1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng nghệ thuật trong thơ tản đà

147 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là người cùng thời, Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút tờ Đông Dương tạp chí từ năm 1913 sớm để ý và trân trọng tài năng thiên phú của Tản Đà, dành cho ông mục "Một lối văn xuôi mới" trên báo - cảm

Trang 1

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Trường Đại Học sư Phạm TP.Hồ Chí Minh

CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TẢN ĐÀ

Luận án thạc sĩ khoa học ngữ văn Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 5.04.33

Người hướng dẫn:

PGS TS Trần Hữu Tá Người thực hiện:

Vũ Hào Hiệp

Trang 3

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu: 2

3 Lịch sử vấn đề: 2

4 Phạm vi đề tài: 12

5 Phương pháp tiếp cận: 12

6 Đóng góp của luận án : 13

7 Cấu trúc của luận án: 14

B NỘI DUNG 15

CHƯƠNG I: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG NHỮNG SỰ KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẢM HỨNG SÁNG TÁC 15

1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương 15

2 Những sự kiện ảnh hưởng đến cảm hứng sáng tác 27

a Hoàn cảnh lịch sử - xã hội: 27

b Những sự kiện văn chương: 34

CHƯƠNG II: CẢM HỨNG DÂN TỘC TRONG THƠ TẢN ĐÀ 43

1 Những xúc động trước cảnh trí quê hương 54

2 Hướng về dân tộc để tự hào, nhắc nhở truyền thống anh hùng 61

3 Kêu gọi tình đoàn kết dân tộc, biểu lộ lòng thương dân của nhà nho “Ái quốc bằng đạo đức” 64

4 Tình cảm thủy chung, hoài bão và lòng tin với dân tộc và đất nước 66

5 Nỗi “sầu non nước”, niềm tiếc nuối và sự cô đơn vô hạn 69

6 Một thái độ phê phán xã hội của nhà nho yêu nước 76

7 Hương vị đất nước đậm đà trong thơ ca 79

CHƯƠNG III: CẢM HỨNG LÃNG MẠN TRONG THƠ TẢN ĐÀ 92

I Tản Đà - nhà nho tài tử cuối cùng và là "đêm trước của chủ nghĩa lãng mạn" đối với thơ Việt Nam hiện đại 95

II Những biểu hiện của cảm hứng lãng mạn trong thơ Tản Đà 103

Trang 4

so với tám tác giả trước kia, là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu "(1)

Vấn đề Tản Đà vẫn còn đó, còn bỏ ngỏ, và “hiện tượng Tản Đà” của giai đoạn văn học giao thời (1900 - 1930) còn là nỗi bức xúc tìm kiếm và cố gắng để giải thích rốt ráo của nhiều người Trong đó, những vấn đề về tư tưởng nghệ thuật, cảm hứng nghệ thuật là những vấn đề còn cần được tiếp tục lý giải

Thế nhưng, những câu hỏi cần được giải quyết cho thấu đáo đối với một "đối tượng khó" như Tản Đà lại khiến chúng tôi bị kích thích, muốn nhập cuộc, và ước gì góp phần thỏa đáng vào công việc đi tìm chân dung đích thực của nhà thơ

Điều mong ước có những công trình thỏa đáng, những chuyên luận trọn vẹn nghiên cứu về Tản Đà cũng như một số tác gia thuộc tạng như ông là tâm trạng chung của nhiều thế

hệ người nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Đặc biệt do có sự yêu quí nhà thơ, sự hấp dẫn bởi đề tài "cảm hứng nghệ thuật trong thơ Tản Đà" đã khiến chúng tôi chọn đề tài với lòng khấp khởi Thêm nữa, sự cảm thông sâu xa của kẻ hậu sinh trước những trăn trở, những nỗi niềm kín đáo không có người tri kỷ của thi sĩ đã khiến chúng tôi quyết tâm nhập cuộc và

(1) Tìm hiểu về Tản Đà, trích tuyển tập Tản Đà tr 13 NXB Văn học - Hà Nội 1956

Trang 5

muốn tìm kiếm thêm về tản Đà Hướng đi tìm về những cảm hứng nghệ thuật của nhà thơ trong một cõi đi, về rất cô đơn ấy là việc rất muốn làm của người viết luận án vậy

Dò theo bước chân xê dịch vừa như bắt buộc, lại vừa như dạt dào cảm hứng cứa Tản Đà; lắng nghe những tâm tư tình cảm của ông, cố gắng đồng cảm được những nỗi đau và cả những niềm vui nhỏ trong tâm hồn thi nhân có thể chăng chúng ta sẽ phát hiện được những cảm hứng có thể gọi là tập trung nhất của thi sĩ? Đề cập đến phạm trù "cảm hứng" của Tản

Đà người nghiên cứu sẽ phải làm một thao tác lội ngược dòng để "đồng cảm" được với người xưa Trên con đường tìm kiếm đó, chắc hẳn chúng tôi sẽ phải nói ngay lời khiêm tốn: những điều sẽ trình bày dưới đây chỉ là những "lời quê góp nhặt", những công việc mò mẫm tìm tòi khó tránh khỏi va vấp

2 Mục đích nghiên cứu:

- Xác định những vấn đề chủ yếu đã làm nên cảm hứng sáng tác của Tản Đà Tìm ra những quan hệ giữa thân thế, sự kiện lịch sử - xã hội và văn chương với tư tưởng và sáng tác của ông

- Bước đầu xác định những cảm hứng chính yếu trong thơ Tản Đà: Cảm hứng dân tộc,

cảm hứng lãng mạn; những biểu hiện của hai nguồn cảm hứng đó

3 Lịch sử vấn đề:

Phải nói "hiện tượng Tản Đà " trong văn học là một vấn đề nghiên cứu hấp dẫn nhưng khó lý giải, do toàn bộ những gì biểu lộ nơi sáng tác của ông là thật sự phức tạp Nhiều người, nhiều thế hệ nghiên cứu - phê bình đã từng có những ý kiến tương phán nhau

Trước năm 1945, các công trình nghiên cứu đã thể hiện sự khá khác nhau về việc nhân định tứ tưởng, tình cảm và sự đóng góp của Tản Đà cho văn học

Trang 6

Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, nhắc đến những tay cự phách trong làng báo, người ta nói đến bộ ba Vĩnh - Quỳnh - Hiếu (Nguyễn Văn Vĩnh - Phạm Quỳnh - Nguyễn Khắc Hiếu) Hai người đầu được sự bảo trợ đắc lực của thực dân Pháp, riêng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

"nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng" đã tự lực để trở thành nhà báo chuyên nghiệp Là người cùng thời, Nguyễn Văn Vĩnh (chủ bút tờ Đông Dương tạp chí từ năm 1913) sớm để ý và trân trọng tài năng thiên phú của Tản Đà, dành cho ông mục "Một lối văn xuôi mới" trên báo - cảm hứng văn chương đối với Tản Đà ngay thời kỳ đầu xuất hiện đã phát lộ cái mới mẻ, độc đáo Trong khoảng hơn mười năm, cái mới mẻ và độc đáo ấy đã biểu lộ thành tinh hoa một sự nghiệp thi ca, qua hai tập thơ Khối Tình Con I (1916) và Khối Tình Con II (1918)

Phạm Quỳnh, do "ghen ăn ghét ở" với tài năng được bộc lộ một cách khác thường của Tản Đà, và chính do việc Tản Đà không giống mình (một tay bỉnh bút khét tiếng mị dân, chễm chệ ngồi chủ bút Tạp chí Nam Phong - một tờ báo làm tay sai cho thực dân Pháp) Phạm Quỳnh đã phê phán, mỉa mai cay độc cái "ngông nghênh, lồ lộ " từ cảm hứng phơi bày cái Tôi" thẳng tuột của thi sĩ Trên tờ Nam Phong (số 11/1918) không những Phạm Quỳnh phê phán cuộcđời Tản Đà chìm đắm vào những giấc mộng lớn, mộng con nên thơ chỉ toàn

"mộng" đến "mị"; mà còn châm biếm "thân không bằng mộng, nên mộng cho cam thân" trong Giấc mộng con, trong thi hứng thoát ly của Tản Đà Dù trọng tài Tản Đà (có lúc khen) nhưng Phạm Quỳnh không hiểu và cố tình không hiểu một tâm hồn phóng khoáng, một cảm hứng bay bổng của thi nhân mở đầu cho một chủ nghĩa lảng mạn kiểu mới

Cảm hứng nghệ thuật của Tản Đà là cảm hứng phát xuất từ nột thi sĩ có cốt cách nhà Nho, từ toàn bộ di sản văn hóa quá khứ, và ràng buộc với di sản đó Từ đó, thơ Tản Đà đã ít nhiều chịu tác đông từ một môi trường sống đang chuyển mình xa rời những gì từng gắn bó với cái cũ Cho nên khi nói với Lưu Trọng Lư, Tản Đà đã từng phê phán Phan Khôi (người được coi là mở đầu cho Thơ Mới) rằng: "Cái việc của anh nhà Nho chạy theo Tây học ấy (chỉ Phan Khôi) chỉ đáng coi như là một việc lập dị mà thôi" Và đến năm 1936, sự đối kháng

Trang 7

quan điểm về thơ cũ và thơ mới giữa Tản Đà và Lưu Trọng Lư đã không thể tránh khỏi Nhưng đó là về hình thức của thơ Tản Đà phát biểu trong cuộc nói chuyện với họ Lưu Không phải đợi đến ông Phan Khôi, người làm thơ mới nhận thấy cái sự quan hệ của thi -thể Xưa kia, người ta đã từng phóng túng, và để ý đặc biệt đến cái hình thức của nó."(1).

Điều đem ra chế giễu nhau của làng thơ mới và làng thơ cũ dường như chủ yếu là hình thức của thơ, và Tản Đà từng đại diện cho thơ cũ để lên tiếng coi trọng "thi - thể", những ràng buộc về hình thức bài thơ Lưu Trọng Lư kể tiếp về ý kiến của thi sĩ Tản Đà trong bài viết trên " Thơ là như gạo và nhân Cái thể thơ là như lá bọc ở ngoài Bánh muốn ra hình gì cũng tùy ở khuôn lá bên ngoài " Tản Đà đã không hiểu hết Thơ Mới, bởi Thơ Mới là "mới cả nội dung" Thế nhưng chính sự đổi mới cảm hứng, thi hứng trong tác phẩm của ông đã là sự chuẩn bị cho Thơ Mới; cũng là cái mà trước đó Phạm Quỳnh đã từng mỉa mai: đưa cái "Tôi" lừng lững, lột trần cho mọi người xem, xê dịch cùng khắp, đi ở cõi trần và đi cả lên trời, vào những mộng rồi mị

Người ta đã nhìn ra và công nhận cái mới trong cảm hứng của thi nhân Tản Đà Đó là

sự "cá tính hóa cảm hứng" mà phong trào Thơ Mới từng thừa nhận ảnh hưởng, nhất là với cái

"Tôi" vừa thật thà, sống động; vừa bay bổng trong nguồn cảm hứng lãng mạn thoát ly khỏi ông

Trước năm 1945, đánh giá về cảm hứng hay những vấn đề có liên quan đến cảm hứng sáng tác của Tản Đà, dường như người ta chỉ mới dừng lại ở sự phát hiện ca ngợi nhưng chưa đào sâu vào những cảm hứng đó

