Cao Bá Quát là một nhà thơ lỗi lạc, đồng thời là một lãnh tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa ở giai đoạn cuối thế kỷ XVII nửa đầu thế kỷ XIX. Sống giữa đất Đế Đô thấy những cái xấu của vua quan triều đình,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN VĂN HỌC CỔ ĐIỂN II
ĐỀ TÀI: NHỮNG SUY NGHĨ VỀ ĐẤT NƯỚC, NHÂN DÂN
VÀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI TRI THỨC TRONG
THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
Giáo Viên Hướng Dẫn: GS.PGS Đoàn Lê Giang\
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 3
Trang 2Danh sách nhóm: Mã số sinh viên
Trang 3Chương 1: Thời Đại, Con Người Và Sự Nghiệp Sáng Tác Của Cao Bá Quát
4
1.1 Thời Đại 4
1.2 Con Người 4
1.3 Sự Nghiệp Sáng Tác 6
Chương 2: Những Vấn Đề Chính Trong Thơ Của Cao Bá Quát 9
2.1 Đất Nước 9
2.2 Nhân Dân 18
2.3 Trách nhiệm Con Người Tri Thức 26
Chương 3: Nghệ Thuật Trong Thơ Chữ Hán Của Cao Bá Quát 28
3.1 Nghệ Thuật Thời Gian 28
3.1.1 Thời Gian Kiểm Nghiệm 28
3.1.2 Thời Gian Tĩnh Tại 30
3.1.3 Thời Gian Toan Tính 33
3.2 Nghệ Thuật Không Gian 35
3.2.1 Không Gian Tầm Cao 35
3.2.2 Không Gian Nỗi Niềm 39
Tổng kết 43
Tài Liệu Tham Khảo 44
Trang 4Chương 1: Thời Đại, Con Người Và Sự Nghiệp Sáng Tác Của Cao Bá Quát 1.1 Thời Đại
Cao Bá Quát là một nhà thơ lỗi lạc, đồng thời là một lãnh tụ của phong tràonông dân khởi nghĩa ở giai đoạn cuối thế kỷ XVII nửa đầu thế kỷ XIX Sống giữađất Đế Đô thấy những cái xấu của vua quan triều đình, Cao Bá Quát đã không tiếclời châm biếm đả kích hoặc trực tiếp hoặc bằng những sáng tác văn chương Vua
và triều đình nhà Nguyễn căm ghét ông Năm 1852, Cao Bá Quát buộc phải rờikinh đô về phía Bắc, nhận chức vụ thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây Thời gian Cao BáQuát làm giáo thụ Quốc Oai, cả một vùng sứ đoài bị hạn hán, rồi bị nạn châu chấuhoành hành, mùa màng mất trắng đời sống nhân dân vô cùng cơ cực, nhưng triềuđình không thèm ngó ngàng tới, đây đó nổi lên những cuộc khởi nghĩa chống lạitriều đình Năm 1854, Cao Bá Quát liên lạc với những người cầm đầu khởi nghĩa,mượn tiếng Phù Lê, tôn Phan Duy Cự làm minh chủ còn ông tự xưng Quốc sư, kêugọi nhân dân người Kinh, người Mường tham gia khởi nghĩa trên lá cờ của nghĩa
quân có hai dòng chữ lớn : "Bình Dương, Bô Bản vô Nghêu, Thuấn- Mục Dã, Minh
Điều hữu Võ, Thang" (ở Bình Dương và Bô Bản không có những vị vua tốt như
vua Nghiêu, vua Thuấn thì ở Mục Dã, Minh Điều phải có những người chống lạinhư Võ, Thang) Cuộc khởi nghĩa chuẩn bị chưa chu đáo, kế hoạch bị lộ, phải bùng
nổ sớm và kéo dài được vài tháng thì bị dập tắt Cao Bá Quát hy sinh (có thuyếtnói ông bị giết sau khi bị bắt sống) Sau đó triều đình Tự Đức ra lệnh tru di ba họcủa ông Sách vở nhà họ Cao ít người dám tàng trữ nên thất lạc nhiều Tuy vậy chođến nay sáng tác của Cao Bá Quát được nhân dân lưu trữ, gom góp lại cũng đượchơn một nghìn bài đa số thơ, phú và ca trù
1.2 Con Người
Cao Bá Quát (1809? – 1855), tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệthiệu là Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh nay là xã
Trang 5Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) Ông là con Cao Tửu Chiếu, tuykhông đỗ đạt nhưng là một nhà nho khá nổi danh; và là em (song sinh) với Cao Bá
Đạt (cha Cao Bá Nhạ, tác giả Tự tình khúc)
Ông sinh ra trong gia đình nhà Nho, họ Cao, là dòng họ lớn của Phú Thị.Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ thôngminh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt Tương truyền có lần nhận xét về văn của hai
con, ông bố nói: “văn của Bá Đạt hơn về khuôn phép nhưng kém về tài tứ, văn của
Bá Quát hơn về tài tứ nhưng kém về khuôn phép”.
