Dù biết bản thân mình còn hạn chế nhiều mặt nhưng với niềm say mê văn học, nhất là những di sản của cha ông xưa, bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tài: Tư tưởng và phong cách nghệ thuật tro
Trang 1TRẦN QUỐC THÁI
TƯ TƯỞNG VÀ PHONG CÁCH
NGHỆ THUẬT TRONG THƠ
TRẦN NGUYÊN ĐÁN
VÀ NGUYỄN PHI KHANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số chuyên ngành: 60.22.01.21
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2TRẦN QUỐC THÁI
TƯ TƯỞNG VÀ PHONG CÁCH
NGHỆ THUẬT TRONG THƠ
TRẦN NGUYÊN ĐÁN
VÀ NGUYỄN PHI KHANH
Chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số chuyên ngành: 60.22.01.21
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN CÔNG LÝ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 3TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Người xác nhận
PGS.TS LÊ GIANG
Trang 4Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tại Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP HCM, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của quý thầy cô và các phòng ban, nay luận văn đã được bảo
vệ trước Hội đồng, cho phép tôi được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc của mình đến:
- PGS.TS Nguyễn Công Lý, người thầy đã gợi ý, định hướng đề tài và ân cần hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn;
- Quý GS, PGS, TS của Khoa Văn học và Ngôn ngữ đã giảng dạy các chuyên đề Cao học Văn học Việt Nam, khoá 2012 đợt 1;
- Ban Giám hiệu và các Phòng, Ban chức năng của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP HCM đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu;
- Thầy Ngô Văn Dưỡng – Hiệu trưởng Trường Trung học Cơ sở Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã hết sức quan tâm, giúp đỡ tôi về nhiều mặt;
- Xin được cám ơn những người thân thiết trong gia đình, anh chị em và bè bạn gần xa đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập
Xin chân thành cám ơn tất cả
TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 11 năm 2015
Trần Quốc Thái
Trang 5MỞ ĐẦU ……… 1
1 Lý do chọn đề tài ……….……… 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 1
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 2
4 Phương pháp nghiên cứu ……… 10
5 Đóng góp của luận văn ……… 11
6 Giới thiệu cấu trúc luận văn ……… 11
Chương 1: XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THỜI VÃN TRẦN VÀ TÁC GIA TRẦN NGUYÊN ĐÁN, NGUYỄN PHI KHANH 12
1.1 Xã hội Đại Việt thời vãn Trần (1341-1400)…… … 12
1.1.1 Thời đại xã hội ……… ……12
1.1.2 Tư tưởng - Giáo dục - Diện mạo văn học……… 17
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nguyên Đán ……… 26
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Phi Khanh ………31
* Tiểu kết 37
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRONG THƠ TRẦN NGUYÊN ĐÁN VÀ NGUYỄN PHI KHANH 39
2.1 Yêu nước ……… 40
2.2 Thân dân ……… 49
2.3 Yêu thiên nhiên ……… 62
2.4 Thích nhàn dật ……… 71
* Tiểu kết 80
Chương 3: PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TRẦN NGUYÊN ĐÁN VÀ NGUYỄN PHI KHANH 81
* Khái niệm phong cách nghệ thuật 81
3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật……… 82
3.1.1 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 84
Trang 63.2.2 Cánh chim ……… 94
3.2.3 Mùa thu ……… 99
3.3 Giọng điệu……… 105
3.3.1 Giọng hùng hồn ……… 106
3.3.2 Giọng thanh cao ……… 111
3.3.3 Giọng bi khái ……… 113
3.4 Cá tính sáng tạo của hai nhà thơ ……… 118
* Tiểu kết 123
KẾT LUẬN ……… 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 128
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học thời Lý - Trần đã để lại những dấu ấn rực rỡ cho nền văn học nước
ta Trải qua thiên tai và binh lửa, những di sản văn học trong giai đoạn này không còn được nguyên vẹn như xưa nhưng những gì còn lại cũng đủ minh chứng cho một giai đoạn vàng son của văn chương nước nhà
Văn học thời Lý - Trần, bên cạnh những tác phẩm phản ánh hào khí của một thời đại oai hùng với những chiến công chống ngoại xâm hiển hách thì còn có những tác phẩm phản ánh thời cuộc xã hội lúc suy tàn, nhất là từ nửa sau thế kỷ XIV trở đi, mà sử sách đã định danh là thời Vãn Trần (từ 1341 đến hết thế kỷ này)
Hiện thực đời sống xã hội lúc này đã được nhiều tác giả phản ánh, trong đó
phải kể đến hai tác gia tiêu biểu là Trần Nguyên Đán với Băng Hồ ngọc hác tập và Nguyễn Phi Khanh với Nhị Khê tập Qua các sáng tác hiện còn của Tư đồ Trần
Nguyên Đán và người con rể là Nguyễn Phi Khanh, người đọc sẽ nhận thấy được tình cảnh đất nước, đời sống nhân dân, về suy nghĩ của kẻ sĩ trước thời cuộc với tâm trạng và cảm khái trước thời thế đang suy tàn
Dù biết bản thân mình còn hạn chế nhiều mặt nhưng với niềm say mê văn
học, nhất là những di sản của cha ông xưa, bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tài: Tư
tưởng và phong cách nghệ thuật trong thơ Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh
để nghiên cứu bằng cách tìm hiểu về thời đại xã hội, cuộc đời và sự nghiệp của hai tác giả, từ đó nghiên cứu nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật thơ của hai tác giả tiêu biểu cho văn học thời Vãn Trần này
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ văn của Trần Nguyên Đán và
Nguyễn Phi Khanh Theo thư tịch xưa cho biết Trần Nguyên Đán có Băng Hồ ngọc
hác tập và Nguyễn Phi Khanh có Nhị Khê tập Toàn bộ thơ văn hiện còn của hai tác
gia này đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm, phiên âm và dịch đầy đủ, công bố
trong bộ Thơ văn Lý – Trần tập 3, Nxb KHXH, Hà Nội, 1978 Khi thực hiện đề tài
Trang 8này, về văn bản thơ, chúng tôi dựa vào bộ sách này là chính, ngoài ra có tham khảo
thêm văn bản thơ văn của hai tác giả này được in lại trong Tổng tập văn học Việt
Nam tập 3 B, Trần Lê Sáng chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội, 1994, tb 2000
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là qua thơ của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh, bước đầu luận văn sẽ chỉ ra giá trị nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật thơ của hai tác gia này
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong tình hình tư liệu hiện nay, khi thực hiện đề tài này, qua tìm hiểu nguồn tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận thấy hiện không có nhiều công trình nghiên cứu
về thơ của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh
Theo thư tịch cổ cho biết, Trần Nguyên Đán có Băng Hồ ngọc hác tập và Nguyễn Khi Khanh có Nhị Khê tập Trải qua nhiều lần sưu tầm, cho đến nay thơ
văn của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh được sưu tầm và dịch thuật đầy đủ nhất phải kể đến công lao của các nhà nghiên cứu ở Viện Văn học – Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam, công bố tại công trình Thơ văn Lý – Trần tập 3, Nxb
KHXH, Hà Nội, 1978 Theo bộ tuyển tập này thì thơ của Trần Nguyên Đán hiện còn 51 bài; thơ văn của Nguyễn Phi Khanh hiện còn 79 bài, trong đó có 77 bài thơ,
01 bài phú và 01 bài ký
Xin được điểm lại một số thành tựu sưu tầm và nghiên cứu về cuộc đời và thơ văn của hai tác giả qua hai thời kỳ: từ thế kỷ XIX trở về trước và từ thế kỷ XX đến nay
3.1 Thành tựu sưu tầm văn bản thơ văn và đánh giá về thơ của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh từ thế kỷ XIX trở về trước
Việt âm thi tập là một tuyển tập thi ca đầu tiên của nước ta do Phan Phu Tiên
soạn năm 1433 sau đó Lý Tử Tấn phê điểm, hoàn thành năm 1446 Bộ tuyển tập này có hơn một nửa dung lượng dành cho các tác giả, tác phẩm thời Lý - Trần nhưng vẫn chưa có sự góp mặt của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh
Trang 9Phải đợi đến khoảng các năm 1459-1463, Dương Đức Nhan soạn bộ Tinh
tuyển chư gia luật thi (Lương Như Hộc phê điểm) thì thơ của Trần Nguyên Đán
được tuyển 45 bài và thơ của Nguyễn Phi Khanh được tuyển 74 bài
Đến cuối thời Hồng Đức vào năm 1497 Hoàng Đức Lương đã tìm thêm được
06 bài thơ của Trần Nguyên Đán và đưa vào cuốn Trích diễm thi tập
Giữa thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn đã dựa vào các bộ tuyển tập trên cùng các
thư tịch khác để biên soạn bộ Toàn Việt thi lục Có thể nói đây là bộ tuyển tập thơ
văn đồ sộ nhất, chép lại tác phẩm thơ từ thời Lý - Trần cho đến thời Lê trung hưng (giữa thế kỷ XVIII), tức lúc học giả họ Lê biên soạn công trình này Trong đó, thơ của Trần Nguyên Đán tuyển được 51 bài; và thơ của Nguyễn Phi Khanh tuyển được
77 bài thơ, cùng 01 bài phú và 01 bài ký
Cũng vào nửa cuối thế kỷ XVIII, người học trò xuất sắc của Lê Quý Đôn là
Bùi Huy Bích đã biên soạn hai bộ: Hoàng Việt thi tuyển và Hoàng Việt văn tuyển (được khắc in năm 1825) Trong Hoàng Việt thi tuyển thơ của Trần Nguyên Đán
được Bùi Huy Bích tuyển 10 bài và thơ của Nguyễn Phi Khanh được soạn giả tuyển
04 bài Nếu so với công trình của Lê Quý Đôn thì bộ tuyển thơ của Bùi Huy Bích là còn quá ít
Xin được nói thêm ngoài 51 bài thơ của Trần Nguyên Đán được Lê Quý Đôn
chép trong Toàn Việt thi lục, thì Trần Nguyên Đán còn có hai đoạn thơ (mỗi đoạn
có hai câu) được chép trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử
gia ở Quốc sử quán triều Lê Đoạn thơ đầu được xác nhận là hai câu còn lại của bài
Thập cầm ngụ ý khuyên vua Trần Nghệ Tông nên cảnh giác trước Hồ Quý Ly
Đoạn thứ hai cũng còn hai câu nhưng chỉ thấy ghi xuất xứ là bài thơ ông làm gửi đồng liêu khi về trí sĩ tại Côn Sơn