Năm 1939, nhà phê bình văn học Lê Thanh có nhận định về sự biểu hiện cảm xúc của Tản Đà " Với những câu chuyện sống quá, ông là một thi sĩ thường Nhưng khi ông nói nhớ

mà không biết nhớ ai, ông thương mà không biết thương ai, ông than mà không biết than về cái gì, thì ông là thơ sống, và thơ của ông là chất trong như lọc với những cảnh tượng không

Trang 8

rõ rệt, những hình ảnh lờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút; với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mỹ "(1) Tác giả đã ca ngợi Tản Đà với những cảm hứng "cách tân" trong thơ, những bản đàn lòng du dương đã đáp ứng được những mong đợi của con người thời đại Điều mà Lê Thanh ca ngợi trên được nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ sau này tóm tắt lại về Tản Đà: Ta thấy ở tình cảm Tản Đà một biệt thái là cái khuynh hướng thoát ly Nếu lãng mạn là một cơn khủng hoảng tinh thần thì quả tới đây người Việt Nam mình mới thật biết sự lãng mạn "(2) Phạm Thế Ngũ đã nêu rõ ý nghĩa

"luồng gió mới" mà Tản Đà tạo nên được cho văn học lúc ấy là "tính chất lãng mạn" của thơ

ca, là "chủ nghĩa lãng mạn" mà Thơ Mới sau đó coi là nội dung bao trùm cho một giai đoạn thơ "tiền chiến" (trước 1945)

Trong số những ý kiến có liên quan đến cảm hứng của Tản Đà trong sáng tác, chúng tôi để ý đến điều Trương Tửu đề cập(3) Ông Trương Tửu có nói "Thơ Tản Đà luôn luôn có hai màu sắc, hai ý vị đi nối tiếp nhau: bi quan và lạc quan Hai thứ đó đi theo nhau liên miên ban cho thơ Tản Đà một phong thể kỳ diệu và một hương thơm phức tạp" Điều đó khiến ta hiểu vì sao có lúc thơ Tản Đà tràn ngập sức sống, hoài bão hành động; có lúc lại buồn bã tức bực, ủ ê, chán nản và thơ chính là những tâm trạng cuộc đời, luôn biến đổi Trương Tửu nhìn thây rõ thơ Tản Đà chính là những tâm sự, những trăn trở, là người bạn cùng một con đường: " Thơ Tản Đà là một công việc tự suy tưởng, tự đàm luận, tự kích thích của nhà Nho Nguyễn Khắc Hiếu Thơ là sức mạnh luân lý, một cái gương để tự soi bóng mình, ở những cảnh ngộ đảo điên của số kiếp " Cảm hứng lãng mạn và cảm hứng về đạo lý đã cùng song song trong một con người Tình cảm trong thơ Tản Đà có thể là buồn, nhưng không ủy mị Đó là cái buồn chung của một giai cấp trên con đường đến tàn cục Và cảm hứng ấy đã bắt nguồn ở Tản Đà như một sứ mệnh tiền định:

(2) Việt Nam văn học sử giản ước tân biên - tập III phần về Tản Đà tr 401 NXB Đồng Tháp 1997

(3) Trang Tửu, Cái hay cùa Tản Đà, Tạp chí Tao Đàn, tr 13 đến 26, 1939

Trang 9

Tiên sinh cảm bồng bột bao nhiêu lại phô diễn cái tình bồng bột ấy căn cơ bấy nhiêu Tiên sinh có thừa thãi hai đức tính cốt yếu làm nên một thi hào: ý thức của thơ và lương tâm của nhà thơ " đồng thời ông đánh giá cảm hứng thi ca của Tản Đà chính là thuộc về thế giới riêng của thi nhân, người đời không thể bước vào được:" Theo một nhận xét rất đích đáng của thi hào Valéry, những cõi thơ thuần chất giống như lửa; loài người chỉ có thể đi qua không thể lưu trú tại ấy được Mà cũng chỉ có một ít người đặc biệt được quyền đi qua chốn

ấy thôi Những người đặc biệt ấy là các thi nhân Có thể nói, Tản Đà nhiều tưởng tượng hơn trí tuệ Chính cái tưởng tượng này là nguồn gốc của những tia chớp thi tứ của tiên sinh Nó dắt tiên sinh đến những cõi thơ thuấn chất, mau chóng và đột ngột Trong lúc tiếp xúc với những cõi ấy, trí tuệ tiên sinh nẩy lửa Tưởng tượng và trí tuệ đồng thời liên minh với nhau, hòa nhập với nhau, tạo nên các đề hứng ly kỳ của thơ Tản Đà trong đó tình cảm là kẻ đến sau chót - nhưng đến để rồi không đi nữa Bởi vậy, thơ Tản Đà có dư vị Nó làm ta ngơ ngác rồi làm ta nghĩ ngợi trước khi làm ta cảm xúc."(1)

Ý thức về thơ và lương tâm nhà thơ luôn là điều chi phối cảm hứng nghệ thuật của Tản Đà Thơ ông lay động được những cảm xúc nơi người đọc bởi Tản Đà đã nói hộ cho tâm tư con người thời đại ông Thơ Tản Đà sống, và Tản

Đà cũng sống với thơ Những trăn trở đời sống đã khơi nguồn cho cảm hứng Đó là những tình cảm, suy nghĩ thật thà, không giấu giếm

Xuân Diệu là người từng yêu thơ Tản Đà, đọc và nghiền ngẫm gần ba mươi năm, để thấy được cảm hứng sáng tác của Tản Đà dù ở đề tài nào cũng phát xuất từ cái "Tôi" - một bản ngã đầy cá tính Trong bài "Công của thi sĩ Tản Đà" nhằm tôn vinh nhà thơ lớn, Xuân Diệu nêu rõ: Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đàng hoàng bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám giữ một cái "Tôi"(2) Cảm hứng sáng tác Tản Đà nảy sinh từ những mâu thuẫn của đời sống Ông đưa những nỗi buồn vui, lo âu, hi vọng, khao khát yêu đương vào văn học

Trang 10

Cảm hứng của thi nhân trong sáng tác còn là để khẳng định một giá trị tự thân, đó là cái "tự ái, tự trọng, tự tôn" mà ông gọi là ba đức riêng Tản Đà coi mình là hào kiệt, hành động vì một giá trị lớn Ông bác bỏ chủ trương ẩn dật, và đi xa hơn lớp tài tử trước Ông quyết tâm bằng ý chí để "quang gánh với đời" nhưng ông giữ mình trong sạch, không đi cùng giai cấp tư sản

Trước 1945, cái "Tôi" ấy đã từng được hoan nghênh, cũng từng bị con mắt soi mói cho là "tự lột trần" trơ trẽn! (lời mỉa mai Tản Đà của Phạm Quỳnh) Nhưng dường như hầu hết đều đồng tình ca ngợi một tài hoa thi ca, một "luồng gió mới thơm mát" giữa làn ranh giới thời gian của Thơ Cũ và Thơ Mới Từ Lưu Trọng Lư đến Hoài Thanh, từ Hoài Thanh đến Vũ Ngọc Phan đều đã khẳng định vị trí Tản Đà trong nền văn học nước nhà, nhưng đều coi Tản

Đà là thi sĩ thuộc về thời trước

Sau 1945, việc đánh giá Tản Đà tiếp tục là đề tài của giới nghiên cứa, phê bình văn học Dù đứng trên quan điểm khoa học của chủ nghĩa duy vật nhưng trong thời kỳ đầu, bởi chính sự phức tạp của Tản Đà, cái nhìn về Tản Đà chưa được thỏa đáng và trọn vẹn Đó là những ý kiến của Lê Quý Đôn "Thơ Tản Đà có màu sắc lãng mạn phong kiến suy đồi"(1) ; của Hồng Chương " Tác phẩm của ông chủ yếu nói lên cái tâm trạng của giai cấp phong kiến đã suy tàn mất hết tin tưởng vào tiền đồ tương lai"(2)

Đặc biệt có ý kiến cho là tư tưởng Tản Đà chịu ảnh hưởng của ý thức hệ tư sản Đó là những ý kiến của các ông Minh Tranh, Nguyên Kiến Giang " Mấy bài văn của cụ Ngô Đức Kế Giấc mộng lớn, Giấc mộng con của Tản Đà nằm trong phong trào dân tộc của giai cấp

Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật, NXB Sự thật, Hà Nội 1962

 Về giai cấp tứ sản Việt Nam, NXB Sự thật, Hà Nội, 1959

Trang 11

Ông Tầm Dương (1) đã cho rằng căn bản ý thức Tản Đà nằm trong ý thức hệ tư sản, một bộ phận khá lớn nằm trong ý thức hệ phong kiến, lại một tiểu bộ phận khác là tư tưởng tiểu tư sản rồi chứng minh tư tưởng tư sản tản Đà đẻ ra "tinh thần dân tộc có tính chất cải lương", "tinh thần đại chúng", "tinh thần lãng mạn " và qua thái độ "hô hào thực nghiệm phát triển kinh tế - của Tản Đà Nhưng có phải thực chất ý thức tư tưởng Tản Đà là đại diện cho tư sản?

Cũng ở miền Bắc thời kỳ đầu sau 1954, ông Nguyễn Đình Chứ đánh giá Tản Đà bằng việc đi sâu vào đặc điểm nội dung đồng thời đưa ý kiến khá dè dặt về tư tưởng Tản Đà" Tản

Đà căn bản là nhà thơ lãng mạn thoát ly Bên cạnh tư tưởng thoát ly còn có tư tường yêu nước và ý thức lo đời" và nhận xét "Tản Đà không chỉ có lãng mạn tiêu cực mà còn có một nét lãng mạn tích cực" (2)

Ở miền Nam trước 1975, không ít ý kiến đã đánh giá cao Tản Đà Tiêu biểu, đó lả của ông Trịnh Vân Thanh (3), dành nhiều trang ca ngợi công của thi sĩ Tản Đà đối với văn học dân tộc Ông phân tích cái mới của Tản Đà trong giai đoạn giao thời đó, sự phong phú của những cảm hứng nghệ thuật Dù chưa đi sâu khai thác và chỉ ra căn bản ý thức hệ của nhà thơ, nhưng ông đã có những cảm nhân riêng đáng tham khảo Về Tản Đà, tác giả có nhận định:

"Ông Vũ Ngọc Phan đã cho rằng Tản Đà vì không được thỏa mãn về đường vật chất nên đâm ra bi quan, chán đời, ngông Còn ông Phạm Quỳnh lại cho rằng "thân không bằng mộng, nên mông cho cam thân", đó là cái lý do khiến Tản Đà thích sống trong "mộng mị" Ta thấy những lời phê bình trên quá khắt khe hời hợt, nếu không muốn nói là hoàn toàn sai lệch

Ta có thể kết luận cái ngông và mộng của Tản Đà chỉ là một lối thoát để vơi bớt nỗi sầu nhân thế, để khỏi phải nhìn thấy thực tại quá não nề trong kiếp sống nhiều thương đau, đổ vỡ Cái ngông của Tản Đà chỉ là một phương cách để thoát ra ngoài cuộc sống quá gò bó, khắt khe

để vươn lên hồn thơ được siêu thoát "

Trang 12

Cũng ở miền Nam trước đây, ông Phạm Văn Diêu(1)

hết lời ca ngợi Tản Đà về tài năng vận dụng những đặc sắc của ngôn ngữ để diễn đạt nghệ thuật: "Nói đến thơ ca, ông quả thật là một thiên tài Dù là ở thể cách nào mặc lòng, điều mà ta nhận thấy vẫn là cái tính chất phong phú trong mỹ cảm đẹp đẽ, kỳ tuyệt trong văn tự Hình ảnh lại dễ dàng hào hoa, âm điệu êm ả, tiêu dao dồi dào, gây thành những rung động tràn lan man mác đi sâu vào lòng người "