Năm 14 tuổi, ông trúng tuyển kỳ thi khảo hạch ở Bắc Ninh Năm Tân Mão(1831) đời vua Minh Mạng, ông thi hương đỗ Á Nguyên tại trường thi Hà Nội,nhưng đến khi duyệt quyển, thì bị bộ Lễ kiếm cớ xếp ông xuống hạng cuối cùngtrong số 20 người đỗ Cử nhân Sự việc này gây ấn tượng sâu sắc đối với ông khimới bước vào con đường sự nghiệp
Sau đó trong chín năm, cứ ba năm một lần, Cao Bá Quát vào kinh đô Huế dự
thi Hội, nhưng lần nào cũng bị đánh hỏng Trong bào “Phó Nan cung xuất giao
môn biệt chư đệ tử”, ông tỏ ra chán nản việc thi cử, những năm ấy ông sống thiếu
thốn, chật vật qua bài: “tài tử đa cùng phú” Cuộc sống long đong kéo dài suốt 10
năm
Năm 1841, lúc này ông đã 32 tuổi, mới được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử lêntriều đình, triệu vào Huế để nhận một chức tập sự ở bộ Lễ (Hành tẩu) Tháng 8năm đó, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi haynhưng có chỗ phạm húy, ông bàn với bạn đồng sự là Phan Nhạ lấy son hòa muộiđèn chữa giúp 24 quyển Việc bị phát giác, Giám trường thi là Hồ Trọng Tuấn đànhặc, ông bị bắt giam, bị tra tấn rồi bị kết vào tội chết Nhưng vua Thiệu Trị đã giảmcho ông từ tội trảm quyết xuống tội giảo giam hậu, tức được giam lại đợi lệnh, đẩyông vào Đà Nẵng, đi phục vụ để “lấy công chuộc tội” theo phái bộ do Đào Trí Phúlàm trưởng đoàn đi sang Batavia (Indonesia) và Campuchia với mục đích chính làđem đường bán cho nước ngoài để mua về những hàng xa xỉ cho triều đình Về HàNội, ông dạy học nhưng luôn sống trong cảnh nghèo và bệnh tật Ở đây những lúcrỗi, ông thường xướng họa với các danh sĩ là Nguyễn Văn Siêu, Trần Văn Vi, Diệpxuân Huyên
Trang 6Sau ba năm bị thải về, Cao Bá Quát nhận được lệnh triệu vào kinh (1847)làm ở Viện Hàm lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ Được hơn một tháng,ông nhận lệnh đi công cán ở Đà Nẵng, rồi trở về công việc cũ Thời gian ở kinh lầnnày, ông kết thân với các văn nhân như Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận,Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn Phúc Miên Trinh, ông quen biết với vị quan giàNguyễn Công Trứ( lớp nhà thơ đi trước của ông) Ban đầu, ông chế giễu Thi xãMạc Vân, nhưng sau trở thành bạn thân của Nguyễn Phúc Miên Thẩm, NguyễnPhúc Miên Trinh, ông đã gia nhập Mạc Vân Thi xã do hai vị hoàng thân này sánglập
Giữa năm 1853, lấy cớ về nuôi mẹ già, ông xin thôi dạy học Gặp lúc vùngSơn Tây bị hạn nặng, lại có nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch, đời sốngngười dân hết sức đói khổ Phần thì phẫn chí, phần thì thương dân, không chịuđựng nổi, khoảng cuối năm 1854, Cao Bá Quát tham gia lãnh đạo (tự lãnh chứcQuốc sư) cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương (Sơn Tây), do Lê Duy Cự làm “Minh chủ”.Nhưng việc bị bại lộ, bùng nổ sớm, khởi nghĩa kéo dài được mấy tháng
Cao Bá Quát bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận Tiếp theo, thủlĩnh Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Văn Thực cũng lần lượt sa vào tay đối phương(sau, cả hai đều bị chém chết) Ngoài những thiệt hại này, hơn trăm nghĩa quân bịchém chết và khoảng 80 nghĩa quân khác bị bắt
Nghe tin đại thắng, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho đem thủ cấp củanghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng xuống sông Triềuđình còn ra lệnh tru di tam tộc dòng họ ông để trả thù, 2 con ông bị giết, Cao BáĐạt bị hạ gục trên đường về kinh, ông đâm cổ tự tử
Lưu truyền về giai thoại của Cao Bá Quát Hiện vẫn còn tồn tại những tíchliên quan đến nhân cách và tài thơ của Cao Bá Quát như: Bịa thơ tài hơn vua, Chữacâu đối của vua, Cá nuốt người- người trói người, Trên dưới đều chó, Câu thơ thi
xã v.v Tuy nhiên, theo GS Vũ Khiêu thì đa phần chúng đều thiếu căn cứ và chưađược xác minh Bởi vậy theo ông chỉ có thể hiểu Cao Bá Quát và đánh giá đúng tưtưởng cùng hành động của ông trên cơ sở phân tích nguồn gốc xã hội, diễn biếntrong cuộc đời và trong thơ văn của ông mà thôi Ở một đoạn khác, giáo sư lại viết:
Khác với một số giai thoại có ý nói Cao Bá Quát là một con người kiêucăng, ngỗ ngược; và qua số một bài thơ cùng bài hát nói được gán cho ông, có
Trang 7người còn muốn coi ông là kẻ thích hưởng lạc, chè rượu, trai gái… Trái lại, quacuộc đời và thơ văn ông, chỉ thấy ông là một người biết giữ gìn phẩm hạnh, đối xửđúng mực với cha mẹ, anh em, vợ con, hàng xóm và biết yêu quí đất nước, quêhương.
