1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách tân nghệ thuật trong thơ lê đạt

108 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 878,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, khám phá cách tân trong thơ Lê Đạt không chỉ giúp cho người đọc các thế hệ hiểu thêm về một điển hình tiêu biểu của thơ Việt Nam hiện đại mà còn thấy được sự uyên thâm, ảo diệu v

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

BÙI PHƯƠNG UYÊN

CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LÊ ĐẠT

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, năm 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Bùi Phương Uyên

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Bố cục luận văn 8

CHƯƠNG 1 LÊ ĐẠT – HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT 9

1.1 LÊ ĐẠT – NGƯỜI THƠ “KHÔNG BIẾT LỐI VỀ GIÀ” 9

1.1.1 Cuộc đời 9

1.1.2 Những chặng đường thơ 10

1.2 NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT 13

1.2.1 Làm thơ là làm chữ 13

1.2.2 Thơ phải là tác phẩm mở (The open work) 21

1.2.3 Nhà thơ là “phu chữ” 26

CHƯƠNG 2 CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LÊ ĐẠT NHÌN TỪ CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT 31

2.1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH 31

2.1.1 Kiến tạo những biến tấu mới cho cái tôi sử thi 31

2.1.2 Tạo sinh cái tôi trữ tình đa ngã 35

2.2 BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT 47

2.2.1 Sáng tạo những biểu tượng nghệ thuật độc đáo 47

2.2.2 Mở rộng biên độ nghĩa của các biểu tượng 53

CHƯƠNG 3 THƠ LÊ ĐẠT – CUỘC TRÌNH DIỄN LẠ CỦA NGÔN NGỮ VÀ THỂ LOẠI 59

3.1 MỘT “LOGIC KHÁC” TRONG HỆ HÌNH NGÔN NGỮ THƠ 59

Trang 4

66

3.1.3 Xây dựng cấu trúc bất định và gián đoạn 72

3.1.4 Biến tấu từ láy 77

3.2 MỞ RỘNG ĐƯỜNG BIÊN THỂ LOẠI 82

3.2.1 Pha trộn thể thơ và đổi mới cách gieo vần 82

3.2.2 Khai sinh các thể thơ mới 87

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thơ ca có nhiệm vụ đẩy xa hơn những giới hạn ràng buộc nó để mở ra một lộ trình mới cho những trải nghiệm riêng tây Chính vì thế, đổi mới, cách tân trở thành thuộc tính của thơ và là nhu cầu tự thân trong quá trình vận động của một nền thơ Cùng với nhu cầu hằng cửu ấy, sự mở rộng giao lưu văn hóa

đa chiều đem đến nhiều kinh nghiệm nghệ thuật mới và tạo nên những bước đột phá táo bạo trong lối viết của các nhà văn, nhà thơ Là loại hình nghệ thuật năng động, tiên phong trong cách tân, thơ Việt Nam hiện đại nỗ lực rất lớn khi vượt qua những hệ quy chiếu cổ xưa để thay đổi diện mạo Trong quá trình tìm tòi, thơ dần hình thành nhiều chi lưu mới với những gương mặt nghệ

sĩ đầy cá tính Cùng với Trần Dần, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Lê Đạt đã mở ra một “miền khí hậu riêng biệt” [12, tr 245] cho

vương quốc thi ca Bốn tập thơ Bóng chữ, Ngó lời, U75 Từ tình và Đường chữ

mang lại sự vượt ngưỡng đáng kể cho Lê Đạt trong việc “xây dựng nền dân chủ chữ chống lại đặc quyền của ý” [11, tr 297]

Với Lê Đạt, việc khám phá và giải mã lớp “địa chất hiện sinh” [4, tr 62] dưới mỗi con chữ là niềm đam mê khôn cùng trên con đường làm mới mình

và làm mới thể loại Từ niềm đam mê, ấp ủ và ý thức cách tân sẵn có ấy, nhà thơ đã tạo ra ngôn ngữ sống cho thơ – những con chữ tinh khôi, trinh nguyên, những con chữ “nảy mầm” (Andre Breton) Có thể khẳng định, thơ Lê Đạt chính là một hiện tượng ngôn ngữ sống động với những tương quan mới, trường ngữ nghĩa mới để người đọc tham dự phát nghĩa với thơ

Mọi cuộc cách tân văn học chỉ đạt được thành tựu mong muốn khi hội đủ hai điều kiện: tiếp nhận chu đáo các trường phái văn học hiện đại trên thế giới

và nắm vững phát huy truyền thống văn nghệ của dân tộc Điều đó có nghĩa, thơ Lê Đạt thực sự là một kì công bởi trong quá trình nỗ lực tìm lối đi mới với

Trang 6

ý thức cách tân quyết liệt, nhà thơ vẫn giữ được “trí nhớ” [33, tr 17] , kí ức nghệ thuật của dân tộc Thơ Lê Đạt chính là “cuộc đối thoại trường kỳ và khả sinh giữa truyền thống và hiện đại” [12, tr 47] Vì vậy, khám phá cách tân trong thơ Lê Đạt không chỉ giúp cho người đọc các thế hệ hiểu thêm về một điển hình tiêu biểu của thơ Việt Nam hiện đại mà còn thấy được sự uyên thâm, ảo diệu và tài năng ngôn ngữ bậc thầy của Lê Đạt

Thơ Lê Đạt chính là “tự truyện của một khát vọng” [33, tr 77] – khát

vọng thu hẹp, rút ngắn và san bằng khoảng cách giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận Mỗi bài thơ của Lê Đạt là một ngã tư chữ với biên độ mở vô

hạn chờ đợi người đọc dám chiếm lĩnh Vì vậy, việc nghiên cứu Cách tân

nghệ thuật trong thơ Lê Đạt là cách để chúng tôi nhận diện vị trí, tầm ảnh

hưởng của gương mặt thơ tiêu biểu này trong khuynh hướng cách tân thơ Việt hiện đại đồng thời khẳng định những nỗ lực bứt phá đầy sức lôi cuốn của người “phu chữ” [12, tr 246]

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nửa sau những năm tám mươi của thế kỉ XX, khi văn học bước vào thời

kì đổi mới, nhiều hiện tượng trong quá khứ được nhìn nhận cởi mở, công bằng hơn Trong không khí sôi nổi, dân chủ ấy, nhà thơ Lê Đạt cũng được

phục hồi tư cách hội viên Hội nhà văn và quyền xuất bản (năm 1988) Từ đây,

quá trình tìm hiểu, giới thiệu tác phẩm Lê Đạt bắt đầu thu hút nhiều sự quan

tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước

2.1 Những công trình nghiên cứu về thơ Lê Đạt

Liên quan đến nhà thơ Lê Đạt, chúng tôi tham khảo khá nhiều tài liệu Trong số những tài liệu tìm được, chúng tôi chú ý đến những công trình sau:

Cuộc đời và thơ Lê Đạt được tái hiện khá rõ nét trong bài viết Đọc lại Bóng chữ của Lê Đạt (Đỗ Ngọc Thạch) Chặng một (1955 – 1958) thơ ông

gây sốc về nội dung và mới lạ về hình thức do học theo thơ leo thang của

Trang 7

Maiakovski Chặng hai (1958 - 1988) là quãng thời gian nhà thơ bắt đầu hành trình lần tìm vô thức thông qua việc giải phóng ngôn ngữ “Anh ta sinh sự với ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra một sự sinh mới cho thơ, biến ngôn ngữ tiêu dùng thành ngôn ngữ trò chơi trng một trạng thái nửa tỉnh nửa mơ mà

R.Barthes gọi là một sự chú ý bồng bênh (attention flottante)” [53] Chặng ba

(1988 – 2008), nhà thơ đưa ra tuyên ngôn về quyền dân chủ của chữ

Với bài viết Thơ Hai câu Lê Đạt [23, tr 219], Vân Long giới thiệu đến

người đọc mỹ vật thơ Hai câu – một sự tìm tòi kỳ khu từng chữ của nhà thơ

trong tập Ngó lời

Gần đây, Nguyễn Hữu Vĩnh đã nghiên cứu Tư duy nghệ thuật thơ Lê Đạt qua tập Bóng chữ trên ba phương diện: Tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật thơ Lê Đạt, Các kiểu tư duy nghệ thuật thơ Lê Đạt qua tập Bóng chữ và Hình thức thể hiện tư duy nghệ thuật thơ Lê Đạt qua tập Bóng chữ [36] Luận

văn đã khai thác nét đặc trưng trong tư duy thơ Lê Đạt, kiểu tư duy lạ hóa, đa

trị, đối thoại và nhận định Bóng chữ là thơ duy ngữ nên chữ là yếu tố cơ bản

biểu hiện tư duy nghệ thuật của nhà thơ Tác giả luận văn đã tìm được khá nhiều thủ pháp nghệ thuật (thủ pháp tạo từ, phá vỡ tuyến tính của ngữ pháp, biện pháp ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ…) thể hiện kiểu tư duy đặc trưng của nhà

thơ trong tập Bóng chữ

Ngoài ra, chúng tôi còn được tiếp cận với khá nhiều bài viết về Lê Đạt

và tác phẩm của ông trong Hội luận Thơ Lê Đạt và thơ Việt Nam hôm nay Hội luận được mở ra nhằm mục đích tưởng niệm thi sĩ quá cố Lê Đạt - người

từng có cuộc đời và tác phẩm đã trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần tự do và cách tân thơ Việt