Nhìn chung, ở miền Nam các công trình nghiên cứu có nêu lên những biểu hiện tư tưởng, xác định vị trí, sự cống hiến của Tản Đà trong nền văn chương Việt Nam; đề cập đến cái mới của nội dung và hình thức nhưng mức độ còn hạn chế Sau năm 1975, đặc biệt trong hơn mười năm đổi mới gần đây, đứng trên quan điểm mới để nghiên cứu Tản Đà đã có nhiều công trình đánh giá cao mặt tích cực của nhà thơ Tản Đà được coi là thi sĩ quan trọng nhất trong giai đoạn thơ cũ chuyển sang thơ mới ở những năm 30; người chuẩn bị cho Thơ Mới, đem đến cho thơ đầu thế kỷ XX một luồng gió mới bằng lối cảm nghĩ độc đáo, tài hoa, bằng một cảm hứng chân thực của cái "Tôi"

Cũng với Tầm Dương, nhân 100 năm ngày sinh và 50 năm ngày mất của Tản Đà, ông đăng trên Tạp chí Văn học(2)

và phân tích thơ Tản Đà có những nét mới dưới góc độ thi pháp Thi pháp được biểu hiện qua các thủ pháp thơ ca, các phương tiện, phương thức, phong cách, ngôn ngữ là những yếu tố góp phần tạo nên cảm hứng sáng tạo của nhà thơ

Người ta lật giở lại những nghiên cứa, phê bình về Tản Đà trước đó, đặc biệt là những vấn đề mang tính chất cốt lõi như tử tưởng sáng tác, sự quan hệ giữa ý thức hệ chủ yếu của Tản Đà đối với cảm hứng sáng tác Những cây bút nghiên cứu, phê bình có công trình đáng

kể trong giai đoạn này là các ông Trần Đình Hươu, Văn Tâm, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Khắc Xương (con trai Tản Đà)

(1) Việt Nam văn học giảng bình, NXB Tân Việt, Sài gòn 1961

(2) Tạp chí Văn học số 3, 1989, bài viết "Hữu - Vô tương tác trong thi pháp Tản Đà"

Trang 13

Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu(1) đã tổng kết: Trong tác phẩm của Tản Đà có nhiều dấu vết của hình thức trung gian của những dấu nối của văn học Đông và Tây Điều đó làm cho Tản Đà có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam Giá trị tiêu biểu cho một thời đại dù thời đại đó ngắn ngủi: Thời cận - hiện đại"

Không đi sâu đánh giá cái gọi là "cảm hứng nghệ thuật" của Tản Đà, nhưng giáo sư

đã cho phép chúng ta có một cơ sở nhận định để tìm kiếm những cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Tản Đà Đó còn là việc khẳng định Tản Đà như là một mẫu "nhà Nho tài tử" đặc biệt và đầy cá tính; một nhà Nho tài tử sống và sáng tác như một nhà văn chuyên nghiệp trong xã hội tư sản Tản Đà không là mẫu nhà Nho hành đạo - ẩn dật, không sống "một lòng" theo "tâm, chí, đạo" mà là "tài tình" Tản Đà cũng không như kiểu nhà Nho giữa sự bế tắc thân thế buông lời than vãn "tài tử đa cùng", "tài mệnh ghét nhau" Theo Trần Đình Hươu, Tản Đà là nhà nho tài tử cuối cùng cho đẳng cấp của mình

Cũng trong câu chuyện nêu trên, Trần Đình Hượu còn nhận định việc Tản Đà đã đưa cái "tôi", đưa cá nhân đặt một cách thách thức bên cạnh con người chức năng của xã hội luân thường, là quan niệm làm người vẫn ngự trị trong xã hội ta lúc đó Cá nhân là điểm xuất phát

để bàn về thái độ con người trong cuộc đời đó là chất men say người trong những "Khối tình" của Tản Đà Trần Đình Hượu khẳng định việc biểu lộ tình cảm yêu nước của Tản Đà cũng chỉ thành công trong thơ Nói về sự cách tân của cảm hứng sáng tác của Tản Đà, ta thấy ông viết: "Với bản tình đa tình và cái tôi trữ tình lan tỏa trong thơ và văn xuôi của ông, Tản

Đà góp phần chuẩn bị nhiều hơn cho sự xuất hiện của chủ nghĩa lãng mạn"

“Nguyễn Khắc Xương trong Tản Đà, thơ và đời”(2)

, có một ý kiến gợi ý cho người đọc khi muốn đặt vấn đề phân tích cảm hứng nghệ thuật của Tản Đà: "Tản Đà là điển hình cuối cùng của Nho sĩ" quân tử và Nho sĩ tài tử, là điển hình đầu tiên của người nghệ sĩ chuyên nghiệp kiểu mới, của nghệ sĩ lãng mạn dân chủ tư sản Nếu có thể nói gì về Tản Đà,

có lẽ cũng chỉ cần nói đơn giản Đây là con người phải có của văn học Việt Nam, con người

Trang 14

ngã và có sự nghiệp" Trong bài viết "Vấn đề Tản Đà dưới ánh sáng tư duy mới"(1), ông còn khẳng định cảm hứng yêu nước của Tản Đà là một trong những cảm hứng chủ đạo, cần được đánh giá lại chiều sâu tình cảm và tâm sự khá phức tạp cùa nhà thơ để tìm kiếm những giá trị mới, bằng quan điểm và phương pháp tư duy mới!

Trong phần nghiên cứu về Tản Đà (2), Trần Ngọc Vương đã cố gắng nêu lên những nhận định mới và có sức khái quát Cùng theo hướng của Trần Đình Hượu, ông xác định Tản

Đà có ý thức hệ Nho giáo, là phần cốt lõi, và là một nhà Nho tài tử Theo hướng đó, Trần Ngọc Vương nêu rõ "mẫu người" mà Tản Đà là đại diện, xác định thực chất tư tưởng sáng tác của Tản Đà Với cốt cách nha Nho sống giữa thời Nho Giáo suy vi, cuộc đời Tản Đà là bức tranh nhiều màu sắc và sự phức tạp trong tư tưởng là do chính ông cố tình tạo ra Ý thức hệ Nho gia là bản chất, nếu có mâu thuẫn (như ý kiến của Tầm Dương: Tản Đà là "Khối mâu thuẫn lớn"), nó không phản ảnh đúng bản chất, mà chỉ xuất hiện trong một cách nhìn dừng lại

ở lằn vô hiện tượng Ông lại cho rằng: Tản Đà như một điện tử quay quanh hạt nhân Nho Giáo những trên nhiều quỹ đạo "phá cách", và tính thống nhất bộc lộ giữa các mâu thuẫn với một cái lõi "y cựu" của nó, trong tình hình chung của đẳng cấp nhà Nho vận động đến tàn cục, trang 350" Trần Ngọc Vương xác định hai đại lượng trong nội dung sáng tác, cũng là hai nét cơ bản nhất trong bút pháp Tản Đà: Nho gia và tài tử Như vậy, cảm hứng sáng tác trong "văn chơi" sẽ viết theo bút pháp người tài tử và đối với "văn thuyết lý", "vị đời" sẽ viết theo yêu cầu của Nho Giáo chính thống Cảm hứng sáng tác của Tản Đà luôn chịu sự tác động của quan niệm Tản Đà chù trương văn chương là "thiên mệnh", văn chương cần phải xứng đáng đúng đúng chỗ đúng chức năng của nó như xưa! (trang 363 đến 365)

Theo ý kiến Trần Ngọc Vương, tác phẩm của Tản Đà là tiêu biểu cho văn học cũ tự phủ định, nhà Nho tự vượt lên trên mình, và đó là sự đóng góp cuối cùng để góp phần cho sự

ra đời một nền văn học mới ông đã cho rằng "mâu thuẫn chủ yếu trong tư tưởng và sáng tác Tản Đà là mâu thuẫn trong lòng cái cũ, trong ý thức hệ Nho Giáo"; cảm hứng sáng tác của

(1) Báo Giáo viên nhân dân, tr 15, số đặc biệt "Nhìn lại một số hiện tượng văn học" 1989

(2) Trích "Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung" NXB Giáo dục 1998

Trang 15

Tản Đà dù say hay tỉnh đều có tính thống nhất Ý kiến của ông trong chuyên luận cần để ý thêm là: "Cảm hứng sáng tác không thực sự đến với Tản Đà từ những đề tài thời sự Về cơ bản, nội dung sáng tác Tản Đà mâu thuẫn trong những nội dung sáng tác của văn học Nho gia

đã từng mâu thuẫn Không phải trong Tản Đà là nội dung cũ mâu thuẫn với nội dung mới một cách gắt gao " (trang 366)

Như vậy việc nghiên cứu và đánh giá Tản Đà trong giai đoạn giao thời 1900 - 1930 là một việc khó Sự lý giải về Tản Đà gây nhiều tranh cãi, nên việc tìm ra và đánh giá những cảm hứng nghệ thuật của Tản Đà cũng nên coi là những giả định, những ý kiến mang tính chát tham khảo Trước tình hình đó, luận án không tham vọng giải quyết rốt ráo vấn đề đã đưa ra, mà chỉ đề nghị xem đây là những kiến giải bước đầu về "cảm hứng nghệ thuật trong thơ Tản Đà" với những gì khả năng người viết có thể làm được

4 Phạm vi đề tài:

Sáng tác của Tản Đà phong phú về nội dung và đa dang về thể loại Cái nhìn bao trùm khắp các thể loại sẽ giúp ta thấy được rõ chân dung Tản Đà Mấy mươi năm qua, phần thơ ca của Tản Đà luôn được xem là bộ phận tiêu biểu nhất để quan sát và đánh giá những gì thuộc

về bản sắc, cốt lõi của Tản Đà Hơn thế, "công của thi sĩ Tản Đà" vốn đã được xem là phần thơ ca, đáng đưa vào kho tàng văn chương Việt Nam thế kỷ XX Phần thơ ca, trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi sẽ khảo sát qua phong thi, hát nói, hát xẩm, lý, ca trù và các loại thơ không định thể của ông Tuy nhiên, phần văn xuôi của Tản Đà với những tương quan về nội dung nhất định với thơ ca cũng sẽ được nhắc đến với ý nghĩa tham khảo, so sánh

5 Phương pháp tiếp cận:

Trước khi đặt vấn đề nghiên cứa một khía cạnh văn chương Tản Đa bất kỳ ai cũng biết Tản Đà là một hiện tượng phong phú và phức tạp của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX

Trang 16

Việc tìm hiểu văn học giai đoạn Tản Đà sống và sáng tác, những vấn đề lịch sử, xã hội, tư tưởng giai đoạn của Tản Đà là thực sự quan trọng Điều đó trong luận án sẽ được sử dụng như cơ sở lịch sử - xã hội không thể thiếu

Người viết kết hợp hai hướng vừa phân tích; vừa giải thích để làm rõ những cảm hứng nghệ thuật trong thơ Tản Đà Luận án sẽ chú ý nguồn gốc lịch sử - xã hội của những cảm hứng sáng tác đố Một trong những phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử để xác định tính chất giao thời, những cảm hứng chủ đạo xuyên suốt thi phẩm Tản Đà trong bối cảnh xã hội và văn hóa, văn chương đầu thế kỷ XX