Bàn về văn chương, Cao Bá Quát sáng tác rất nhiều, sau khi gia đình bị chu
di, sách vở nhà họ Cao không mấy người dám tàn trữ, mất mác không ít
Trước kia, nhiều người chỉ biết thơ văn chữ Nôm của ông nên có nhiều cáchnhìn nhận sai lệch về cuộc đời ông, trong khi đó phần viết chủ yếu của ông là chữHán Thu được 12 tập thơ và văn bằng chữ Hán của ông, tổng cộng 1353 bài thơ và
21 văn xuôi
Trước cách mạng tháng Tám, Trúc Khê có giới thiệu mấy bài trong tập “Cao
Bá Quát, danh nhân truyện ký”
Năm 1954: hòa bình được lập lại, thơ chữ Hán của ông được giới thiệu vàbiết đến nhiều hơn
Năm 1970: Nhà xuất bản văn học cho xuất bản tập thơ chữ hán đầu tiên củaông gồm 156 bài
1.3 Sự Nghiệp Sáng Tác
Giới thiệu một vài nét chính trong sự nghiệp văn chương cùa Cao Bá Quát,
GS Vũ Khiêu viết đại ý như sau:
Tuổi trẻ của Cao Bá Quát được ghi lại bằng hàng loạt bài thơ tràn đầy khí phách
(Tài mai [Trồng mai], Thanh Trì phiếm châu nam hạ [Từ Thanh Trì buông thuyền
xuôi nam], Quá Dục Thúy Sơn [Qua núi Dục Thúy] ) Trích hai câu trong bài Quá
Dục Thúy Sơn:
Ngã dục đăng cao
Hạo ca ký vân thủy
Dịch:
Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất
Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước
Trang 8Nhưng rồi, mấy lần khăn gói vào Huế thi đều bị hỏng, nên mộng khoa cử đãtan Năm 32 tuổi, lần đầu ông được bổ làm một chức quan nhỏ (Hành tẩu Bộ Lễ).
Ở đây, ông bắt đầu cảm thấy nhụt chí và bế tắc khi nhìn thấy cảnh thối nát, bấtcông và hèn yếu của nhà Nguyễn Đến khi bị tù, bị tra tấn vì chữa những quyển thi,
ông càng đau khổ, uất ức và căm thù cái triều đình ấy (Cấm sở cảm sự, túng bút
ngẫu thư [Nơi nhà giam nhân việc cảm xúc phóng bút viết ngay], Trường giang thiên [Một thiên vịnh cái gông dài], Đằng tiên ca [Bài ca cái roi song], Độc dạ cảm hoài [Ban đêm một mình cảm nghĩ] ) Trích mấy câu trong Trường giang
Mày biết thế nào được ai phải ai trái!
Mày chẳng qua chỉ là cái máy làm nhục người đời mà thôi
Sau thời gian dương trình hiệu lực, Cao Bá Quát bị thải về quê quán Ôngcàng có nhiều dịp tiếp xúc với đời sống của nhân dân lao động Những cảnh ngườidân vì túng thiếu đói rét, phải đi xin ăn hay những cảnh họ bị bắt phu bắt lính đều
đã làm ông đau xót, day dứt (Cái tử [Người ăn xin], Phụ tương tử [Người vác
hòm], Quan chẩn [Xem phát chẩn] )
Đứng trước những cảnh tình ấy, cộng thêm nỗi đau của bản thân, cuối cùng
đã dẫn ông đến những ý nghĩ hành động: “Ta đã không nỡ nghe mãi bài thơ HoàngĐiểu nói lên cảnh ly tán của nhân dân do chính sự hà khắc, thì lẽ nào chỉ chịu gửigắm mãi tâm sự vào khúc ngâm của Gia Cát Lượng khi chưa ra giúp đời” (Trích
bản dịch bài Ngẫu nhiên nằm mơ đến thăm ông Tuần phủ )
Tuy nhiên, mãi đến lần Cao Bá Quát bị triều đình đuổi khéo về làm Giáo thụ
ở Quốc Oai - một vùng bán sơn địa hẻo lánh xa hẳn kinh thành Huế, thì suy nghĩcủa ông mới trở thành quyết tâm đứng lên đánh đổ nhà Nguyễn (Đối vũ [Nhìnmưa], Trích Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín kiêm trí Lê Huy vĩnh lão
Trang 9khê [Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, đồng thời gửi choông bạn già là Lê Huy Vĩnh] ) Trích giới thiệu:
Mặt trời đỏ lẩn đi đàng nào?
Để dân đen than thở mãi
(Trích Đối Vũ)
Và:
Tài trai sống ở đời, đã không làm được việc phơi gan, bẻ gãy chấn song, giữvững cương thường
Lại ngồi nhìn bọn cầm quyền sói lang hoành hành,
Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương
Chỉ cúi đầu luồn xuống mái nhà thấp, nhục cả khí phách,
Đến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết,
Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng gặp hai cụ (Chu Văn An và NguyễnTrãi),
Thì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi ra mà thôi…
(Trích bản dịch nghĩa bài Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín kiêm trí
Lê Huy vĩnh lão khê)
Sáng tác của Cao Bá Quát chủ yếu bằng chữ Hán, chữ Nôm cũng có nhưng
ít Khác với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát sống vào thời kỳ chính sách đề caochữ Hán của nhà Nguyễn đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới nho sĩ Có lẽ Cao
Bá Quát chịu ảnh hưởng của chủ trương này
Về tác phẩm chữ Hán ông có hai tập thơ: Chu Thần thi tập và Cúc Ðường thithảo Cả hai tập thơ này có tên chung là Cao Bá Quát thi tập Số bài thơ của hai tậpthơ này chưa rõ là bao nhiêu nhưng chắc chắn nhiều hơn số hiện nay chúng ta sưutập được: 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi Sau khi nhà thơ qua đời, tác phẩm củaông cũng phải chịu sự bạc đãi của triều đình nhà Nguyễn
Trang 10Về mặt chữ Nôm: ông có bài phú nổi tiếng Tài tử đa cùng phú (Người tàigiỏi có nhiều điều cùng khổ).