Tác giả Nguyễn Văn Thọ đã khẳng định trong vài viết Lê Đạt, dăm điều muốn nói như sau: “Thơ ông không lẫn vào ai, rất gợi, tạo nhiều tầng ngữ

nghĩa ở sự đan cài những cặp từ, hai và ba nối nhau Thơ ông, tạo nên những

Trang 8

hình ảnh đẹp, gợi, lạ mà vẫn giữ đầy tiếng nhạc đinh đong, ngân mãi trong

những người yêu thơ ông” [56]

Thái Kim Lan với bài viết Về dịch ngược, về thơ Lê Đạt cũng nhận định

rằng: “Mọi biến đổi đều bao hàm phủ định nội tại như một điều kiện sáng tạo

để thoát xác Thơ Lê Đạt cưu mang trong chất thơ của nó tính chất phủ định

ấy để nhập hóa chất mới Cảm hứng của ông về ngôn từ thi ca mà ông tự cho

là dấu hiệu của “bất lực” là một lực đẩy cho những sáng tạo và cảm hứng

thưởng thức “thơ” của ông trong dòng Thơ Việt Nam” [47]

Đặc biệt, ở bài viết Trạng thái thơ Lê Đạt, tác giả Trần Thiện Khanh đề cập đến hai trạng thái “chữ bụi” và “bóng chữ” đồng thời đề cao “sự lên ngôi của con chữ” trong thơ Lê Đạt Ngoài ra trong Lê Đạt tư duy về thơ, tác giả

cũng đưa ra ý kiến như sau: “Mảnh đất thơ của Lê Đạt không thật rộng, nhưng ở đó ẩn giấu cả một quặng nghĩa Lê Đạt không vơ vào thơ tất cả xương cốt của chữ, tức xác chữ Ông lấy cái hồn của chữ, cái bóng sáng của

chữ để làm nên giá trị cho câu thơ, bài thơ” [44]

2.2 Những công trình nghiên cứu về vấn đề cách tân nghệ thuật trong thơ Lê Đạt

Bài viết Lê Đạt với giấc mộng cách tân thơ Việt của Nguyễn Việt Chiến

đã khẳng định cách tân trong thơ Lê Đạt thực chất là cách tân về chữ, là “cuộc chơi của nhà phu chữ” [39] So với Trần Dần thì Lê Đạt cách tân theo một hướng khác, “ông cố gắng đưa ra một hệ thống mỹ cảm mới trong sự cách

điệu những con chữ” [39]

Nhà phê bình Đặng Tiến trong Thơ, thi pháp và chân dung đã phát hiện

thơ Lê Đạt là những chữ “lạ hơi nhà”, “trong một văn phạm ngày còn ngái mộng” [35, tr 314] Thơ Lê Đạt dù cầu kì đến đâu cũng không thoát khỏi bốn cạnh ô vuông: “Lê Đạt khai thác triệt để khả năng văn học của ngôn ngữ về hai mặt từ hệ (pradigne) và từ tổ (syntagme), lịch đại (diachronie) và đồng đại

Trang 9

(synchronie)” [35, tr 288] Ngoài ra, Đặng Tiến còn thừa nhận chất dân tộc,

hồn dân tộc “phất phơ” trong những câu thơ tân kì của Lê Đạt Một vấn đề cụ

thể cần được nhắc đến trong Bóng chữ là “nét u mặc” (humour), những điển

tích điển cố, phép đảo ngữ, ẩn ngữ, tính đa nghĩa của từ vựng, cấu trúc đồng dao…

Trong Mã thơ Lê Đạt, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy chỉ ra ở Lê Đạt một sự

khai nguyên ngôn ngữ mới, tìm ra cách phát nghĩa mới cho chữ, ông gọi đó là

“chữ đanh thổi lửa” [58] Chữ trong thơ Lê Đạt là những chữ đa nghĩa, có nhiều bóng đổ vào nhau, lồng vào nhau tạo thành sự tán xạ, nhòe nghĩa

Đỗ Lai Thúy còn dành tâm huyết của mình cho Lê Đạt với bài viết Lê - Đạt - chữ Nhà phê bình cho rằng, chữ là trung tâm trong thơ Lê Đạt, “là bàn

tay nối dài tư tưởng” “Sự đổi ngôi chữ - nghĩa này, là một cuộc cách mạng ngôn ngữ thơ thật sự” [12, tr 281] và cũng là một cuộc cách mạng hệ hình ngôn ngữ

Với Cấu trúc cách ly trong Ngó lời của Lê Đạt, Thụy Khuê nhấn mạnh

đến tầm quan trọng của những biến tấu sóng ngang, sóng chéo, xiên, trên, dưới, ngang, dọc giao nhau trong thơ Lê Đạt Thụy Khuê nhận định “Hành động cách ly và tạo sinh con chữ, đem nó ra khỏi từ trường liên tục của những câu thơ có văn phạm, ở đây không chỉ là sự cách tân hình thức ngôn ngữ thơ,

mà còn là sự thực hiện tự do và cũng là một cách tìm mình, tìm đến tận nguồn của những cô đơn gián đoạn trong sự sống, tìm cách hồi sinh những phút giây sáng tạo hiếm hoi trong đời để kết thành một xâu chữ - tình - thoát khỏi sự hủy diệt của thời gian” [18]

Ngoài ra, trong Cấu trúc thơ, ở chương XV, Thụy Khuê cũng đi sâu nghiên cứu Bóng chữ, tuyên xưng đây là thơ tạo sinh – một dòng thơ phức âm

đa tầng, mang sắc thái đa ngã (Le moi multiple) Bóng chữ là cạm bẫy những

con chữ, nhập nhòa, chập chờn hư thực những hình ảnh cắt nghiêng, chồng

Trang 10

chéo Bài viết đã đề xuất những nhận định xác đáng về cấu trúc thơ Lê Đạt

“Rời bỏ hình thức thẳng (forme linéaire) sang hình thức nổi (typographique),

đi vào cấu trúc không gian, không vần (non vers), đảo lộn ngữ pháp cổ điển: cắt chữ, phân câu theo một trật tự mới Phong cách này bắt nguồn từ quan niệm thẩm mĩ và triết lý gián đoạn, đối lập với quan niệm thẩm mĩ liên tục trong văn chương và trong cuộc sống, hiện diện trong thơ văn từ trước đến

giờ” [45, tr 86]

Trong bài viết Nhà thơ Lê Đạt: Bóng chữ đổ lên cuộc đời, Hồ Viết Thịnh

nhận định Lê Đạt để lại cho thơ Việt những luồng gió mới “Ông chở chữ như người ta khai mở một vùng đất mới, phát hiện ra một không gian khác, hoặc thám mã thêm một tầng vô thức”, “Chữ nghĩa với ông là một cuộc vật lộn tựa như anh nông dân xới tung từng vạt đất cằn khô” [57]

Khám phá Quan niệm nghệ thuật của Trần Dần, Lê Đạt nhìn từ phương diện tiếp nhận, Hoàng Thị Huế cũng nhấn mạnh nét mới trong thơ Lê Đạt chủ

yếu đến từ “trò chơi chữ thú vị nhưng đầy cạm bẫy”, từ “phương diện ngữ âm của chữ”, “tất cả con chữ đều không đứng yên dù trên cùng một phương diện

ngữ âm” [17]

Nhìn từ quá trình tiếp nhận, tất cả ý kiến trên đều khẳng định thơ Lê Đạt chủ yếu cách tân chữ Tuy vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những cách tân nghệ thuật trong thơ Lê Đạt để khẳng định vị trí của nhà thơ trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại không chỉ dừng lại ở đó, tất cả vẫn còn là thử thách phía trước Từ những gợi dẫn quý báu của các công trình kể trên, chúng tôi mong muốn và sẽ nỗ lực tìm hiểu tương đối đầy đủ biểu hiện cũng như sự chi phối của những động lực dẫn đến cách tân trong thơ Lê Đạt, đem lại cho người đọc cái nhìn toàn diện về thơ ông

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những cách tân nghệ thuật trong thơ Lê Đạt, được biểu hiện cụ thể ở các bình diện như: quan niệm nghệ thuật, cái tôi trữ tình, biểu tượng nghệ thuật,

ngôn ngữ, thể loại

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Bốn tập thơ Bóng chữ (NXB Hội nhà văn Hà Nội, 1994), Ngó lời (NXB Văn học Hà Nội, 1997), U75 từ tình (NXB Phụ nữ Hà Nội, 2007) và Đường chữ (NXB Hội nhà văn Hà Nội, 2009)

4 Phương pháp nghiên cứu

4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Tiến hành tìm kiếm mối liên hệ giữa bốn tập thơ đồng thời đối chiếu thơ

Lê Đạt với những nhà thơ cùng khuynh hướng như Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Dương Tường để tìm ra nét riêng trong thơ ông

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng kết hợp với các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác như phương pháp thống kê – phân loại, phương pháp liên ngành, phương pháp loại hình, phương pháp xã hội học …

Trang 12

Chương 2: Cách tân nghệ thuật trong thơ Lê Đạt nhìn từ cái tôi trữ tình

và biểu tượng nghệ thuật

Chương 3: Thơ Lê Đạt – cuộc trình diễn lạ của ngôn ngữ và thể loại

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

LÊ ĐẠT – HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO

VÀ NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT

1.1 LÊ ĐẠT – NGƯỜI THƠ “KHÔNG BIẾT LỐI VỀ GIÀ”

Lê Đạt đã ra đi sau một hành trình dài cống hiến cho nghệ thuật nhưng những nỗ lực bền bỉ, quyết liệt và thành quả trong quá trình ấy khiến người yêu mến còn mãi vương vấn Lê Đạt thực sự vượt lên trên thời gian bởi người thơ ấy với bộ óc “một công trường”, chưa bao giờ đánh mất mình trong “Mùi