Việc phân tích, đánh giá trong một phạm vi nhất định đặc điểm tư tưởng, sáng tác của các nhà thơ đi trước và cùng thời với Tản Đà để tìm ra tương quan của đặc điểm tư tưởng ấy với cảm hứng sáng tác là một thao tác cần thiết Phương pháp so sánh đối chiếu sẽ được sử dạng để thấy được những cảm hứng sáng tác của Tản Đà có chỗ giống hay khác những nhà nho tài tử trước đó, và thơ Tản Đà đã chuẩn bị gì cho thế hệ thỉ sĩ giai đoạn sau

Đồng thời, sự chọn lọc - đánh giá và hệ thống hóa một cách khoa học tác phẩm thơ Tản Đà sẽ giúp cho việc tìm và hiểu đúng những cảm hứng chính yếu của nhà thơ

Trang 17

7 Cấu trúc của luận án:

A/ Phần mở đầu

B/ Phần nội dung, gồm 3 chương:

I Cuộc đời và sự nghiệp Tản Đà Những sự kiện ảnh hưởng đến cảm hứng sáng tác

II Cảm hứng dân tộc

III Cảm hứng lãng mạn

C/ Kết luận

Trang 18

B NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG NHỮNG

SỰ KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẢM HỨNG SÁNG TÁC

1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 25/5/1889 (tức ngày 20/4, năm Kỷ Sửu) và mất ngày 7/6/1939 (cũng nhằm ngày 20/4 năm Kỷ Mão); quê gốc tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây Khê Thượng là một làng trung du nhỏ mà trù phú bên sông Đà, cách núi Tản Viên 10 km đường chim bay Nay Khê Thượng nhập với một số xã khác trở thanh xã Sơn Đà thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội

Vốn gắn bó, yêu mến quê bương, nơi chốn nhau cắt rún, nên Nguyễn Khắc Hiệu đã ghép hai danh từ núi Tản và sông Đà để dùng làm bút hiệu: Tản Đà

Nguyễn Khắc Hiếu thuộc một dòng họ khoa bảng lâu đời, trước ở làng Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội, có sông Tô Lịch chảy qua Nay nhà thờ tổ vẫn còn ở đấy, được xếp vào di tích liệt hạng, vì có nhiều nhân vệt lịch sử và danh nhân văn hóa của đất nước như ông Nguyễn Công Thế (Kiều Quận Công - Thượng Thư Bộ Lễ, có công đấu tranh chống nhà Thanh bảo vệ biên cương); Nguyễn Văn Siêu (cây bút tài hoa mà

Tự Đức từng ca ngợi, cùng với Cao Bá Quát)

Trang 19

Xuất thân từ một gia đình phong kiến quan lại suy tàn, cụ thân sinh Nguyễn Khắc Hiếu là Nguyễn Danh Kế đã làm ngược lại ý ông cha (không tham gia cử nghiệp), ra ứng thí

và đỗ cử nhân triều Tự Đức Cụ bắt đầu con đường làm quan từ tri huyện Nam Sang, tri phủ

Lý Nhân, đến án sát Ninh Bình Nguyễn Danh Kế là một bậc danh nho, làm quan có tiếng thanh liêm và rất thương dân Ông còn mang cốt cách một nhả nho tài tử, nên trong chốn bình khang đã gặp và lấy một người làm vợ thứ ba (khi ông làm tri phủ Xuân Trường) Đó lả một đào nương tài sắc, có nhân cách, phong lưu, từng làm nhiều thơ; ở phố Hàng Thao - Nam Định, tên Nhữ Thị Nghiêm (có sách ghi tên Lưu Thị Hiền), được gọi là bà Phủ Ba Cuộc hôn nhân giữa hai người tài tử ấy đã sinh ra (Nguyễn Khắc Hiếu Ông là con thứ tư (con út) của

bà Nghiêm, là con trai thứ 11 của ông Kế Lúc ấu thơ được gọi là "Ấm Cứu", khi thi ấm sinh mới đổi là "Ấm Hiếu" - Nguyễn Khắc Hiếu Có hai người anh cùng cha khác mẹ: người anh

cả Nguyễn Tái Tích, người anh thứ là Nguyễn cổn Ông còn có một người anh cùng mẹ khác cha là Nguyễn Mạnh Bà Phủ ba có hai người con gái và người sau tên là Trang (chị của Tản Đà)

Lần theo bước chân, cuộc đời Nguyễn Khắc Hiếu ta sẽ biết những chặng đường, những thăng trầm trong văn nghiệp của ông; sự tác động của cuộc sống đến văn nghiệp đó

Năm Nguyễn Khắc Hiếu lên 3 tuổi, bố mất (l891) Năm lên 4, bà Phủ Ba vì một sự bất hòa trong gia đình, đem người con gái út (cô Trang) ra đi và tìm về nghề cũ với tiếng đàn câu hát, khi Hà Nội, khi Bắc Ninh Hành động của bà đối với gia đình nhà nho là không thể chấp nhận được, làm cho Nguyễn Khắc Hiếu từ đây về sau vô cùng đau đớn; vết thương lòng của tuổi trẻ đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc đời ông sau này Những nỗi buồn thấm thía mà

ta tìm thấy bàng bạc trong lời thơ Tản Đà, có lẽ một phần lớn do nguyên nhân này mà ra!

Trang 20

thương thân phận người ca kỹ (Cánh bèo, Đời đáng chán ) Người anh cả của Nguyễn Khắc Hiếu là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng ra làm tri huyện, rồi thăng chức đốc học Nguyễn Khắc Hiếu đã được ông này nuôi dưỡng, dạy dỗ và rèn luyện theo đường cử nghiệp Ông Nguyễn Cổn đỗ tú tài; ông Nguyễn Mạn làm lục sự, giỏi khoa hà lạc lý số và nghề thuốc - chính nhờ ông này kèm cặp mà về sau trong những lúc lỡ vận, Tản Đà có tài mọn để kiếm tiền đắp đổi qua ngày (xem số hà lạc)

Theo lời kể của Tản Đà (Giấc mộng lớn), lúc lên 5 tuổi ở Nam Định học chữ Hán (Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi ) Tự thuở ấu thơ đã bộc lộ cái bệnh đa tình bẩm sinh, cái lòng mê khoa cử cũng từ đấy "do thích nhất trong sách cổ Hán văn là 2 câu: Hoa cù hồng phấn nữ, tranh khán lục y lang - Đường hoa gái đẹp má hồng, tranh nhau mà ngắm các chàng

áo xanh hơn 10 tuổi thông thuộc Hán văn, 14 tuổi tập làm thơ

Nguyễn Khắc Hiếu được ông phó bảng Nguyễn Tái Tích đặt nhiều hi vọng đỗ đạt cao

để làm rạng rỡ tông môn Nhưng người theo Tây học ngày càng đông Hán học dần không còn thích hợp, chữ Quốc ngữ được đem ra áp dụng trong chương trình giáo dục cùng lúc với chữ Pháp Năm 16, 17 tuổi trở đi, Nguyễn Khắc Hiếu làm quen với Quốc ngữ Ông Tích về làm đốc học ở Hà Nội, gặp lúc nhà nước mở trường Tân Quy dạy chữ quốc ngữ cho nho sĩ, Nguyễn Khắc Hiếu được theo anh về học ở trường này Trong dịp học ở Tân Quy, ông có viết bài luận "Âu - Á nhị châu hiện thế" khiến cả thầy và bạn hoan nghênh tán thưởng Bài này được một phóng viên Trung Quốc ở Hà Nội gởi về nước đăng trên một tờ báo Cùng lúc, phong trào cổ súy quốc học của Đông Kinh Nghĩa Thục đang sôi nổi, phong trào báo chí cũng manh nha (ra đời các tờ Đăng Cổ tùng báo, Đại Việt tân báo ), tư tưởng cải lương về canh tân xẫ hội nổi lên, nhất là ở thành thị

Lúc theo học trường Tân Quy, vốn là kẻ đa tình, Nguyễn Khắc Hiếu đang ở phố Hàng Nón thường gặp cô Đỗ Thị bán sách ở phố Hàng Bồ là người có nhan sắc, biết cả chữ Quốc ngữ và thơ Từ giao tế đến trao đổi tâm tình, đã thật là "tình trong như đã mặt ngoài còn e",

Trang 21

khách đa tình đã muốn thả lá đề thơ nhưng còn ngần ngại Người anh rể của ông là Nguyễn Thiện Kế (một nhà thơ trào phúng) rất quý mến cậu em vợ, biết chuyện liền đến dạm hỏi Đỗ Thị cho Nguyễn Khắc Hiếu, mới hay nàng Đỗ và nghiêm phụ chỉ muốn kết duyên với người

đỗ cử nhân, hàng tri huyện mà thôi: Dùng chức ấm sinh ông Hiếu hăm hở thi vào trường Hậu

Bổ để mong hài lòng người ngọc Từ 1909, 1911, 1912, mấy lần ông Hiếu đều thi hỏng, thế

là "duyên trái Hà Thành, thi bay Nam Định" Từ Nam Định về Hà Nội trong nỗi thất bại chua cay, Nguyễn Khắc Hiếu đã chứng kiến cảnh Đỗ Thị đi lấy người khác - một cậu cả con quan Huyện Nguyễn Đây là sự kiện đau lòng thứ hai có ảnh hưởng đến tâm hồn của nhà thơ sau này: thất bại cử nghiệp, thất chí và thất tình! Mối tình tan vỡ đặc biệt còn ám ảnh thi nhân mãi về sau, một con người giàu tình cảm nhưng lại thiếu vắng tình cảm và đau đớn vì tình cảm:

Vì ai cho tớ phải lênh đênh Nặng lắm ai ơi một gánh tình !

Nguyễn Khắc Hiếu tưởng chừng trở nên điên loạn, đan xót vô hạn khiến ông bỏ lên Hoà Bình tìm cảnh sơn cước để có thể quên mối sầu tình tan vỡ Sau ông lại về cố hương, nhưng cái sầu trong khung cảnh tĩnh mịch lại như tăng thêm độ Để đỡ ưu phiền, ông rủ người bạn là tú tài Nghiêm Phúc Đồng đi thảm chùa Non Tiên, rồi tế Chiêu Quân như muốn

tỏ lòng đồng điệu với những kẻ đau khổ như mình:

Cô ơi, cô đẹp nhất đời

Mà cô mệnh bạc thợ trời cũng thua

Muốn đồng cảm với một tâm hồn tận thuở xa xưa, thi sĩ lại chạnh lòng buông những lời ai oán, trong cảnh ngộ cô đơn, tâm tư tiếc nuối:

Ái ân thôi có ngần này

Trang 22

Ông sống "khổ hạnh" 3 tháng ở ấp Cổ Đằng, Sơn Tây; dư âm nỗi buồn chưa dứt! Và sau những nỗi sầu đau, những dòng thơ bắt đầu một thi nghiệp từ 1913 đã phôi thai cho dấu

ấn của thiên tài Một bài thơ yết hậu ghi nhận một bút hiệu để mở đầu cho tên tuổi một con người:

Văn chương thời nôm na Thú vui có sơn hà

Ba Vì ở trước mặt Hắc Giang bên cạnh nhà

Tản Đà!