Ngoài ra ông còn có một số bài thơ Ðường luật và ca trù
Chương 2: Những Vấn Đề Chính Trong Thơ Của Cao Bá Quát
2.1 Đất Nước
Cao Bá Quát sáng tác và làm thơ vào giai đoạn chính quyền nhà Nguyễn đãbộc lộ tất cả bản chất tàn bạo của nó, lúc mà nhà thơ Nguyễn Công Trứ đầy nghịlực đã buông tiếng thở dài và triết lý về cái vô nghĩa của cuộc đời, để sau đó lauvào cảnh ăn chơi loạn lạc Cao Bá Quát không vì đó mà bi quan, nhà thơ cũngkhông đặt quá nhiều hy vọng vào triều đại, vào đất nước, cũng không tin vào mệnh
số Ông là nhà thơ lớn bởi ông có cái nhìn lớn Thơ văn của ông là sản phẩm tinhthần của một người có nhân cách cứng cỏi, có trí tuệ, một tâm hồn lộng gió củathời đại, một trái tim nhạy bén giàu cảm xúc Vì vậy mà thơ văn của ông luôn chứađựng những suy nghĩ, những tình cảm tốt đẹp, nhiều tư tưởng tiến bộ về đất nước
“Cự đằng chi tiên trường thả trường,
Phu tử, nhục ngạnh nhụ như cương
Cơ nhân yển ngọa hình thương hoàng,
Hồi đầu trắc cố như kim dương
Thủ nhân cước trực lưỡng nhãn hoang,
Trang 11Vũ hậu thấp độc chưng bàng quang.
Lương cửu vấn tấn khẩu bất trương,
Khổ đạo khuất khuất hào khung thương
Quan thanh tích lịch tồi đài lương
Điện hỏa thiểm thiểm giao phi trường
Hân như song giao bác hoại đường,
Bãi như lãnh thủy quán cấp thang
Lưỡng mộc trác lập thế quật cường,
Thân thanh thập nhị hồi tu lang
Ô hô nhất chi xuân hải đường
(trích Đằng tiên ca)
Dịch thơ:
“Cây roi song lớn dài dài sao,
Mình rắn da thâm uốn chẳng vào
Thân tù nằm xấp vẻ anh xám,
Tay chân căng thẳng mắt mờ quáng
Mưa tạnh hơi độc xông lên háng,
Bị tra tấn mãi miệng cứng đờ,
Một mực kêu trời “khổ! oan uổng!”
Tiếng quan như sét rường nhà rung,
Ánh roi như chóp vụt tứ tung,
Giơ lên, rồng quật bờ ao lở,
Ngừng lại nước dội nồi canh bồng
Trang 12Đôi cọc sừng sững như ngạo nghễ,
Mấy dãy hành lang tiếng rên xé
Than ôi một nhánh hải đường tơ,
Chẳng nề Xương Châu mà nỡ bẻ”
Hình ảnh người tù hiện lên qua câu thơ của Cao Bá Quát sao mà yếu ớt,thảm thương, toàn thân đã bị trói vào trong hai cây cọc, không thể phản kháng,thân “xanh xám”, mắt “mờ quáng”, “tay chân căng thẳng” Bị tra tấn liên tục nênmiệng trở nên “cứng đờ” Mặc cho tù nhân đau đớn, một mực kêu trời rằng “Khổ!Oan uổng” vậy mà trận mưa roi cứ đều đều trút xuống, như đuôi con rồng “vụt tứtung” mà mỗi lần quật roi là “bờ ao lở” Thế mới thấy sự dã man trong cách tra tấn
tù nhân của chế độ phong kiến thời Nguyễn, họ xem mạng người như cỏ rác.Người tù, dù có phạm tội đi nữa thì họ vẫn là con người, chế độ phong kiến ấy đãđối xử với con người con không bằng loài súc vật Đó là còn chưa kể đến việcngười tù luôn miệng kêu oan uổng, biết đâu được người đó có phạm tội hay không,hay bởi những người thực thi pháp luật đương thời biến người vô tội thành kẻ cótội?
Sống trong cảnh mà vua quan sa đọa, thân là phụ mẫu của dân mà khôngchăm lo đời sống cho dân, để dân đói nghèo, cơ cực, Cao Bá Quát rất đau lòng.Hình ảnh người dân tha hương cầu thực, đói rét, bệnh tật hiện lên một cách xót xa:
“Vũ vũ thùy gia tử,
Y phá lạp bất hoàn
Thúc tòng nam phương lai,
Hướng ngã tiền đầu thán.”
(Đạo phùng ngã phu)
Dịch thơ:
“Ai thế đó, dáng đi thất thểu,
Áo rách nón tả tơi
Trang 13Từ phía nam chợt đi tới,
Đến trước mặt ta thở than hoài.”