ẩm mốc, tiếng mọt kêu cọt kẹt” (Cha tôi) trong hành trình “mở lối giữa cuộc đời ngóc ngách” để “mỗi dòng thơ là một cây số mới” (Làm thơ)

“Tuổi thơ của tôi buồn bã, cô độc, nhạt nhẽo Tôi không thiếu thốn vật chất nhưng ít được sự chăm sóc gần gũi của cha mẹ Thế nên tôi đọc sách rất sớm” [59]

Năm 12 tuổi, Lê Đạt về Hà Nội học nội trú trường Bưởi Cuộc sống thành thị của Lê Đạt chủ yếu diễn ra trong thư viện của ngôi trường ấy Năm

1945, Lê Đạt tham gia cách mạng Năm 1948, ông là Bí thư văn nghệ của Trường Chinh Đến năm 1949, Lê Đạt về công tác tại ban tuyên huấn của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam Gần như trong suốt quá trình hoạt động ông đều công tác ở ngành Tuyên huấn, trực tiếp theo dõi phong trào văn

Trang 14

nghệ, văn hóa và giáo dục Vì vậy, ông có dịp tiếp xúc với hầu hết giới văn nghệ Cách mạng Việt Nam Hòa bình lập lại năm 1954, ông về Hà Nội làm

biên tập viên, bí thư chi bộ của báo Văn Nghệ

Hành trình 30 năm ngồi dịch triền miên trong thư viện, có khi đói hoa cả mắt sau tai nạn nghề nghiệp năm 1958 không hề làm ông nản chí Sự thẩm thấu những thành tựu khoa học xã hội và khoa học tự nhiên trong những năm tháng dịch ở thư viện đã góp phần kiến tạo nên một Lê Đạt uyên thâm và hiện đại đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi thi pháp thơ của Lê Đạt sau này Sau hơn 30 năm bị cấm in, Lê Đạt được phục hồi tư cách hội viên Hội Nhà văn và quyền xuất bản Năm 2007, cùng với ba nhà thơ khác

của phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm là Trần Dần, Phùng Quán và Hoàng

Cầm, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật

Ngày 21.04.2008, sau chuyến đi thực tế ở Tây Nguyên, vừa về tới Hà Nội, Lê Đạt đột ngột qua đời Cả đời mình, Lê Đạt đã phóng túng tiếng cười,

“không biết lối về già” để dù đã rời khỏi sân ga văn học nhưng cái an nhiên,

tự tại, tự do “không thể tước đoạt” của Lê Đạt vẫn đủ sức xây dựng một vị thế đáng nể trong văn chương Việt, để ông trở thành “loại người xưa nay hiếm, một đại trí thức, một thi sĩ tiền phong, và trên tất cả là một người cách mạng với đầy đủ ý nghĩa và vẻ đẹp của từ này” [12, tr 274]

1.1.2 Những chặng đường thơ

Di sản thi ca của Lê Đạt thật sự rất phong phú bởi ông đã đi đến tận cùng cái có thể viết được và tạo ra diện mạo, giới tính, âm hưởng, độ vang vọng cũng như sức gợi cho mỗi con chữ Đời thơ của ông có thể chia làm ba chặng:

chặng một từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước Nhân Văn – Giai Phẩm (1955 – 1958), chặng hai từ sau Nhân Văn – Giai Phẩm đến lúc được phục

hồi tư cách hội viên Hội nhà văn (từ 1958 đến 1988) và chặng ba là khoảng thời gian cuối đời (từ 1988 đến 2008)

Trang 15

Lê Đạt bắt đầu làm thơ, đặc biệt là thơ không vần từ năm 1948 và tập

Tỉnh mẹ là sáng tác đầu tiên của nhà thơ Thời gian này ông làm thơ và có ý

thức cách tân thơ nhưng chưa rõ rệt, vẫn chưa thoát khỏi Thơ Mới Từ sau

Nhân văn – Giai phẩm, Lê Đạt mới có những cách tân triệt để và đóng góp

lớn cho thơ Việt Nam hiện đại

Từ năm 1955 đến 1958, Lê Đạt học theo thơ bậc thang của Maiakovski -

“nhà thi sĩ hay nhất, lớn nhất của thời đại Xô Viết” (Stalin) Thơ Lê Đạt chặng này thể hiện rõ thái độ dũng cảm đấu tranh cho cái mới và sự thức nhận ngôn ngữ, nóng hổi tinh thần của Maiakovski “xốc tới ngày mai, xốc tới đằng trước” Tính cách tân của Lê Đạt trong thơ lúc này chủ yếu là thay đổi dấu

“Thiên hạ chủ yếu làm thơ ca ngợi (dấu cộng) Tôi chủ yếu làm thơ phê phán

(dấu trừ)” [11, tr 620] Ngoài ra, Lê Đạt còn ảnh hưởng thơ không vần của

nhà thơ đàn anh Nguyễn Đình Thi, nhất là ở quan niệm về chữ và tiếng trong

thơ Hầu hết các tác phẩm giai đoạn này được đăng ở báo Nhân văn và các tập Giai phẩm bốn mùa Một số tác phẩm tiêu biểu: Thế giới này là của chúng ta – tập thơ đầu tay của Lê Đạt xuất bản năm 1955, Bài thơ trên ghế đá (1957), Cửa biển (1958, tập thơ in chung với Trần Dần, Văn Cao, Hoàng Cầm)

Sau năm 1958, tức là từ sau Nhân Văn - Giai Phẩm đến lúc được phục

hồi tư cách hội viên Hội nhà văn năm 1988, Lê Đạt “lao vào cuộc hành trình lần tìm vô thức thông qua việc giải phóng ngôn ngữ” Suốt 30 năm này, Lê Đạt chủ yếu “du học” trong thư viện Khoa học xã hội “phải lòng” những cuốn sách đầy ắp tri thức Đông Tây kim cổ của trường Viễn Đông Bác cổ để lại Một thời gian dài băn khoăn với từng con chữ đã mở ra chân trời tư duy mới

và một cái nhìn thế giới mới trong ông Trong quá trình thiền ngẫm và nghiệm chữ ấy, Lê Đạt đã tích lũy được rất nhiều những tri thức từ các lĩnh vực như khoa học, triết học, văn học Chính thuyết tương đối của Einstein, thuyết vật

Trang 16

lý lượng tử của Bohr, Heisenberg; thuyết bất định, nguyên lý bổ sung, nguyên

lý loại trừ, phương pháp thử và sai, luận điểm về quá trình tự hủy của nhà

nước theo tư tưởng của Marx, phân tâm học của Freud đã thúc đẩy quá trình

viết và kích thích sự thám hiểm, khả năng sáng tạo của nhà thơ Quá trình

miệt mài không ngừng nghỉ ấy khiến nhà thơ hiểu rằng “Mọi người đều biết

lợi ích của cái hữu dụng, ít người biết lợi ích của cái vô dụng” (Trang Tử) và

“Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ” (Lacan) để biết đòi “trả tính chủ

động cho chữ” (Mallarmé) Vì lẽ ấy, Lê Đạt bắt đầu tập chơi chữ, ghép chữ,

tập sáng tác và luôn nỗ lực tìm đến điểm tự do xa nhất mà chữ có thể đạt tới

Thể nghiệm thành công đầu tiên của ông trong phương thức sáng tác là tác

phẩm Ông phó cả ngựa, Cửa hàng Lê Đạt sau này in trong tập thơ Đường chữ

Sau một thời gian không được chấp nhận, từ 1988 đến 2008, tác phẩm

của Lê Đạt bắt đầu được phát hành rộng rãi Các tập thơ thể hiện sự thay đổi

toàn diện trong phong cách thơ, từ bản sắc triết học đến cấu trúc hình thức và

nội dung Thơ ông đem đến sự ngạc nhiên cho người đọc bởi nó tạo nên sự

dao động giữa mỹ cảm cũ và mới, sự lưỡng lự giữa thơ và văn xuôi Các tập

thơ cho thấy Lê Đạt đã sử dụng tiếng Việt một cách thông minh, khoái hoạt,

hiệu quả, tạo ra một không gian thẩm mĩ mới cho thơ Có thể kể đến các tác

phẩm: Bóng chữ (1994), Hèn đại nhân (1994), Ngó lời (1997), Truyện cổ viết

lại (2006), U75 từ tình (2008), Mi là người bình thường (2008), Đường chữ

(2009), Đối thoại với đời và thơ (2011)

Thiết nghĩ, đời và thơ Lê Đạt chịu nhiều biến động dữ dội nhưng ông đã

vượt qua những thăng trầm ấy, tạo dựng chỗ đứng vững chãi trong lòng bạn

đọc Trong lúc gặp “tai nạn” nghề nghiệp, cuộc đời Lê Đạt thưa vắng những

sự kiện lớn nhưng cột mốc ấy lại đánh dấu một sự lên đường quyết liệt dành

cho tích lũy và sáng tạo, đồng thời thể hiện sự kiên định đến phi thường của

Trang 17

nhà thơ Vì vậy, tìm hiểu những bước ngoặt trong đời thơ Lê Đạt là điều thiết yếu bởi nó là cơ sở quan trọng góp phần kiến tạo hành trình thơ, quan niệm nghệ thuật và những thể nghiệm mới của ông trên con đường kiên trì chiếm lĩnh thơ Nói như F Nietzsche: “Chất liệu đầu tiên hiến dâng cho kẻ sáng tạo chính là bản thân hắn ta”