Trong Lịch triều hiến chương loại chí, mục Nhân vật chí, Phan Huy Chú
cũng đã đưa hai đoạn thơ này trong phần đánh giá về vị Tư đồ nhà Trần
Trong Nam ông mộng lục, Hồ Nguyên Trừng có ghi câu chuyện “Thi phúng
trung gián” trong đó có chép lại hai câu này và xác nhận là của Trần Nguyên Đán
[94, tr.960] Câu chuyện cũng có chép lại bài thơ của Trần Nguyên Đán gửi cho
Trang 10đồng liêu mà hai câu cuối bài thơ này chính là hai câu mà Ngô Sĩ Liên có chép
trong Đại Việt sử ký toàn thư khi viết về Trần Nguyên Đán
Đầu thế kỷ XIX, trong Lịch triều hiến chương loại chí, mục Văn tịch chí khi
viết về Trần Nguyên Đán, Phan Huy Chú có trích lại 2 bài Nhận định về thơ Trần Nguyên Đán, Phan Huy Chú viết “Trong đời Xương Phù, Nguyên Đán thôi quan về Côn Sơn, lấy cảnh rừng trúc núi đá làm vui nhưng lòng lo đời thường thấy ở lời
ngâm vịnh, như bài ‘Nhâm Dần lục nguyệt tác’.” [14, tr.92] Khi trích lại bài ‘Dạ
quy chu trung tác’, Phan Huy Chú đã bình “Đại khái là cảm khái thời sự, thân tuy
về ở ẩn nhưng không quên việc nước” [14, tr.92] Còn trong mục Nhân vật chí,
Phan Huy Chú đã xếp Trần Nguyên Đán là một trong mười người phò tá có công lao tài đức đời Trần và đưa ra nhận xét tương tự: “tấm lòng lo nước thường lộ ra ở những câu ngâm vịnh” [11, tr.191]
Về Nguyễn Phi Khanh, trong mục Văn tịch chí bộ Lịch triều hiến chương
loại chí, Phan Huy Chú có giới thiệu Nhi Khê tập “không rõ mấy quyển” và có trích
toàn văn bài Gia viên lạc với lời bình “Đứa trẻ 6 tuổi trong bài này là Ức Trai” [14,
tr.104]
Như vậy có thể khẳng định từ trước thế kỷ XX, tình hình sưu tầm văn bản thơ văn Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh đã hoàn thành tương đối đầy đủ,
mà công đầu là của Lê Quý Đôn Đây là nền tảng quý báu để giúp cho các học giả
từ thế kỷ XX về sau thực hiện công việc dịch thuật, tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá những giá trị mới về con người và thơ văn của hai tác gia này
3.2 Thành tựu dịch thuật về thơ văn của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh từ thế kỷ XX đến nay
Trên Nam Phong tạp chí đầu thế kỷ XX, Hoàng Giáp Đinh Văn Chấp là
người đầu tiên dịch thơ Lý – Trần đăng trên tạp chí này trong đó có một số bài thơ của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh
Ngô Tất Tố với công trình giới thiệu và dịch Việt Nam văn học: Văn học đời
Trần xuất bản tại Sài Gòn năm 1942 Trong công trình này, tuy Ngô Tất Tố không
tuyển thơ của Trần Nguyên Đán nhưng ông cũng không quên nhắc tới tập thơ của
Trang 11thi sĩ họ Trần cũng như lai lịch của nó khi tổng kết văn học thời Trần, trong phần
liệt kê các tác phẩm thi văn: “Băng Hồ ngọc hác, 2 quyển của Trần Nguyên Đán
làm ra trong khi về ở Côn Sơn.” [71, tr11]
Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc San trong Hợp tuyển thơ
văn Việt Nam tập 2 (thế kỷ X – thế kỷ XVII), Nxb Văn hoá, HN, 1963; Nxb Văn
học, HN, tb, 1976, đã tuyển 4 bài thơ của Trần Nguyên Đán [tr.254-258] và nhận
định “Ông có tập thơ Băng Hồ ngọc hác, trong đó có một số bài đã phản ánh được
cảnh suy vi của xã hội cuối đời Trần” [tr.254] Bộ hợp tuyển này cũng đã tuyển 06 bài thơ của Nguyễn Phi Khanh cùng với Tiểu dẫn giới thiệu sơ lược tiểu sử tác giả [tr.269-278]
Gần cuối những năm 70, Viện Văn học đã cho xuất bản bộ Thơ văn Lý –
Trần (ba tập), thơ Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh được xếp ở tập 3, Nxb
KHXH, Hà Nội, 1978 Trên cơ sở bộ Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, các soạn
giả Viện Văn học đã tìm thêm và đã phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh một cách đầy đủ Bộ sách đã tuyển 51 bài thơ của Trần Nguyên Đán và tuyển 77 bài thơ cùng 01 bài phú và 01 bài ký của Nguyễn Phi Khanh
Về sau trong công trình Tổng tập văn học Việt Nam tập 3B (1994) thì thơ
Trần Nguyên Đán chỉ tuyển có 50 bài và thơ Nguyễn Phi Khanh chỉ tuyển có 56 bài
Ngoài ra còn có Tinh tuyển văn học Việt Nam (Văn học thế kỷ X – XIV) do
Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Nxb KHXH, Hà Nội, 2004, đã tuyển 09 bài thơ của Trần Nguyên Đán và tuyển 15 bài thơ của Nguyễn Phi Khanh
Thái Bá Tân (1998), Cổ thi tác dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1998, Thái Bá
Tân là một dịch giả của khá nhiều bài thơ Đường và thơ cổ Việt Nam, ông có dịch
lại 13 bài tứ tuyệt của Nguyễn Phi Khanh
Năm 2007, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học của Mai Quốc Liên đã cho
phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ đầy đủ bộ Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích
với 525 bài (chưa kể các ‘thủ’ trong một số bài) và dĩ nhiên trong đó có thơ Trần
Trang 12Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh được Bùi Huy Bích tuyển, như trên có giới thiệu
3.3 Thành tựu nghiên cứu về thơ văn Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh trong các công trình, các bài viết trên tạp chí từ trước đến nay
Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử (1942), Trần Văn Giáp đề
tựa, Huỳnh Thúc Kháng đề bạt, Hàn Thuyên, Hà Nội xuất bản, có viết: “Trần
Nguyên Đán (1325 - 1390) có Băng Hồ ngọc hác đều một giọng cảm khái thời thế
như lời của Phan Huy Chú ‘Đại để cảm khái thời thế, ẩn mà không quên việc đời’.”
[7, tr.311]; Đồng thời tác giả cũng trích dẫn hai bài thơ Nhâm Dần lục nguyệt tác,
Dạ quy chu trung tác mà Phan Huy Chú đã trích trước đó để minh họa cho ý kiến
này
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (Nha học chính Đông Pháp xuất bản, 1943) chương thứ 4 thiên thứ 2 mục Thi gia đời Trần cũng ghi lại tập thơ Băng Hồ ngọc hác tập của Trần Nguyên Đán và Nhị Khê tập của Nguyễn
Phi Khanh, chú thích sơ qua về tiểu sử của hai tác giả cũng như xuất xứ, ý nghĩa của tập thơ
Hạo Nhiên Nghiêm Toản, Việt Nam văn học sử trích yếu, Nxb Vĩnh Bảo,
Sài Gòn, 1949, tuy không viết cụ thể về Trần Nguyên Đán cũng như Nguyễn Phi Khanh hay trích dẫn tác phẩm nào của hai tác giả này song công trình có nhắc đến tên hai tác gia này cùng với các danh nho thời Trần với lời ngợi khen: “là những tay văn học giỏi.” [70, tr.45]
Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi (1958), Sơ thảo lịch sử
văn học Việt Nam, tập 2, Nxb Văn, Sử, Địa, Hà Nội, đã dành một phần nhỏ nhưng
không kém phần quan trọng để viết về tập thơ của Trần Nguyên Đán cùng con rể là Nguyễn Phi Khanh trong tập 2 (từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII) của bộ sách này Đó là
tiểu mục Băng Hồ ngọc hác tập và Nhị Khê tập trong phần thơ văn cảm khái thời
thế Với việc phân tích một số bài thơ của Trần Nguyên Đán, các tác giả đã chỉ ra tâm sự chính trong thơ ông Đồng thời, lần đầu tiên thơ của Trần Nguyên Đán được nhìn trong một mức độ khái quát cao hơn: “Thơ của Trần Nguyên Đán có thể nói là
Trang 13tiếng khóc của giai cấp thống trị, cụ thể là tập đoàn phong kiến nhà Trần trên bước đường suy vong Chính là tiếng khóc của những con người bất lực không thể vãn hồi được thời cuộc.” [68, tr.87]
Bùi Văn Nguyên chủ biên Lịch sử văn học Việt Nam tập 2, Tủ sách Đại học
Sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962, sau đó được tái bản lần 4, 1976, trong mục viết về tình hình văn học đời Trần Hồ, tác giả có nhắc đến thơ của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh với “đầy một giọng thơ cảm khái thời thế, tỏ rõ sự bất
lực của giai cấp mình trước thời cuộc” [tr.87]; “Tập thơ Băng Hồ ngọc hác là tiếng
khóc bi thảm của giai cấp ông trong buổi suy tàn” [tr.87] “Nguyễn Phi Khanh, người con rể ông, đã thay ông nói rõ hơn mối tâm sự đau buồn đó trong những
“mùa xuân lạnh”, hay trong những “ngày thu ngủ muộn” rồi chán ngán kêu lên…”
[tr 87,88] Cũng với Bùi Văn Nguyên chủ biên, trong giáo trình Văn học Việt Nam
từ thế kỷ thứ X – đến giữa thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1989, trong mục
viết về tình hình văn học đời Trần – Hồ, tác giả có nhắc đến Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh ở các trang: 110, 118, và nhận định trong giáo trình này không
có gì mới nếu so với giáo trình năm 1962
Nguyễn Đăng Thục (1967), tái bản 1992, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 5,
Nxb TP Hồ Chí Minh Tác giả đã so sánh cụ thể tư tưởng của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh Tác giả đề cao triết lý, xuất xử uyên thâm của Nguyễn Phi Khanh theo tinh thần khai phóng tâm linh của nhà Trần kể từ Trần Thái Tông trở đi
Tác gia Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh cũng được Đinh Gia Khánh
- Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương giới thiệu trong giáo trình Văn học Việt Nam (thế
kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII), tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà
Nội, 1977 (từ năm 2000, được Nxb Giáo dục, tái bản nhiều lần), các tác giả đã giới thiệu Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh như những nhà thơ tiêu biểu của thời Vãn Trần, khẳng định vai trò của hai tác gia này trong văn học đời Trần – Hồ và trong văn học trung đại Việt Nam
Bùi Văn Nguyên, Đào Phương Bình (1981), Thơ văn Nguyễn Phi Khanh,
Nxb Văn học, Hà Nội, các soạn giả không chỉ sưu tầm tương đối đầy đủ thơ văn
Trang 14hiện có mà còn giới thiệu tiểu sử và phân tích, nhận định những giá trị chung của
thơ văn Nguyễn Phi Khanh Trong lời giới thiệu sách Bùi Văn Nguyên đã viết: “Phi
Khanh là nhà thơ trữ tình lớn thời Trần - Hồ, có thể sinh ra không gặp thời và gần như suốt đời miệt mài với văn chương Phi Khanh đã nén tất cả ý chí thanh cao và ý chí tâm hồn trong sáng của mình vào nét chữ câu thơ nên thơ ông mới “hay”, mới
“tình” đến vậy Đúng là cuộc đời ông bị vùi dập nhưng hồn thơ ông vẫn phiêu diêu.” [61, tr.20]
Bên cạnh đó, thơ văn Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh còn được các nhà nghiên cứu có nhắc qua khi tìm hiểu văn học đời Trần trong các công trình, các bài tạp chí Có thể điểm lại một số bài tiêu biểu như :
Trần Thị Băng Thanh (1980), “Ức Trai thi tập và thơ chữ Hán đời Trần”,
Tạp chí Văn học, số 4 Tác giả nhận định Nguyễn Trãi đã “tiếp thu nét ưu tư,
thương dân, băn khoăn về trách nhiệm kẻ sĩ của các nhà thơ cuối Trần mà nổi bật hơn cả là Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh…”
Nguyễn Phạm Hùng (1996) trong công trình Văn học Lý – Trần nhìn từ thể
loại, đã đề cập tới Nguyễn Phi Khanh như một tác giả quan trọng của thể loại phú
thời Trần
Thân thế Nguyễn Phi Khanh cũng được nhắc tới rải rác trong các sách lịch
sử như: Dã Lan, Nguyễn Đức Dụ (1998), Dõi tìm tông tích người xưa, Nxb Trẻ
TP.Hồ Chí Minh
Tạ Ngọc Liễn (1998), Chân dung văn hóa Việt Nam (tập 1), Nxb Thanh
Niên, có bài viết “Nguyễn Phi Khanh một nhà thơ trữ tình nhân đạo” Trong bài
này, Tạ Ngọc Liễn đã đánh giá cái tôi trữ tình của Nguyễn Phi Khanh là cái tôi “sâu
sắc” và “day dứt” nhất trong các nhà thơ thời Trần - Hồ
Trần Ngọc Vương (1999), Văn học Việt Nam - dòng riêng giữa nguồn chung,
lại quan tâm đến Trần Nguyên Đán như một đại diện tiêu biểu của bộ phận quý tộc nho giáo với tâm trạng bất lực trước thời cuộc
Đào Phương Bình (1999), “Phi Khanh và thơ Phi Khanh” đăng trên tuyển tập
40 năm Tạp chí văn học, Viện Văn học, Nxb TP Hồ Chí Minh Đây là bài viết thể
Trang 15hiện cái nhìn sâu sắc của tác giả về con người thời đại và thơ văn Nguyễn Phi
Khanh Tác giả khẳng định “Nguyễn Phi Khanh xứng đáng là một ngôi sao sáng
trong bầu trời văn học cổ Việt Nam”
Bài viết “Mấy đặc điểm văn học Lý Trần”, trên Tạp chí Hán Nôm, số 2
-2001, Nguyễn Công Lý đã nói đến nỗi niềm trăn trở, day dứt của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán khi nghĩ về nhân dân sống trong cảnh mất mùa đói kém, mà mình thì chẳng giúp ích được gì
Lê Minh Quốc (2002), trong cuốn Mối tình của các danh nhân Việt Nam,
Nxb Phụ nữ, Hà Nội, đã có một bài viết về chuyện tình của Nguyễn Phi Khanh với Trần Thị Thái Tác giả ca ngợi đó là một tình yêu vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến
Trong bài viết “Côn Sơn – miền ẩn cư trong thơ Nguyễn Trãi” đăng trên Tạp
chí Hán Nôm số 2 - 2003, Trần Thị Đăng Thanh đã dành phần đầu tiên để viết về
Trần Nguyên Đán với sự lựa chọn sáng suốt của bậc trí giả khi về ở ẩn tại Côn Sơn
Nguyễn Hoàng Thân có bài viết nghiên cứu về “Tư tưởng Trần Nguyên Đán
trước thời cuộc khủng hoảng suy tàn” trên Tạp chí Hán Nôm số 1 - 2007, bài viết
không chỉ khái quát tình hình nghiên cứu thơ văn Trần Nguyên Đán mà còn cung cấp những chỉ dẫn tài liệu tương đối cần thiết về nhân vật lịch sử này
Nguyễn Công Lý với bài “Danh nhân Nguyễn Trãi: sự hội tụ những tinh hoa
của văn hóa Thăng Long thời Lý - Trần” trên Tạp chí Hán Nôm số 1-2011, đã
khẳng định cội nguồn của sự hình thành thiên tài Nguyễn Trãi là ảnh hưởng từ dòng
họ với truyền thống cương trực, khảng khái, khí tiết cứng cỏi Tác giả bài viết có
nhắc đến Băng Hồ di sự lục với lời nhận xét: “đây là bài ký rất cảm động viết về
ông ngoại kính yêu, qua đó có thể thấy Nguyễn Trãi đã kế thừa truyền thống gia đình cùng tiếp thu tư tưởng thân dân, tấm lòng ưu ái vì nước vì dân của ông ngoại”
Nguyễn Công Lý (2013), Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV:
Những vấn đề về thể loại, khuynh hướng văn học, tác giả tiêu biểu, Đề tài NCKH
cấp ĐHQG TP Hồ Chí Minh Trong công trình này, tại chương 2 viết về thể loại và chương 3 viết về khuynh hướng cảm hứng, tác giả công trình đã có nhận định về thơ của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh Đặc biệt ở chương 4, công trình
Trang 16đã dành 2 mục viết về 2 tác gia Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, trong số 14 tác gia tiêu biểu của văn học đời Trần được công trình giới thiệu và khảo sát [51, tr.347-358] và [51, tr.359-370]
Các bài viết trên không chỉ dừng lại ở việc phân tích những nội dung tư tưởng chính trong thơ của hai tác giả Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh, mà các nhà nghiên cứu ít nhiều còn chỉ ra giọng điệu thơ của hai tác giả này, đây là cơ
sở để chúng tôi kế thừa tiếp thu khi triển khai các chương mục của luận văn “Tư
tưởng và phong cách nghệ thuật trong thơ Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh”
4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu văn học sử: cụ thể là phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Trên cơ sở những gì đã phân tích chúng tôi sẽ dùng phương pháp tổng hợp để khái quát hệ thống vấn đề Bên cạnh trong lúc triển khai đề tài, luận văn còn sử dụng thao tác thống kê, phân loại
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Chúng tôi dùng phương pháp này để khảo sát thơ Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh qua so sánh giọng điệu, tư tưởng,
đề tài, v.v mục đích tiếp cận đối tượng theo nhiều hướng khác nhau nhằm tìm ra những đặc điểm quan trọng trong nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật thơ của hai tác giả được khảo sát
Phương pháp thống kê - phân loại: Khi thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành thống kê và phân loại sáng tác của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh nhằm hệ thống đối tượng đang phân tích, làm chỗ dựa vững chắc cho chúng tôi khi nghiên cứu đề tài
Vận dụng thi pháp học: nhằm đi sâu vào những hình thức nghệ thuật, giọng điệu, hình tượng để bước đầu khái quát được phong cách nghệ thuật trong thơ Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh
Trang 175 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở tiếp thu kế thừa những thành tựu đã có, với đề tài này lần đầu tiên hai tác gia Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh được chúng tôi tìm hiểu chuyên sâu, có hệ thống trên phương diện nội dung tư tưởng, bước đầu chỉ ra vài nét về phong cách nghệ thuật trong thơ của hai tác gia này
6 Giới thiệu cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3
chương với dung lượng như sau:
Chương 1: (27 trang, từ trang 12 đến trang 38)
Chương 2: (42 trang, từ trang 39 đến trang 80)
Chương 3: (43 trang, từ trang 81 đến trang 123)
Với cấu trúc trên, chương 1 là chương nền tảng để từ đó sang chương 2 và chương 3 là hai chương trọng tâm tìm hiểu tư tưởng chính và phong cách nghệ thuật trong thơ Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh
Trang 18CHƯƠNG 1
XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THỜI VÃN TRẦN
VÀ TÁC GIA TRẦN NGUYÊN ĐÁN, NGUYỄN PHI KHANH
1.1 XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THỜI VÃN TRẦN (1341-1400)
1.1.1 Thời đại xã hội
Nhà Trần sau ba lần đại thắng Nguyên - Mông, làm nên những dấu ấn rực rỡ cho cả một thời đại thì đến đời Trần Dụ Tông (1341-1369) trở đi, đất nước bắt đầu suy vi để sau đó lâm vào tình trạng khủng hoảng, dẫn đến mất ngôi vào năm 1400
Thời gian này, họa xâm lăng từ phương Bắc không còn đáng ngại nữa nhưng
ở phương Nam tình hình chiến sự lại trở nên căng thẳng Năm 1353, Chiêm Thành vào cướp Hóa Châu Vua sai Trương Hán Siêu quản lĩnh các quân Thần Sách, đi trấn thủ Hóa Châu Năm 1361, Chiêm Thành lại vào cướp phủ Lâm Bình Triều đình dùng Phạm A Song trấn giữ đất ấy Đáng lưu ý nhất là năm 1371, mẹ của Hôn Đức Công Dương Nhật Lễ xui Chiêm Thành đánh phá nước ta theo cửa biển Đại
An Quân nhà Trần do thiếu phòng bị nên không đủ sức kháng cự Vua Trần Dụ Tông phải chạy sang huyện Đông Ngàn để lánh giặc Người Chiêm ra sức cướp phá
vơ vét kinh thành Từ đấy, năm nào Chiêm Thành cũng thường vào xâm lấn, khuấy nhiễu làm biên giới phía nam vô cùng rối loạn
Lúc này nội bộ triều đình lại có nhiều rối ren Các danh tướng một thời đánh Nam dẹp Bắc làm quân thù khiếp sợ thì trong thời bình chỉ sa vào hưởng thụ, lo cho điền trang thái ấp của bản thân, nên không còn chú tâm đến lợi ích quốc gia dân tộc
Trường hợp danh tướng Trần Khánh Dư là một ví dụ Đại Việt sử kí toàn thư đã
viết: Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu, người trong trấn kiện Trần Khánh Dư tham lam thô bỉ Hành khiển đem sự trạng tâu lên Trần Khánh Dư
nhân đó tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì
có gì là lạ? ” [44, tr.165]
Ngay trong việc sinh hoạt của vua trong triều cũng là một đề tài đáng phải bàn luận Việc chữa bệnh kì quái của Trâu Canh qua việc xúi giục vua Dụ Tông
Trang 19loạn luân với chị ruột là công chúa Thiên Ninh cũng bị sử sách ghi lại và phê phán một cách nặng nề:
“Bấy giờ Trâu Canh thấy vua bị liệt dương, dâng phương thuốc nói rằng giết đứa bé con trai, lấy mật hòa với dương khởi thạch mà uống và thông dâm với chị hay em ruột của mình thì sẽ hiệu nghiệm Vua làm theo, thông dâm với chị ruột là công chúa Thiên Ninh, quả nhiên công hiệu.”
nhưng không đạt kết quả như ý nguyện, Chu An dâng Thất trảm sớ đòi chém bọn gian thần thân cận với vua mong chấn chỉnh triều cương Lê Tung trong Việt giám
thông khảo tổng luận, viết một câu nổi tiếng: “Thất trảm chi sớ, nghĩa động quỷ thần”
Sau khi Dụ Tông băng hà, Thái hậu đã trao giang sơn nhà Trần cho Dương
Nhật Lễ: “Nhật Lễ tiếm vị, rượu chè dâm dật, hằng ngày chỉ rong chơi, thích các
trò hát xướng, muốn đổi lại họ là họ Dương Người tôn thất và các quan đều thất vọng.” [44, tr.230] Lúc này là giai đoạn đen tối nhất trong triều đại nhà Trần Cung
Định vương Trần Phủ cùng hoàng tộc bày kế tiêu diệt Dương Nhật Lễ rồi lên ngôi (1370) hiệu là Trần Nghệ Tông Ông là vị vua tuy giỏi văn chương thi phú nhưng về mặt cương nghị, quyết đoán lại không đủ Chính điều này là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt các vị vua nhà Trần bị phế truất sau này Quyền hành dần rơi vào tay Hồ Quý Ly Sử gia Phan Phu Tiên viết:
“Nhà Trần từ sau Dụ Tông hoang dâm phóng túng, lại thêm Chiêm
Thành xâm lược, quấy rối thì giặc cướp rất nhiều Chúng cướp của bắt người giữa ban ngày, pháp luật không thể ngăn cấm được Quý Ly nắm quyền cai trị tìm cách lùng bắt mới hạn chế được phần nào!” [44, tr.285]
Trang 20Chế độ Thượng hoàng (Thái thượng hoàng) được nhà Trần duy trì từ đầu cho đến khi kết thúc vương triều, với mục đích là để bảo vệ ngôi báu cho dòng tộc, phòng khi có việc bất trắc xảy ra Các công việc triều chính đều do Thượng hoàng quyết định Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn:
“Gia pháp nhà Trần…, con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hoàng, cùng trông coi chính sự Thực ra chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi thảng thốt mà thôi, chứ mọi việc đều do ở Thượng hoàng quyết định cả Vua nối không khác gì Hoàng thái
tử cả…” [44, tr.196]
Từ sau đời Trần Nghệ Tông làm vua (1370-1372), rồi làm Thượng hoàng (1372-1394), quyền hành trong nước đều được vua giao cho Hồ Quý Ly nắm giữ Tầng lớp trí thức hoặc những nho sinh tài giỏi thay thế dần những chức vụ quan trọng mà trước đây chỉ dành cho tôn thất Vậy là từ đây Hồ Quý Ly từng bước thao túng quyền hành về tay của mình Do hai bà cô ruột của Hồ Quý Ly đều là phi tần của vua Trần Minh Tông (1314-1329) Bà Minh Từ sinh ra Trần Nghệ Tông (1370-1372), bà Đôn Từ sinh ra Trần Duệ Tông (1372-1377) Cho nên vua mới lên ngôi rất tín nhiệm Hồ Quý Ly Trần Nghệ Tông lại đem công chúa mới góa chồng là Huy Ninh gả cho Hồ Quý Ly (Huy Ninh trước là vợ của tôn thất Nhân Vinh, Nhân Vinh
bị Nhật Lễ giết hại) Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận định:
“Nhân Vinh chết vì thù nước, Huy Ninh để tang chồng mới được 6 tháng
mà vua đã đem gả cho Quý Ly Thế là làm hỏng nhân luân bắt đầu từ vua, mà kẻ làm chồng, người làm vợ cũng không có nhân tâm Phá bỏ lễ chồng vợ, đảo loạn đạo tam cương, thì làm sao mà chẳng sinh loạn?”
[44, tr.240]
Hồ Quý Ly đã có ý đồ chính trị, lại được vua Trần Nghệ Tông tin dùng, giao giữ những chức vụ quan trọng Từ đó, ông càng trở nên lộng quyền, mưu hại rất nhiều trọng thần và tôn thất, chuẩn bị tiếm ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ Thế lực của Hồ Quý Ly lúc này rất lớn lấn át cả vua:
Trang 21“Tháng 3, Thượng hoàng Nghệ Tông chiêm bao thấy Duệ Tông đem
quân đến và đọc bài thơ như sau:
Trung gian duy hữu xích chủy hầu,
Ân cần tiếm thượng bạch kê lâu
Khẩu vương dĩ định hưng vong sự, Bất tại tiền đầu tại hậu đầu
Xích chủy hầu [44, tr.604]
(Quãng này chỉ có hầu mõm đỏ,
Lăm le ngầm lên lầu gà trắng
Khẩu vương đã định việc còn mất, Chẳng ở trước mà ở về sau.)
Thượng hoàng tự mình chiết tự đoán là: “xích chủy” là Quý Ly
“bạch kê” là Thượng hoàng, vì Thượng hoàng tuổi Tân Dậu; “khẩu vương” là chữ “quốc”; việc nước còn hay mất sau sẽ thấy Thượng Hoàng suy nghĩ về giấc chiêm bao này lung lắm, nhưng thế không còn làm gì được nữa.” [44, tr289]
Từ năm 1341 trở đi, dưới thời Vãn Trần, chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên khiến cho nhân dân khốn khổ lầm than Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân có quy mô lớn lần lược nổ ra, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ, Trần Tề, Phạm Sư Ôn Năm 1389, một nhà sư là Phạm Sư Ôn hô hào nhân dân tụ họp ở lộ Quốc Oai (Sơn Tây) Sư Ôn tự xưng vua tiến đánh Thăng Long Vua tôi nhà Trần phải bỏ kinh thành chạy sang Bắc Giang Đây là cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử nước ta mà quân khởi nghĩa đánh chiếm được kinh thành
Thời Vãn Trần, quan lại nhiều người có tài đức nhưng vua u mê không nghe lời can gián mà chỉ ham chuộng những kẻ xu thời nịnh thế nên các vị ấy cũng không làm thay đổi được thời cuộc Những hiền tài như: Chu An, Phạm Sư Mạnh,
Lê Quát, Hồ Tông Thốc, Trần Nguyên Đán, Phạm Ngộ… phải đành bó tay ngậm ngùi nhìn thời cuộc ngả nghiêng Trong xã hội quân chủ chuyên chế, vua là tối
thượng “Vua sáng, tôi hiền” là yếu tố quyết định xã hội vững bền, nhân dân được
Trang 22cảnh sống ấm no, yên ổn Còn vua hèn, tôi giỏi thì bầy tôi phải nếm trải bao uất ức Tâm trạng uất ức ấy khó lòng giãi bày được Bàn về mối quan hệ này, sử thần Ngô
Sĩ Liên viết:
“Người hiền được dùng ở đời, thường lo người làm vua không thi
hành những điều sở học của mình Người làm vua sử dụng người hiền thường lo người hiền không theo ý muốn của mình Cho nên vua [sáng] tôi [hiền] gặp nhau, từ xưa vẫn là rất khó.” [44, tr.236]
Và do không được trọng dụng cho nên ngay cả hoàng thân danh giá như Tư
đồ Trần Nguyên Đán cũng đành xuôi tay bất lực trước thời cuộc Thái úy Trang Định vương Trần Ngạc đã viết bài thơ tặng Tư đồ Chương túc Quốc thượng hầu
Trần Nguyên Đán có câu rằng: “Ruộng vườn sớm liệu về thôi” [44, tr.296]
Như vậy cả triều đình từ vua đến các quan đều đoán biết ý đồ chính trị của
Hồ Quý Ly Các lão thần trụ cột lúc bấy giờ như Thượng tướng quân Trần Khát Chân, Thái bảo Trần Hãng đã quyết định mưu giết Hồ Quý Ly giành quyền bính về tay tôn thất nhà Trần nhưng không thành Cuộc mưu sát ở Đốn Sơn thất bại, làm rung rinh triều đình Đại Việt thời bấy giờ:
“Hôm ấy, Quý Ly họp thề ở Đốn Sơn Bọn Khát Chân đã có ý giết Quý
Ly Quý Ly lên lầu nhà Khát Chân để xem, Phạm Tổ Thu là cháu gọi tướng quân Phạm Khả Vĩnh là chú bác và thích khách cầm gươm định tiến lên lầu, Khát Chân trừng mắt ngăn lại, nên việc không xong Quý
Ly chột dạ đứng dậy Vệ sĩ hộ vệ xuống lầu Ngưu Tất quăng gươm xuống đất nói: “Chết uổng cả lũ thôi” Sự việc bị phát giác, bọn tôn thất Hãng, Trụ quốc Nhật Đôn, tướng quân Trần Khát Chân, Phạm Khả Vĩnh, hành khiển Hà Đức Lân, Lương Nguyên Bưu, Phạm Ông Thiện, Phạm Ngưu Tất và các liêu thuộc, thân thuộc gồm hơn 370 người bị giết cả, tịch thu gia sản, con gái bắt làm tì, con trai từ một tuổi trở lên hoặc chôn sống hoặc dìm nước Lùng bắt dư đảng liền mấy năm không ngớt Người quen biết nhau chỉ đưa mắt ra hiệu, không dám nói chuyện với nhau Nhà dân không được chứa người đi đường ngủ trọ, hễ
Trang 23có người ngủ trọ thì phải báo nhà láng giềng, cùng nhau xét hỏi giấy
tờ, hành lý, lý do đi qua để làm chứng cứ bảo lĩnh Các xã đều đặt điếm tuần, ngày đêm tuần tra, canh giữ Lễ minh thệ từ đó không cử hành nữa.” [44, tr.305-306]
Khi những trụ cột của triều Trần bị Hồ Quý Ly giết hại Thái sư họ Hồ ra sức khuyến dụ vua Trần Thuận Tông thoái vị để tu đạo nhằm hoàn tất ý đồ tiếm ngôi với lời lẽ như sau:
“Cõi tiên thanh nhã thơm tho, khác hẳn phàm trần Liệt thánh triều ta
chỉ thờ đạo Phật, chưa có ai đi theo chân tiên Bệ hạ được tôn ở ngôi cửu ngũ, nhưng muôn việc khó nhọc, chi bằng truyền ngôi cho Đông cung để giữ khí hư hòa.” [44, tr.301]
Vua nghe lời truyền ngôi lại cho Hoàng thái tử An, khi ấy Thái tử mới lên ba tuổi, nhận truyền ngôi không biết lạy, Hồ Quý Ly sai Thái hậu (Thánh Ngẫu con gái
Hồ Quý Ly) lạy trước cho vua mới nhận ngôi lạy theo Thái tử An là con trưởng của Trần Thuận Tông, ở ngôi hai năm Hồ Quý Ly cướp ngôi, phế làm Bảo Ninh Đại vương vì vua là cháu ngoại nên không giết Vậy là cơ nghiệp của một triều đại huy hoàng lưu danh sử sách với bao lớp vua sáng tôi hiền, biết bao anh hùng hào kiệt,
đã tồn tại 175 năm đến đây chấm dứt vào năm 1400
1.1.2 Tư tưởng - Giáo dục - Diện mạo văn học
1.1.2.1 Tư tưởng
Đạo Phật truyền vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng trước Công nguyên và phát triển rực rỡ dưới vương triều nhà Trần (1225-1400), nhất là thời Thịnh Trần (1225-1341) Sự phát triển và phổ biến của đạo Phật không chỉ thể hiện ở việc nhà Trần cho xây dựng nhiều chùa tháp Các tầng lớp nhân dân trong xã hội nếu có điều kiện đều mong muốn được cúng dường ruộng đất, tiền của để xây dựng trùng tu chùa, xây tháp, đúc chuông, dựng bia Sự phát triển của đạo Phật đã khiến cho tầng lớp tăng ni trong xã hội thời Trần có lúc chiếm đến nửa số dân Trần Phu, sứ giả nhà
Nguyên đã ghi lại trong An Nam tức sự rằng: “Đàn ông đều cạo trọc đầu, kẻ có
quan chức thì trùm bằng khăn xanh, vì dân cả nước đều là sư hết.” [59, tr.110]
Trang 24Cho nên vào năm Bính Tý (1396), nhà nước đã phải: “Xuống chiếu sa thải các tăng
đạo chưa đến 50 tuổi trở xuống, bắt phải hoàn tục Lại thi những người thông hiểu kinh giáo, ai đỗ thì cho làm Đường đầu thủ, Tri cung, Tri quán, Tri tự, còn thì cho làm kẻ hầu của người tu hành.” [44, tr.292]
Hiện tượng công kích bài xích Phật giáo đã xuất hiện trong thế kỷ XIV, khi Phật giáo đang còn thịnh hành, như trong nội dung văn bia chùa Khai Nghiêm lên
án những người tu hành: “Không cày mà ăn, không dệt mà mặc” Nếu trước đây,
Phật giáo có vai trò quan trọng trong xã hội Đại Việt, thì đến thế kỷ XIV, khi Nho sĩ tham gia triều chính ngày một đông và chiếm vai trò chủ đạo ở triều đình, thì lúc này Phật giáo nhường chính trường cho Nho giáo Tuy vậy, đối với các tầng lớp từ vua quan đến dân chúng, Phật giáo vẫn “sâu rễ bền gốc” và không dễ gì thay thế
Đạo giáo không phát triển như Phật giáo nhưng là một trong ba tôn giáo tồn tại dưới đời Trần Đạo giáo đời Trần kết hợp với tín ngưỡng dân gian như bùa phép, cầu cúng, lại được các tầng lớp nhân dân chấp nhận tự nhiên và tồn tại phổ biến Nhà vua cũng tin vào những điều chiêm tinh thần bí Ngay cả sứ thần nhà Minh cũng cử đạo sĩ sang Đại Việt chỉ để tế thần núi Tản Viên và các thủy thần sông Lô, xong việc là về nước ngay Đó là năm 1370, khi Dương Nhật Lễ tiếm ngôi:
“Mùa xuân, tháng giêng, vua nước Minh thân làm bài chúc văn sai đạo
sĩ Triều Thiên cung là Diêm Nguyên Phục đem lễ trâu và lụa đến tế thần núi Tản Viên và các thủy thần sông Lô Mùa hạ, tháng 4, Diêm Nguyên Phục đến quốc đô nước ta, làm lễ tế xong, khắc chữ vào đá để ghi việc làm, rồi từ biệt về nước.” [44, tr.230]
Thần - Phật dường như đi vào đời sống tâm linh của nhân dân khá sâu đậm Đôi khi Phật giáo và Đạo giáo xen lẫn vào nhau Thần - Phật là không phân biệt Nhân dân không chỉ phần lớn theo đạo Phật mà còn tin vào những linh ứng, cầu gì
được nấy của Thần - Phật Nguyễn Dữ chép trong Truyền kỳ mạn lục [16, tr.146]:
“Đời nhà Trần, tục tin thần quỷ, thần từ phật tự chẳng đâu mà không
có, như chùa Hoàng Giang, chùa Phổ Minh, quán Ngọc Thanh dựng lên nhan nhản khắp nơi… phàm người ốm đau chỉ tin theo sự hư vô;
Trang 25gặp các tuần tiết thì đàn tràng cúng vái rất là nhộn nhịp Thần Phật xem chừng cũng ứng giáng, nên cầu gì được nấy, linh ứng lạ thường.”
Cùng với sự thịnh hành của Phật giáo và Đạo giáo thì Nho giáo ngày càng được chú trọng và phát triển Chính vị vua đầu tiên của nhà Trần là Trần Thái Tông (1225-1258) đã thừa nhận đặt mực thước cho hậu thế và khuôn mẫu cho tương lai là
phải nhờ vào đạo của Tiên Thánh Trong Thiền tông chỉ nam tự (bài tựa sách Thiền
tông chỉ nam), nhà vua viết:
“Trẫm thầm nhủ: Phật không chia Nam Bắc, đều có thể tu mà tìm; tính
người có tri ngu, cũng nhờ giác ngộ mà thành đạt Vì vậy, phương tiện
để dẫn dụ đám người mê muội; con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, đấy là đại giáo của đức Phật Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên thánh Cho nên Lục Tổ có nói:
“Bậc đại thánh và đại sư đời trước có khác gì nhau” Như thế cũng đủ biết đại giáo của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời Thế thì nay lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của đức Phật là giáo lý của mình ư.”
[93, tr.27-28] Thời Vãn Trần, phong trào bài xích Phật giáo phát triển Như trường hợp của Trương Hán Siêu người Phúc Thành, bản tính cương trực, bài xích dị đoan, có tài văn chương và chính sự, nhà vua chỉ gọi ông là thầy chứ không gọi tên Ông từng soạn văn bia chùa Khai Nghiêm ở Bắc Giang, nội dung tóm lược như sau:
“Chùa bỏ rồi lại dựng, đã chẳng phải ý muốn của ta Dựng bia rồi khắc chữ, ta biết nói chuyện gì Ngày nay thánh triều muốn truyền bá phong hóa nhà vua, để chấn hưng phong tục đang bị suy đồi Dị đoan đáng phải truất bỏ, thánh đạo nên được phục hưng Làm đại sĩ phu, không phải đạo Nghiêu Thuấn thì không trình bày, không phải đạo Khổng Mạnh thì không trước thuật Thế mà cứ lo bo lải nhải chuyện Phật, ta định lừa dối ai đây?” [44, tr.208]
Trang 26Lê Quát cũng muốn làm sáng đạo thánh hiền, gạt bỏ dị đoan Ông từng làm bài văn bia chùa Thiệu Phúc, thôn Bái ở Bắc Giang như sau:
“Thuyết họa phúc của nhà Phật tác động tới con người, sao mà được người ta tin theo sâu sắc và bền vững như thế? Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật, thì dẫu đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc Nếu ngày nay gửi gắm vào tháp chùa thì mừng
rỡ như nắm được khoán ước để lấy quả báo ngày sau Cho nên trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho tới thôn cùng ngõ hẻm, không mệnh lệnh mà người ta vẫn theo, không thề thốt mà người ta vẫn tin Chỗ nào có người ở, tất có chùa Phật, bỏ rồi lại xây, hỏng rồi lại sửa, chuông trống lâu đài chiếm tới nửa phần so với dân cư, Đạo Phật hưng thịnh rất dễ mà được rất mực tôn sùng
Ta thuở trẻ đọc sách, để tâm khảo xét xưa nay, cũng hiểu sơ sơ đạo của thánh nhân để giáo hóa dân chúng mà rút cuộc vẫn chưa được một hương tin theo Ta thường dạo xem sông núi, vết chân trên khắp nửa thiên hạ, đi tìm những “Học cung”, “Văn miếu” mà chưa hề thấy một ngôi nào! Đó là điều khiến ta vô cùng hổ thẹn với bọn tín đồ nhà Phật Bèn viết ra đây để tỏ lòng ta.” [44, tr.144]
Qua bài thơ “Bảo Nghiêm tháp” [94, tr.156] Tư đồ Trần Nguyên Đán khéo
léo lên án việc xây dựng các công trình kiến trúc nhà Phật làm nhọc sức dân, khiến dân chúng càng đói khổ, cơ cực:
Nhất tiếu vô ưu trang thất bảo, Long xà đôi trác dịch dân lao
(Cười cho sự vô lo, đem thất bảo điểm tô lên tháp, Chạm trổ rồng rắn làm dân phải mệt nhọc.) Trong khí thế vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc, nho sĩ đã giành ưu thế trong xã hội Trong việc áp dụng Nho giáo vào hoạt động thực tiễn, các nho sĩ đã tỏ
rõ tinh thần tự lực, tự cường Trong giai đoạn này, cái khuôn Nho giáo có khi chỉ là cái vỏ hình thức Nho sĩ thời Vãn Trần đã vượt ra khuôn khổ vốn chật hẹp của tư
Trang 27tưởng Nho giáo chính thống, nhờ thế đã có đóng góp tích cực và thiết thực vào việc xây dựng nền văn hóa dân tộc
1.1.2.2 Giáo dục
Dù về mặt văn hóa, đạo Phật vẫn giữ địa vị chủ đạo trong đời sống tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, Đạo giáo với những nghi lễ thần bí, dầu chưa chiếm được vị trí cao nhưng đối với đời sống nhân dân là rất quan trọng Nhưng xét về đạo trị nước thì các vua thời Vãn Trần rất coi trọng Nho giáo Vì thế việc giáo dục theo Nho giáo ngày càng trở nên phổ biến từ triều đình trung ương đến các địa phương
Về tổ chức trường học, lúc này có hai loại trường: Trường học do nhà nước
tổ chức và trường học ở các địa phương Trường học do nhà nước tổ chức có Quốc học viện (Quốc tử giám đời Lý, thì đời Trần đổi thành Quốc học viện) Quốc học viện không phải dành cho tất cả các đối tượng mà chỉ dành cho con em các quan vào học Ngoài ra tại phủ Thiên Trường - kinh đô thứ hai của triều Trần (nay thuộc thành phố Nam Định), triều đình cho lập thêm nhiều nhà học Nhìn chung, hệ thống trường học do Nhà nước tổ chức về cơ bản được tập trung chủ yếu ở kinh thành Trường học do tư nhân tổ chức bên cạnh trường quốc lập chúng ta còn thấy xuất hiện những trường tư được sử cũ chép đến trường Huỳnh Cung của Chu An, trường của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc
Năm 1397, nhà Trần đặt chức Giáo thụ ở các châu và trấn Cùng năm này nhà vua Trần Thuận Tông (1388-1398) còn xuống chiếu đặt học quan ở các châu huyện, bài chiếu viết:
“Đời xưa, nước có nhà học, đảng có nhà tự, toại có nhà tường (đảng là
500 nhà, toại là làng Tự và tường là tên loại trường học), là để tỏ rõ giáo hóa, giữ gìn phong tục, ý trẫm rất chuộng như vậy Nay quy chế ở kinh đô đã đủ, mà ở châu huyện thì còn thiếu, làm thế nào rộng đường giáo hóa cho dân ? Nên lệnh cho các phủ lộ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau: phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa thì 12 mẫu, phủ châu nhỏ
10 mẫu, để chi dùng cho việc học trong phủ châu mình (một phần để
Trang 28cúng ngày mồng một, một phần cho nhà học, một phần cho đèn sách)
Lộ quan và quan đốc học hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghệ, cứ đến cuối năm thì chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc.” [44, tr.298-299]
Điều này chứng tỏ việc giáo dục vào thời Vãn Trần rất được triều đình quan tâm và được sắp xếp có quy củ Đến năm 1396, triều đình vẫn còn tiếp tục ban hành Chiếu để quy định cách thức thi Hương:
“Năm Bính Tý (1396), xuống chiếu định cách thức thi Cử nhân, dùng
thể văn bốn kỳ, bãi bỏ phép viết ám tả cổ văn Kỳ đệ nhất thi một bài kinh nghĩa, có các đoạn phá đề, tiếp ngữ, tiểu giảng, nguyên đề, đại giảng, kết luận, từ 500 chữ trở lên; Kỳ thứ hai thi một bài thơ Đường luật, một bài phú cổ thể, hoặc thể ly tao, thể văn tuyển, cũng từ 500 chữ trở lên; Kỳ thứ ba thi một bài chiếu dùng chữ Hán, một bài chế, một bài biểu dùng thể tứ lục đời Đường; Kỳ thứ tư thi một bài văn sách, lấy kinh sử hay thời vụ mà ra đề, từ 1.000 chữ trở lên Cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, ai đỗ thì vua cho thi một bài văn sách để định cao thấp” Ngô Thì Sĩ nhận xét: “Phép khoa cử đời Trần đến đây mới đủ văn tự bốn trường, đến nay còn theo, không thay đổi được Chọn nhân tài văn học không gì hơn phép này.” [13, tr.154]
Thời Vãn Trần từ triều vua Trần Dụ Tông 1341 đến vua Trần Thiếu Đế 1400 triều đình đã mở bốn khoa thi Thái học sinh vào các năm 1345, 1381, 1384, 1393
Phan Huy Chú nhận định: “Con đường tìm người tài giỏi trước hết là khoa mục
Phàm muốn thu được người tài năng, tuấn kiệt vào trong phạm vi của mình, thì người làm vua một nước không thể nào không có khoa cử.” [13, tr.149]
1.1.2.3 Diện mạo văn học
+ Về lực lượng sáng tác, nước Đại Việt thời Vãn Trần từng xuất hiện nhiều
nhân tài ở nhiều lĩnh vực như quân sự, văn hoá, thiên văn, lịch pháp, mà còn có nhiều nhân vật kiệt xuất về văn học tạo nên một lực lượng sáng tác hùng hậu: vua
Trang 29chúa, quý tộc, nho sĩ, quan lại, thiền sư Trong đó, phần lớn các tác giả thuộc tầng lớp nho sĩ
- Vua chúa, quý tộc: Trần Nghệ Tông, Trần Dụ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Ngạc, Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, Trần Quý Khoáng Trần Nguyên Đán,
- Nho sĩ, quan lại: Nguyễn Ức, Chu An, Hồ Tông Thốc, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Đào Sư Tích, Trần Đình Thâm, Phạm Nhân Khanh, Sử Hy Nhan, Chu Đường Anh, Tạ Thiên Huân, Đoàn Xuân Lôi, Nguyễn Phi Khanh,
- Nhà sư: Sư chùa Yên Quốc,
- Ngoài ra còn có sự góp mặt của một tác giả nữ: Nguyễn Bích Châu, một ái phi của vua Trần Duệ Tông
+ Về thể loại tác phẩm, có thể thống kê theo biểu bảng như sau:
1 Phú (chữ Hán):
1 Trương Hán Siêu Bạch Đằng giang phú
2 Mạc Đĩnh Chi Ngọc tĩnh liên phú
3 Trần Công Cẩn Bàn khê điếu huỳnh phú
4 Phạm Kính Khê Thiên thu giám phú
5 Khuyết danh Thang bàn phú
6 Khuyết danh Đổng Hồ bút phú
7 Nguyễn Nhữ Bật Quan chu nhạc phú
8 Sử Hy Nhan Trảm xà kiếm phú
9 Nguyễn Pháp Cần chính lâu phú
10 Đào Sư Tích Cảnh tinh phú
11 Nguyễn Phi Khanh Diệp mã nhi phú
12 Đào Xuân Lôi Diệp mã nhi phú
13 Nguyễn Bá Thông Thiên Hưng trấn phú
2 Biểu (chữ Hán):
Trang 30STT Tác giả Tác phẩm
1 Trương Hán Siêu Biểu tạ ơn về việc được tặng Hàn lâm
viện Trực học sĩ
2 Đoàn Nhữ Hài Biểu tạ tội
3 Khuyết danh Biểu tạ ơn Bắc triều ban cho pho sách
Đại quang minh tạng
4 Khuyết danh Biểu tạ ơn về việc Vương Cơ hạ gi
5 Khuyết danh Nghĩ soạn bài biểu về việc Tô Thức tạ
ơn vua ban cho mực song tích
6 Lê Khán Biểu tạ ơn về việc cho phép tế thần,
xem nhã nhạc
3 Ký (chữ Hán):
1 Trương Hán Siêu Linh Tế tháp ký
2 Nguyễn Phi Khanh Thanh Hư động ký
4 Thơ (chữ Hán):
1 Trần Nghệ Tông Nghệ Tông thi tập
2 Trần Nguyên Đán Băng Hồ ngọc hác tập
3 Trương Hán Siêu Cúc hoa bách vịnh
4 Nguyễn Trung Ngạn Giới Hiên thi tập
5 Bùi Mộ Chuyết Trai thi tập
6 Chu An Tiều Ẩn thi tập
7 Phạm Sư Mạnh Hiệp Thạch tập
8 Hồ Tông Thốc Thảo nhàn hiệu tần
9 Nguyễn Phi Khanh Nhị Khê tập
Trang 3110 Nguyễn Thuyên Phi Sa tập
11 Nguyễn Ức Cúc Đường di cảo
Ngoài ra có rất nhiều tác giả sáng tác thơ nhưng không có tập thơ để lại, nên không thể thống kê ở bảng trên
+ Về loại hình văn tự ngôn ngữ, có thể nói văn học thời Vãn Trần đã dùng
văn tự Hán để sáng tác là chính, về sau có một số tác giả dùng chữ Nôm để sáng tác, nếu như ở thời Thịnh Trần có Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Điểm Bích, thì sang thời Vãn Trần có Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố, Hồ Quý Ly, v.v Việc sử dụng chữ Nôm để sáng tác văn chương đã chứng tỏ lúc này ý thức dân tộc đã phát triển rất cao, như trước đây các nhà nghiên cứu đã khẳng định
Các tập thơ chữ Hán của vua chúa quý tộc như Nghệ Tông thi tập của Trần Nghệ Tông, Băng Hồ ngọc hác tập của Trần Nguyên Đán, Cúc Đường di cảo của
Trần Quang Triều, v.v Tầng lớp nho sĩ là những người sáng tác thơ nhiều hơn cả
như: Cúc hoa bách vịnh của Trương Hán Siêu, Giới Hiên thi tập của Nguyễn Trung Ngạn, Chuyết trai thi tập của Bùi Mộ, Tiều Ẩn thi tập của Chu An, Hiệp Thạch tập của Phạm Sư Mạnh, Thảo nhàn hiệu tần của Hồ Tông Thốc, Nhị Khê tập của
Nguyễn Phi Khanh
Các tác phẩm chữ Nôm:
1 Hàn Thuyên Phi sa tập
2 Nguyễn Sĩ Cố Một số bài thơ văn chữ Nôm
3 Chu An Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập
4 Hồ Quý Ly Quốc ngữ thi nghĩa
Sử chép nhiều người đời Trần bắt chước Hàn Thuyên làm thơ phú quốc âm, tạo thành phong trào làm thơ phú và viết văn bằng chữ Nôm Các bài thơ văn này nay đã thất truyền, nhưng sử còn ghi lại tên một số tác giả và tác phẩm:
Trong Nghĩa sĩ truyện của Hoàng Trừng có ghi lại năm bài văn Nôm đời Trần chép
sự việc Nguyễn Biểu đi sứ, ăn cỗ đầu người, bị tướng Trương Phụ chém như sau:
Trang 32- Bài thơ Nôm vua Trần tặng Nguyễn Biểu lúc đi sứ
- Bài thơ Nôm của Nguyễn Biểu họa lại
- Bài thơ Nôm của Nguyễn Biểu viết lúc ăn cỗ đầu người
- Bài văn tế Nguyễn Biểu chữ Nôm do Trần Trùng Quang viết
- Bài văn tế chữ Nôm của vị sư chùa Yên Quốc viết tế Nguyễn Biểu (nơi
Nguyễn Biểu bị hành hình) để khen ngợi chí khí của ông
Nguyễn Sĩ Cố là người có tài hài hước và làm thơ Nôm Việt sử thông giám
cương mục chép: “Sĩ Cố khéo khôi hài, người ta thường ví với Đông Phương Sóc Sĩ
Cố lại có tài làm thơ phú bằng Quốc âm, nhiều người bắt chước” [33, tr.572] Đại
Việt sử ký toàn thư còn chép việc Hồ Quý Ly đã dịch thiên Vô Dật ra quốc ngữ để
dạy các quan. Việc phổ biến chữ Nôm cho thấy người Việt đã bắt đầu phát huy một
nền văn hóa đầy tự tin và ý thức độc lập vượt lên khỏi ảnh hưởng sâu đậm
của Trung Quốc
1.2 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TRẦN NGUYÊN ĐÁN
Cho đến nay, có một ít tài liệu viết về tiểu sử của Trần Nguyên Đán, như Từ
điển nhân vật lịch sử, Từ điển văn học chẳng hạn Văn bản Băng Hồ di sự lục của
Nguyễn Trãi là tài liệu sớm nhất, xưa nhất và cũng giới thiệu tương đối đầy đủ nhất
về cuộc đời và hành trạng sự nghiệp của Trần Nguyên Đán
Luận văn xin được trích lại văn bản này để trình bày về cuộc đời và hành
trạng sự nghiệp của Tư đồ bình chương sự Chương Túc Quốc thượng hầu Trần
Nguyên Đán như sau:
“Băng Hồ tướng công là thân tộc nhà Trần Công huý là Nguyên Đán,
nếp nhà thi lễ, nòi giống thần minh, trăng trong gió mát, có nhã thú xa
lánh cõi trần, có hoài bão một lòng vì nước Xưa trong buổi Hôn Đức
bạo loạn, đi theo hai vua Nghệ Tông và Duệ Tông chạy ra ngoài, đến
khi dẹp yên được lập làm tướng Giữ vững cơn lay động, gỡ mối sầu
buổi rối ren, trong khoảng mấy năm, trong nước yên lặng, người ta
khen là hiền tướng Dù là trẻ con, lính tráng, chẳng ai là không biết
tiếng Thọ sáu mươi lăm tuổi, năm Canh Ngọ tháng 11 ngày 14 mất ở
Trang 33nhà, táng ở núi Tam Giáp huyện Phượng Sơn, phủ Lạng Châu Làm quan đến chức Nhập nội kiểm hiệu Tư đồ bình chương sự Quốc thượng hầu, thuỵ là Chương Túc.” [45, tr.195]
Dưới triều Trần Dụ Tông (1341 - 1369), Trần Nguyên Đán làm quan Ngự sử Đại phu, chuyên lo việc can gián những lỗi lầm của vua Bấy giờ vua không chăm
lo việc nước, quyền thần có nhiều kẻ không coi trọng phép nước, Trần Nguyên Đán nhiều lần can gián nhưng vua không nghe Sau này, Hồ Nguyên Trừng đã viết về
Trần Nguyên Đán trong Nam Ông mộng lục như sau:
“Vào năm Chí Chính nhà Nguyên (1341 - 1367) ở Giao Chỉ (tức Việt Nam) có Trần Nguyên Đán đứng đầu hàng tông thất nhà Trần, giúp vua
Dụ Tông ở chức Đại phu Ngự sử Vua không chăm việc nước, quyền thần có nhiều kẻ không tôn trọng phép tắc, Nguyên Đán nhiều phen can gián nhà vua không nghe, đến khi vua Dụ Tông mất, cháu kế ngôi là người mê muội Bấy giờ việc nước càng tệ, Nguyên Đán dâng thư trình bày không được vua hỏi đến, ông bèn xin thôi quan mà về.” [66, tr.260]
Ông còn là người thông hiểu lịch pháp, từng làm ra sách Bách thế thông kỷ,
trên khảo từ năm Giáp Thìn thời Nghiêu, dưới tới Tống, Nguyên; nhật thực, nguyệt thực, triền độ các vì sao đều phù hợp với sách cổ, cầu mưa có ứng nghiệm Nguyễn Phi Khanh coi tướng công Băng Hồ vừa là một người cha vừa là một người thầy
Trong Thanh Hư động ký [94, tr.497], Nguyễn Phi Khanh ca tụng hết lời tài năng và
khí phách của tướng công Băng Hồ:
“Tướng công Băng Hồ nhà ta, một bậc anh tài non sông chung đúc; bày mưu kế cho nhà vua, làm rường cột cho xã tắc… Ấy vậy, ở cương vị một đại thần, Tướng công lúc tiến, lúc thoái đều có quan hệ với mệnh nước nhà: đó là điều lo hết đời của người có chí lớn, không như kẻ tầm thường, khi được vua dùng lo được rồi lại lo mất, khi được chức vị thì bòn xu nịnh hót, không từ một điều gì không làm, khi mất chức vị thì giận dỗi xa lánh, ôm lòng bực tức…”
Trang 34Bấy giờ nhà Trần đã suy yếu, các vua không có thực tài, quyền bính dần dần dần tập trung vào tay Hồ Quý Ly Giữ một cương vị quan trọng trong triều, Trần Nguyên Đán thấy rõ nguy cơ đe dọa dòng họ mình, từng làm thơ nhắc các bạn đồng
liêu về nghĩa vụ kẻ làm tôi: “Kim cổ hưng vong chân khả giám, Chư công hà nhẫn
gián thư hy?” (Còn mất xưa nay gương đã rõ, Các ông sao nỡ vắng như can?) [66,
tr.264] và kín đáo nhắn nhủ Trần Nghệ Tông đừng quá tin “con quạ già” hiểm độc
nên Trần Nguyên Đán viết bài Thập cầm (Mười giống chim) Nhiều khi ông hy
vọng mơ hồ vào một kỳ thi chọn được nhiều anh tài, sự trở lại làm việc của một người có đạo đức tốt như Chu An hoặc tài năng của lớp hậu sinh như Nguyễn Ứng Long, Nguyễn Hán Anh Nhưng chính bản thân ông lại không dám đứng ra gánh vác việc cứu vãn tình thế, cuối cùng cũng kết thông gia với Hồ Quý Ly để mong tìm
sự yên ổn cho con cháu về sau Trần Nguyên Đán đem con là Trần Mộng Dữ gửi gắm Hồ Quý Ly, và xin kết làm thông gia Hồ Quý Ly đem con gái của Nhân Vinh
và Huy Ninh (khi Nhân Vinh mất, vua Nghệ Tông gã công chúa Huy Ninh cho Hồ Quý Ly) gả cho Trần Mộng Dữ; rồi cất làm Đông cung Phán thủ Em Trần Mộng
Dữ là Trần Thúc Dao và Trần Thúc Quỳnh cũng đều được làm tướng quân Về sau, khi Hồ Quý Ly nắm quyền cai trị đất nước, ông giết hại gần hết các tôn thất nhà Trần, chỉ riêng con cháu Trần Nguyên Đán là được yên ổn
Đối với người bấy giờ, Trần Nguyên Đán là người có đức vọng cao Những bài thơ của ông là tiếng nói quan trọng thúc giục triều đình phải quan tâm đến nhân tài, đến đời sống của nhân dân
“Tháng 7, mùa thu, Tư đồ Chương Túc hầu là Nguyên Đán xin trí sĩ, được nhà vua y cho Nguyên Đán là bậc đại thần, người họ tôn thất, thấy quyền chính trong nước ngày một rơi vào tay kẻ quyền thần [chỉ
Hồ Quý Ly], nên không để ý đến việc kinh bang tế thế nữa, bèn xin cáo lão, về núi Côn Sơn, để vui cùng khóm trúc và đá núi; đặt tên hiệu là Băng Hồ Thượng hoàng đã từng đến chơi nhà, hỏi han việc mai sau Nguyên Đán đều không nói, chỉ dặn: “Xin Bệ hạ kính trọng nước Minh
Trang 35như cha, yêu thương Chiêm Thành như con, thì nước nhà sẽ được vô
sự Tôi dù có chết cũng được bất hủ.” [ 33, tr.672]
Khi Băng Hồ cáo quan về ở ẩn tại núi Côn Sơn, Nguyễn Trãi cũng được đi theo cùng Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong sự thương yêu, đùm bọc của ông
ngoại Trần Nguyên Đán Trong Băng Hồ di sự lục, Nguyễn Trãi nhận định về ông
ngoại của mình như sau:
“Công tuy thân gửi suối rừng, mà chí thì ở tông xã, tấm lòng ưu ái chưa từng một ngày quên Hoặc đi hoặc gửi, khi động khi tĩnh, đều là
có ý can gián Rút cục Nghệ Tông đều không xét đến Do đó, họ Hồ uy thế càng thịnh, kẻ xu phụ ngày càng nhiều, thế nước ngày càng suy, không làm sao được nữa, cái chí lui về hưu của công mới quyết.”
[45, tr.195] Nhìn nhận một cách khách quan về tình hình chính sự thời Vãn Trần, sử thần Ngô Sĩ Liên đã nêu lên so sánh thâm thuý về cách dùng người của vua Trần Nghệ Tông:
“Nghệ Tông tính trời hòa nhã, giữ lòng kính cẩn, lo sợ Nhưng uy vũ không đủ để đánh lui giặc ngoài, sáng suốt không đủ để phân biệt lời gièm, có một Nguyên Đán mà không biết dùng, lại giao việc nước cho người họ ngoại, khiến xã tắc nhà Trần đi đến sụp đổ, thực là đằng trước có kẻ siểm nịnh mà không thấy, đằng sau có giặc cướp mà không hay.” [44, tr.291]
Về tác phẩm, Trần nguyên Đán có Băng Hồ ngọc hác tập và Bách thế thông kỷ nhưng phần lớn đã mất mát, hiện chỉ còn 51 bài thơ được chép trong Việt âm thi
tập, Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập và Toàn Việt thi lục Băng Hồ Ngọc hác tập, tức tập thơ ‘ngọc hác’ của Băng Hồ ‘Băng Hồ’ là tên hiệu của Trần
Nguyên Đán mang nghĩa là ‘cái bình đựng băng đá’; còn ‘ngọc hác’ có nghĩa ‘vũng nước sạch trong núi’ Người xưa hay nói “Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ”, tức chỉ tấm lòng trong sáng như băng để trong bình ngọc
Trang 36Thơ Trần nguyên Đán nhiều bài có lời thơ tha thiết, phong cách tự trào Tác giả sử dụng hình tượng gợi tả và khai thác triệt để luật đối trong thơ Đường luật bằng cách đưa vào những hình ảnh đối lập thật mạnh mẽ đã giúp cho tác giả diễn đạt thành công những tứ thơ buồn da diết với ý tứ sâu xa
Qua những tài liệu còn lưu lại ta thấy vua Trần Nghệ Tông có quan hệ thân
thiết đặc biệt với Trần Nguyên Đán Số thơ “Phụng canh ngự chế”, tức “Phụng họa
thơ vua” trong Băng Hồ ngọc hác tập rất nhiều Với lời lẽ thân mật, bộc bạch tâm
sự không có gì gò bó, Trần Nguyên Đán họa vần bài thơ “Thu hoài”, Phụng canh
ngự chế “Hoàng mai tức sự”… Nghệ Tông cũng thường về Côn Sơn thăm nơi ẩn
cư của Trần Nguyên Đán Ông còn tự tay viết ba chữ “Thanh Hư Động” và đề bài minh khắc vào bia động Thanh Hư với những câu sau:
Ỷ tu trúc, tắc dục trí hiền sĩ chi như lâm
Phụ tán ngã trị, vô hữu hà tâm, Thử trẫm sở dĩ thán nhi thư vu sơn chi âm giả dã
[Côn Sơn Thanh Hư động bi minh; 94, tr.223] (Tư Đồ dựng am,
Trên núi thâm nghiêm,
Há phải muốn riêng mình vui thú
Chính là để ngụ cái ý lên cao, Ngồi trên bàn đá là muốn đặt thế nước yên ổn, Cúi nhìn dòng nước trong là muốn bàn sâu vào việc nước Nương dưới bóng cây là muốn mở rộng sự che chở cho dân, Tựa vào khóm trúc là muốn đến với nhiều hiền sĩ
Trang 37Ông giúp ta trị nước, chứ không có tâm địa gì, Trẫm thương tiếc, nên tìm hòn đá đẹp ghi vào lời này.)
Và sau khi Trần Nguyên Đán mất, Nghệ Tông làm bài thơ “Đề nhà thờ quan
Tư đồ Trần Nguyên Đán” Điều đáng lưu ý là Trần Nghệ Tông và Trần Nguyên
Đán đã để lại cho chúng ta một số thơ văn xướng họa, đề tặng, thơ tả phong cảnh vui chơi với nhau Dòng thơ này trong văn học thời Vãn Trần ngày một rõ rệt, nó không chỉ dừng lại ở sự tiếc thương một triều đại vàng son đã qua Trong chặng đường này, thơ có sứ mệnh chỉ thẳng mọi sự xấu xa của hiện thực với ước mơ cứu
vãn xã hội đang suy thoái Đó là tiếng lòng của Trần Nguyên Đán: “Bạch nhật
thăng thiên dị, Trí quân Nghiêu Thuấn nan.” (Lên trời còn sự dễ, Giúp chúa thật
điều gay.) [94, tr.145]
1.3 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN PHI KHANH
Nguyễn Phi Khanh sinh năm 1355 (?) và mất năm 1428, quê ở xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây Ông tên thật là Nguyễn Ứng Long, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống võ tướng (nhiều đời làm quan võ cao cấp) Nhưng ông lại là người say mê văn chương, am tường kinh sách, thơ phú, nên thuở trẻ khi chưa
đỗ đạt, ông được quan Tư đồ Trần Nguyên Đán mời vào dạy học cho con gái là Trần Thị Thái Đó cũng là cơ duyên để ông trở thành con rể của vị Tư đồ danh tiếng này Và vì thế, từ trước đến nay, Nguyễn Phi Khanh được biết đến nhiều có lẽ chủ yếu là vì ông là con rể Trần Nguyên Đán và là cha đẻ của Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc văn võ kiêm toàn ở nửa đầu thế kỷ XV, hơn là với tư cách một nhà thơ tiêu biểu của thời Trần - Hồ
Duyên nợ với chốn khoa trường của Nguyễn Phi Khanh được khởi đầu khá đặc biệt Như sự sắp đặt của trời cao, chàng nho sinh đất Nhị Khê đã được mời về làm thầy dạy chữ cho cô tiểu thư yêu quý của nhà quan Tư đồ Trần Nguyên Đán Những tháng ngày gần gũi trao đổi học vấn đã làm nảy sinh một tình yêu thầm kín giữa đôi trai tài gái sắc này Kết quả của “mối tình vượt lễ giáo” ấy là một mầm sống đang lớn dần trong bụng cô gái khiến chàng trai sợ tội phải trốn đi Khi đã
tường tận mọi việc, Trần Nguyên Đán nói: “Vận nước sắp hết, biết đâu chẳng phải
Trang 38là trời xui nên như thế, vị tất không phải là phúc” [44, tr.266] Bèn cho người tìm
Nguyễn Phi Khanh về và khuyên bảo:
“Người xưa cũng đã có chuyện này [Các ngươi] không thấy chuyện Văn Quân với Tương Như hay sao Nếu [Các ngươi] làm được như Tương Như, truyền lại danh tiếng cho đời sau thì đó là điều mong muốn của ta ” [44, tr.266]
Nguyễn Phi Khanh cảm ơn đức sâu nặng, chăm chỉ dùi mài kinh sử mong báo đáp lại niềm kỳ vọng lớn lao mà quan Tư đồ Trần Nguyên Đán đã gửi gắm
Theo ghi chép của Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư thì Nguyễn Phi Khanh
đã thi đỗ Thái học sinh nhưng không được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông bổ
dụng: “Bọn chúng có vợ giàu sang, như thế là kẻ dưới mà dám phạm thượng, bỏ
không dùng” Nhưng thực tế trong bài thơ Phụng canh Băng Hồ tướng công ký tặng
Đỗ Trung Cao vận (Phụng họa bài thơ của tướng công Băng Hồ gửi tặng Đỗ Trung
Cao) [94, tr.431], Nguyễn Phi Khanh tỏ ý bất mãn với việc dùng người của triều
đình: “Khẳng dung quần tác bạch đầu lang” (Thì xin cứ để cho làm quan lang bạc
đầu) “Lang” là một chức quan nhỏ Kẻ sĩ xưa, ai có tài mà không được trọng dụng thì cứ phải làm quan lang đến già Điều này chứng tỏ Nguyễn Phi Khanh từng làm quan dưới triều Trần nhưng đó chỉ là chức quan rất nhỏ mà thôi Bàn thêm về vấn
đề này chúng tôi cũng tìm được ý kiến từ Trương Khuê Bích trong bài viết “Nguyễn Phi Khanh có làm quan thời Trần không?” [2, tr.146-147] Tác giả đã có nhiều minh chứng cụ thể dựa trên những sự kiện lịch sử cũng như thơ văn còn lại để chứng minh một cách thuyết phục Nguyễn Phi Khanh từng làm quan dưới triều Trần Xuất phát từ thơ xướng hoạ với Tư đồ Trần Nguyên Đán, thì quan Tư đồ có bài thơ gởi Kiểm chính Nhị Khê Điều đó có nghĩa, Nguyễn Ứng Long (tức Phi Khanh sau này)
đã từng làm quan dưới triều nhà Trần, với chức Kiểm chính (một chức quan nhỏ lo việc kiểm tra hành chính trong một hạt, một huyện) Nguyễn Hán Anh là bạn cột chèo với Nguyễn Ứng Long, là con rể của quan Tư đồ, ông cũng được nhà Trần bổ chức quan Kiểm chính ở Hồng Châu (nay thuộc Hải Dương)
Trang 39Nguyễn Phi Khanh là một danh sĩ nổi tiếng đương thời Hãy nghe lời nhận
xét của vị Trạng nguyên thuở ấy là Hồ Tông Thốc qua bài thơ “Du Đông Đình hoạ
Nhị Khê vận” (Qua chơi Đông Đình, họa nguyên vần thơ của Nhị Khê) [94, tr.68]:
Tài thức như quân thượng thiếu niên, Văn chương ta ngã lão vô duyên
Dĩ tương đắc táng di hình ngoại, Bất phục công danh đáo chẩm biên
Biến báo chỉ kham nhàn ẩn khách, Tiễn ngư hà tất khổ lâm xuyên
Hạnh năng nhật nguyệt tần lai phỏng, Hưu quái Đông Đình tự khánh huyền
(Tài năng, tri thức như ông mà hãy còn trẻ, Văn chương, thương cho ta mãi vô duyên!
Đã đem việc được mất đặt ngoài hình hài, Không để mộng công danh đến bên gối nữa
Biến báo, chỉ nhàn nhất người ở ẩn, Khen cá, hà tất làm khổ kẻ bên sông
Mong được ông ngày ngày tới thăm hỏi, Đừng ngại Đông Đình hiu quạnh như chiếc khánh treo.)
Hồ Tông Thốc thi đỗ Trạng nguyên dưới triều Trần Nghệ Tông Về tài thơ của ông Trạng nguyên này, sử chép: trong một bữa tiệc, ông làm xong 100 bài thơ liền một mạch, tiếng dậy kinh sư được người đời quý trọng Người như thế mà khen Nguyễn Phi Khanh hết lời, xem nhau như bạn đủ thấy Nguyễn Phi Khanh có vị trí tầm cỡ trên thi đàn hồi ấy
Do có tài mà không được Trần Nghệ Tông trọng dụng nên Nguyễn Phi Khanh quyết định sống đời nhà nho nghèo, mở trường dạy học nuôi thân và nuôi bầy con dại tại quê nhà Như ta đã biết Nguyễn Phi Khanh thành thân cùng Trần Thị Thái từ năm 1373, sinh nở mấy lần mà không nuôi được cũng có thể những đứa con
ấy là gái nên không thấy ghi chép lại, đến năm 1380 sinh ra Nguyễn Trãi và sau đó
Trang 40là ba người con trai nữa là Nguyễn Báo, Nguyễn Hùng, Nguyễn Ly Không lâu sau thì bà Thái mất (1386) rồi quan Tư đồ Trần Nguyên Đán cũng qua đời (1390), thì
Nguyễn Ứng Long mới đưa các con về Nhị Khê chăm sóc Trong Băng Hồ di sự
lục, Nguyễn Trãi từng nhắc tới chuyện này: “Mẹ ta là con gái thứ ba của ông, mất
từ khi ông còn sống.” [45, tr.196]
Nguyễn Phi Khanh lớn lên ở thời Vãn Trần – giai đoạn Đại Việt dần lâm vào thế suy sụp Ông từng chứng kiến nhiều cuộc binh biến như việc Dương Nhật Lễ được nhà Trần trao ngôi báu rồi chỉ lo ăn chơi sa đọa, hay việc Hồ Quý Ly từng bước thao túng rồi cướp ngôi nhà Trần Trong khi đó bọn giặc Chiêm Thành lại thường xuyên quấy rối biên cương, đánh phá kinh thành Gia đình Nguyễn Phi Khanh phải nhiều lần chạy loạn Ông còn là người con hiếu thảo, làm việc gì hệ trọng đều nghĩ đến cha mẹ, như sau khi đỗ Thái học sinh cảm thấy buồn vì xa mẹ
“Thiên Trường thí hậu hữu cảm”(Cảm xúc sau khi thi đỗ ở Thiên Trường) hay khi
trong núi tránh giặc cướp cảm thấy rất đau khổ vì phải xa mẹ già hơn sáu mươi tuổi
“Tị khấu sơn trung” (Lánh giặc trong núi)
Sau này khi nhà Hồ lên nắm quyền, ông mới được trọng dụng Ông làm quan dưới triều Hồ trải qua nhiều chức vụ như Học sĩ Viện Hàn lâm, Thông Chương đại phu, Đại lý tự khanh kiêm Trung thư Thị lang, Thái tử Tả tán thiện đại phu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám Có thể nói nhà Hồ tuy tồn tại ngắn ngủi nhưng đã chú trọng chỉnh đốn lại việc giáo dục, thi cử theo hướng thiết thực hơn Nhà Hồ rất chú trọng
mở rộng việc học đến các lộ, phủ và đặt các chức học quan trông coi Đề cao việc học chữ Nôm, nhờ thế đã đào tạo được một đội ngũ quan lại mới cho bộ máy hành chính Nhiều nhân tài không có đất dụng võ trong thời Vãn Trần thì giờ đây như rồng gặp mây, thi nhau ra sức thể hiện tài năng giúp nước cứu đời
Nhìn lại bối cảnh của đất nước thời Hồ Quý Ly trị vì, chúng tôi nhận thấy Đại Việt lâm vào thế suy yếu, lộ dần sự mục ruỗng Do vậy việc cải cách của Hồ Quý Ly như một xu thế tất yếu Tuy những chính sách cải cách đó lại không được quần thần tích cực ủng hộ và nhân dân tin theo Vì không thuận lòng dân nên không lâu sau, nhà Hồ bị mất bởi giặc Minh xâm lược Nhà nghiên cứu Đỗ Đình Truật cho