Lang thang uống rượu, làm thơ thưởng trăng cũng vợi buồn, Nguyễn Thiện Kế đưa Tản Đà về nghĩ ở nhà Bạch Thái Bưởi - một nhà tử sản dân tộc lúc đó Ở đây, Tản Đà có dịp đọc Tân thư (qua tiêng Hán từ đó nhen nhóm một hoài bão, một lý tưởng có chiều mới mẻ, gạt bỏ con đường cử nghiệp Thế là, Tản Đà dần tỉnh ngộ giấc mơ "mũ bạc lọng xanh" và xoay hướng sang con đường viết văn làm báo, dựng sự nghiệp tinh thẩn với xã hội Năm

1915 lấy vợ, sau đó 1916 ông Nguyễn Tái Tích mất, cuộc sống giục Tản Đà chính thức bước vào làng văn Ông bắt buộc phái lăn thân vào đời, dùng văn thơ để mưu sinh và nuôi nấng vợ con

Đầu tiên, với bút danh Tản Đà, ông gởi đăng những bài luận thuyết văn xuôi ngắn trên Đông Dương tạp chí, khoảng 1915 Người đọc biết đến cái tên Tản Đà khi thưởng thức lối văn tài tử độc đáo và cái giọng ngông của tác giả Không hợp tác chính thức được trên tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh, cũng chẳng thể hợp tác với tờ Nam Phong tạp chí của Phạm Quỳnh, Tản Đà cũng từ chối việc giám đốc trường Hậu bổ gọi ông vào học (do mến tài ông) để có thể ra làm quan Ông tiếp tục làm văn, sáng tác thơ, viết báo "kiếm ăn xoàng"

Trang 23

Năm 1916, Tản Đà cho in tập thơ đầu tay Khối Tình Con; năm 1917 thêm tập ký sự Giấc Mộng Con Tản Đà bắt đầu nổi tiếng Năm 1918 ba tập Khối Tình bản chính, Khối Tình bản phụ, Khối Tình Con II (thơ) tiếp tục khẳng định một tài năng

Tản Đà xuống Hải Phòng viết tuồng cho rạp Nguyễn Đinh Kao: vở Tây Thi, Người

Cá, Thiên Thai Ông lại lên Hà Nội viết cho rạp Thắng Ý, Sán Nhiên Đài Từ 1919 đến 1920 dịch Đàn Bà Tàu (truyện có lời bình và thơ), sau là truyện Đài Gương; hai tập thơ giáo khoa Lên sáu, Lên tám Ông tiếp tục đọc thêm Tân thư (sách Âu Tây bằng chữ Hán), tư tưởng càng

có sự chuyển biến Tản Đà không chỉ muốn là một nhà thơ, nhà văn; ông muốn gắn bó với một tờ báo để phát lộ chí hướng

Năm 1920 đi du lịch Huế, Đà Nẵng, trở về viết truyện Thề Non Nước (trong có bài thơ Thề non nước rất quen thuộc với độc giả) Năm 1921, hội Nông Công Thương (của Nguyễn Huy Hợi và Nguyễn Thống) mời Tản Đà làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh Tản Đà sử dụng tờ báo để tuyên truyền chủ nghĩa hữu ái và thuyết Thiên Lương của ông Diễn thuyết về

"Đời đáng chán hay không đáng chán", thi sĩ nhằm giải thích thái độ "nhập cuộc" của mình Cho xuất bản "Thần Tiền" - một tiểu thuyết giàu chất hiện thực, tác giả phê phán thế lực đồng tiền thao túng xã hội Được 6 tháng, từ chức chủ bút Hữu Thanh, lý do để "phụng dưỡng mẹ già 80 tuổi "ở quê!

Năm 1922 ra Hà Nội lập Tản Đà Thư Điếm, rồi Tản Đà Thử Cục Ở đây, ông cho xuất bản Tản Đà Tùng Văn (tập thơ văn), tập Còn Chơi (tập thơ văn - 1922/1924), Quốc Sử Huấn Mông (1924), Trần Ai Tri Kỷ (Truyện - 1924), dịch Kinh Thi, Đại Học (1924), dịch Tỳ

Bà Hành (1925) Đến đây Tản Đà đã lộ diện trên văn đàn nước nhà với nhiều tư cách: một nhà thơ, một nhà văn, một cầy bút về sân khấi, một nhà báo chuyên nghiệp một triết gia Đã

có một nhân vật tiêu biểu của văn học buổi giao thời - Tản Đà, với tất cả vinh dự và những bi kịch phải nhận lãnh Ông là một - hiện tượng văn học đầy cá tính" những nói chung là vẫn in dậm dấu ấn của chính thời đại mình

Trang 24

Phong trào yêu nước từ 1925 dấy lên nhân việc Phan Bội Châu bị bắt đưa về Huế, Phan Chu Trinh về Sài Gòn Tản Đà bộc lộ tinh thần "nhập thế" tích cực hơn bằng hành động

cố gắng cho ra mắt tạp chí An Nam (1926) Được 10 số, báo bị đình bản, sau đó tờ báo chết

đi sống lại mấy lần làm nhà thơ lao đao không ít, chủ yếu do thiếu kém tài chính Thi sĩ ví cái lận đận trong cảnh chèo chống tờ An Nam như hình ảnh thuyền nan giữa ba đào gian khó:

Đường xa gánh nặng xế chiều Cơn giông biển lớn mái chèo thuyền nan

Những trăn trở vì tờ báo, những u uất qua ngày tháng đã như một định mệnh và một nỗi cô đơn khó ai có thể chia sẻ:

Mối đâu bối rối tơ tằm Lấy ai là kẻ đồng tâm gỡ cùng

Sau Thề Non Nước, tập Còn Chơi và một loạt tác phẩm mang ý đồ "nhập thế" sôi nổi

từ 1920 đến Ỉ927 Những cái nghèo và thời vận một nhà nho cùng với tờ An Nam đã khiến Tản Đà mệt môi An Nam tạp chí đình bản vào tháng 3/1927 Và cũng sau tập "Còn Chơi", nghĩa là từ 1925 trở đi, thơ và những tác phẩm cốt tử của một sự nghiệp thi ca không còn mấy Tản Đà thấm thía sự cô đơn, vắng bóng người cùng tâm nguyện:

Nghĩ thân thế mềm gan lắm lúc Nhìn non sông bạc tóc như chơi Trông ai mỏi mắt phương trời Nhớ ai đi đứng ăn ngồi thở than

Thi sĩ xếp lại công to việc lớn, làm một chuyến du Nam, thăm cảnh, thăm người Ông gặp gỡ Phan Bội Châu ở Huế, rồi vào Sài Gòn Tản Đà muốn nhờ thế lực tài chính của Diệp Văn Kỳ (cũng là một nhà báo) để làm tờ An Nam trong Sài Gòn, in trong Nam lại phát hành

ở Bắc nhưng thấy công việc phiền hà nên thôi Tình cảm yêu nước, tâm sự u hoài bộc lộ rõ

Trang 25

hơn qua nhiều chuyến đi Tản Đà viết cho mấy tờ Đông Pháp, Thần Chung để làm quen với độc giả Nam Kỳ, xong lại ra Bắc Ở Hà Nội, lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng là Nguyễn Thái Học đến tìm gặp (1927) nhưng do hiểu lầm mà cuộc gặp gỡ không đi đến đâu (Nguyễn Thái Học muốn bàn việc tục bản tờ An Nam của Tản Đà và muốn đề nghị tờ báo làm hậu thuẫn cho tổ chức chính trị của ông)

Cuối 1927, ông lại cùng Ngô Tất Tố vào Sài Gòn giúp cho tờ Đông Pháp thời báo của Diệp Văn Kỳ Tháng 2/1928 lại bỏ về Bắc, trên đường về có ghé thăm mả gia đình Nguyễn Huệ ở Phú Phong, làm náo động bọn quan lại Tây, Ta ở đây Sau lại về quê nhà, tự suy gẫm một thời gian trong vùng quê Vĩnh Yên, xong lần nữa xuống Hải Phòng do bị bọn quan lại địa phương làm khó dễ Có thể nói, đây là thời điểm "khủng hoảng" của thi sĩ Tản Đà sau những cuộc xê dịch liên tiếp và sự nghèo túng làm gò bó cuộc đời ông Nhưng khác với kiểu nhà nho như Nguyễn Công Trứ, Tản Đà không nói về cảnh nghèo một cách "khẩu khí", mà là rất thành thật và cay đắng Trong Giấc Mộng Con, cuộc đời "chênh vênh" của thi sĩ được nêu rõ: "vợ dại, con thơ, sự sinh hoạt trông nhờ ở một ngọn bút" Cuộc sống ở Vĩnh Yên là sự

"rút về phòng ngự" sau gần 2 năm lặn lội đường dài, miệt mài một tâm tưởng cho công cuộc khôi phục tờ An Nam tạp chí - đứa con cưng và là mảnh đất cuối cùng có giá trị để thực hiện

lý tưởng của cuộc đời ông Giấc Mộng Lớn (1929) là một tự truyện ra đời như một tâm tình chân thật của kẻ sĩ, một sự đối diện của cái "Tôi" với cuộc sống không hề giấu giếm Quyển

tự truyện giúp ta thấy rõ thêm cuộc đời chân thật của một thi sĩ: giữa những long đong nghèo túng là một bản ngã, một tính cách khác thường Trong những nẻo đường, những xê dịch của cuộc đời thật dược phơi bày ấy, người ta còn thấy kể cụ thể 4 mối tình của thi sĩ - điều mà đối với một nhà nho có thể là những thầm kín chẳng nói cho ai hay!

Tản Đà lại lên Hà Nội, năm 1930, cho tục bản An Nam tạp chí; nhưng tờ tạp chí lại èo uột khó nuôi mới được 2 số lại dừng Nó lại được phát hành ở Nam Định đầu năm 1931 được mấy số, lại đình bản Lần thứ 3, đó là vào tháng 4/1931, An Nam tạp chí lại xuất hiện ở Hà

Trang 26

Nội Một cuộc xê dịch đường dài, đường ngắn của Tản Đà bôn ba vì cơ nghiệp, vì cơm áo nhưng cũng thể hiện là sự phản ứng của người tài tử trước cuộc đời:

Nửa ngòi bút ngỗng ba sinh lụy Một mối tơ tằm mấy đoạn vương

Năm 1932, Giấc Mộng Con II được công bố, in lại Thề Non Nước (truyện), Trần Ai Tri Kỷ (truyện), Tản Đà văn tập (luận văn) và đồng thời là Khối Tình Con III (đã quảng cáo trên An Nam tạp chí số 47) Theo tạp chí Văn Học số 4 năm 1970; ông Tiêu Sơn đã đọc Khối Tình Con III do Tản Đà đề tặng ông Phó Đức Thành hiện còn giữ được Đến 1933, An Nam tạp chí đình bản Nó không tiếp tục được nữa! Và từ 1930 đến 1933 là sự vùng lên cuối cùng của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, với ước mơ lấy báo chí để tạo lập sự nghiệp "văn chương có bóng mây hơi nước đến dân xã" Tản Đà tuyệt vọng:

Công danh sự nghiệp mặc đời Bên thời be rượu, bên thời bài thơ

Ông lại lui về quê "thư giãn" một thời gian, sau khi "kiếm cơm" bằng việc chuyển sang làm trợ bút cho Văn Học tạp chí Đó là cái lúc :

Ngày xuân như ngựa đầu xanh bạc Chán cả giang hồ hết cả ngông

Thời giao từ 1934 về sau chỉ là sự hấp hối kéo dài ra của một thiên tài sinh dưới một

vì sao xấu Đó là những Tản Đà Xuân Sắc (văn xuôi - 1934); cuối 1937 về Hà Đông dịch Liên Trai Chí Dị; dịch thơ Đường cho báo Ngày Nay; giữ mục "thi đàn" trên Tiểu Thuyết Tuần Sau; viết cho tạp chí Phật giáo Tiếng Chuông Sớm"; soạn chú thích Truyện Kiều (in 1940) Trong những năm cuối đời ở Hà Nội ông còn mở lớp dạy quốc văn hàm thụ Hán văn diễn giảng Thế mà, cái cuộc đời đầy biến động, xê dịch liên tiếp và bị cái nghèo bủa vây ấy vẫn được thành thật tâm tình, vẫn phơi bày trong những dòng thơ như một sự ngoái nhìn lại, kiểm điểm lại: bài Tiễn ông Công lên Trời" (1938) có viết:

Trang 27

" Khê Thượng, Bất Bạt về Hà Nội Sài Gòn, Vĩnh Yên ra Hải Phòng

Bờ Hồ Hoàn Kiếm xuống Nam Định

Xế chợ Đồng Xuân sang Hàng Bông Phố tỉnh Sơn Tây lại Khê Thượng Một tết Quảng Yên nay Hà Đông Khi làm chủ báo, lúc viết mướn Hai mươi năm dư cảnh khốn cùng "

Cũng như Tản Đà hay tự nói, tự kể chân thật về mình, chúng ta dễ dàng tái hiện lại đời sống có liên quan đến sự nghiệp văn chương của thi sĩ Một phần lớn trong văn và thơ, ông đã trò chuyện với chính mình, chép sử cuộc đời mình Đó cũng là một cảm hứng trong những cảm hứng sáng tác của Tản Đà!

Dạy học, dịch, viết chẳng đủ tiêu, ông còn đăng quảng cáo trên báo xem cả số Hà Lạc Sống nghèo đói không đủ ăn và trả tiền nhà, bị chủ nhà tịch thu đồ đạc và đuổi đi, nhà thơ đem gia đình dọn về một căn nhà tồi tán ở số 71 Phố Cầu Mới (Ngã Tư Sở), Hà Nội Cuộc sống 1 vợ 8 đứa con nheo nhóc, sự nghiệp tan vỡ theo tờ An Nam đã gặm nhấm hết những sinh lực và tâm lực Tản Đà Ông mắc bệnh nặng và từ giã cõi đời đen bạc tại căn nhà ấy

Trên văn đàn công khai của văn học Việt Nam hơn ba thập niên đầu thế kỷ XX, Tản

Đà nổi bật như một hiện tượng độc đáo và dồi dào năng lực sáng tạo Đúng 50 năm, người trích tiên nặng nợ trần gian đột ngột xuất hiện rồi đúng hẹn lại bay trở về trời không nấn ná; sau khi làm "thiên thần của đời sống", bay khắp các nẻo ngõ thi ca, đi về khắp các cõi sâu thẳm của nhịp điệu, cung bậc trên thi đàn và cũng nhận lấy mọi nỗi buồn vui nhân thế Có lúc thi nhân người rất người, lúc tiên lại rất tiên! Cho nên, có kẻ yêu người ghét mặc lòng,

Trang 28

thi nhân đã đi trọn một kiếp người dân díu, trả sạch nợ trần ai, để lại cho người đời món quà lưu niệm trong những dòng thơ tuyệt tác

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu quả đã hiến dâng cả một đời mình qua ngòi bút Ông đã không thành công trên địa hạt báo chí, hay chỉ mới là một trong những người phôi thai cho xã hội một cái nghiệp dĩ làm báo mới mẻ tân toan? Cái dự định lãnh đạo quốc dân bằng cơ quan ngôn luận chỉ là một giấc mộng! Ông chỉ có được chỗ ngồi của thi ca, một chỗ ngồi đặc biệt, vinh dự và quan trọng Thế nhưng đó lại là một chỗ ngồi mà thi nhân chẳng mấy đoái hoài, hằng cứ còn mơ tưởng vòng nguyệt quế tận đâu đâu

Thi nghiệp Tản Đà tiêu biểu hơn cả ở các lập thơ "Khối Tình Con I", "Khối Tình Con II", "Còn Chơi" - đủ hiến cho đời sau một cái nhìn tổng quan đối với một thi hào Sau này khỉ đang làm báo, ông không cho ra một tập thơ nào nữa Nhưng khi ông mất, Nguyễn Mạnh Bổng đã sưu tuyển từ Khối Tình Con về sau, lấy cả trong những sách văn xuôi, in ra hai tập Tản Đà vận văn có tới trên 300 bài thơ

Lúc ra đi, thi nhân đã để lại gì? Những gì vô cùng quí giá thuộc phần hồn thì đã lai láng ở hồn thơ, còn mãi đấy Còn phần xác, nó sẽ tan vào cát bụi vô tri; thế những cái hoài bão lớn nhỏ của một đời người (do lỡ nợ với kiếp người) chưa trọn vẹn đã khiến cho sự ra đi đầy trăn trở:

"Ông Tản Đà còn hấp hối, và đang thở hắt ra Cứ đều đều, cứ nhè nhẹ cho đến hơi thở cuối cùng Hai môi mím khít lại, ông Tản Đà có nét mặt dăn dúm của người chết khó khăn Phải, chung thân là một ngòi bút bất đắc chí, sống đã chẳng được toại lòng, người nằm sống sượt đây khó mà đi cho nó nhẹ nhõm được Ở đầu giường bệnh, vẫn cái chồng sách cũ nát trên cái ghế mọt thay làm án thư và bên chồng sách bừa bãi đây đó mấy trang bản thảo Tập

di cảo! Trời! Và lẻ loi ở gốc bàn, vẫn cái hũ rượu cáp giới ngày nọ, tất cả, chỉ có thế thôi (1)

(1) Nguyễn Tuân "Chén rượu vĩnh biệt", số Tao Đàn đặc biệt về Tản Đà 1939

Trang 29

- Thơ: Khối tình con I (1916), Khối tình con (1918)

- Văn xuôi: Khối tình bản chính; bản phụ (1918) - Đàn bà Tàu (1919)

- Đài gương (1919) - Thần tiền (1919)

- Sách giáo khoa (văn vần ): Lên sáu (1919) - Lên tám (1920)

- Ca kịch: Thiên thai, Người cá, Tây Thi, Dương Quí Phi (1917 - 1919 )

+ Từ 1920 đến 1925:

- Thơ: Còn chơi (thơ và văn xuôi - 1921)

Tản Đà tùng văn (thơ và văn xuôi - 1922) Thơ Tản Đà (1925)

- Văn xuôi: Đại Học (dịch - 1922 ) - Truyện thế gian I và II (1923)

Trần ai tri kỷ (1924) - Quốc sử huấn mông (1924) Kinh thi (dịch - 1924)

- Lầm báo Hữu Thanh (1921); lập Tản Đà thư điếm, sau là Tản Đà thư cục (1922 )

Trang 30

+ Từ 1926 đến 1933:

- Thơ: Khối tình con III (1932)

- Văn xuôi: Nhàn tưởng (1928) - Giấc mộng lớn (1929)

Giấc mộng con II (1932) - Thề non nước;

Kiếp phong trần (1932) - Tản Đà văn tập (1932)

- Sách giáo khoa: Tam tự kinh An Nam (1928)

+ Từ 1934 đến 1939:

- Văn xuôi: Tản Đà xuân sắc (1934) - Liêu trai chí dị (dịch - 1937)

Khổng Tử lược truyện (chưa in kịp - 1939)

- Thơ Đường (dịch - 1938 - 1939 )

- Vương Thúy Kiều chú giải (1939 )

- Tuyển thơ: Thời hiển thi tập (1939 - dở dang )

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một nhà nho làm văn quốc ngữ Ông đã để lại một gia tài văn học hết sức phong phú, một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm nhiều thể loại; nhưng như

Vũ Ngọc Phan (tác giả tập phê bình "Nhà văn hiện đại") đã nhận định: "Tản Đà chỉ là một nhà thơ, văn vần của ông rực rỡ thế nào thì văn xuôi của ông lu mờ thế ây " Hầu hết những nhà nghiên cứu, phê bình đều nhìn nhận sự nghiệp văn chương của Tản Đà chủ yếu là ở phần thi ca Tuy nhiên, phần văn xuôi sẽ góp phần để nhìn thấy hết một chân dung, một bản lĩnh của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

2 Những sự kiện ảnh hưởng đến cảm hứng sáng tác

a Hoàn cảnh lịch sử - xã hội:

Tản Đà là một nhà nho, nhà thơ buổi giao thời; người chịu tác động của một thời kỳ thoái trào Cách mạng Hai mươi năm đầu thế kỷ XX là lúc các phong trào yêu nước và duy

Trang 31

tân thất bại, phong trào Cách mạng theo đường lối mới chưa hình thành Đây là lúc như Hồ Chủ tịch nói "tình bình đen tối như không có đường ra", vốn mang cốt cách nhà nho, xuất thân từ một gia đình có truyền thống nho học nhiều đời, Tản Đà "sống trong vòng nho giáo" đến tuổi trưởng thành đồng thời trong huyết thống lại là sự kết tinh, cấu thành của tính chất người tài tử lãng mạn ở đẳng cấp nhà nho ấy

Những cuộc kháng chiến yêu nước của thập niên đầu thế kỷ XX đã đi vào thoái trào

Kẻ cướp nước không nương tay, dung túng một ý chí quật cường mạnh mẽ của dân tộc bị trị Một "buổi chiều vĩ đại" của dân tộc đã không đến, mà trở thành một "buổi chiều thê thảm" đã kết liễn đau xót ở những chiến địa hào hùng, cùng với đàn con khẳng khái cứa đoàn Cần Vương, Văn Thân Tổ quốc Việt Nam ngã gục trên mối hận, đất nước khoác một màu tang

Bi kịch tới lúc hạ màn Thi nhân Tản Đà, dù muốn hay không, cũng phải tắm trong bầu trời sầu thảm ấy!

Sau cái chết của Phan Đình Phùng và tiếp theo là Đề Thám, cục diện cho thấy sự tan

vỡ của phong trào yêu nước đấu tranh bằng vũ lực, phong trào Đông Du cũng không gặt hái được kết quả gì thời điểm đã cho phép thực dân Pháp ra sức củng cố nền thống trị trên toàn cõi An Nam từ đần thế kỷ XX Bộ máy chính quyền An Nam từ trung ương đến địa phương

làng xã biến thành guồng máy tay sai cho bọn xâm lược Cuộc bình định của thực dân Pháp coi như thành công, chúng bắt đầu thực hiện điều đáng để tâm nhất là chính sách bóc lột, vơ vét tài nguyên ở xứ thuộc địa

Nền kinh tế bản xứ lạc hậu tự cổ xưa bị phân hóa, cả xã hội bị kéo vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, trước hết là ở thành thị Nền kinh tế do vậy lại không được công nghiệp hóa

mà biến thành một thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu, hàng xuất khẩu cho thương nghiệp Pháp Lợi nhuận vào túi tư bản Pháp, nhân dân ta thì bị bần cùng hóa Nông dân và thợ thủ công từng bước bị phá sản do chính sách thuế má và bóc lột, tạo nên nguồn nhân công

rẻ mạt phục vụ cho các công trình xây dựng khai thác tài nguyên của thực dân Pháp

Trang 32

Sự hình thành chế độ thực dân nửa phong kiến kềm hãm sự phát triển của đất nước,

dù Việt Nam được tiếp xúc với thế giới qua việc bãi bỏ chính sách "bế quan tỏa cảng" và nước ta đang từng bước hòa vào cuộc sống hiện dại chung của thế giới Mở mang giao thông, thực dân Pháp muốn tiện cho việc cai trị, phục vụ cho một thị trường thống nhất nhưng thực chất đặt ra chế độ thống trị, luật pháp khác nhau ở 3 kỳ, thực hành chính sách chia rẽ dân tộc Thành thị đóng vai trò trung tâm kinh tế, chính trị trong chiều hướng phát triển tư sản hóa là một nhân tố mới Trong sự phát triển của xã hội một lớp thị dân cũng được hình thành, là con

đẻ của những điều kiện kinh tế - chính trị được nói tới trên Lớp thị dân đó là sự pha tạp, xâm nhập và chuyển hóa nhau của nhiều giai cấp, đẳng cấp xã hội đã từng định hình bao thế kỷ Một lớp người mới của thành thị trên đà tư bản chủ nghĩa như những nhà tư sản dân tộc, ông thông, ông tham, ông ký, chủ bút, học giả hay tiểu thương, anh bồi, me Tây, anh phu xe, lưu manh, gái điếm cùng có mặt Đẳng cấp nhà nho cũng dần dần bị mua chuộc, bị cô lập mà nếu không rút về nông thôn "cố thủ" thì khó lòng tồn tại ở thành thị Nhưng xã hội nông thôn Việt Nam cũng đang từng bước thay đổi! Nó sẽ là nơi ngự trị của một thế lực mới: bọn quan lại An Nam theo Pháp, những địa chủ kiêm ông nghị bù nhìn, các cậu ấm mặc âu phục và học đòi tiếng Tây

Ở những trung tâm đô hội, thực dân Pháp thâm hiểm bày ra bộ mặt dân chủ bằng việc sáng tạo ra "Hội đồng tứ vấn", "Hàn Lâm Viện Bắc Kỳ" cùng với việc xây dựng những công trình lớn; những hội chợ thuộc địa và cho tổ chức những cuộc thi "Vịnh Kiều" hàng năm

Xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn, nhục nhã sang hướng tư sản - một hướng tư sản hóa bị coi là kém lành mạnh nhất, qùe quặt và để lại những hậu quả tai hại nhất Còn chút tự hào với dĩ vãng, với chính mình, đẳng cấp nhà nho cũng phải đến lúc có những thay đổi Có những người mong cuộc sống an nhàn bằng việc ra cộng tác với thực dân Pháp,

và có những kẻ đi theo Pháp một cách triệt để như Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác trở thành những tay sai đắc lực Có những người quay về nông thôn ẩn sâu trong lũy tre làng như

Trang 33

Nguyễn Khuyến, hay ngạo đời như Trần Tế Xương, Nguyễn Thiện Kế; người lại có lối sống hưởng lạc như Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê Riêng trường hợp Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Chu Trinh đem bản lĩnh cá nhân giương cao lá cờ đấu tranh chống thực dân Pháp, gây nên được một hình tượng "vang bóng một thời"!

Tầng lớp tri thức Nho học trước sự thay đổi diện mạo xã hội, đã có dịp qua Tân Thư chữ Hán mà đến được với một ít ánh sáng văn hóa phương Tây Họ làm quen với quan điểm của Rousseau, Montesquieu, Voltaire (những tác gia thế kỷ Ánh sáng ở Châu Âu); Anstote, Socrates, Platoa, Bacon, Descartes, Darwin (các triết gia và bác học từ cổ đại đến cận đại phương Tây); các danh nhân thế giới tất cả tên tuổi cùng những luận thuyết của họ đã qua Tân Thư mà đến với một bộ phận trí thức ở Việt Nam, trong thập niên đầu của thế kỷ XX Rồi chưa đầy 20 năm đầu thế kỷ, chữ quốc ngữ cũng nhanh chóng thay thế chữ Hán thâm nhập dần vào mọi hoạt động giao tế xã hội, khẳng định từng bước vị trí độc tôn trên văn đàn, đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo văn chương hiện đại Vị thế chữ nho tới hồi mạt vận, nhà nho cũng không thể còn giữ vẻ cao đạc, cách biệt như trước! Từ lâu nho sĩ được thừa nhận là

kẻ nắm chính đạo, hướng dẫn tinh thần nhân dân; nếu không đỗ ra làm quan cũng trở thành thân hào trong làng xã Nay họ đã không còn được lòng tin như trước ở quần chúng Giai cấp quí tộc đến lúc tàn không đủ lực giữ vững "ngọn cờ soái"; nhà nho từ chỗ bấp bênh đã đến lúc ngã gục ở chỗ đứng hàng đầu của "tứ dân" (sĩ, nông, công, thương) Phan Bội Châu bị truy đuổi gắt gao, bị kết án tử hình vắng mặt; Phan Chu Trinh với mộng duy tân bị bức tội và lưu đày; Nguyễn Quyền và đồng chí thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục bị thực dân Pháp theo dõi, cô lập; sĩ phu yêu nước bị bắt bớ Những hành động biểu lộ khí tiết chân chính của nhà nho cuối cùng không đưa lại kết quả như mong muốn Cũng đã đến lúc, câu "tiến vi quan, đạt

vi sư" của nhà nho bị xóa toẹt! Sứ mệnh lịch sử bắt đầu thay trục

Người nông dân - thành phần đông đảo nhất trong cảnh "một cổ hai tròng" ở nông thôn đã lâm vào cảnh bần cùng, bị phá sản, họ chạy ra thành phố; các nhà nho lỡ vận cũng

Trang 34

tìm về thành thị Những nhà gia giáo cấm con cái Âu hóa, nói tiếng Tây trước mặt cha anh trước đó cũng dần dần không còn thấy mất thể diện khi làn sóng của cái mới nhanh chống ùa vào cuộc sống mỗi gia đình! Số nông dân tha phương cầu thực đổ vào thành thị kiếm việc làm đã trở thành những hạng người khác nhau trong xã hội; và nếu cần cù hay may mắn cũng

có thể vươn lên thành những thị dân đàng hoàng, trong sự phát triển của đô thị tư bản chủ nghĩa Một lớp nhà nho trẻ (con quan, cậu ấm) ra thành thị dù vẫn mang bộ mặt của những đấng tri thức đạo mạo; đã đồng thời là chủ hiệu buôn, chủ hiệu thuốc, đi viết tuồng, làm báo như một thị dân dưới sự bảo hộ của pháp luật tư bản! Xã hội thành thị dần dần phân loại những tầng lớp mới: tư sản, tiểu tư sản và dân nghèo thành thị

Quan hệ xã hội phải là quan hệ của con người tư bản chủ nghĩa Người thị dân trong

xã hội mới cũng có những yêu cầu, những quan điểm, tư tưởng khác với trước Tiếp theo là

sự chuyển mình và khẳng định tử cách độc tôn của chữ quốc ngữ, khoa cử kiểu từ chương phong kiến cáo chung ở thập niên 10 Điều đó bộc lộ cụ thể thực dân Pháp cắt đứt sự thống trị của Nho Giáo trong đời sống xã hội Rồi yêu cầu được đọc và tìm hiểu cái mới của thị dân cũng xuất hiện, và báo chí ra đời

Nhà nho Nguyễn Khắc Hiếu chắc chắn cảm thông chung cái bất lực buồn tẻ của đoàn thể mình Tận đáy tâm hồn trong trẻo kia đã nhen nhóm cái sầu não sớm sủa của sự già cỗi và thất bại Thế nhưng, sức mạnh sôi nổi của tuổi trẻ đã nhất thời đánh ngã cơn sầu não đó và giục nho sĩ Tản Đà hành động Sự sống đang khoác một hình thức mới Cách mạng thoái trào lúc này đã khiến những nhà nho phải tìm phương cách mới, hiền lành hơn để khẳng định hành động "nhập thế" của mình

Giai cấp tư sản dân tộc bị chèn ép nhiều hướng đã trở nên e dè, giữ miếng Một bộ phận con cháu nhà nho trở thành thị dân có trí thức đã tập hợp lại quanh mình những người cùng chí hướng, tiến hành cuộc đâu tranh dưới ngọn cờ tư tưởng của Cách mạng tư sản, sau

Trang 35

ảnh hưởng của cuộc Cách mạng ở Trung Quốc mà Tôn Trung Sơn tạo nên Trong những năm

20 ở miền Bắc đó là tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học Thật nhanh chóng, cuộc Cách mạng ấy bị dìm trong biển máu Giới trí thức yêu nước có hoài bão "nhập thế" (trong thời kỳ tư tưởng của giai cấp vô sản chưa đủ ảnh hưởng để tạo thành một lực lượng trong xã hội) hiểu rằng sức hoạt động của dân tộc lúc này chỉ được đứng trong vòng văn hóa! Trong yêu cầu hiện đại hóa của đời sống tinh thần thị dân, những người tri thức có tâm huyết đã thực hiện con đường "duy tân hợp pháp" trong địa hạt văn hóa Một xã hội năng động của thành thị đã làm xuất hiện 2 tờ báo có sự bảo hộ của thực dân Pháp: Đông Dương tạp chí (1913) và Nam Phong tạp chí (1917) Hai tờ báo đã khiến nhiều sĩ phu, nhà văn, nhà thơ tập trung quanh nó để kiếm sống, để tự khẳng định tư cách trí thức, dù họ không phải hoàn toàn giống nhau mọi thứ Tản Đà thuộc lớp nhà thơ, nhà báo đầu tiên; cũng là một nhà nho thể hiện tử cách thị dân bằng một nghề để kiếm sống, không phải với tư cách "nghiệp dư"! Từ những thất bại của hoàn cảnh giai cấp chung, hoàn cảnh riêng, Tản Đà tự phải có chỗ đứng:

Chữ nghĩa Tây, Tàu chót dở dang Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng

Sự có mặt hai tờ tạp chí đã đáp ứng cho nhu cầu thị hiếu, sự tìm tòi, mở rộng kiến thức của thị dân Nó được viết bằng ba thứ tiếng Quốc ngữ, Pháp, Hán

Nhà nho Tản Đà từ 1915 cần bút lông và cầm bút sắt; không còn giọng mỉa mai như của một lớp nhà nho đàn anh chỉ mới mười năm trước nói về sự thay đổi nghiệt ngã của cuộc sống:

Thôi thôi lạy mợ "xanh căng " lạy

Mả tổ tôi không táng bút chì !

(Tú Xương)

Trang 36

Buổi giao thời sẽ có những con người đại diện cho một nền văn học buổi giao thời Tản Đà xuất hiện để trở thành con người đó một cách tiêu biểu nhất Không thể khác, cái cốt cách của nhà nho đã khiến trong sâu xa những tác phẩm của ông một ý nguyện muốn dùng ngòi bút để cảm hóa lòng người, cảnh tình xã hội theo kiểu nhà nho (phát huy thuyết Thiên Lương mà ông xem là tư tưởng đeo đuổi cả một đời) Đó là biểu hiện thỏa đáng cho hoài bão một nhà nho, cũng chính là nguyên nhân cho bi kịch của nhà nho buổi giao thời (1900 -1930)

Tính chất tư sản của xã hội thành thị lúc ấy luôn tác động sâu xa vào kiểu nhà nho như Tản Đà, người mang tư tướng tạo "sự nghiệp luân lý" trên con đường hành đạo của mình Nhà thơ Tản Đà có lúc đi cùng với tư sản, sống cùng với giai cấp tư sản, nhưng không biến thành họ, không bị ý thức hệ tư sản "tư sản hóa" mình! Nhận lãnh một vai trò trên trường văn hóa thay cho giai cấp tư sản; nhưng Tản Đà không thể bỏ được tự do của tâm hồn không quên được "chữ nhân" mà giáo dục Nho Giáo đã khẳng định như giá trị của từng cá nhân Tản

Đà là một nhà nho không như những người khác uốn lý tưởng theo thời thượng, ông càng nâng cao lá cờ nho không nhơ bơn Khi người khác đua danh lợi, ưa giải trí, hưởng thụ và dễ dàng đi đến tội lỗi; thi nhân Tản Đà dùng ngòi bút triết nhân trình bày một liều thuốc đắng (Vì thế mới có kẻ như Phạm Quỳnh buông những lời giễu cợt, mỉa mai, do cố tình không hiểu, không cảm thông) Với thái độ như thế, nhà nho buổi giao thời đã tỏ ra mình hoàn toàn duy tâm (giảng thuyết Thiên Lương) Tản Đà dù là nhà nho "nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng" đã không nhìn thấy rõ thực chất cuộc sống, rõ hiện thực khách quan và những biến đổi cứa nó Bởi duy tâm, Tản Đà không nhận thấy sở dĩ xã hội điêu tàn, nhân dân khổ sở, người đời gian dối chạy theo kiểu sống chủ nghĩa cá nhân tư sản chính là do các tổ chức chính trị, kinh tế đang có mặt đã xây dựng trên luật người bóc lột người

Trang 37

Nói tóm lại, Tản Đà đúng là nhân vật của buổi giao thời và sự nghiệp văn chương của ông chính là sản phẩm của một nhân vật bi kịch trong buổi giao thời đó Tầng lớp quí tộc Việt Nam, lúc sắp hoàn toàn sụp đổ, đòi hỏi một thi sĩ của nó Tản Đà chính là thi sĩ đó Thơ ông là tiếng than vãn cuối cùng, niềm tự hào cuối cùng, não ruột và ngông cuồng của giai cấp quý tộc Đó là một sứ mệnh tiền định mà Tản Đà thực hiện với tất cả tâm lực cuộc đời mình, trọn vẹn

b Những sự kiện văn chương:

Thuộc phạm trù văn học trung đại, văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX có

hệ thông thi pháp thể hiện tư tưởng mỹ học của thời đại văn học ấy Từ thế kỳ XX, văn học Việt Nam bước sang phạm trù hiện đại với những đặc trưng thi pháp và tư tưởng mỹ học của thời đại mới Văn học hiện đại Việt Nam bao gồm hai thời kỳ: từ đầu thế kỷ XX đến 1945 và

từ 1945 đến nay Khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam được xem là một thời kỳ quá độ, từ văn học trung đại chuyển sang văn học hiện đại

Cái mốc lịch sử 1858 (thực dân Pháp tấn công Đà Năng mở đầu cuộc xâm lược nước ta) đã có tác động lớn đến văn học Chủ đề yêu nước chống Pháp là chủ đề tiêu biểu của văn học Nhưng sự kiện ấy chưa làm thay đổi được hệ thống thi pháp của văn học trung đại Việt Nam Cây bút tiêu biểu của giai đoạn này là Nguyễn Đình Chiểu vẫn viết theo một quan điểm

mỹ học và hệ thống thi pháp trung đại Tính đến đầu thế kỷ XX thực dân Pháp mới chỉ tiến hành các hoạt động quân sự, chưa có điều kiện tiến hành khai thác thuộc địa Dù cơ cấu xã hội Việt Nam ít nhiều thay đổi ở Nam Kỳ, nhưng nhìn toàn cục nước ta vẫn là một xã hội phong kiến bị xâm lược như đã từng xảy ra trước đây qua những cuộc cướp nước của giặc Nguyên, Minh, Thanh

Trang 38

Việc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đầu thế kỷ XX (trước và sau thế chiến thứ I) đã làm thay đổi cơ cấu xã hội Việt Nam Tầng lớp tri thức Tây học nhất là ở thành thị ngày một đông đảo đóng vai trò chính trong đời sống văn học nghệ thuật Đó là những học sinh, sinh viên, viên chức của bộ máy nhà nước thực dân Theo thống kê niên giám của Đông Dương, tính đến 1933, số "trí thức Tây học" đã lên đến 35 vạn người Lớp thị dân mới này đã nảy sinh những nhu cầu mới về tứ tưởng, văn hóa, văn học Đây là cơ sở xã hội, cơ sở tư tưởng tâm lý, cơ sở văn hóa dẫn đến những cuộc cách tân văn học theo hướng hiện đại hóa

Nếu yêu cầu duy tân gắn với độc lập dân tộc còn chưa thực hiện được vì chưa có một cuộc cách mạng chính trị diễn ra trong ba thập niên đầu thế kỷ thì về văn hóa, trong hoàn cảnh của chế độ thuộc địa vẫn có cách thực hiện từng phần Đó là kết quả hoạt động của giới tri thức Nho học và Tây học, trong khoảng 30 năm, dần dần đem đến cho nền văn hóa mới những nền tảng cơ bản thông qua một công cụ lợi hại là chữ quốc ngữ Địa bàn đô thị, sự phát triển một lớp công chúng mới và một đội ngũ người viết chuyên nghiệp những năm 20 đến 30 khiến cho nền văn học Việt Nam bắt đầu chuyển dần vào quỹ đạo của nền văn hóa thế giới hiện đại Văn chương buổi giao thời là một giai đoạn khá đặc thù Nó có dấu hiệu khác với văn, thơ, phú, lục thế kỹ XIX Đã thế điều kiện và phương thức sáng tác cũng khác với trước Sự ra đời của báo chí, máy in và các phương tiện ấn loát đóng vai trò quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc công bố tác phẩm

Trong giai đoạn giao thời này, lực lượng sáng tác chủ yếu vẫn là các nhà nho Ý thức

hệ tư sản có ảnh hưởng đến thế giới quan, nhân sinh quan nhà nho; nhưng tư tưởng cốt lõi của nho gia vẫn là điều có ý nghĩa quyết định trong sáng tác của họ Văn học mỗi thời kỳ lịch

sử có một cộng đồng văn hóa riêng, bao gồm người sáng tác và công chúng của nó Dấu ấn của văn học thời trung đại vẫn còn xen kẽ với những cách tân của bình thức và nội dung trong sáng tác nhà nho buổi giao thời Tác phẩm của Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Đoàn Như Khuê cho thấy rõ điều đó Văn chương trung đại tiếp cận với thời Tản Đà khi còn là một cậu

Trang 39

ấm, là một thế giới tuy bắt nguồn từ hiện thực nhưng khác hẳn với thế giới hiện thực: những giai nhân và tài tử, anh hùng với gái thuyền quyên; thiên nhiên được mỹ hóa tuyệt vời Tỷ như:

Trai anh hùng, gái thuyền quyên Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn

(Chiều hôm nhớ nhà - Bà Huyện Thanh Quan) Thế giới văn chương ấy còn mang tính sùng cổ do người xưa trọng quá khứ, nó còn biểu hiện tính chất phí ngã Không coi mỗi cá nhân như một cá tính độc đáo, nên nó không chú trọng đi sâu khám phá đời sống nội tâm của con người một cách trực tiếp Người xưa đã quan niệm văn chương với nghĩa rất rộng, và mọi văn bản ngôn từ đều là văn cả! Tư duy phân tích chưa phát triển, tư duy nguyên hợp chiếm ưu thế: cho nên các nhà văn học sử đễ gọi đó là thời kỳ "văn sử triết bất phân" Điều này đã ảnh hưởng khá rõ nếu như ta khảo sát văn chương Tản Đà Thật dễ hiểu, chính vì Tản Đà xuất thân nhà nho, từng theo con đường

cử tử và có vốn nho học sâu sắc

Do ảnh hưởng của xã hội phát triển, giai đoạn văn học giao thời lúc Tản Đà bắt đầu cầm bút sáng tác là thời kỳ ý thức cá nhân về cái "tôi"con người phát triển Cá tính sáng tạo khác nhau là sự thể hiện trong sáng tác văn học của những nhà văn, nhà thơ kiệt xuất Ông Nguyễn Đăng Mạnh trong bài "Quá trinh hiện đại hóa của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX" có viết: Tất nhiên ở thời kỳ văn học trung đại những tài năng lớn đã để lại những dấu ấu

cá nhân trong sáng tác của họ nhưng xét đến cùng, đó chỉ là những biến thức khác nhau của cùng một quan niệm nghệ thuật về không gian, thời gian, của cùng một chuẩn mực về con người lý tưởng, cùng một quan niệm về tư cách trượng phu, quân tử Hệ thống thi pháp

Trang 40

căn bản vẫn là một " (1) Văn học buổi giao thời do ảnh hưởng nhiều phía đã có những thay đổi Khác với "tính thuần nhất" của văn học thời kỳ trung đại, văn học trong 30 năm đầu thế

kỷ XX đã có những biểu hiện ban đầu của "sự thoát khỏi hệ thống" thi pháp văn học trung đại Biểu hiện đó cụ thể là sử ý thức về "cái Tôi" cá nhân, mà Tản Đà là một ví dụ Đến trước năm 1915, Tản Đà vẫn còn "ở yên trong Nho giáo" xét về mặt tư tưởng, về ý thức hệ Sự thay đổi mau chóng của cuộc sống thành thị càng giúp Tản Đà tiếp cận với yêu cầu học chữ quốc ngữ và viết bằng chữ quốc ngữ Đọc được Tân Thư, ông có ít nhiều ảnh hưởng Những dòng văn mới mẻ trên tờ Đông Dương tạp chí (1915) thể hiện "một luồng gió mới" phù hợp với tâm trạng, với sự chờ đợi của con người thời đại

Quan niệm về văn chương, Tản Đà tất nhiên cũng phát xuất từ bản chất một nhà nho,

từ những nhận định cuộc sống của nhà nho Mỗi thời dại đã có quan niệm khác nhau về giá trị các thể loại văn học Thời kỳ trung đại loại văn được xem cao cấp nhất là văn học thuật (triết lý, sử học, đạo đức học, chính luận, ) Loại văn chương mỹ thuật chưa được coi trọng

Và với văn chương loại này, được đề cao hơn cả là thơ trữ tình, loại nghệ thuật ngôn từ có tính cách điệu đặc biệt Do có quan niệm đố, vì người xưa coi văn chở đạo, văn thơ triết lý được đề cao Văn chương nối những tình cảm cá nhân chỉ được coi là thứ văn thơ tiêu khiển,

và tiểu thuyết bị đặt ở nấc thang cuối cùng của bậc giá trị các thể loại Điều này lại khiến ta không lạ khi trong suốt con đường sáng tác văn học của Tản Đà, ông đã coi trọng "văn thuyết lý", xếp tiểu thuyết và thơ tình cảm là thứ "văn chơi" Từ năm 1926, với hoài bão "văn chương phải có bóng mây hơi nước đến dân xã ", Tản Đà đã không cho ra đời thêm một tập thơ mới nào, dù vẫn làm thơ; mà chủ yếu chăm chút vào báo chí, phát triển tư tưởng vào những hoạt động ông cho là thực tiễn Trớ trêu, chỉ có bộ phận "văn chơi" của ông là được đề cao!

Quan niệm coi trọng "văn chương thuyết lý" ở nước ta 30 năm đầu thế kỷ XX như thế vẫn còn tồn tại Phạm Quỳnh tuy là một nhà tân học vẫn đề cao "văn thuyết lý giảng học",

(1) Nguyễn Đăng Mạnh Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỳ XX, tr 18, tạp chí Văn học số 5 1997

Ngày đăng: 18/06/2021, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w