1.2 NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT

Hạt nhân quan trọng trong mọi cuộc cách tân nghệ thuật chính là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật Ý thức về điều này, trên đường đến với thi ca, Lê Đạt đã mang theo quan niệm nghệ thuật riêng, lạ lẫm mà trước đó chưa nhà thơ nào từng đề xuất Những đổi mới ấy trở thành đòn bẩy kì diệu cho sự bật nảy chất thơ của Lê Đạt Thế giới thơ của ông vì thế cũng “nới thêm trang” (Chế Lan Viên), chú trọng soi ngắm, tìm kiếm những giá trị bền vững vĩnh hằng của con người và đời sống

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm nghệ thuật là “nguyên tắc

cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho

nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [15, tr 273] Nó chính là “hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là sự quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là

cơ sở của tư duy nghệ thuật” [15, tr 275] Quan niệm nghệ thuật là cơ sở, nhân tố vận động, bản chất nội tại của nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật cũng chính là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của tác phẩm Khởi đi từ quan niệm nghệ thuật của Lê Đạt, chúng ta sẽ thấy rõ sự vận động

quyết liệt, sự chuyển đổi có tính cách mạng trong thơ ông

1.2.1 Làm thơ là làm chữ

Trong sâu thẳm tâm thức Lê Đạt, làm thơ chính là làm chữ Vì vậy, nhà thơ mạnh dạn hô hào đổi mới toàn diện thi ca, đặc biệt là đổi mới ngôn ngữ

Trang 18

thơ Điều đó cũng lí giải tại sao nhà thơ thường xuyên tra vấn, hoài nghi những giá trị sẵn có của ngôn ngữ, đồng thời thể hiện tham vọng phá tung mọi biên giới, lãnh thổ của thi ca, tạo ra sự tự do cho ngôn ngữ:

Mới Mới ! Luôn luôn Mới Bay cho cao Bay cho xa Trên những vết già nua cũ kỹ Trên lề đường han rỉ

Vượt ngày hôm nay Vượt ngày mai, ngày kia, Vượt mãi

(Mới)

Theo Lê Đạt, đặc trưng cốt tủy của thơ chính là ở chất liệu ngôn từ: “Thơ

là nghệ thuật của từ, lịch sử thơ ca là lịch sử của ngôn từ” (Zhirmunski) Vì vậy, Lê Đạt cho rằng “làm thơ tức là làm chữ”, “làm thơ tức là làm tiếng Việt” (Trần Dần) Lê Đạt bận tâm nhiều đến việc mở mang bờ cõi ngôn ngữ Ông xem chữ là chuẩn giá trị để khẳng định những cách tân của một nhà thơ Đối với nhà thơ, việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ cũng là bảo tồn và mở rộng sự đa dạng về cách tri nhận thế giới Nói cách khác, hoạt động của ngôn ngữ thơ chính là hoạt động đa dạng của trí tuệ Nhà thơ thường xuyên khai khẩn những vùng mù của ngôn ngữ, cung cấp cho ngôn ngữ những nghĩa mới Nhà thơ chủ trương tạo ra sự kết hợp “siêu hình” (Đào Duy Hiệp) giữa các từ ngữ và giải thoát ngôn ngữ khỏi tính võ đoán thông thường, mở ra một bờ thực tại khác cho nó Bắt nguồn từ tình yêu tiếng Việt thiết tha, đặc biệt là yêu chữ, người thơ ấy luôn nỗ lực cống hiến cho thơ những con chữ lấp lánh Từ ngữ đi vào thơ ông không còn là những kí hiệu xơ cứng mà trở nên rực rỡ,

Trang 19

tươi tắn Trong bài viết Vân chữ [12], Lê Đạt cũng trình bày khá rõ những

kiến giải của mình về chữ Theo ông, chữ gồm hai phần: phần âm thanh (son)

và phần ý nghĩa (sens) Bất cứ người làm thơ nào cũng không được phép loại

bỏ một trong hai bộ phận cấu thành đó của chữ Chữ bao giờ cũng giữ nhiệm

vụ quan trọng là biểu thị (signifier) và hình dung (représenter) Mỗi chữ phải

có một diện mạo, một chân dung riêng, lưu giữ kí ức lịch sử và luôn cựa quậy, không ngừng vận động Lê Đạt đã “đè một ngôn từ khác lên tiếng nói sẵn có của cộng đồng” [16, tr 299] và lao động cật lực để tạo ra từ ngôn ngữ chung một thứ “phương ngữ mang dấu ấn, thương hiệu riêng” [16, tr 298]

Lê Đạt ưu tiên đặt chữ trước nghĩa Ông xem ngôn ngữ là mục đích, có giá trị tự thân Ngôn ngữ có trước, tư tưởng đến sau Người làm thơ không phải bằng ý mà chính là bằng chữ Chữ là tính thứ nhất so với nghĩa Nhà thơ cần chủ động tạo nghĩa mới cho chữ đồng thời giải phóng chữ khỏi thân phận

cũ Chữ chính là hệ quy chiếu để định vị sự hiện tồn của nhà thơ và những cách tân trong thơ Chính vì thế, nhà thơ lao vào trò chơi chữ, lao vào “cuộc phiêu lưu với cái viết” (Đỗ Lai Thúy) Ông luôn đặt chữ vào trạng thái “mất ngủ”:

Trang 20

chính mình Vì lẽ ấy, nhà thơ xem chữ nghĩa quý hơn tính mệnh Ông trìu mến chữ như trìu mến người yêu:

Với đa số chữ là tình nghĩa Với nhà thơ chữ là tình yêu Cũng từ đấy, thi sĩ trở thành “người lạc quan ngoan cố” với tình yêu con chữ trong thơ:

Ngoan cố thất tình xuân vẫn mải Khờ biết bao giờ hết dại yêu

(Dại yêu)

Nhà thơ đãi chữ, thanh lọc chữ, làm thí nghiệm với chữ bằng một sự kiên nhẫn và đam mê của người mài đá chờ nhìn thấy vẻ lấp lánh của ngọc Một khi chữ của nhà thơ ra đời, nó sẽ ở dạng thức tinh khiết, kết đọng nhất Nói Lê Đạt suốt đời tha thẩn, trú ngụ trong chữ nghĩa quả không sai:

Tuổi lú lẫn ngược nhầm ga trẻ dại Hay u ơ quên mất lối về già

Tha thẩn chữ ngã ba

(Lú lẫn)

Không như Thơ Mới, lấy nghĩa làm hệ quy chiếu để chọn chữ đặt câu,

Lê Đạt lấy chữ làm trung tâm phát nghĩa, không lệ thuộc vào nghĩa từ điển hay nghĩa tiêu dùng Nghĩa này do thi nhân khai nguyên, trở thành nghĩa nguyên sinh, trở thành sáng tạo ngôn ngữ của thi sĩ Mỗi bài thơ của ông đều trú ẩn những con chữ vận động Nó xê dịch, biến đổi và tự nhân lên, chữ này trở thành bóng của những chữ khác Từ những kí hiệu thông thường, nhà thơ tạo ra ngôn ngữ mới chưa từng được nói, chưa từng được nghe Thông qua ngôn ngữ, ý nghĩa được triển diễn đến vô tận Đỗ Lai Thúy gọi sự đổi ngôi chữ - nghĩa này là một cách mạng ngôn ngữ thơ thật sự để thơ đi hết mình về phía hiện đại: “Đây là thay đổi hệ hình (paradigme) Từ đống tro tàn, một con

Trang 21

phượng hoàng khác khai sinh” [12, tr 281] Chính cuộc cách mạng hệ hình ngôn ngữ đã mở rộng trường phát nghĩa của thơ, tạo ra những khoảng trắng

“lẩn khe hai dòng chữ tối” trong thơ:

Người đẹp lẩn khe hai dòng chữ tối Thủ thư mù

Viết là phép đối xử với văn phạm như một bạn chơi, chứ không phải như một nhân viên trật tự thô lỗ

(Từ tình)

Ông rất ủng hộ lời phát biểu của nhà thơ Pháp gốc Do Thái Edmond Jabès: “Chữ bầu lên nhà thơ” [11, tr 508] Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ phải chờ đợi cuộc bầu chọn khắt khe của chữ Vẫn là những chữ cũ trong kho tàng tiếng Việt, nhưng đến Lê Đạt, nó đã được sống trong một thân phận khác, kì lạ và quyến rũ hơn

Lê Đạt rất can đảm khi vượt qua lực ì của những chữ “quá đát” để tạo nên sự khác biệt, tạo nên một cuộc cách tân chữ, cách tân thơ lần thứ hai sau Thơ Mới Chính thói quen “cứng đầu” và hết sức “ngoan cố” - thói quen ngôn ngữ khiến ông có đủ nghị lực bước qua giới hạn ngôn ngữ, tuyên bố về quyền

tự do dân chủ của chữ Đã có lúc ông chông chênh bất định giữa vùng sương

mù của chữ nhưng chưa bao giờ chịu lùi bước Ông làm khó dễ bản thân bằng

Trang 22

cách tập chơi chữ, sử dụng những phép tu từ học, kết hợp âm tiết lạ rồi lại xé

nó Ông mất ba tháng để viết bài Ông phó cả ngựa lần thứ nhất và ba tháng

nữa để sửa lại Ông quyết tâm đẩy chữ đến điểm tự do xa nhất có thể Và đến khi đọc lại bài thơ với những con chữ còn nóng hổi, nước mắt ông ứa ra không cầm lại được Kẻ “rồ chữ” [11, tr 632] tự hiểu rằng mình đã được cứu rỗi Những nỗ lực cải tiến vật liệu, cải tiến con chữ trong thơ Lê Đạt thể hiện rất rõ bởi hầu như các bài thơ đều xuất hiện các từ “chữ”, “âm”:

- Bước thị thơm chân chữ động em về

- Chữ khép lối đồi chim non câu ngủ

Trang tầm xuân Cau chưa mở nụ ngà Đàn từ non

âm hé môi cong mỏ hót

- Chi chi chành chành Chữ đanh thổi lửa

- Âm lạ phố ồn

oanh bỏ đợi

- Em như tấm bản đồ thân chữ nổi

- Xuân vớt mùa hoa đi vắng chữ già nua

Từ một đời thơ “vẩy chữ thăng hoa”, “tha thẩn chữ ngã ba”, Lê Đạt đã tạo được hàng trăm câu chữ “độc sáng” - “những con chữ trong câu thơ dẫn dắt trên con đường tâm thức ra khỏi lối ngữ nghĩa tiêu dùng một chiều quen thuộc hằng ngày” [7]: “hè thon cong thân nắng cựa mình”, “nắng mười tám

má bờ đê con gái”, “bến nụ hoa tròn môi đợi nói”, “đùi bãi ngô non ngo ngó sông đầy”, “em về trắng đầy cong khung nhớ”, “mắt vạn niên thanh trưa hồ thủy”, “bến cửa ngực đèn lòng ga trăng nổi”, “mưa búp măng buông phím nắng dạo ngần”, “bãi nổi sông thon chiều vỗ én”… Lê Đạt thực sự mạnh dạn

Trang 23

khước từ những định ước xã hội, biến thế giới thơ của mình thành thế giới tự trị của ngôn ngữ Ông đã khơi gợi được phần bóng nghĩa mờ ảo của chữ, tạo

ra tính hấp dẫn đặc thù cho thơ Việt hiện đại Ông đã mang đến cho dân tộc mình một ngôn ngữ thơ sinh động và mới mẻ, “làm cho dân tộc mình mở miệng” (Hegel)

“Con đường nhỏ về già thành con đường lớn” (Édouard Glissant) Phải chăng Lê Đạt luôn trẻ bởi nhà thơ dám lựa chọn con đường nhỏ ít người đi? Cũng chính trên con đường ấy, nhà thơ đã thể hiện thật đậm đặc cá tính độc đáo của mình mà ông từng gọi là “vân chữ”:

Mỗi công dân có một dạng vân tay

Mỗi nhà thơ thứ thiệt cũng có một dạng vân chữ Trộn không lẫn [11, tr 510]

“Vân chữ cũng quan trọng như vân tay ấy mà, có thể làm dấu ấn vào giấy thông hành của nhà thơ” [12, tr 92] Không chỉ Lê Đạt mà các thân hữu văn chương của ông như Trần Dần, Dương Tưởng đều cho rằng “Thơ cổ lai đặt ở tứ lạ, lời hay, hình ảnh đẹp, âm điệu ru buồn Tôi giản dị đồng nhất thơ vào chữ” [52] Trần Dần chủ trương “viết cho những người bằng vai” [52], coi ngôn ngữ là mục đích, có giá trị tự thân riêng Dựa vào âm nhạc và hội họa, nhà thơ tạo ra những biến tấu chữ và biến tấu âm Chữ không còn mang nghĩa tiêu dùng mà được trở lại với nghĩa nguyên sinh, trong “một văn phạm ngày còn ngái mộng” [7, tr 107] Ông quan niệm “Thơ nay hầu như vẫn đặt nghĩa Tôi đặt thơ là chữ Con chữ nó làm nghĩa” Với những tập thơ như

Cổng tỉnh, Jờ Joạcx, Trần Dần trở thành người cải cách tư duy ngôn ngữ táo

bạo, độc đáo và mới lạ Trần Dần không áp đặt nghĩa cho chữ mà tiến hành làm mới những con chữ để tự thân nó phát sáng nghĩa Trần Dần cách tân thơ theo bề sâu, không cách tân theo bề nổi của con chữ Người mở đường ấy

Trang 24

“không rắc nước hoa” “lên những bông hoa mình trồng” và đã “Khuấy động những hải duơng buồn, những chân trời biển đắng” [52]

Nếu vật liệu thơ của Trần Dần là con chữ thì Dương Tường lại chú trọng thể nghiệm cách tân con âm Ông khai thác các thành tố âm của từ để nó phát huy được sức gợi Các nhà thơ khác làm ngôn ngữ trên chiều “biểu nghĩa” còn Dương Tường khai thác ngôn ngữ trên chiều “năng nghĩa” Tức là nghĩa đang trong quá trình tự hình thành, nhiều khi nó không có trong từ điển nhưng khi tiếp nhận bạn đọc vẫn hình dung ra được bằng cách cảm nhận Ông cho thơ mình thú vị là ở mặt chữ nhìn nghiêng, sức gợi là ở “mặt chênh” của chữ

Nó tạo ra một thứ âm bồi (son harmonique) như trong âm nhạc Chính các âm bồi này đã “hắt ánh lên thành một thứ cầu vồng trên mặt chữ ” trong thơ Dương Tường Cùng với Trần Dần, Dương Tường, Lê Đạt được coi là đại diện của một thế hệ nhà thơ càng cao tuổi càng trẻ trong tư duy, trong cảm xúc và cả trong cách sống Họ đã lao động chữ đầy siêng năng với nhiệt huyết cháy bỏng và nhất là họ kiên trì chờ đợi “người đẹp vỏ chữ bước ra” Thế hệ

ấy đã đi trọn hành trình dọc ngang đất nước thật hào sảng mà không cần có

“giấy thông hành” với những cách tân mạnh mẽ, quyết liệt nhất của thơ Việt nửa sau thế kỉ XX

Những nỗ lực cải tạo, bứt phá, vượt thoát sự kiên cố của thành trì ngôn ngữ truyền thống cũng chính là cách con người tự giải phóng cho tư duy Nói như Lê Đạt: “Cất lời cho chúng ta sự táo bạo để sống một cách khác Làm thơ

là cố gắng cất lời cùng mọi người bước ra khỏi cái tiểu vũ trụ của ngôn ngữ quen thuộc và thường là ít nhiều lỗi thời, hy vọng cấp phát cho cuộc sống một

ý nghĩa độc đáo hơn, phong phú hơn” [8] Suy cho cùng, làm chữ là một sự đổi mới tư duy, cũng là hành động “tháo cũi chân mây” (Trần Dần), khai phóng tầm nhìn của con người để “Chơi với từ không chỉ đi đến một lạc thú

Trang 25

vớ vẩn mà là cả một hội hè của trí tuệ, bởi vì, có ngôn ngữ mới ta có tri thức mới” [16, tr 370] Và vì thế:

Điều đáng buồn nhất đối với một nhà thơ là

ly kỳ trong đời thực và tẻ nhạt trong đời chữ

di sản mới, khác chứa đựng một lượng “chất liệu năng nổ và sáng tạo”, làm lay chuyển tư duy, khuấy động trí năng người đọc Sự can đảm chữ và sự táo bạo khiến Lê Đạt vượt qua những thành tựu sẵn có - những thành tựu nhất thành bất biến Nói như Eptusenco “Hãy đấm vào bức tường, có thể vỡ tay đấy, nhưng cũng có thể làm vỡ bức tường”

1.2.2 Thơ phải là tác phẩm mở (The open work)

Cuối thế kỉ 17 đầu thế kỉ 18, ở châu Âu, người ta nhắc nhiều đến nghệ thuật baroque Baroque không những được sử dụng trong lĩnh vực hội họa, kiến trúc, âm nhạc, thiết kế mà còn lan rộng đến địa hạt văn học Từ

“baroque” trong tiếng Anh (“barroco” trong tiếng Bồ Đào Nha, “barrueco” trong Tây Ban Nha) mang ý nghĩa: những viên ngọc không có qui luật hay có

Trang 26

hình thù kì dị, những gì không tuân theo các chuẩn mực về tỉ lệ, mà nương theo tính khí bất thường của người nghệ sĩ Đối lập với sự khô khan quy chuẩn của chủ nghĩa cổ điển, phong cách baroque đã mang lại sự vận động, chuyển hoá và đổi mới khi đi vào văn học hiện đại Baroque chống lại mọi sự chật hẹp của nguyên tắc, chối bỏ những gì đã định hình để hướng đến những cái đang chuyển động, đưa ra những đường gãy, những góc cạnh kì lạ của cuộc sống Cũng với tinh thần baroque ấy, Lê Đạt chủ trương một lối thơ mang tính đối thoại với cơ chế mở (open) vô tận Khác với cái tôi độc chiếm

vị trí trung tâm của Thơ Mới, thơ ông tạo ra cái ngoại vi chứa đựng nhiều dự phóng Mỗi bài thơ là một nguồn mở vô tận, đa tầng, đa nghĩa