Hay trong bài “Hiểu lũng quán phu” Cao Bá Quát có tả cảnh người tát nước trên
đường cao buổi sớm:
“Sương nặng gầu đôi mới kéo lên
Môi run, bụng lép, chiếu tơi quèn”
Người dân trong thơ Cao Bá Quát gầy gò, “thất thểu”, “tả tơi”, “môi run”,
“bụng lép” mà nguyên nhân chính làm cho họ thành người không ra người, ngợm
không ra ngợm như vậy chính bởi xã hội phong kiến đương thời
Cao Bá Quát đã nhận thức rõ ràng sự suy tàn, thối nát của chế độ vua quannhà Nguyễn Dù là một người từ nhỏ đã được học chữ Nho, đọc sách Nho, hiểuđạo quân thần, nhưng Cao Bá Quát không thể nào làm ngơ trước cảnh đời sốngnhân dân lầm than, tiếng kêu khóc xé trời vậy mà bọn quan lại triều Nguyễn vẫndửng dưng , bình thản, họ chỉ lo cho chức tước, ngai vua, bổng lộc của mình màhoàn toàn không quan tâm đến đời sống nhân dân Thơ ông chính là lời tố tội sắcbén chế độ phong kiến lúc bấy giờ
Thế kỷ XIX, nước ta đặt dưới sự cai trị của nhà Nguyễn – một triều đình vớichuyên chế tàn bạo, nghi kỵ người có tài Trước hết ta phải nói, công danh đối vớinhà Nho có một ý nghĩa quan trọng Nó đã từng là lí tưởng sống, và với nhiều
người, nó còn trở thành ý thức thường trực như một nghĩa vụ, một "món nợ" cần phải
trả của kẻ nam nhi, là yếu tố khẳng định sự hiện tồn của cá nhân trong cuộc đời
"không công danh thà nát với cỏ cây" Đó là nói về lí tưởng công danh với những
con người có nhân cách cao khiết, có ước vọng muốn làm nên sự nghiệp lớn đểgiúp dân, giúp nước, để lưu danh cùng thiên cổ Nhưng trong thời đại mà Cao BáQuát sống - xã hội phong kiến nhà Nguyễn đầu thế kỉ XIX, nhiều giềng mối củacủa xã hội bị lung lay, nhiều kẻ cơ hội bon chen trên đường công danh chỉ vì mụcđích tự lợi thấp hèn Vả chăng, con đường khoa cử, kiếm tìm công danh cũngkhông còn được ý nghĩa tiến bộ của nó
Cao Bá Quát vốn là một người thẳng thắng không sợ hàm quan cho nên khihiểu và biết rõ sự thối nát của chế độ khoa thi không phải chỉ để tuyển chọn người
Trang 14tài thì mặc dù ông có thể hình dung ra được nếu phạm quy sẽ ra sao nhưng ông vẫn
cứ làm, vì như ông nói đó là “tìm điều nhân” là “cùng cảnh thương nhau”
“Cầu nhân vị đắc thành chiêu họa
Đồng bệnh tương lân khước lụy nhân”
(Cửu nguyệt sơ thất nhật di trường sự hạ trấn phủ ngục)
Dịch nghĩa:
“Tìm điều nhân chưa được đã mang tai họa đến
Cùng cảnh thương nhau lại làm lụy cho người.”
Trong bài thơ “Sa hành đoản ca”, Cao Bá Quát đã cho thấy những điều mà người trí thức ấy không khỏi băn khoăn, trăn trở Qua hình tượng “bãi cát dài và
người đi trên cát”, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng bi phẫn, sự băn khoăn, trăn trở
khôn nguôi về con đường mà mình đang đi Con đường công danh, đường đời làmột con đường đầy gian khó, mờ mịt, vô định qua hình ảnh bãi cát dài nối tiếpnhau và nỗi khó khăn của người đi trên cát Trên con đường theo đuổi công danh
đó, nhà thơ nhận ra có biết bao kẻ ti tiện chỉ coi công danh là miếng mồi ngon cầngiành giật mà quên đi mục đích, lí tưởng cao đẹp của cuộc sống Sức cuốn hút củacông danh có thể làm mê muội, tha hóa con người như quán rượu nơi đầu gió làmbao kẻ lữ hành khao khát, mê muội Nhận thức rõ tình trạng đó, nhà thơ băn khoăn,
tự vấn quyết liệt về con đường đang đi, con đường sẽ đi Đường bằng “thản lộ” thì
ít, lại mờ mịt mà đường ghê sợ “con đường tha hóa, đeo đuổi công danh mà bao
kẻ đang theo đuổi” thì nhiều Cuộc đấu tranh tư tưởng dữ dội ấy nhiều lúc tưởng
đã bế tắc, không tìm ra lối thoát “cùng đồ” Kết thúc bài thơ là một câu hỏi tu từ
"Anh đứng làm chi trên bãi cát" Nó như một mối băn khoăn day dứt khôn nguôi
đồng thời cũng là lời thúc giục, động viên, lời tác giả tự khuyến khích mình hãy
dũng cảm dứt bỏ, bước ra khỏi "úy lộ" (con đường ghê sợ) để thực hiện lí tưởng, lẽ
sống của mình
Đây không còn là điều ngạc nhiên khi nhà thơ lại đứng đầu một cuộc đấutranh chống phong kiến, chống nhà Nguyễn mặc dù trong ông vẫn luôn có một tình
yêu bao la dành cho quê hương, đất nước Trong bài thơ “Người đi trên bãi” cát ta
thấy toát lên hình ảnh một người trí thức tự nhiệm, trung thực, đầy tinh thần trách
Trang 15nhiệm với đất nước, với cuộc đời mình, luôn băn khoăn, day dứt về con đường
đang đi Một con người đầy bản lĩnh, quyết không chịu say, không chịu "học phép
ngủ" để cùng say ngủ với biết bao kẻ dung tục trong đời Sự băn khoăn trăn trở còn
được đẩy lên mức độ căng thẳng với những lời tự tra vấn quyết liệt về lẽ sống, vềcon đường phải đi thể hiện một nhân cách cao cả, không chịu thỏa hiệp với dụcvọng bản thân và với thực trạng xã hội đang tiềm chứa nhiều suy thoái Và ta thấy,ngay từ rất sớm, trong ông đã tiềm chứa ước muốn đổi thay thực trạng xã hội,quyết không chấp nhận thực tại Khi gặp những hoàn cảnh cụ thể, khi đã chứngkiến hết cảnh thối nát chốn quan trường, thấy rõ hiện trạng xã hội, lại bị dập vùikhông thương tiếc, ước muốn đó sẽ chuyển thành hành động phản kháng mãnh liệt
Và đó là một phần nguyên nhân giải thích lí do khiến Cao Bá Quát đã tham giacuộc khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn năm 1854
Tuy chán ghét, căm phẫn trước cảnh vua quan triều Nguyễn bất nhân, nhưngCao Bá Quát chỉ hận vua quan nhà Nguyễn Còn đối với ông tình yêu quê hươngđất nước luôn canh cánh bên lòng
Thơ chữ Hán của ông luông mang nặng nỗi niềm tha thiết với quê hương,ông buồn thương cho cảnh đất nước suy tàn Đồng thời ông cũng rực cháy tronglòng niềm tự hào dân tộc
Lòng yêu nước ấy thể hiện qua tình yêu thiên nhiên, niềm say mê trước cảnh sắcquê hương đẹp tươi, dung dị
“Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
Trường giang như kiến lập thanh hiên
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo,
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên
Trần lộ du du song quyện nhãn,
Viễn tình hạo hạo nhất quy tiên.”
