian làng Chùa,
và cả thời gian xa xưa cũng được kế từ những ngôi mộ cổ của tiền nhân nơi đây Xuất bản thơ từ những năm 80 của thế kỉ XX, thơ Nguyễn Quang Thiều
đã đạt giải ba cuộc thi thơ và giải thưởng thơ hay của báo Quân đội nhân dân Ngôi nhà mười bảy tuổi là tập thơ đầu tay của ông xuất bản năm 1990 được
lọt vào vòng bình chọn năm tập thơ hay nhất năm 1991 của Hội Nhà văn Việt Nam Cho tới nam 1992, khi tap tho Sw mat ngủ của lúa ra đời, nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993, thơ ông đã thực sự ghi dấu một phong cách sáng tạo mới, từ đó tạo nên một cơn sốt thực sự - những tranh cãi, bình luận, nhận định về tập thơ của ông sôi nổi trên khắp các mặt báo
Tác phẩm đầu tay Ngồi nhà mười báy tuổi (Nxb Thanh niên, 1990)
Đó là những cảm xúc đẹp đẽ, trong sáng, mượt mà, dư vị thơm mát của cỏ hoa, của mối tình đầu bẽn lẽn, Chưa có bước đột phá táo bạo đổi mới thơ,
song những hình ảnh, ngôn ngữ giàu tính gợi trong tập thơ đã gây được ấn tượng mới mẻ, tỉnh khôi: “Bây giờ đang cuối mùa đông! Làng bao cô gái lấy chông đi xa! Chút chiều hoe nắng ngõ nhài Tôi di, tôi đứng để mà vu vơ” (Bây giờ đang cuỗi mùa đông) Thơ ca truyền thống ưa những câu thơ vần
vè, hiền lành như vậy, không kêu gọi người sáng tạo đứng lên nổi loạn ngôn
từ Nhưng đối với Nguyễn Quang Thiều mọi chuyện không đơn giản như thế Những kỉ niệm ngọt ngào về cố hương, những xúc cảm nhẹ nhàng trong sáng,
Trang 28khơng cịn là cái đích, khơng phải là bến đỗ bình yên cho nhà thơ nữa Sau khi tập thơ Ngơi nhà mười bảy tuổi ra đời, Nguyễn Quang Thiều nhanh chĩng nhận ra, hình như giọng thơ của mình cĩ lẫn với một ai đĩ Ơng khơng bằng lịng với mình và lại trăn trở, hùi hụi viết Ơng trăn trở về niềm thiêng sâu kín, thắm sâu nỗi buồn Và khơng lâu sau, Sự mất ngú của lứa ra đời đã khuấy đảo khơng khí văn chương bấy lâu vẫn bình lặng, vì xuất hiện nhiều cái lạ về ngơn từ, về quan niệm thấm mĩ quen thuộc bị phá bỏ, về cấu trúc những ý
nghĩ khơng xuơi chiều Và tập thơ đã thực sự đánh dấu bước ngoặt mạnh mẽ
trong tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều: “Sờg Đáy chảy vào đời tơi! Như mẹ tơi gánh nặng rễ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vải Tơi dụi mặt vào lưng áo người đẫm mà hơi mát một mảnh sơng đêm! Năm tháng sống xa quê tơi như người bước hụt! Cơn mơ vang tiếng cá quây tuột câu như một tiếng nắc! Âm thẳm vỡ trong tơi, âm thầm vỡ cuối nguơn” (Sơng Đáy) Cĩ thê nĩi, Nguyễn Quang Thiều đã đổi mới hơn, hiện đại hơn ở Sự mắt ngủ của lửa - tập thơ được đánh giá là dấu mốc quan trọng của sự nghiệp thơ Nguyễn Quang Thiều - so với thủa Ngồi nhà mudi bay tuổi Kết hợp giữa hiện thực
và siêu thực, Nguyễn Quang Thiều tạo ra một khơng gian biến hĩa Nĩ là khơng gian của cội nguồn được nhân bản Khơng ít nhà phê bình, nghiên cứu nhận định, Nguyễn Quang Thiều đã xây dựng được một khơng gian văn hĩa sơng Đáy, mạch ngầm chảy suốt trong thơ ơng
Ngay từ khi ra mắt độc giả, tập thơ Sự mắt ngủ của lửa đã được đĩn nhận bằng rất nhiều luồng ý kiến trái ngược nhau, giọng điệu khác lạ của nĩ
khiến những người quen đọc thơ truyền thống thấy khĩ tiếp nhận, một khơng khí tranh luận thơ Thiều sơi nổi trên thi đàn Lúc đầu Sự mất ngủ của lửa bị