Sớm nhận thức về tính đối thoại và tính mở trong thơ, Lê Đạt dành cả đời mình để “Bán khoán cửa chùa Quán ngữ”, “trường kì hỏi nước tìm

nguồn” (Ông cụ nguồn) Ông cho rằng quá trình tiến hóa của nhân loại hay

quá trình phát triển của văn học đều phải sử dụng yếu tố đối thoại Yếu tố đối thoại với “phong thái cởi mở, dung nhận, thực sự cầu thị, bình đẳng và đoàn

kết” [12, tr 13] sẽ tạo ra vế thứ ba cho văn học: cái khác (otherness) Cái khác

này chính là một không gian khác, một đường bay khác cho thơ hiện đại Khi nhà thơ đặt dấu chấm hết cho việc kiến tạo tác phẩm thì cũng là lúc người đọc tham gia vào trò chơi giải kiến tạo (deconstruction) vì thực chất, tác phẩm vẫn đang trở thành và sẽ trở thành (becoming) chứ chưa hoàn tất Thơ của Lê Đạt luôn mời gọi người đọc cũng tham gia trò chơi chữ với nhà thơ Ông không trực tiếp cầm tay độc giả truy nguyên nguồn cội ý nghĩa tác phẩm mà tạo ra những chỉ dấu, những mã văn bản để họ tự tham gia phát nghĩa Nhà thơ tạo

ra bài thơ còn kết quả của nó là ở người đọc Điều quan trọng không phải “bài thơ là” (what it is) mà là những gì “bài thơ làm” (what it does) Bất cứ bài thơ nào cũng là một “liên – thi (inter-poem) và bất cứ việc đọc nào cũng là liên – độc (inter-reading)” [50]

Trang 27

Đề cao đặc tính mở của tác phẩm đồng nghĩa với việc khẳng định tầm quan trọng của người đọc Nhiệm vụ của nhà thơ là sản xuất ra tác phẩm còn phần “tiêu thụ” tác phẩm sẽ do người đọc đảm nhiệm Vì lẽ ấy, Lê Đạt đã tạo

ra những bài thơ có tính sản xuất (productivity) tức là những tác phẩm luôn vận động, tương tác Mỗi bài thơ của ông là những chuỗi từ ngữ dẫn đến một không gian đa kích thước và không gian này nảy sinh chính từ những dòng trắng (between lines) trong tác phẩm Từ đó, mỗi bài thơ trở thành một tác phẩm mở (the open work), đi từ tính đối thoại (dialogue) sang tính liên văn bản (intertetuality):

Tôi xin phép được nhấn mạnh một lần nữa:

Thơ truyền thống là tất định, là loại trừ Thơ hiện đại là bất định, bổ sung

Thơ truyền thống là một hệ khép kín Thơ hiện đại là một hệ mở

[11, tr 584]

“Hệ mở” trong thơ hiện đại mà Lê Đạt đề cập từng được bậc thầy của

“tư duy về cái bên ngoài” Maurice Blanchot gọi bằng thuật ngữ khác: “sự tứ tán” của thơ, “lời thì thầm” vô tận của tác phẩm Từ “hệ mở”, “sự tứ tán” và

“lời thì thầm” này, nhà thơ và bạn đọc ngẫu nhiên trùng phùng

Khác với lối đọc tìm ý, tìm nghĩa trong thơ truyền thống, thơ Lê Đạt tạo

ra cách đọc khác cho độc giả Không tạo ra thói quen khai thác ngữ nghĩa lộ thiên, Lê Đạt tạo ra thói quen khai thác hầm lò cho người đọc Nghĩa trong

thơ ông thường đến trễ giờ Điều này được nhắc đến trong tác phẩm Nhân con ngựa gỗ:

Đại sư Cổ Đức nói: “Khi ta trỏ mặt trăng, nhiều người mải nhìn ngón tay mà quên mất mặt trăng”

Trang 28

Bạn đọc trước khi bước vào bài thơ xin tạm để lại cách đọc tuyến tính thuần duy lý ở ngưỡng cửa như người khách bỏ giầy trước khi vào một trà thất Nhật Bản

Bạn hãy thử để những hình ảnh những con chữ trong câu thơ dắt dẫn trên con đường tâm thức ra khỏi lối đi chữ nghĩa tiêu dùng một chiều quen thuộc hàng ngày

(Nhân con ngựa gỗ)

Quan niệm trên của Lê Đạt phần nào gợi nhắc quan niệm của nhà triết học người Pháp Jacques Derrida Jacques Derrida – một trong những chủ soái của chủ nghĩa hậu cấu trúc cũng từng đề cập đến tính bất ổn định của ngôn ngữ thông qua sự “trượt nghĩa” (slippage of meaning) của những con chữ Sự

“trượt nghĩa” này dẫn người đọc thoát khỏi lối mòn “nghĩa tiêu dùng một chiều quen thuộc hàng ngày” để sáng tạo vô hạn những nghĩa mới bất ngờ cho thơ Như vậy, người đọc phần nào đồng tác giả với người viết Khác với

đa phần người đọc cổ điển – loại người đọc tương đối thụ động tìm và lý giải một ý đã có sẵn, người đọc hiện đại trong thơ Lê Đạt buộc phải là kiểu người đọc tích cực cùng tác giả kiến tạo nghĩa cho bài thơ - nghĩa ngoài chủ ý của tác giả Họ luôn chủ động tháo dỡ văn bản và tái cấu trúc nó kinh nghiệm mỹ cảm của mình

Giàu sức ấn chứa, huyền diệu và hấp dẫn bởi sức gợi khêu của con chữ, thơ Lê Đạt có khả năng tạo những khoảng xa cho bạn đọc du hành Nhà thơ kiên trì viết nên những dòng mở trong thơ với muôn vạn nghĩa, kích thích người đọc bằng cách tạo ra một “kết cấu mời gọi” (chữ dùng của W Iser) Vì thế, thơ Lê Đạt chưa bao giờ là con đường bằng phẳng, yên ổn và thưa thớt cá tính sáng tạo Cấu trúc mở và tác dụng của nó trong thơ Lê Đạt có thể được biểu diễn thành sơ đồ sau:

Trang 29

Như vậy, khi đi sâu khám phá thơ Lê Đạt, người đọc không chỉ dừng lại

ở việc truy tìm cấu trúc nội tại của bài thơ mà chủ yếu lần tìm mã biểu đạt, mã văn hóa (cultural codes) từ những dòng trắng hay khoảng giữa của từ (between-ness) trong thơ Đó là cuộc đối thoại bình đẳng giữa tác giả và người đọc theo nguyên lý bổ sung (vừa là…vừa là) Từ đó, người đọc nhận thức theo cách riêng đồng thời sáng tạo ra những sinh thể mới từ mẫu gốc tác phẩm Cần lưu ý, khâu phản ứng của bạn đọc (reader response) được xem là khâu tiêu thụ tác phẩm, giữ vị trí quan trọng trong tạo sinh tác phẩm, khiến nó không ngừng vận động, không ngừng mở (open) Tác phẩm giờ đây không chỉ tạo ra một lớp nghĩa tương ứng, hay nói cách khác cái biểu đạt (CBĐ) không phải chỉ biểu đạt một cái được biểu đạt (CĐBĐ) mà để biểu đạt một chuỗi cái biểu đạt khác Cấu trúc nội tại của tác phẩm tạo ra lớp nghĩa thứ nhất còn lớp nghĩa thứ hai, thứ ba, thứ tư được hình thành do sự tiếp xúc giữa người đọc và tác phẩm Chữ này dẫn chiếu đến chữ kia và dẫn chiếu đến kí ức của người đọc Chúng ta có thể hình dung nguồn mở vô tận trong thơ Lê Đạt như sau:

TÁC PHẨM MỞ (THE OPEN WORK)

HỆ HÌNH ĐỌC

MỞ

TÍNH Ở GIỮA CỦA VĂN BẢN (BETWEEN- NESS)

TRÒ CHƠI THI

CA (PLAY AND POETRY)

Trang 30

1.2.3 Nhà thơ là “phu chữ”

“Thân phận nhà thơ cao hơn thân phận của chính bản thân anh ta” Lev Nikolayevich Tolstoy từng khẳng định như thế bởi ngoài sống cuộc đời riêng của mình với tư cách một người bình thường, nhà thơ còn đa mang số phận của nghiệp cầm bút Lê Đạt là một trong những nhà thơ thường xuyên trăn trở, bận tâm với nghề trong suốt cuộc đời cầm bút Nghĩ về lao động thơ một

Trang 31

cách ráo riết và trình bày nó như những xác tín nghề nghiệp thì không phải ai cũng làm được như Lê Đạt Sự tự ý thức về nghề thơ khiến nhà thơ không ngừng nỗ lực tạo nên những giá trị nghệ thuật vĩnh hằng và kháng cự lại sự suy tàn Ông tự nhận mình là “phu chữ”, một đời nhọc nhằn lao động trên cánh đồng chữ, cần mẫn gieo mầm

Ông xem thơ là một nghề, đòi hỏi một kỉ luật nghiệt ngã và gian khổ Nhà thơ phải là “phu chữ”, phải lao động gian nan, vất vả với niềm đam mê mãnh liệt Nhiều khi phải dũng cảm, lạnh lùng, trung thực nhìn lại và điều chỉnh thơ mình đồng thời kiên nhẫn chờ đợi thử thách của thời gian Nhà thơ luôn ở trong trạng thái “cô đơn không tận” của nghiệp thơ và chịu mọi sự phán xét của nhân loại Để có được tính độc sáng trong thơ, mọi nhà thơ đều

có khả năng rơi vào sự cô đơn Một thời gian dài, Lê Đạt đã cô đơn ôm ấp hoài bão cách tân Khoảng thời gian ấy cũng là lúc ông dịch thuê kiếm tiền,