(Hiểu quá hương giang)
Dịch thơ:
Trang 16“Muôn núi quanh co diễu cánh đồng,
Trời xanh gươm dựng một dòng sông
Dặm đò văng vẳng vài chài cá,
Co cẳng lim dim mấy chú mòng
Dặm khách mịt mờ đôi mắt mỏi,
Tình quê mang mác chiếc roi vung”
Những hình ảnh thân thuộc của cảnh sắc Việt Nam được Cao Bá Quát đưa
vào thơ trở nên thân thương, bình dị Có “núi quanh co diễu cánh đồng”, có “trời
xanh” sông biếc, có tiếng hò khoan đưa máy chèo Cảnh tượng như thanh bình hơn
khi có đôi chim trên bãi đứng co chân ngủ “Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên”.
Phải là người tha thiết yêu quê hương thì nhà thơ mới thấy được những cảnh đẹpđơn sơ, cảnh sinh hoạt hằng ngày trên quê mình mà không phải ai cũng có thể cảmnhận được
Và trên đường trần vạn dặm xa xôi, dằng dặc khi mệt mỏi, thi nhân chỉ
muốn vun một roi ngựa trở về “Trần lộ du du song quyện nhãn, Viễn tình hạo hạo
nhất quy tiên”
Yêu quê hương, đất nước nên ông làm nhiều bài thơ, bài vịnh những danhlam thắng cảnh ở Việt Nam như núi Ba Vì, hồ Tây, núi Thúy Dục, sông Hương.Nét đặc sắc của nhà thơ khi miêu tả các cảnh này là ở chỗ ông không miêu tả nótheo lối của những ẩn sĩ đi du ngoạn để chữa bệnh tinh thần mà lại kèm theo hàokhí dân tộc Chẳng hạn như Dải sông Hương mềm mại đến thế mà khi hiện lêntrong thơ ông vẫn mang một hào khí hùng tráng:
“Trường giang như kiếm lập thanh thiên”
(Con sông dài như thanh kiếm dựng giữa trời xanh)
(Hiểu quá hương giang)
Núi Dục Thúy, núi Tản Viên, hồ Tây từ lâu đã trở thành niềm tự hào của đất nước
và đặc biệt là là hình tượng núi Tản đã từng tượng trưng cho khí phách hào hùngcủa dân tộc ta Và trong thơ Cao Bá Quát nét đặc sắc là câu tự vấn của tác giả:
Trang 17Non sông như thế, mình thì sao đây? Khi đứng trước những thắng cảnh ấy Tìnhcảm của ông bao giờ cũng là tình cảm hai chiều: Yêu thương và trách nhiệm Ðâykhông phải là điều dễ tìm thấy ở các nhà thơ đương thời Ðặc biệt trong thời đạisống của mình Cao Bá Quát đã ý thức, đã băn khoăn cho số mệnh của đất nướctrước hiểm họa xâm lăng từ phương Tây.
Bởi yêu thiên nhiên, đất nước như vậy, mà khi nhìn cảnh đất nước lâm vàocảnh loạn lạc, tan hoang Cao Bá Quát không khỏi chạnh lòng, uất hận, muốn vùnglên phản kháng lại triều đình
Tình yêu quê hương đất nước của Cao Bá Quát còn thể hiện ở chỗ ông khâmphục và ngưỡng mộ những người anh hùng cứu nước, ông viết các bài thơ VịnhPhù Ðổng Thiên Vương, Vịnh Trần Hưng Ðạo Qua việc ca ngợi những ngườianh hùng đó Cao Bá Quát bộc lộ ước muốn cứu dân, cứu nước của mình Ông nhưtìm thấy sự tiếp sức từ trong lịch sử của dân tộc Ðây là điểm khác biệt giữa thơvịnh lịch sử của ông và các nhà thơ khác, họ vịnh lịch sử để quay lưng với hiệnthực cuộc sống
Chính từ lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn và mong muốn giúp nước,cứu dân, đưa xã hội và con người đến gần hơn với văn minh, Cao Bá Quát đã cónhững tư tưởng rất tiến bộ Ông là người có thái độ đúng đắn trước sức mạnh vậtchất của người phương Tây Ông không tỏ ra khiếp sợ tuy có ngạc nhiên Bài thơ
“Hồng mao hỏa thuyền ca” ông miêu tả con tàu không buồm, không chèo, không
người đẩy mà đi ngang, chạy ngược nhanh như ngựa phi Khói phun ngùn ngụt,sóng tung tóe ầm ầm, ông thấy được sự tiến bộ của nền văn minh phương Tây:
“Cao yêu quán thanh không
Tả tác bách xích đôi
Yêu kiều thùy thiên long
Cường phong xuy bất khai
Đà sư kinh khởi thủy thủ lập,
Tứ biên tiếu ngữ phân huyên hôi
Ngã diệc lăm y hướng đông vọng,
Trang 18Đạo thị dương phiêu hỏa thuyền lý dĩ lại.”
(Hồng Mao hỏa thuyền ca)
Dịch nghĩa:
“Khói bốc lên tới trời xanh,
Cuồn cuộn thành cột cao hơn trăm thước
Cuộn khúc uốn mình như rồng từ trên trời sà xuống,
Gió mạnh thổi cũng không tan
Người cầm lái thuyền ta kinh ngạc nhỏm lên, bọn thủy thủ cũng đứng cả dậy.Bốn phía tiếng cười nói ồn ào
Ta cũng khép tà áo, đứng lên nhìn về phía đông
Nói rằng đó là tàu thủy của bon Tây chạy đến!”