một vài ý kiến chê là cịn sượng, được giải là một sự chín ép Nhưng trải qua
hàng chục năm sau, khơng thấy một giọng điệu mới nào được giải thưởng vượt
qua được cuốn đĩ, Nguyễn Quang Thiều đã đem đến thi đàn giọng điệu mới lạ,
Trang 29về hình thức là tất nhiên như ta đã biết, lạ cả về đề tài ông đề cập như Trong quán rượu rắn chăng hạn, về sức nghĩ, sức liên tưởng rộng dài, đa dạng Sự mắt ngú của lứa, dù là tập thơ thứ hai, nhưng ở tập này ông đã hoàn tat su lột
xác, bứt thoát ra khỏi dàn đồng ca, là tập thơ quan trọng nhất trong sự nghiệp
thi ca Nguyễn Quang Thiều Nhà thơ Inrasara đã nhận xét về thơ Nguyễn Quang Thiều như sau: “Nhà thơ vừa xuất hiện đã tìm thấy giọng thơ riêng, là điều hiếm Hiếm hơn nữa, khi giọng thơ đó có sức lan tỏa khá rộng Với thế hệ
đi sau ở miền Bắc, thơ Nguyễn Quang Thiều làm nên sự thể ấy” Có thê nói, sau năm 1975, giữa lúc đội ngũ đông đảo các nhà thơ trong nước còn mơ hồ, ngờ hoặc về yêu cầu cách tân thơ, thì tập thơ Sự mất ngủ cúa lứa đã cất tiếng nói khẳng định, đặt dấu mốc quan trọng khai mở dòng chảy thi ca cách tân trở
về sau Tập thơ Sự mắt ngú của lứa làm bật lên nỗi khao khát về những cuộc lên đường, được giải phóng khỏi những định chế cũ, quan niệm cũ Những liên
tưởng bất ngờ khởi đầu cho cuộc lên đường thoát khỏi cảm hứng và ám ảnh cũ:
“cán dậm chúi xuống mặt đường - những nòng súng hết đạn/ Vảy cá bám trên
áo họ lấp lánh những tắm huân chương” (Trên đại lộ); “Một cơn sốt ngôi ôm
một cơn sốt/ Những tiếng ho bình đẳng vỡ làm đôi” (Thời gian); “Thính cứ
ném xuống đời ta không ngủ `" (Khúc cắm VII),
Đối với sự phát triển trên con đường thi ca của chính mình, Nguyễn
Quang Thiều đã tự làm một cuộc cách mạng mang tính đột phá lớn Một rừng thi ca rậm đặc những hình ảnh biểu tượng mở ra, chất chứa trong nó là thứ
ngôn ngữ đầy liên tưởng mới lạ Tập thơ Sự mắt ngũ cúa lửa có tính chất mở
đường quan trọng, ghi nhận sự nỗ lực cách tân của nhà thơ trên con đường dài
đổi mới cách tư duy thơ Đặc biệt Nguyễn Quang Thiều đã cho thấy rằng thơ
ca cần làm cho đời sống quanh ta trở nên đầy đặn, sống động và mới mẻ Nguyễn Quang Thiều đã có một cuộc vượt biển thực sự trong tâm hồn mình khi ông xuất bản tập thơ Sự mắt ngú của lứa Không cần nhắc lại chúng ta
Trang 30cũng biết sự đóng góp vô cùng lớn lao của tập thơ này đối với các trào lưu thơ
ca hiện đại từ hình thức, ngôn ngữ, đến ý tưởng hiện diện trong đó Nhưng tôi khang dinh rằng sự đóng góp lớn lao nhất của tập thơ Sự mất ngú của lứa
không chỉ đối với thơ ca hiện đại nói riêng mà nó còn có tác động nhiều đến
mĩ cảm của người Việt hiện đại Và một minh chứng cho những nỗ lực cách
tân thơ của ông là sau khi tập thơ Sự mắt ngủ của lửa ra đời đã có rất nhiều nhà thơ trẻ ảnh hưởng lối viết của ông Ánh sáng của tập thơ đã lan tỏa, tác động tích cực, sâu rộng trong đời sống thơ ca Việt, gây hiệu ứng dây chuyền
Bắt đầu xuất hiện nhiều tác giả trẻ với những cách viết mới lạ, nhiều khuynh
hướng mới được hình thành Vậy, Nguyễn Quang Thiều đã đóng góp những
gì vào tiến trình đổi mới? Theo nhà thơ Hữu Thỉnh, những đóng góp đó là:
“Một từ trường thấm mĩ mới, khước từ mọi thứ thơ ca “véo von, nhễ nhại”;
Cộng hưởng nhiều luỗng ý kiến, cả tranh luận và im lặng tạo nên sự “đa
chiều, xôm tụ”; Tạo ra được một giọng điệu riêng; Nguyễn Quang Thiéu
cũng là “phù thúy” của liên tưởng tạo ra một ám ảnh trong thơ; Và cuối cùng, mỗi bài thơ đều được dán tem Nó là sự cộng hưởng của những đối lập
nhưng lại ban bồ sự bình đẳng của chỉ tiết, và đó là một hiện tượng thơ tiêu biểu cho giai đoạn hội nhập `
Từ những năm 1990, thơ Việt Nam đương đại bắt đầu có sự chuyển đổi
lớn về mặt thi pháp và có thể nói, Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ đầu tiên,
bằng những nỗ lực vượt bậc và tài năng của mình, đã xác lập một giọng điệu
mới trong thơ Việt Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nhà thơ tiên phong với trào lưu hiện đại mà còn là cây viết văn xuôi giàu cảm xúc Trong ông không chỉ có con người bay bồng, ưu tư với những phiền muộn thi ca, mà còn có
một nhà báo linh hoạt và nhạy bén.
Trang 311.2.2 Nh ng k ni ng và dấu ấn của chú nghĩa hiện dại hậu hiện đại
Trương Đăng Dung sinh ngày 8 tháng 5 năm 1954 trong một gia đình
nghèo ở Xã Diễn Trường, Huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An Là con cả trong
một gia đình thuần nông có sáu người con Mảnh đất nghèo nơi ông sinh ra với hình ảnh lam lũ của cha mẹ, của những người dân quê đã luôn ám ảnh ông trong những năm tháng đó Thông minh và ham học đã sớm cho cậu bé nghèo
có ý thức về những nhọc nhằn sớm tối của người dân quê khiến ông càng cố gắng học để vượt thoát khỏi những vất vả, nghèo khó Cùng với những năm
tháng chiến tranh, hình ảnh những bà mẹ, những em bé chịu nạn, hi sinh bởi
chiến tranh luôn in đậm trong tâm trí ông Khiến trái tim nhạy cảm, hồn hậu của một đứa trẻ thơ như ông cũng luôn bị ám ảnh Có lẽ những vần thơ buồn đau, khắc khoải trong thơ ông cũng chính là bắt nguồn từ những hiện thực nghèo đói, chiến tranh mà ông tận mắt chứng kiến ngay tại quê hương mình Mười tám tuổi lần đầu xa quê hương gia đình, học tập tại Hungary, nơi những luồng tư tưởng triết học phương Tây vẫn thổi qua trong suốt chiều dài
lịch sử Ở đây ông được học tập, nghiên cứu một cách bài bán nền học thuật
Âu châu Cũng tại Hungary, ông đã có điều kiện tiếp cận với khuynh hướng
sáng tác hiện đại, hậu hiện đại Trương Đăng Dung thừa nhận ông chịu ảnh
hưởng nhiều từ Martin Heidegger, Franz Kafka, về triết học hiện sinh Bắt đầu làm thơ từ những năm còn là sinh viên đại học nhưng những sáng tác của
ông đã xuất hiện những yếu tố của hậu hiện đại Là người ham mê triết học
nên tư tưởng triết học ăn sâu trong những sáng tác của ông Trong cuộc sống ông luôn quan niệm đích đến không quan trọng bằng quá trình đến, cuộc sống chỉ có nghĩa khi người ta cấp cho nó ý nghĩa
Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy khi viết lời tựa cho tập thơ cũng đã nhận xét
thơ Trương Đăng Dung có không khí hậu hiện đại: “7hời gian thơ Trương
Trang 32Đăng Dung là thời gian bên trong con người, thời gian chính là con người, hay nói nhự M Heidegger, một triết gia mà Trương Đăng Dung sùng mộ, ton tại và thời gian, tôn tại là thời gian Có lẽ, chính thứ thời gian có tính kiến tạo này đã làm cho mọi sự trên đời này đểu mang tính quy ước, đểu là sự thỏa thuận của ngôn ngữ, đúng hơn của trò chơi ngôn ngữ Thơ Trương Đăng Dùng hẳn vì thế mà có không khí hậu hiện đại” [10, tr 10] Những yếu tố của
hậu hiện đại xuất hiện trong thơ Trương Đăng Dung cứ hiện diện một cách tự
nhiên không một chút sống sượng Ông không gồng mình lên đề trưng bày những yếu tố hậu hiện đại trong thơ mình mà mỗi dòng thơ, câu thơ đều cho người đọc thấy được tỉnh thần hậu hiện đại Cấu trúc mảnh vỡ, lắp ghép, giéu
nhại, lỗi diễn đạt mới lạ mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại đã xuất
hiện trong thơ Trương Đăng Dung
Cái gọi là cảm quan, tâm thức hậu hiện đại mà chúng ta hay nhắc đến
nhiều trong những năm đầu thế ki XXI, thì đã hiển lộ nơi những bài thơ được
Trương Đăng Dung viết và công bố cách đây khoảng ba mươi năm về trước Trong bài thơ Những kỉ niệm tưởng tượng, những hình ảnh của quá khứ, hiện tại và tương lai đan xen nhau Đó là quá khứ của “một ngày tháng Năm năm 1054”, hiện tại “sáng nay em gái tôi đột ngột ra đời” và tương lai bất định “có lẽ một ngày kia chúng sẽ trở về mang theo nhiều xương ống” Một quá khứ với những hình ảnh của chiến tranh khốc liệt, một tương lai mờ mịt
con người không biết đi đâu về đâu Trong bài thơ này sự đồng hiện về thủ
pháp dán ghép không gian - thời gian và sự dịch chuyển điểm nhìn, tác giả hiện lên như một nhà quay phim lão luyện đang dàn dựng thi giới độc đáo của mình Trên thế giới này, không có nỗi đau nào của riêng ai, Trương Đăng Dung đã xóa nhòa ranh giới giữa các quốc gia dân tộc khi Tôi và Anh “cùng nhau thấy” Không chỉ sử dụng thủ pháp dán ghép, phân mảnh, nhiều bài thơ
trong tập như: “Có một thời/ đến bữa cơm mẹ ngồi đợi vét nôi/ răng mẹ rụng
Trang 33lúc nào không biết nữa” (Có một thời); “Những nhà thơ chống gậy đứng
cười/ trước những con trâu mông dính đây mạng nhện” (Chân trời); và tiêu biểu nhất là bài Giấc mơ cúa Kafka còn có yêu tố giễu nhại Ta hãy đọc bài
Giấc mơ của Kafka, tất cả đều là những hình ảnh kì lạ, phi lí một cách không
thể tưởng tượng nồi Chúng giống như một sự lộn trái logic thông thường của
thế giới và của trật tự các sự vật Xã hội càng phát triển về kinh tế thì sự tiến
bộ xã hội càng thụt lùi Tại đấy con vật làm những công việc của con người,
còn con ngudi thi “ndm ngdp”, di cho ta thấy sự giễu nhại của tác giả về một thế giới phi lí
Nhiều lúc Trương Đăng Dung còn lạ hóa thời gian, tạo ra một thứ thời gian phi lí Thời gian của những kỉ niệm tir mot ngay “thang Nam nam 1054” (Những kỉ niệm tưởng tượng); của cuộc gặp gỡ “hai mươi ba ngàn năm” (Có thế); đến khoảnh khắc đời người trong (Ba mươi năm hay ba triệu năm rồi); “Anh không biết dòng sông trôi về đâu/ Bốn mươi sắu ngàn năm nữa” (Có thể), Trong thơ ông chúng ta thường bắt gặp khoảng thời gian dài hàng trăm năm, triệu năm mà theo ông thì thời gian dài hay ngắn không quan trọng
mà quan trọng là ý nghĩa, là chất lượng cuộc sống Một ngày, một tháng, một năm cũng như một đời người vậy, bởi vì đối với Trương Đăng Dung khoảnh khắc tự nó đã mang những yếu tố của vĩnh hằng Đôi khi một khoảnh khắc lóc lên cũng đủ ý nghĩa cho một cuộc đời dài dặc: “Anh cảm nhận thời gian qua từng giọt nước/ Hai mươi ba ngàn năm trong giọt nước mắt này” (Có thê) Kiểu thời gian này còn mang ý nghĩa giễu nhại, có tác dụng giúp người đọc hình dung được sự vô nghĩa của cuộc đời và cảm nhận được hết nỗi cô đơn trống vắng của kiếp người trong cuộc nhân sinh Con người thơ Trương Đăng Dung đã sống rất lâu hàng nghìn năm vẫn thấy cuộc đời là vô nghĩa lí thì khoảng thời gian mấy mươi năm trong giới hạn ngắn ngủi một đời người có gì đáng kể Có thé thấy kiểu tư duy của Trương Đăng Dung khá lạ với nền tảng
Trang 34tư duy của Việt Nam Những hình ảnh và sự liên tưởng hình như mang nhiều dấu ấn của Âu châu: hình ảnh con quạ, lâu đài chỉ có cảnh dơi, góc vườn và máy khóm hoa, Chúa đã ra đi, Jê su đi trên mặt nước, Giác mơ của Kafka,
đều có nguồn gốc từ phương Tây nơi mà trái tim và khối óc Trương Đăng Dung đã được tôi luyện và gắn bó suốt mười lăm năm Điều đó góp phần làm nên nguồn sinh lực thi ca khác biệt với truyền thống của Trương Đăng Dung Thi giới của Giáo sư Trương rất ít các thể loại truyền thống, ít liên tưởng và
sử dụng ấn dụ Phần lớn Trương Đăng Dung sử dụng biểu tượng tượng trưng
với hàm ý đẩy tất cả lên trên cùng bể mặt, tạo nên tính đa diện của hình
tượng, thay vì sử dụng nghĩa bóng như thủ pháp ấn dụ truyền thống Có thể nói, Trương Đăng Dung đã ý thức cao độ về con chữ, thi ảnh của mình Bởi thế, thi pháp của ông là thi pháp của một thi sĩ triết gia với một công phu cần
trọng Ông làm thơ như làm khoa học và sự đòi hỏi ở đây là tính chất chặt chẽ của ý niệm, tư tưởng, cách thức và phương tiện biểu đạt Về nghệ thuật biểu đạt trong tập thơ, đặc biệt trong bài thơ Thỏa thuận, có thể nói theo kiểu biểu
đạt đó, thơ Trương Đăng Dung sẽ chỉ có một mà vô cùng riêng biệt của thơ đương đại Việt Nam Trương Đăng Dung có lỗi biểu đạt rất giản dị nhưng cũng rất mới mẻ Lời thơ của ông thiên về kể, nhưng ông không kể tràn lan, ông chỉ điểm nhãn một số hiện tượng nổi bật mà ông đã trải nghiệm và chứng kiến trong đời nhưng không làm mất vẻ đẹp hàm súc vốn là đặc tính của thơ Câu chữ của Trương Đăng Dung vừa giàu tính biểu tượng lại vừa giàu sức gợi cảm Như Nguyễn Trọng Đức đã nhận định: “Với Trương Đăng Dung, thơ chỉ đơn giản là một trò chơi ngôn ngữ” [2l] Trong trò chơi ngôn ngữ này, tác giả như đang tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, như một cách để tạo nghĩa cho chính thế giới mà con người tồn tại trong đó Người đọc cũng mải miết nhập cuộc vào trò chơi ngôn từ của ông Trương Đăng Dung đã có cách tổ chức hợp lí cho người đọc tham gia trò chơi này khi ông mở nút cho
Trang 35những tác phẩm của mình bằng cách lánh mặt đi sau mỗi câu hỏi thông thường để người đọc cùng tham gia vào quá trình lí giải Trong mỗi bài thơ, tác giả là người mở ra và cũng là người khép lại, và quá trình khép lại đó nhà
thơ “vay gọi người đọc đến thám mã và đông sáng tạo” [10, tr 1T]
Đọc nhiều lần tập thơ của Trương Đăng Dung, quả là tôi không thể dễ
dai và chủ quan đề hiểu từng bài thơ một cách tức thì Bài nào cũng có tư duy
lạ, như nhiều người vẫn nói là thơ ông kén người đọc Sự liên kết các hình ảnh và câu chữ, ý tưởng thường là không tuân theo logic thông thường mà
được chỉ đạo bởi tư duy lấp ghép - nghệ thuật rất độc đáo theo kiểu thơ hậu hiện đại thế giới Nó như là sự cắt dán những vỡ vụn, rời rạc tạo thành những đối lập: đối lập về hình ảnh, về câu chữ, về nghĩa, về kiểu tư duy, để làm
bật lên những lượng thông tin thẩm mĩ bắt ngờ Nhà thơ lớn thời hiện đại của Việt Nam - Chế Lan Viên có nói đại ý: nhà thơ càng độc đáo thì thường nói những cái vô nghĩa nhưng là sự vô nghĩa hợp lí, thoạt đầu ta không hiểu được chúng nhưng cảng nghĩ và đi sâu vào bên trong của những liên tưởng, hình ảnh, câu chữ thì dần dần ta tìm ra được ý nghĩa ấn chìm của chúng Và khi ấy,
sự thỏa mãn nhận thức của người đọc được đáp đền Với ý nghĩ như vậy, tôi
nghĩ thế giới nghệ thuật thơ của Trương Đăng Dung là một hiện tượng mới lạ của thơ Việt, cần phải được soi rọi, tìm hiểu từ những thao tác, tư duy nghệ thuật hiện đại; tránh lối cảm nhận truyền thống thì mới hiểu được tư tưởng của tập thơ Các yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại đã được Trương Đăng Dung lựa chọn tiếp biến ở nhiều cách thức và mức độ khác nhau, nhưng hầu hết nhà thơ đều muốn làm mới tư duy thơ của mình
Trong hơn ba mươi năm qua tính từ thời điểm sau năm 1975, thơ ca
Việt Nam đã đi được một đoạn đường dài trên con đường hiện đại hóa, hội
nhập với thơ ca nhân loại Trên hành trình phá bỏ logic nghệ thuật truyền
thống để tìm sự cách tân, sáng tạo, thơ ca Việt Nam đã giành được nhiều bước
Trang 36tiến đáng kể Hành trình phát triển của thơ, theo đó cũng là một hành trình hướng đến sự hoàn thiện về thi pháp nhưng không bằng cách tự đóng mình trong cấu trúc của thi pháp truyền thống mà linh hoạt vượt lên truyền thống tạo nên những cách tân mới mẻ cả về nội dung và nghệ thuật Trong đó, đặc biệt là sự xuất hiện của Nguyễn Quang Thiều và Trương Đăng Dung là hai cây bút xuất sắc của nền thơ ca đương đại với những cách tân mới lạ và độc đáo.
Trang 37C MTH CNGH THU TM IVAH TH NGBI NG
TRONG SU MAT NGU CUA LUA VA NHUNG KI NIEM TUONG TUONG
2.1.1 Cám thức về tình yêu
Tình yêu - câu chuyện ấy chưa bao giờ vơi trong nguồn thi hứng của nhân loại Là dé tài phổ biến trong thơ ca - hầu như không nhà thơ nào là không đề cập đến chữ tình: tình non nước, tình quê hương, tình bằng hữu, đặc biệt tình đôi lứa bởi tình cảm yêu thương, mong chờ, hờn giận vốn là thuộc tính con người Viết về tình yêu, mỗi người có cách thể hiện và mức độ yêu khác nhau nhưng riêng đối với các nhà thơ thì có lẽ tình yêu trở nên mãnh liệt hơn vì họ là những người nhạy cảm nhất Như nhà thơ Trương Đăng Dung đã từng chia sẻ trong một bài phỏng vấn: “Đa ñình là phẩm chất của loài người Không có nó thì trái đất ngừng quay và loài người tuyệt chủng! Bạn thứ hình dung thế giới này sẽ ra sao nếu đàn ông và đàn bà chỉ gườm gườm nhìn nhau? Không phải ai đa tình cũng làm thơ, nhưng đã là nhà thơ thì thường đa tình Vấn đề là người ta “ứng xử” ra sao với phẩm chất này” Tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều thường hướng đến những khắc khoải của những cặp tình nhân khao khát yêu nhưng ít khi trọn vẹn: “Fzn
đã mang đôi môi màu dâu chín sang đò một ngày sông vắng nước” (Sông
Day); C6 thé thay, Nguyén Quang Thiều cũng không mái miết chạy theo
những chủ đề gây sốc như tính dục giống như những nhà thơ trẻ đương đại, nhưng thơ ông cũng có không ít những câu thơ tinh tế và khoáng đạt về chủ
đề này: “Em nằm nghiêng trong đêm/ Như con thuyên cô đơn nép mình trên bến cát Tôi cởi do mình ra căng một cách buôm ” (Cánh buôm), “Tôi nhớ áo
em tuột rơi trên bến kín một trăng xưa” (Sông Đáy) Trong bài thơ Những ngôi sao, nhà thơ miêu tả tình yêu gắn với những khoảng cách, giới hạn về
Trang 38vật chất Bài thơ mở đầu bằng câu thơ: “Ta không thể nuôi nhau bằng những ánh sao trời ”, nhà thơ đã nói rất chân thành với người yêu, “anh” không giấu giếm “em” điều gì, vì vậy “xin em đừng khóc”, tại đây thơ Nguyễn Quang Thiều đã không còn cái mơ mộng, lãng mạn của thời Thơ mới nữa mà nhà thơ
dám nhìn thắng vào sự thật và nói thật và đó cũng chính là tâm thức của thời
đại “nhìn thẳng, nói thật”: “Ta không bao giờ lừa em/ Không bao giờ lừa em” (Khúc cảm VII) Nguyễn Quang Thiều đã chỉ ra một trong những tâm trạng phổ biến nhất trong tình yêu là ý thức về khoảng cách, cái khoảng cách vừa hữu hình vừa vô hình, cái khoảng cách không dễ mất đi ngay cả lúc tinh yêu nồng thắm nhất Cũng rất khó để chỉ ra hết những nguyên nhân tạo nên những khoảng cách trong tình yêu Vì “anh”, vì “em” hay vì cuộc đời chung? Nguyễn Quang Thiều không muốn trách ai, không muốn tìm những nguyên nhân khách quan Tác giả đến với tình yêu bằng tắm lòng chân thực và cũng rất chân thành Sự cách biệt trong tình yêu giữa “anh” và “em” như kéo dài trong không gian và thời gian vô tận, tình yêu đẹp lung linh như những ánh sao trời nhưng nó cũng rất đỗi xa xôi, cách trở mà anh không bao giờ với tới:
“Những ngôi sao tuyệt vời nhưng anh không tới ược/ Chẳng bao giờ anh hái
được cho em ` (Những ngôi sao) Không đến được với nhau một cách trọn
vẹn theo đúng nghĩa của tình yêu nhưng Nguyễn Quang Thiều cũng không bi quan chán nản Thơ Nguyễn Quang Thiều là sự kết hợp đồng thời những nét duyên dáng nữ tính của thơ ca với sức mạnh đầy nam tính của văn xuôi Tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều không có sự rên rĩ, rên xiết, cũng không phải thứ tình yêu quá cao siêu, quá lí tưởng Nhà thơ mong muốn tìm sự hòa hợp giữa hai tâm hồn: “Đêm hoang sơ chỉ có đôi ta/ Không cơm áo cửa nhà ngôi ôm nhau run rấy” (Những ngôi sao) Ai khi yêu mà không mong muốn
có thể mang đến cho người mình yêu một cuộc sống đủ đầy hạnh phúc? Nguyễn Quang Thiều luôn mong muốn cho người mình yêu được hạnh phúc,
Trang 39nhưng dường như nhà thơ không đủ can đảm để vượt qua thử thách Dù còn nhiều khó khăn, cách trở nhưng tình yêu vẫn làm cho con người thấy có niềm tin vào cuộc sống, họ vẫn nhen nhóm vào một tình yêu đủ đầy trong tương lai:
“Với hơi thở của người vừa ốm dậy/ Ta ôm nhau ngước mắt gọi sao trời” (Những ngôi sao) Trong Sự mắt ngú của lứa có khi nhân vật trữ tình hiện lên là một chàng trai thất tình, đau khổ, bi bé roi: “tng dy năm và từng ấy
năm ” (Khúc cảm VII), cầu thơ “từng ấy năm” lặp lại như một điệp khúc
nhức buốt, mỏi mòn đợi chờ người yêu nhưng rồi cũng trở nên vô vọng Nhân vật trữ tình ví tình yêu của mình như chiếc lưỡi câu bị bỏ quên đau khổ, tình yêu đã trở nên xa vời, ngoài tầm với của “anh”, “anh” không thể giữ lại được
“em” cho riêng mình, “em” chạy trốn “anh”, vùng vẫy khỏi bàn tay “anh”:
“Em quấy trong tay ta như một con cá/ Rồi bỏ ta chạy vào lỗi ngõ không trăng/ Như cá thoát câu chạy rúc xuống bùn/ / Từng ấy năm và từng ấy năm/ Ta nằm trong đêm co quấp/ Ta là chiếc lưỡi câu bị bỏ quên đau khổ”
(Khúc cảm VI) Mặc dù bị tình yêu của “em” ruồng bỏ, “em” ra đi để lại
trong lòng “anh” nỗi niềm đau xót, nghẹn ngào: “Chỉ mang cá thở dồn làm ngực ta tắc nghẹn/ Chỉ đuôi cá mềm quấy tung nước làm bỏng rát mặt ta” (Khúc cảm VĩT), nhưng tình yêu của “anh” dành cho “em” vẫn thủy chung son sắt, chàng trai một mực hướng về người mình yêu, và chỉ với “em” thì cảm xúc tình yêu trong “anh” mới được hồi sinh: “Chỉ đợi rưn lên trước đôi môi em” (Khúc cảm VI) Nguyễn Quang Thiều là người bộc lộ được khá nhiều tâm trạng của tình yêu lứa đôi, một mặt tình yêu gắn với những cảm
xúc và khát vọng về hạnh phúc của cá nhân; mặt khác tình yêu trong thơ
Nguyễn Quang Thiều thường gắn với những giới hạn về khoảng cách, những cách trở tinh thần Và hầu hết đều là những cuộc tình dở dang, những mối tình
li biệt, khi “anh” trở lại thì “em” đã sang ngang để lại trong lòng “anh” một nỗi niềm nhớ tiếc và lưu luyến khôn nguôi Những mối tình trong thơ Nguyễn
Trang 40Quang Thiều không phải là những hình ảnh tươi đẹp của hiện tai, ma tat cả
chỉ là những kỉ niệm: “7ø khắc khoải hình dung khuôn mặt em mà không sao
nhớ nổi ” (Khúc cảm VHI) Có lš như một câu thơ tiền chiến: “Đời mắt vui lúc
đã vẹn câu thờ/ Tình chỉ đẹp những khi còn dang dé” (Ngập ngừng, Hồ Dzénh), nên các bài thơ tình của Nguyễn Quang Thiều đều viết về quá khứ với những tình cảm đẹp mà cũng rất buồn, xót xa, tê tái tận đáy lòng Trong
Quang Thiéu đã chia sẻ: “Tôi không thích thơ tình lắm Tôi hẳu như chỉ viết đôi ba bài thơ tình mặc dù hình bóng người đàn bà thường hiện lên trong tôi” Vì vậy trong tập thơ Sự mắt ngú của lứa chúng ta cũng có thé thay mảng thơ tình không được ông chú ý nhiều Có thể thấy, chủ đề chung của các bài thơ về tình yêu trong Sự mắt ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều
là sự chia li, cách trở, không trọn vẹn
Nỗi buồn trong thơ tình của Nguyễn Quang Thiéu nói lên đúng những tâm trạng rất chân thật và đời thường trong đời, trong thơ Tình yêu với ý nghĩa chân chính và cao đẹp không dễ dàng có thể với tới được Và nếu có thì bảo vệ cho được tình yêu đó cũng rất khó khăn Cũng vì thế mà trong suốt
những bài thơ tình của Nguyễn Quang Thiều, ông vẫn thường xem mình là
người “thua cuộc”; không bao giờ chủ quan nói lên sự thắng thế của mình trong tình yêu Biết trân trọng và nâng niu cái Đẹp bao giờ cũng là dấu hiệu nói lên sức mạnh tinh thần của những người đang yêu và biết yêu
Đến với Sự mắt ngú cúa lứa, tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều
không còn là những dư vị thơm mát cỏ hoa của mối tình đầu bén lẽn như
trong Ngồi nhà mười bảy tuổi Cùng với những thức nhận về đời sống và những trải nghiệm cá nhân, tình yêu trong thơ ông cũng không còn êm đềm, mượt mà nữa mà thay vào đó là những trắc trở trong đời sống hiện đại mà người thơ phải vượt qua Không viết nhiều về tình yêu, nhưng tình yêu hiện