ấp ủ dự định, ý tưởng trước khi lao vào cuộc chơi nghiêm túc với con chữ Ông từng tâm sự: “Không người làm thơ nào không phải trải qua những cơn tuyệt vọng muốn quẳng bút đi làm nghề khác cho nó khỏe Nhưng thơ là một nghiệp, một tình yêu đắm đuối” [12] Ông chưa bao giờ có ý định dứt bỏ thơ

mà ngược lại còn tận hiến cho thơ Ông xem thơ là nghề của bề sâu, giống như nghề giếng, càng đi sâu thì càng tìm được những nguồn mạch thanh khiết nhất Lê Đạt đã sống như “kiếp tằm”, tự xem mình là “lá dâu, còn lại trơ gân, xác xơ thân xác” [35, tr 315] Nhà thơ đã “trả chữ với giá cắt cổ”:

Như khai thác chất hiếm radium Lấy một gam phải mất hàng năm lao lực Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ

(Maiakovski)

Trang 32

Sàng lọc và lựa chọn chữ là công việc của Lê Đạt Ông ngày đêm “đãi chữ” để tìm ra những từ đắc địa cho thơ mình Chưa bao giờ nhà thơ buông lỏng tình yêu con chữ:

Đèn đỏ sân ga tàu đợi chuyến Đêm một mau già kỉ niệm lắm ma

(Sân ga)

Tham vọng đổi mới thơ là động lực thúc đẩy Lê Đạt miệt mài lao động với những con chữ, mang đến sự vĩnh cửu và những điều “quá cỡ” trong thơ Nhìn vào khả năng sáng tác và làm mới thơ của Lê Đạt, người đọc phải nghiêng mình nể phục Ông cho rằng “Viết một chữ một, câu bật chợt đến Rồi chữa Rồi phát triển Rồi xóa sạch nếu cần Nhưng nhất định phải viết - Dầu công cốc, dầu tốn giấy mực và thời gian Hãy đi đến tận cùng chán nản

để vật ngã nó Việc viết xóa, sửa chữa viết đi viết lại tưởng như là vô ích này

là những yếu tố tích lũy và kích thích cảm hứng rất tốt.” [12, tr 102]

Lê Đạt cho rằng làm thơ là một lao động rất nghiêm túc Mọi nhà thơ đều phải nhọc mệt, đều phải dốc lòng vì chữ, không thể và không được phép biếng lười Nhà thơ thật sự phải trải qua quá trình tự tu lâu dài, nỗ lực âm thầm, dấn thân vào cuộc chơi văn chương đầy mạo hiểm Vì thế, nhà thơ đã học tập chuyên cần, kiên trì đọc sách, tích lũy chất liệu thơ từng ngày Ông còn học thêm ngoại ngữ, dịch sách để dễ dàng viễn du trên con đường thiên lí của nhân loại Vượt qua hàng rào ngôn ngữ, Lê Đạt không còn bị phong bế, kìm tỏa và thơ ông sẽ có thêm sức mạnh để trụ vững

Có thể nhận thấy, Lê Đạt luôn ý thức về bản chất, nhiệm vụ và nghề nghiệp của mình Ông luôn mang “nặng tâm tư của trăm ngàn quần chúng”, thức thâu đêm như người thợ dưới hầm mỏ “moi than moi lửa” để “đốt sáng cuộc đời” Đối với ông, mỗi một câu thơ hay đều là kết quả của quá trình dài thành tâm kiên trì, đa mang đắm đuối với nghiệp thơ Ông từng bày tỏ: “Tôi

Trang 33

đã nỗ lực rất nhiều để trở thành một kẻ rồ chữ Người làm thơ hoạt động ở những vùng biên ngôn ngữ rất giống một người điên Cái khác biệt giữa họ nằm ở chỗ, người điên thì vượt biên đi thẳng tới cõi vô thức hoàn toàn của đêm tối mù mịt và ở lại đó; còn người làm thơ thì loạng choạng bước một vài bước sang cõi vô thức thì ngừng lại và biết đằng sau quay, trở về cõi ngày của

ý thức, sau khi đã lượm dăm mảng đêm của vô thức để mở rộng địa giới của cõi chữ” [53]

Trách nhiệm và nhiệt huyết của người cầm bút được Lê Đạt nhắc đến

trong bài Làm thơ:

Giông bão mênh mông Anh nhìn Tổ quốc Đất nước đêm nay trĩu đầu ngòi bút Hàng vạn vần thơ mang nặng tình người Anh nghe tiếng đất trời

Xao động lùm cây ngọn cỏ Như hiệu thính viên

Đêm không ngủ Ghi những lời cuộc sống điện về …

Thơ có nghìn nẻo đi và vạn đích đến Dù dấn thân trên nẻo đường nào thì

Lê Đạt vẫn lấy hai nguyên tắc - nguyên tắc nghệ thuật và nguyên tắc thủ công làm điểm đến xa nhất Bài Làm thơ đã khẳng định rõ sự kiên nhẫn lao động,

sữa chữa, hoàn thiện thơ (nguyên tắc thủ công) của Lê Đạt Sự tinh vi, thiện nghệ trong việc phá vỡ kết cấu, thể loại, lối viết ở bốn tập thơ cũng góp phần thừa nhận sự tuân thủ nguyên tắc nghệ thuật của người “phu chữ” Cũng chính sự kết hợp nhuần nhụy hai nguyên tắc kể trên đã góp phần đưa Lê Đạt lên đến “cảnh giới thượng thừa” (Lê Đạt) của người làm thơ

Trang 34

Để có thể gánh vác nghiệp thơ một cách nghiêm túc, “phu chữ” Lê Đạt nhấn mạnh người cầm bút cần phải có “văn đức”, phải “là một nhà văn khổ luyện, chuyên nghiệp hóa ở trình độ cao, luôn tự vấn xem mình đã sống chết với nghề chưa, đã một lòng một dạ với nó chưa hay vẫn rong chơi những tháng năm nghiệp dư cho đến xế chiều” [12, tr 50] Ông đề cao “những người lao động có tri thức một nắng hai sương trên cánh đồng chữ bận tâm những

vụ mùa cao sản” [12, tr.103] Công phu của một nhà thơ là ở chỗ “một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổ bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” [12, tr 87], cúc cung tận tùy dùi mài những con chữ để nó trở thành đặc sản Người làm thơ như thợ thủ công, nhốt mình trong phòng gọt đẽo, mài dũa, nạm dát con chữ để làm bật nảy nghệ thuật Ông xem lao động nghệ thuật là mục đích mỹ học Để đạt được mục đích mỹ học ấy là một chặng hành trình dài đầy thử thách, gian nan của “những người lính chung thân biên giới” [12, tr 100]:

Chúng tôi không phải kẻ thù các anh Chúng tôi muốn tặng các anh những vùng đất Mênh mông kì lạ…

Hãy thương chúng tôi những người lính Chung thân biên giới

Của vô cùng và của tương lai…

[12, tr 100]

Trang 35

CHƯƠNG 2

CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LÊ ĐẠT

NHÌN TỪ CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT

2.1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH

2.1.1 Kiến tạo những biến tấu mới cho cái tôi sử thi

Thơ Việt Nam sau 1945 vẫn vận động theo quán tính và quỹ đạo của văn học thời chiến Cái tôi trong thơ Lê Đạt cũng vậy, vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi Tuy nhiên, cái tôi trữ tình luôn là cái đặc thù, cái không “đồng phục” giúp chúng ta xác định cốt cách, phong vận của nhà thơ Vì thế, cái tôi trữ tình phải luôn biến đổi liên tục Không nằm ngoài quy luật ấy, cái tôi trữ tình trong thơ Lê Đạt đã có những chuyển biến nhất định Vẫn đứng trong những sự kiện lớn lao của đất nước, vẫn nhạy bén với những sự kiện lịch sử, mang lý tưởng sống hào hùng, mãnh liệt của thời khói lửa, vẫn đại diện cho cộng đồng nhưng cái tôi trữ tình của nhà thơ không còn nằm trọn trong khái niệm sử thi mà đã có sự chuyển đổi sắc thái

Cái nhìn sử thi trong thơ ông được bổ sung bằng những trải nghiệm cá nhân, hiện thực được đặc tả với xu hướng khái quát, chiêm nghiệm Hiện thực của chiến tranh không chỉ là hiện thực nhìn thấy mà còn là hiện thực cảm thấy với bao nhức nhối khó lành Đây là điều mà văn học Việt Nam sau 1986 mới bắt đầu khám phá Lê Đạt vẫn xưng “ta”, vẫn đại diện cho cộng đồng nhưng thơ ông không rộn rã mà tiết chế những tiếng reo nồng nhiệt, không nguôi trăn trở về một “chân trời tua tủa mảnh gai” (Hoàng Cầm) Nhà thơ nói nhiều

về nỗi đau của con người do chiến tranh gây ra Ông đặc biệt quan tâm, trăn trở, lo âu về sự sống và nhu cầu được sống giản dị nhất của mỗi con người trên đất nước Việt Nam Đằng sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng, đằng sau