Ông nhận thức được sự tiến bộ của phương Tây, ông cũng lo lắng một ngàynào đó nước ta sẽ bị bọn phương Tây xâm lược, nhưng ông không hề khiếp sợtrước bọn Tây Kết thúc bài thơ, ông kết luận đầy khí phách, cảnh cáo con tàu đừngchủ quan khi đến biển Ðông Bởi sóng nước ở đây không dễ dàng như bể Tây đâu
“Quân bất kiến:
Vỹ Lư chi thủy hối Ốc Tiêu,
Kiếp hỏa trực thướng thanh vân tiêu
Khai châm đóng khứ thận tự giới
Bất tỉ Tây minh triêu mộ trào”
Dịch nghĩa:
“Các ngươi chẳng thấy:
Nước vùng Vỹ Lư rít vào đá Ốc Tiêu
Lửa bốc lên ngùn ngụt cao tới mây xanh
Trang 19Mở la bàn đi sang phía Đông, nên thận trọng,
Không như nước triều sớm hôm ở Tây minh”
Qua đó càng thấy rõ lòng nhất mực yêu nước của nhà thơ, ông không baogiờ chịu để cho bọn ngoại quốc sang xâm chiếm lãnh thổ
Tóm lại, thơ chữ Hán của Cao Bá Quát đã tái hiện chính quyền phong kiếntàn ác, xấu xa, qua đó ông muốn tố cáo mạnh mẽ chế độ thối nát đó Thơ ông cònđau đáu bên mình tình yêu quê hương sâu nặng, bên cạnh những bài thơ nói lên khíphách hào hùng, một số bài thơ của ông có bóng dáng thiên nhiên và con người đấtViệt: có dòng sông, đồng lúa, bờ rào, khói bếp, rặng tre, có tiếng hát giã gạo, tiếnghát chèo đò, có người chài kéo lưới, có núi Tản Viên, núi Dục Thúy, Tây hồ Vàchính bởi yêu đất nước quê hương nên ông mới đứng lên khởi nghĩa Khởi nghĩa
để đạp đổ nhà Nguyễn suy đồi, để xây dựng lại đất nước tốt đẹp cho nhân dân
2.2 Nhân Dân
Bên cạnh những đỉnh cao chói lọi trong văn học Việt Nam như Nguyễn Trãi,Nguyễn Du, chúng ta lại có Cao Bá Quát (1808-1855), người phản kháng, người cangợi tự do, người thương dân đen, người yêu thương nhân dân lao động như tấmlòng của Đỗ Phủ “cùng niên ưu lê nguyên” (Quanh năm lo dân đen), và hơn đãdám tuốt gươm khởi nghĩa Ông đã từ một con người của từ chương bước ra hiệnthực và chiến đấu, từ một con người của vần điệu và khí phách biến thành conngười của dòng lịch sử đang vật vã chuyển mình, thành anh hùng khởi nghĩa
Cao Bá Quát thấm thía cái nghèo và tỏ ra khinh bỉ những kẻ khom lưng, uốngối để mưu cầu danh lợi, nhưng ông không hề có tí nào thi vị hóa cái nghèo, cũngnhư ông không tin gì về triết lý tuần hoàn hay định mệnh Cao Bá Quát tin vàomình, chính mình phải hành động để thay đổi cuộc đời mình
Cao Bá Quát sáng tác trong giai đoạn chình quyền nhà Nguyễn đã bộc lộ bảnchất của nó Ông không xu phụ mà cũng không bi quan Nhà thơ cũng không có ảotưởng nào đối với triều đại, và cũng không tin tưởng gì vào số mệnh, cho nên thơcủa ông hào hùng và khoáng đạt là vì vậy Cao Bá Quát có lạ gì qui chế của trườngthi Người đi thi làm bài phạm húy tùy lỗi nặng nhẹ, có khi còn bị chém mà ông lạilầy đậu Cái tội “giảo giam hậu” mà bộ Lễ nghị án chắc chắn ông có thể hình dungđược, nhưng ông vẫn cứ làm Nhà vua cuối cùng tha tội chết cho ông, nhưng ông
Trang 20cũng bị một phen tra tấn cực hình Nhiều bài thơ viết trong dịp này ông đã tố cáotính chất tàn bạo của nhà Nguyễn Thông qua đó ông hiểu được nỗi đau mà nhândân phải gánh chịu khi vào tù Trong bài Đằng tiên ca, ông tả lại một trận đánh màchính ông là nạn nhân:
Giờ đầu bị tra hỏi, miệng không nói được,
Chỉ khan vã kêu:” oán! oan! ” Và gào trời
Quan thét như tiếng sét rung cả tường nhà,
Roi quất nhoang nhoáng, bay đi liệng lại như ánh chớp
Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào ao lỡ,
Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nước sôi
Hai cái nọc đứng sững có vè vững chắc,
Tiếng rên rỉ vang quanh dãy hành lang
Than ôi! Một cánh hoa hải đường đương xuân,
Bị bẻ tan nát, không kể đến cái hương thơm ở Xương châu nữa…
Nằm trong tù ngục, suy nghĩ lại việc làm, ông càng lên án gay gắt sự tra tấn
ấy Ông gọi cái gông dài đang gông mình là “cái máy làm nhục người ở cõi trần”.
Những năm còn khăn gói đi thi, đi qua các tỉnh miền trung xơ xác, nhà thơthấy nổi lên sự nghèo khổ của công chúng là những hành cung của các vua nhàNguyễn xa hoa:
Nghe đồn gần đây xe sáu rồng vừa qua chơi
Ngoài hành cung Mỹ xuyên lại có hành cung mới nữa
Lúc vào làm quan trong kinh gần với “ bóng mặt trời “ và các vị đại thần,
ông mới thấy cái xấu, cái xa hoa tàn bạo là bản chất của những kẻ cầm quyền
Cao Bá Quát nhất quán trong cái nhìn đối với bọn vua quan triều đình nhàNguyển, cũng rất nhất quán trong cái nhìn của các con người cùng khổ trong xãhội Đối với nhân dân ông công khai nói lên lòng thương xót, mến yêu đặc biệt của
Trang 21mình Nhà thơ ghi lại cảnh phá sản của một người trung nông phải bỏ nhà, ra thànhphố làm thuê làm mướn, (phụ tương tư); Trong bài này, tác giả đã cho ta thấy quátrình bần cùng hóa của một bác nông dân Từ chỗ có mười mẫu ruộng đến chỗ phải
đi cầu thực vì mất mùa Rồi không những thế, khi về đến quê, đám chức dịch xúmvào bắt nộp thuế cho mười mẫu ruộng Túng thế, anh phải đi làm thuê cho một nhàbuôn, tự buộc mình vào kiếp tôi đòi, nô lệ, hàng ngày phải chịu đánh mắng thậm
tệ, rồi hàng ngày chịu những bất công, chấp nhận những điều ngang trái:
Đường thượng sung phì cam
Hạ tận sấu lộ tích
(trên nhà thì của ngon vật lạ ê hề
Dưới bếp người nào cũng gầy giơ xương)
Cảnh một ông thầy thuốc đi kiếm ăn lang thang ở kinh kỳ rồi bị đói (Đạo phùng
ngã phu); cảnh những người đói từ sáng tinh mơ đã lũ lượt bế nhau đi xin phát
chẩn (Quan chẩn), cảnh nhân dân cả một phường trúc lâm già trẻ lớn bé gọi nhau, giục nhau chạy: “ nhanh lên! Nhanh lên! Công sai về đấy! “ Bài Phúc lâm lão “là
một bức tranh hết sức sinh động về tình cảnh của nhân dân phường Phúc lâm nóiriêng cũng như tình cảnh của nhân dân ta nói chung Thật xót xa khi chính quan
“Phụ mẫu” lại coi con dân chỉ như những cây tre, cây trúc Còn nhân dân, khi ở
trên chính đất của họ thì phải lẩn lủi, trốn tránh như những con chuột Trong 5 câu
thơ mà có những 6 chữ “tăng”, dường như chữ tăng đó là ám ảnh nặng nề với nhà
thơ và với những kiếp người dân nghèo khó khi đến cái ăn hàng ngày còn chẳng đủvậy mà thuế thì cứ tăng, tăng, tăng, tăng mãi…
Phúc lâm lão
Đây là lời một ông già địa phương nói với nhà thơ:
Quân bất văn kim tuế công đinh nhật trưng đốc?
Kỳ mãn vô nhân, tứ truy trục,
Huyện quan phụ mẫu phất ngã sát,
Tuyển đào tiên phác như triết trúc
Trang 22Thả ngã nhị huyện thùy thế cư,
Thùy vô tổ nghiệp, vô điền lư?
Khứ niên thất cốc kim thất hào, thệ tương khứ thử trù y dư?
Đông gia cơ ngọa, tây gia tỷ,
Suyễn tức vị vong thập nhất thị
Binh đào, dịch trọng khổ vị trừ,
Tử nhược điệt bần khí hương lý
Thủ thường cựu ngạch ngô dĩ nan,
Lệ phục chiểu tăng ngô tử hỷ!
Ngô ngũ thập ngũ tăng nhất suất,
Ngô chi lục thập hựu tăng nhất,
Hà huống số ngoại tăng phục tăng,
Tăng tận hậu niên hà tòng xuất?
Dịch nghĩa
Ông không nghe ư? Năm nay ngày nào cũng thúc giục bắt tráng
Hết hạn không có ai thì người ta lùng bắt tứ tung,
Quan huyện là cha mẹ dân đã chẳng xét cho,
Nha lại còn đánh đập dân như chém tre
Vả lại hai huyện chúng tôi đạ là người ở đây lâu đời,
Thì ai không có tổ nghiệp, ruộng nương và nhà cửa?
Từ năm ngoái đến năm nay thóc lúa mất cả
Bỏ đây mà đi cũng chẳng biết nương tựa vào đâu!
Nhà xóm đông nằm đấy chịu đói, nhà xóm tây dời đi nơi khác,
Trang 23Những người còn chút hơi tàn chưa chết mười phần chỉ có một ha,
Nào lính nào phu nỗi khổ chưa qua,
Con bé cháu nghèo bỏ làng đi hết
Cứ bắt nộp thuế theo ngạch cũ đã khó khăn cho tôi rồi,
Lại còn chiểu lệ tăng thêm thì tôi đến chết mất
Năm tôi năm muoi8 năm tuổi đã tăng một xuất rồi,
Năm tôi sáu mươi lại tăng thêm xuất nữa
Huống chi ngoài số thuế ra các khoảng khác cũng cứ tăng mãi,
Tăng đến kì cùng thì sang năm đào đâu ra!
Đạo phùng ngã phu
Vũ vũ thuỳ gia tử,
Y phá lạp bất hoàn
Thúc tòng nam phương lai,
Hướng ngã tiền đầu thán
Vấn tử hà sở ưu?
Tự vân: "Trường gian nan
Gia bần nghệ y bốc,
Ngã lai tẩu Trường An
Trường An vô bệnh nhân,
Quần y như khâu san
Linh đinh vọng quy lộ,
Cực mục vân man man
Nhị nhật điển không khiếp,