Trang 36

niềm phấn khởi, tự hào của cuộc chiến là những bất an của nhà thơ trước thực tại cuộc sống khắc nghiệt Thơ Lê Đạt thể hiện nỗi buồn, nỗi lo cơm áo cùng với nhân dân Những vần thơ ông viết nên là biểu hiện của sự gắn bó và đồng cảm với quần chúng Nếu những nhà thơ cùng thời dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh cách mạng thì Lê Đạt lặng lẽ đặt tâm hồn mình trong nỗi đau, sự mất mát, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng lao động Thơ Lê Đạt thực sự

hé mở góc nhìn đa dạng và nhiều chiều về chiến tranh từ hậu phương Chiến tranh đã lấy đi từng tấc đất mà người nông dân cất công chăm chút bằng mồ hôi nước mắt trong một quá trình dài đằng đẵng Chiến tranh đã cướp đi nụ cười của những trẻ nhỏ bởi chúng đã mất cha, mất mẹ Hình ảnh những hạt lúa vàng mồ hôi của người nông dân, đất ruộng cháy xơ xác và “máu lấm những mảnh hồn trong trắng” đã thể hiện sự đau đớn tột độ của nhà thơ trước hiện thực cuộc chiến:

Những hạt lúa vàng mồ hôi Cháy rụi đất cằn xơ xác

Em bé không còn được cười Máu lấm những mảnh hồn trong trắng

(Chúng ta quyết giữ đất này)

Trong từng tấc đất thấy đau thương, quặn thắt bởi đạn bom cày xới trên từng thớ thịt quê hương Đằng sau thành công vang dội của cuộc chiến là hình ảnh tang thương của làng quê:

Đất ruộng hầm hập sốt Chân mạ cháy xém vàng Tóc rụng trên đồng hoang

Mạ bạc đầu chết rụi

(Cứu lúa)

Trang 37

Không chỉ thể hiện nỗi đau chiến tranh, Lê Đạt còn cảm nhận sâu sắc sự mất mát, tan nát của cái đẹp văn hóa:

Hầm cỏ Nguyễn Du trời tên lửa Bia hồ liêu liễu mới Đường thi

(Hà Nội B.52)

Nhà thơ không say men chiến thắng, không hô hào, tô hồng hiện thực, không tuyệt đối hóa những chân dung chiến sĩ anh hùng mà tự nguyện đặt bản thân trong mối quan hệ ràng buộc với ruộng đồng, làng quê để viết nên những

câu thơ đậm chất suy tư Những bài thơ Chúng ta quyết giữ đất này, Nhận trâu, Cứu lúa, Đường chúng ta đi, Ý chúng ta, Bát nước chè xanh đã diễn tả

cái mất mát trong chiến tranh nhưng không hề ủy mị, thở than mà diễn tả cái mất cốt để khắc sâu hơn cái phải giành lại:

Chúng ta quyết giữ đất này Giữ nẻo đường thơm lúa chín Giữ nụ cười giữ con mắt trong

(Chúng ta quyết giữ đất này)

Những vần thơ của ông gắn chặt với hồn quê, bao trùm nội dung đời sống rộng lớn ở hậu phương nhưng không xóa bỏ cái tôi cá nhân như Chế Lan Viên “Phá cô đơn ta hòa hợp với người”, Xuân Diệu “Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi” Lê Đạt nói nhiều đến cảm nhận của cái tôi và không ngại phơi bày nỗi buồn, sự âu lo về miếng ăn trước thực tại khắc nghiệt của cuộc chiến tranh – một vấn đề tế nhị nhưng vô cùng nhức nhối:

Năm nay rồi kém đói Biết lấy gì mà ăn?

Ngày hai bữa băn khoăn Đêm trở mình không ngủ

Trang 38

Ngửa mặt nhìn lên trời

(Cứu lúa)

Khác với những tác phẩm cùng thời, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, ý chí chiến đấu của người lính trên mặt trận vì vận mệnh đất nước, Lê Đạt lại miêu tả chiến tranh từ góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào những nỗi niềm cá nhân thầm kín mà không phải nhà thơ nào cùng thời với ông cũng nói được Trong hoàn cảnh thực trạng cuộc sống những năm chống

Mĩ không cho phép con người sống thật với cái tôi của riêng mình, ý thức cộng đồng, lý tưởng cách mạng và tiếng nói của bản ngã khó tìm được tiếng nói chung, Lê Đạt vẫn khao khát đo ướm số phận của đất nước bằng nỗi đau

cá nhân Bởi từ thẳm sâu tâm thức, Lê Đạt thừa nhận nỗi cô đơn bản thể trong cuộc sống đầy ắp các mối quan hệ “Cha tôi không dạy tôi làm thơ nữa / Người còn bận đếm tiền ghi sổ / Thỉnh thoảng nhớ những ngày oanh liệt cũ / Một mình uống rượu say / Ngâm mấy câu Kiều, ôm mặt khóc / Tỉnh dậy lại loay hoay ghi sổ đếm tiền / Hai vai nhô lên / Đầu lún xuống / Như không mang nổi cuộc đời / Bóng in tường vôi im lặng / Ngọn đèn leo leo ánh sáng / Bóng với người như nhau / Mùi ẩm mốc, tiếng mọt kêu cọt kẹt / Ở chân bàn hay ở cha tôi?” Những biến động tâm lí sâu kín bên trong của kẻ cứ muốn

“níu lấy cái lương tâm gàn dở” dù biết “Muốn sống thanh cao đi lên trời mà

ở” (Cha tôi) được Lê Đạt diễn tả rất tinh vi, kiệm lời nhưng ngập đớn đau

Sự thật cuộc đời luôn đắng cay hơn nghệ thuật, đặc biệt là trong những năm tháng nhạy cảm của thời kháng chiến chống Mĩ Nỗi đau chiến tranh không chỉ hiện diện ở những mất mát trên chiến trường mà còn ám ảnh ở phía hậu phương Những câu thơ khắc họa bức tranh đời sống vừa âm thầm quyết liệt, vừa nóng bỏng, dữ dội, âm ỉ Những vần thơ ấy còn thể hiện nỗi băn khoăn và khát vọng về một xã hội bình yên và hạnh phúc của nhà thơ Cái tôi

sử thi không còn nằm gọn trong chất tráng ca mà đầy ắp trở trăn, lo âu về

Trang 39

chiến tranh và khát vọng con người Trong thơ của ông, người đọc vừa bắt gặp âm hưởng trầm hùng thời khói lửa - âm vọng của cảm hứng lãng mạn sử thi, vừa cảm nhận cái khao khát đưa thơ trở về với cuộc sống riêng tư Chính

vì thế, những cảm thức trước biến động nhân thế trong những năm kháng chiến chống Mĩ trở thành gam giọng phổ biến trong thơ Lê Đạt Nhà thơ đã thể hiện sự hào hùng của dân tộc trong nỗi đau, giọt nước mắt đắng cay và mất mát của một trí thức suy ngẫm về hiện thực Như vậy, cái tôi sử thi trong thơ Lê Đạt đã có những biến tấu mới, rất lạ nhưng trong hoàn cảnh, xu thế hiện thực thời ấy thơ Lê Đạt đã không được chấp nhận

2.1.2 Tạo sinh cái tôi trữ tình đa ngã

Dựa trên quan điểm bản thể luận (ontology), chúng tôi khám phá và nhìn nhận cái tôi trữ tình trong thơ Lê Đạt là đa tầng, đa ngã, không còn nguyên phiến mà luôn vận động, bất định Chính cái tôi đa ngã đã tạo nên nét đẹp và những giá trị mới cho thơ Lê Đạt

Lê Đạt luôn dằn vặt trên hành trình tìm kiếm bản thể và lựa chọn tự do Chính vì thế, thơ ông ẩn chứa cái tôi chiêm nghiệm, giác ngộ, nhận thức về sự hiện hữu của chính mình Thơ Lê Đạt, nếu nhìn từ bên trong, có thể nhận thấy

cái tôi luôn di động, đi tìm tự do, đi tìm cái đẹp, truy tầm bản thể Đó là cái tôi nhận thức về hiện hữu Jean Paul Sartre từng viết: “Con người không chỉ

như anh ta quan niệm, mà còn như anh ta muốn, như anh ta tự quan niệm sau khi đã sống, và như anh ta muốn sau khi đã ao ước sống; con người không là

gì khác ngoài cái mà bản thân anh ta tự làm nên Đó là nguyên tắc đầu tiên của thuyết hiện sinh Đó cũng là cái mà người ta gọi là tính chủ thể” [34, tr

916] Lê Đạt trong Bóng chữ, Ngó lời, U75 Từ tình, Đường chữ đã luôn sống

và nỗ lực với khao khát, đam mê của chính mình, không chịu ràng buộc

“thòm thèm trái cấm”, luôn nỗ lực bứt phá “nhiều kinh kệ không quen”, lái

con tàu thơ đến vùng đất mới Ông tự nhận đó là Khuyết điểm:

Trang 40

ý thức về tính chủ thể của mình trong mọi hoàn cảnh tồn tại Có những lúc tuyệt vọng muốn “đi thật xa” nhưng nhà thơ vẫn bám víu, níu giữ, trụ lại ở đời vì tình yêu tiếng Việt Ông tự ao ước sống, tự có trách nhiệm với con chữ,

ý thức về hành trình sống của chính mình:

Có những ngày chán nản Tôi muốn đi thật xa Không muốn nhìn

không muốn nghe

không muốn viết

Có những ngày

tôi chỉ còn muốn chết Nhưng thương vợ thương con

yêu tiếng Việt Tôi không đành đi

Ngày đăng: 22/05/2021, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm