1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan điều trị tại trung tâm ung bướu bệnh viện bãi cháy tỉnh quảng ninh năm 2019

102 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy để nâng cao về chất lượng cuộc sống, cũng như cải thiện về tìnhtrạng dinh dưỡng cho người bệnh mắc bệnh ung thư gan, được hiệu quả trongđiều trị và cung cấp cho người bệnh những t

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư gan có 2 loại là ung thư gan nguyên phát và ung thư gan thứphát Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2018 chothấy ung thư gan đứng thứ 5 về tỷ lệ mắc và đứng thứ 3 về tỷ lệ tử vong trongcác loại ung thư Năm 2018 thế giới ghi nhận hơn 840 nghìn người phát hiệnmới ung thư gan, phần lớn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới đã xếp Việt Nam trong nhóm những nướcmắc ung thư gan cao nhất Theo số liệu từ GLOBOCAN năm 2018, đối vớiViệt Nam, ung thư gan là loại ung thư hàng đầu cả về mức độ phổ biến cũngnhư tỷ lệ tử vong, với tổng số 25.335 ca mắc mới/năm , Chính vì vậy nghiêncứu các vấn đề liên quan đến ung thư gan hiện nay là chủ đề rất được quantâm

Trước đây, tiên lượng của người bệnh Ung thư gan rất kém, thường chỉsống thêm 6 tháng đến 1 năm kể từ khi được chẩn đoán Đến nay, các tiến bộ

về chẩn đoán và điều trị, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và dân trí khiến chongười dân quan tam đến sức khỏe nhiều hơn, tỉ lệ phát hiện ung thư gan ở giaiđoạn sớm ngày càng tăng lên

Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phòng chống ung thư, ở Việt Nam hiệnnay, rất nhiều người bệnh ung thư gan không được chăm sóc dinh dưỡngđúng trong suốt thời gian trị bệnh, nên đã dẫn đến tình trạng sụt cân, suy dinhdưỡng và suy kiệt trầm trọng hơn Trong khi đó, nhiều nghiên cứu trên thếgiới đã chỉ ra rằng chỉ cần sụt 5% cân nặng đã rút ngắn 1/3 thời giai sống củabệnh nhân Đa số bệnh nhân ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chútrọng đến chế độ dinh dưỡng để nâng cao thể trạng Mỗi năm, nước ta cókhoảng 150.000 bệnh nhân chết vì ung thư, trong đó 80% bị sụt cân, 30% chết

vì suy kiệt trước khi qua đời do khối u, con số trên đã phần nào cho thấy tácđộng xấu của tình trạng sút cân, suy kiệt Dinh dưỡng lúc này có tác dụng

Trang 2

nâng đỡ để người bệnh có đủ sức theo được hết các liệu pháp điều trị nặng

nề , ,

Bên cạnh việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thưgan thì đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan cũng làmột vấn đề đang được hết sức quan tâm Thực tế nhiều nghiên cứu đã chỉ rachất lượng cuộc sống của bênh nhân ung thư gan phụ thuộc vào giai đoạnphát hiện bệnh Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan là vấn đềmới ngày càng được quan tâm của người bệnh cũng như những người làmcông tác chăm sóc sức khỏe Tại Việt Nam do điều kiện kinh tế và do tìnhtrạng gia tăng nhanh chóng các bệnh ung thư gan, chất lượng cuộc sống củangười bệnh ung thư gan ở mức độ nào? chưa có nghiên cứu nào đánh giá vềchất lượng cuộc sống của người bệnh , ,

Vì vậy để nâng cao về chất lượng cuộc sống, cũng như cải thiện về tìnhtrạng dinh dưỡng cho người bệnh mắc bệnh ung thư gan, được hiệu quả trongđiều trị và cung cấp cho người bệnh những thông tin đầy đủ, toàn diện hơn vềtiến triển của bệnh cũng như tình trạng sức khỏe, giúp người bệnh cải thiệnkhả năng thích nghi và hòa nhập với cuộc sống, nhất là bệnh ung thư gan

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan điều trị tại trung tâm ung bướu bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh năm 2019” với mục tiêu:

1 Xác định tỷ lệ SDD và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019.

2 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu, thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.2 Ung Thư gan: Phụ thuộc vào nơi Ung Thư khởi phát, có hai cách để phân loại Ung Thư gan

- Ung Thư gan nguyên phát: Là Ung Thư có thể khởi phát từ gan gồm:

+ Ung Thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) là Ung Thư gan phổ biến nhất + Ung Thư ống mật (Ung Thư biểu mô đường mật) ít phổ biến hơn; + Sarcôm mạch máu là một thể hiếm gặp

+ Ung Thư nguyên bào gan là một thể rất hiếm gặp

- Ung Thư gan thứ phát: Xảy ra khi các tế bào Ung Thư từ một cơ quan kháctrong cơ thể lan đến gan hay còn gọi là ung thư di căn gan, thường gặp hơnnhiều so với ung thư gan nguyên phát Ung thư của đại tràng, trực tràng, phổihay vú có thể di căn gan âm thầm

1.1.3 Chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống (CLCS) là một khái niệm đa chiều, thường baogồm những đánh giá chủ quan về cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực củacuộc sống Thuật ngữ "chất lượng cuộc sống" đối với mọi người và mọingành học có thể quan niệm rất khác nhau, mặc dù sức khỏe là một trongnhững yếu tố quan trọng của chất lượng cuộc sống, những lĩnh vực khácnhư việc làm, nhà ở, trường học, quan hệ với người xung quanh, các khía

Trang 4

cạnh của nền văn hóa, các giá trị và tâm linh cũng là những khía cạnh ảnhhưởng đến chất lượng cuộc sống Do đó, đo lường chất lượng cuộc sống, làrất phức tạp

1.1.4 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe

Các khái niệm về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và cácyếu tố của nó đã bắt đầu hình thành từ những năm 1980, bao trùm hết nhữngyếu tố của chất lượng cuộc sống (CLCS) bị ảnh hưởng bởi sức khỏe hoặc thểchất hoặc tinh thần Ở cấp độ cá nhân, điều này bao gồm nhận thức về sứckhỏe thể chất, tinh thần và mối tương quan của chúng, bao gồm cả rủi ro vềsức khỏe, tình trạng chức năng, hỗ trợ xã hội, và tình trạng kinh tế xã hội, Ởcấp độ cộng đồng, bao gồm các điều kiện, chính sách và thực tiễn ảnh hưởngđến nhận thức sức khỏe của một cộng đồng dân cư Hiểu biết về các yếu tốảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe cho phép cơquan y tế hợp pháp hóa việc giải quyết các lĩnh vực chính sách công liên quanđến sức khỏe xung quanh một bối cảnh chung bao gồm cả các dịch vụ xã hội,quy hoạch cộng đồng và kinh tế Đo lường chất lượng cuộc sống liên quanđến sức khỏe có thể giúp xác định những gánh nặng của các căn bệnh và cungcấp những hiểu biết mới có giá trị để hiểu mối quan hệ giữa chất lượng cuộcsống liên quan đến sức khỏe và các yếu tố nguy cơ, đo lường chất lượng cuộcsống liên quan đến sức khỏe sẽ giúp giám sát tiến độ trong việc đạt được mụctiêu y tế quốc gia Phân tích các dữ liệu giám sát chất lượng cuộc sống liênquan đến sức khỏe có thể phân nhóm các đối tượng dựa vào tình trạng sứckhỏe, hướng dẫn can thiệp để cải thiện tình hình của họ và ngăn chặn hậu quảnghiêm trọng hơn Giải thích và công bố những dữ liệu này có thể giúp xácđịnh các nhu cầu cho chính sách y tế và pháp luật, giúp phân bổ nguồn lực,hướng dẫn xây dựng kế hoạch chiến lược, và theo dõi hiệu quả của các canthiệp cộng đồng rộng lớn ,

Trang 5

1.1.5 Suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng (SDSD) là một trạng thái mất cân bằng (thiếu hoặcthừa) về năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác gây ra những hậuquả bất lợi đến cấu trúc, chức năng của từng bộ phận cơ thể và gây ra bệnhtật Hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu đã đề xuất định nghĩasuy dinh dưỡng cho người bệnh như sau: “Suy dinh dưỡng là một tình trạngcung cấp thiếu, không đầy đủ hay rối loạn hấp thu dinh dưỡng dẫn đến làmthay đổi thành phần cơ thể (giảm khối mỡ tự do và khối tế bào cơ thể), làmgiảm chức năng về thể chất, tinh thần và suy giảm kết quả điều trị bệnh” Tuy nhiên, suy dinh dưỡng ở người bệnh còn có thể do tình trạng tăng dịhóa trong chấn thương, viêm và các stress chuyển hóa Nếu như suy dinhdưỡng do khẩu phần cung cấp không đủ thì có thể dễ dàng can thiệp và hồiphục bằng hỗ trợ dinh dưỡng Nhưng đối với các bệnh lý gây tăng dị hóa, tạo

ra cân bằng năng lượng và nitơ âm tính thì không thể phục hồi bằng liệu phápdinh dưỡng đơn thuần, kể cả khi được nuôi ăn dư thừa Thông thường, chỉ khigiai đoạn dị hóa bắt đầu giảm mới có thể hồi phục lại các mô đã mất Do đó,

Ủy ban hướng dẫn đồng thuận Quốc tế đã thống nhất chẩn đoán suy dinhdưỡng dựa trên nguyên nhân của tình trạng đói và bệnh lý “Suy dinh dưỡng

do đói” là khi có tình trạng đói mạn tính và không có viêm; “suy dinh dưỡng

do bệnh mạn tính” khi có tình trạng viêm ở mức độ nhẹ đến vừa (như suygiảm chức năng cơ thể, ung thư, viêm khớp hay béo phì); “suy dinh dưỡng dotổn thương hay bệnh cấp tính” là khi có tình trạng viêm cấp tính nặng (nhưnhiễm trùng nặng, bỏng, chấn thương, sau đại phẫu thuật)

Ngoài ra, để sử dụng thuật ngữ “suy dinh dưỡng” theo cả nghĩa thiếu

và thừa dinh dưỡng, suy dinh dưỡng được định nghĩa “là tình trạng rối loạndinh dưỡng bán cấp hay mãn tính, trong đó có sự kết hợp thừa dinh dưỡng,thiếu dinh dưỡng và tình trạng viêm ở nhiều mức độ khác nhau dẫn đến sựthay đổi về thành phần và suy giảm chức năng cơ thể”

Trang 6

1.2 Thực trạng mắc ung thư gan và Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư

1.2.1 Tình hình mắc ung thư gan

Ung thư gan là một trong 6 loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới Vàonăm 2008, có khoảng 40.000 nam và khoảng 20.000 nữ được chẩn đoáng mắcung thư gan tại châu Âu, năm 2012, cả thế giới có 782.000 ca mắc mới Nócũng là nguyên nhân gây tử vong nhiều thứ hai trong số các loại ung thư hiệnnay, ung thư gan phổ biến ở nam giới hơn nữ giới Tại châu Âu, cứ 1000 namthì có 10 người và 1000 nữ thì có 2 người mắc ung thư gan Ở giai đoạn sớm,ung thư gan thường không có biểu hiện bệnh, chính vì thế những trường hợpmắc bệnh thường được chẩn đoán khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn trầmtrọng Bệnh có xu hướng liên quan tới tuổi tác, với đa số ca được chẩn đoánmắc bệnh nằm ở độ tuổi trên 75 Tuy nhiên, ở một số khu vực có nền kinh tếđang phát triển như châu Á hay châu Phi thì bệnh có thể phát triển ở những độtuổi trẻ hơn Khoảng 83% bệnh nhân ung thư gan đến từ những quốc gia cónền kinh tế kém hoặc đang phát triển

Trước đây, thời gian sống thêm trung bình của ung thư gan không cao dothời gian đầu bệnh nhân hầu hết không có triệu chứng, chỉ phát hiện khi bệnh

đã ở giai đoạn tiến triển hay giai đoạn muộn Theo nghiên cứu của Zhao vàcộng sụ tại Trung Quốc trên 743 bệnh nhân được phẫu thuật cắt gan, nghĩa làbệnh nhân ở giai đoạn gần như sớm nhất và được điều trị triệt để, thời giansống thêm trung bình cũng chỉ là 72 tháng, và tỉ lệ sống sau 1 năm, 3 năm và

5 năm lần lượt là 91.5%, 70.3% và 55.3%

Ở Việt Nam, các nghiên cứu ở một số tỉnh thành cho thấy ung thư ganrất thường gặp Cũng giống như các nước trong khu vực Đông Nam Á, tỉ lệmắc ung thư gan hiệu chỉnh theo tuổi ở nước ta khá cao, hơn 20/100000 dân,đồng thời với tỉ lệ tử vong cao nhất trong các nguyên nhân tử vong do ungthư, 31% ở nam và 20% ở nữ Nguyên nhân gây ung thư gan ở nước ta chủyếu là virus viêm gan B Tỉ lệ bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B chiếm tới

Trang 7

hơn 70% các bệnh nhân ung thư gan Tuổi mắc bệnh ung thư gan dao động từ

40 đến 60 tuổi, là độ tuổi lao động chính, đóng góp nhiều cho xã hội Chính vìvậy, nhóm bệnh nhân ung thư gan rất cần được quan tâm nghiên cứu để cảithiện về khả năng chẩn đoán, điều trị cũng như chất lượng cuộc sống để giảmbớt gánh nặng cho bệnh nhân, gia đình và xã hội

Tại Bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm tiếp nhậnkhoảng 500 ca ung thư gan mới Trong những năm gần đây, mỗi năm, ViệtNam có đến 10.000 ca mắc bệnh mới, và trở thành quốc gia có tỉ lệ người mắcbệnh ung thư gan hàng đầu thế giới Phần lớn các bệnh nhân lại phát hiệnbệnh trong giai đoạn muộn nên việc chữa trị không còn hiệu quả

Một nghiên cứu gần đây dựa trên các số liệu hiện có và sử dụng cácthuật toán để tính toán tiên lượng cho thấy tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính tăng

từ 6,4 triệu người năm 1990 lên khoảng 8,4 triệu năm 2005 và tiên lượngđến năm 2025 là 8 triệu Đó là kết quả của chương trình tiêm chủng đểphòng nhiễm HBV Trong khi đó tỷ lệ xơ gan và ung thư gan do HBV lại

có xu hướng tăng cao: năm 1990 là 21.900 đối với xơ gan, 9.400 đối vớiung thư gan thì đến năm 2025 các số liệu tương ứng là 58.650 và 25.000

Tỷ lệ tử vong do HBV tăng từ 12.600 năm 1990 và có thể lên tới 40.000 ởnăm 2025

1.2.2 Thực trạng Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư

a/ Trên thế giới.

Suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư là thường gặp: Tỉ lệ thay đổi tùythuộc từng địa điểm, loại ung thư, giai đoạn ung thư Suy dinh dưỡng làmtăng tỉ lệ biến chứng và tỉ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chiphí điều trị, suy giảm chất lượng cuộc sống

Kết quả nghiên cứu của Ferigollo năm 2018 có 60 bệnh nhân đã đượcđánh giá tình trạng dinh dưỡng, hầu hết trong số họ là nữ (58,3%), ngườitrưởng thành (51,7%), bị ung thư ruột kết và trực tràng (45%) và được ghi

Trang 8

danh vào các chu kỳ điều trị hóa trị đầu tiên (68%) với bệnh kèm theo ( 77%).PG-SGA cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (77%) trong mẫu, giảm cân nặng(40%) và giảm tiêu thụ thực phẩm (41,7%) với các triệu chứng tiêu hóa (75%)

và thay đổi về năng lực chức năng (78 %), kết luận sự cần thiết phải can thiệpdinh dưỡng quan trọng (70%) Các thông số sinh hóa cho thấy một số giảmalbumin huyết thanh (56%) và tổng số tế bào lympho (76%)

Các nghiên cứu quốc gia tại Anh cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng gặp ởkhoảng 1/3 số người bệnh Suy dinh dưỡng phổ biến ở hầu hết các lứa tuổi vàcác nhóm bệnh Tuy nhiên, nhóm đối tượng trên 65 tuổi có tỷ lệ suy dinhdưỡng cao hơn so với nhóm dưới 65 Các bệnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao làbệnh đường tiêu hóa (41%), ung thư (40%), bệnh lý thần kinh (31%)

Theo Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu, tỷ lệ suydinh dưỡng chiếm 20-60% người bệnh nằm viện và có đến 30-90% bị mất cânđối trong thời gian điều trị

Kết quả nghiên cứu tại Tây Ban Nha cho biết tỷ lệ suy dinh dưỡng gặp

ở khoảng 50% số người bệnh điều trị ngoại khoa Nhóm người bệnh có tìnhtrạng dinh dưỡng tốt có thời gian nằm viện ngắn hơn so với nhóm người bệnhsuy dinh dưỡng Điều này còn có liên quan đến việc sử dụng thuốc cao hơn,xét nghiệm chẩn đoán và tỷ lệ tử vong cao hơn Kết quả này cũng tương tựnhư kết quả nghiên cứu của tác giả Francisca Leide da Silva Nunes và cộng

sự tại Brazil

Một nghiên cứu khác tại Đức cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của ngườibệnh nằm viện là 53,6% theo SGA và 44,6% theo NRS Trong thời gian nằmviện, người bệnh nhận được trung bình 759,9 +/- 546,8 kcal / ngày Tỷ lệ suydinh dưỡng tăng lên ở người bệnh bị bệnh lý gan mật và tiêu hoá, trầm cảmhoặc chứng sa sút trí tuệ Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với suy dinhdưỡng là nghỉ ngơi và bất động tại giường Bệnh nhân nhập viện phải chịu

Trang 9

đựng liệu pháp dinh dưỡng không đầy đủ và nguy cơ phát triển suy dinhdưỡng tăng cao trong thời gian nằm viện

Một nghiên cứu của tác giả Surat Komindr và cộng sự tại Thái Lan chobiết, suy dinh dưỡng ở người bệnh nằm viện gặp chiếm tới 40,5% với 24,8%

có mức độ suy dinh dưỡng vừa và 15,7% là suy dinh dưỡng nặng

Theo Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu, tỷ lệ suydinh dưỡng (SDD) ở người bệnh phẫu thuật là 40-50% Một bệnh nhân khiđược phẫu thuật là một stress đối với cơ thể Để đáp ứng với tình trạng stressnày, cơ thể sẽ tiết ra các hormon như: cortisol, epinephrine, glucagon, GH,aldosterol, ADH làm tăng nhu cầu chuyển hóa, nên cơ thể cần nhiều nănglượng hơn Sau mổ, sự lành vết thương, cơ thể có quá trình đáp ứng viêm, tiết

ra những chất kích hoạt các tuyến nội tiết tiết ra các chất tương tự như vớistress, vì vậy nhu cầu năng lượng càng tăng hơn nữa Sau phẫu thuật, ngoài lý

do người bệnh bị suy dinh dưỡng từ trước thì chính cuộc phẫu thuật đã làmthay đổi về chuyển hóa (như tăng hoạt động giao cảm, tăng tốc độ chuyểnhóa, cân bằng nitơ âm tính, tăng Cytokins và các Interleukin…), làm thay đổi

về sinh lý (tăng tính thấm ruột, giảm chiều cao nhung mao dẫn đến làm tăngthẩm lậu vi khuẩn, dễ gây nhiễm trùng, ) khiến cho tình trạng dinh dưỡngcủa người bệnh ngày càng xấu

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của vấn đề dinh du ̛ỡng trước

và sau mổ, dinh dưỡng kém có liên quan đến kết cục sau mổ kém, chậm lànhvết thương, khó cai máy thở (đối với các bẹ ̂nh nhân phải thở máy sau mổ),suy dinh dưỡng, nhiễm trùng vết mổ Từ đó làm tăng tỉ lệ tử vong chu phẫucho người bệnh, xác định các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ về dinh dưỡng từ

đó có kế hoạch dinh dưỡng hợp lý, nâng cao tổng trạng trước mổ, phòng suydinh dưỡng sau mổ, giúp bệnh nhân mau hồi phục, xuất viện sớm, giảm đượcchi phí điều trị từ đó giảm được chi phí y tế cho quốc gia Nhịn ăn uống đúng

Trang 10

trước mổ, thời gian nhịn ngắn hơn, giúp bệnh nhân giảm được các bất lợi củađáp ứng stress đối với cơ thể mà không làm tăng nguy cơ hít sặc khi làm cácthủ thuật gây mê hồi sức Sau mổ, ăn lại sớm có thể trong vòng 24 giờ đu ̛ợcchứng minh là có lợi cho bệnh nhân Nuôi ăn sớm đường tiêu hóa làm giảmthời gian nằm viện sau khi phẫu thuật Giảm tỷ lệ biến chứng, giảm tỷ lệ tửvong và chức năng hệ tiêu hóa sớm hoạt động trở lại.

Một nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa San Benedetto del Tronto, Ý,cho thấy tình trạng dinh dưỡng bị tổn hại đã xuất hiện ở hơn một nửa (54%)bệnh nhân (suy dinh dưỡng 10% và nguy cơ suy dinh dưỡng ở 44% bệnhnhân) Nữ giới có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn nam giới (48% so với41%, nữ so với nam) và tỷ lệ suy dinh dưỡng rõ ràng cũng cao hơn so vớinam giới (14% so với 7%, p <0,05, nữ so với nam)

Theo kết quả nghiên cứu của Somboon Subwongcharoen và cộng sựnăm 2019 nhằm so sánh chi phí và thời gian nằm viện của bệnh nhân phẫuthuật suy dinh dưỡng và được nuôi dưỡng tốt, đối với cả nhóm bệnh lành tính

và ác tính thì bệnh nhân suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện dài hơn và chiphí điều trị nhiều hơn so với những người bệnh được nuôi dưỡng tốt

Nghiên cứu của Pirlich tại Đức cho thấy 22% bệnh nhân nằm viện bịsuy dinh dưỡng, tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) của bệnh nhân nằm viện ởArgentina là 47% trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm 12%, tỉ lệ suy dinhdưỡng của bệnh nhân nằm viện ở Brazil là 56,5% trong đó SDD nặng là17,4%, SDD trung bình là 39,1%

Một nghiên cứu khác ở Úc trên bệnh nhân tuổi lớn hơn 60 trong mộtnăm từ 2014 - 2015 cho kết quả chỉ có 49,7% bệnh nhân được khám sàng lọcdinh dưỡng, 53,5% bệnh nhân được xác nhận bị suy dinh dưỡng bởi công cụSGA Bệnh nhân suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện lâu hơn, tỷ lệ tử vong

Trang 11

ở các bệnh nhân này cao hơn và các bệnh nhân còn sống có chất lượng cuộcsống kém hơn

b/ Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng của người bệnh tại bệnh việndao động khác nhau tùy theo từng loại bệnh lý, phụ thuộc vào các ngưỡng giátrị của các công cụ đánh giá

Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hương Quỳnh, các bệnhnhân ung thư tham gia nghiên cứu được đo chiều cao, cân trọng lượng cơ thể

và phân loại tình trạng dinh dưỡng theo Tổ chức Y tế thế giới dựa vào chỉ sốkhối cơ thể (BMI), đánh giá nguy cơ dinh dưỡng theo công cụ đánh giá chủquan người bệnh (SGA), phỏng vấn khẩu phần ăn và chỉ số hóa sinh(Hemoglobin, Albumin) được thu thập từ bệnh án Kết quả nghiên cứu chothấy tình trạng Suy dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư đang ở mức khá cao.Trong đó, tỷ lệ Suy dinh dưỡng theo BMI là 27,3% và thừa cân/béo phì là2,7%, có 58,0% người bệnh ung thư có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phânloại SGA Có 21,4% đối tượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loạiAlbumin, tỷ lệ người bệnh thiếu máu là 58,0% Tỷ lệ người bệnh có khẩuphần ăn 24 giờ không đạt nhu cầu khuyến nghị chiếm 59,3%

Theo nghiên cứu của Dương Thị Phượng và cộng sự về tình trạng dinhdưỡng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 chothấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 20% theo chỉ số khối cơ thể (BMI), có 51,7%bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phân loại SGA, có 29,1% đốitượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại Albumin Từ những sốliệu của nghiên cứu trên có thể thấy tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhânung thư đang ở mức khá cao

Tình trạng dinh dưỡng và thành phần của chế độ ăn uống là các yếu tốliên quan đến nguy cơ ung thư tế bào gan, họ cũng có một vai trò quan trọngliên quan đến tiên lượng của bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào gan Một

Trang 12

số thành phần vi lượng đã được tìm thấy có mối tương quan nghịch với nguy

cơ mắc ung thư tế bào gan Để ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh thành xơgan hoặc ung thư tế bào gan ở bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không dorượu, điều tối quan trọng là phải tối ưu hóa trạng thái trao đổi chất Tuynhiên, bằng chứng từ các thử nghiệm can thiệp trong tương lai được thiết kếtốt với mục đích giảm tỷ lệ mắc ung thư tế bào gan hoặc kéo dài thời giansống ở bệnh nhân bị ung thư tế bào gan dựa trên sửa đổi dinh dưỡng vẫn cònđược tạo ra

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 292 bệnh nhân ung thư đường tiêuhóa có điều trị hóa chất tại Bệnh viện K nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng vàchất lượng cuộc sống của bệnh nhân Trong tổng số 292 trường hợp nghiêncứu, 208 (71,2%) là nam và 84 (28,8%) là nữ, tuổi trung bình là 57,6 ± 9,99.Nghiên cứu cho thấy theo chỉ số khối cơ thể, tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng

là 35,2% và theo phân loại SGA có 121 (41,4%) bệnh nhân phân loại đủ dinhdưỡng SGA A, 171 (58,5%) phân loại suy dinh dưỡng (SGA B và SGAC).chúng tôi theo phân loại SGA cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng dinhdưỡng tốt chiếm tỷ lệ 42,4% và có đến 58,6% có nguy cơ suy dinh dưỡng(SDD) hoặc suy dinh dưỡng vừa và nặng (SGA B và C) Trong đó, tỷ lệ bệnhnhân có nguy cơ suy dinh dưỡng nặng chiếm 11%

Theo các nghiên cứu từ 2010 đến 2015 tại các bệnh viện tuyến tỉnh vàmột số bệnh viện tuyến Trung ương như Bạch Mai, Chợ Rẫy, tỷ lệ suy dinhdưỡng của người bệnh nằm viện khoảng 40% - 50% theo thang đánh giáSGA Một số trường hợp bệnh lý nặng như người bệnh phẫu thuật gan mậttụy, người bệnh ăn qua sonde dạ dày, tỷ lệ suy dinh dưỡng có thể chiếm tới70% Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng có tới 60% người bệnh ở ViệtNam bị suy dinh dưỡng khi nằm viện Đặc biệt, nghiên cứu tại Bệnh việnBạch Mai, trong số 308 người bệnh điều trị ở khoa Tiêu hóa và khoa Nội tiết,thì có đến 71,9% bị suy dinh dưỡng Thời gian nằm viện kéo dài có liên quan

Trang 13

chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng Đặc biệt hiện nay số người cao tuổi điềutrị các bệnh mãn tính liên quan đến dinh dưỡng ngày càng gia tăng Tuynhiên, vấn đề dinh dưỡng cho người bệnh chưa được nhìn nhận đúng vai tròtrong thực tế hiện nay

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Huy, khoảng 50% người bệnh đã cóbiểu hiện suy dinh dưỡng ngay khi nhập viện nhưng chỉ 12,5% người bệnhđược phát hiện Suy dinh dưỡng làm cho các vết thương, tổn thương lâu lành,suy giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ

lệ biến chứng, tử vong và chi phí điều trị Ngoài ra, hậu quả của việc suy dinhdưỡng ở người bệnh còn làm thay đổi chức năng đường tiêu hóa, giảm mứclọc cầu thận, thay đổi chức năng hệ tim mạch, thay đổi dược động học củathuốc, tỷ lệ tái nhập viện cao, chất lượng cuộc sống giảm Trên người bệnhsuy dinh dưỡng, tỉ lệ xuất hiện biến chứng nhiều hơn từ 2 đến 20 lần

Nghiên cứu của Trần Văn Vũ thực hiện đánh giá tình trạng dinh dưỡng

ở người bệnh suy thận mạn các giai đoạn khác nhau, chưa có chỉ định lọcmáu Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng từ khoảng 20% đến trên 70% tùytheo giai đoạn bệnh và phương pháp đánh giá

Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Trọng Nghị và các cộng sự thựchiện tại Bệnh Viện Quân Y 103, theo chỉ số BMI có 106/414 bệnh nhân đượcđánh giá là suy dinh dưỡng (SDD), trong đó suy dinh dưỡng nhẹ chiếm tỷ lệcao nhất 64/106 bệnh nhân (60,4%) và SDD nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất14/106 bệnh nhân (13,2%)

Trong một nghiên cứu khác tại Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai,

Tỷ lệ bệnh nhân nhập viện bị suy dinh dưỡng cao, ở cả 2 nhóm hồi sức tích cực

và nội khoa, tỷ lệ suy dinh dưỡng theo Prealbumin lên tới trên 60%

Tỷ lệ suy dinh dưỡng người bệnh nằm viện theo BMI năm 2014; 2015trong nghiên cứu của tác giả Trần Khánh Thu lần lượt là 23,0%; 21,0% Tỷ lệsuy dinh dưỡng nặng đánh giá qua công cụ SGA (đối với nhóm ≤ 65 tuổi) và

Trang 14

MNA (đối với nhóm trên 65 tuổi) là 29,0%; 28,2% lần lượt ở năm 2014;

2015 Suy dinh dưỡng vừa, nhẹ là 21% năm 2014 và 17% năm 2015

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thư và cộng sự năm 2017 tạiBệnh viên Trung ương quân đội 108, tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng lúc nhậpviện theo BMI là 16,7%; theo SGA là 35,7%; theo protein máu là 31,0% vàtheo albumin là 73,8%; có 47,6% bệnh nhân ăn sonde có trào ngược, 14,3%bệnh nhân bị tiêu chảy Sau 1 tuần điều trị tình trạng dinh dưỡng của các bệnhnhân nặng ngày càng xấu đi, tỷ lệ % bị suy dinh dưỡng theo thang SGA (>11điểm) sau 1 tuần điều trị tăng từ 35,7% lên 78,6%, OR =2,03; p<0,05; hàmlượng protein, albumin máu và số lượng hồng cầu, huyết sắc tố đều giảm rõrệt: mức giảm tương đối từ 6,9% đến 10,3% (p<0,05)

Nghiên cứu cắt ngang trên 124 bệnh nhân (69 nam và 55 nữ) trong đó độtuổi từ 18 - 80 tại khoa Ngoại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3 năm 2013 đếntháng 8 năm 2013 của Chu Thị Tuyết nhằm xác định tình trạng dinh dưỡngcủa bệnh nhân lúc nhập viện để phẫu thuật đường tiêu hóa (đánh giá theophương pháp tổng thể chủ quan SGA và chỉ số khối cơ thể BMI) Kết quảnghiên cứu cho thấy: Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu theochỉ số BMI và giới: BMI dưới 18,5 chiếm tỷ lệ 33,87% Nguy cơ dinh dưỡngtheo phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA): nguy cơ dinh dưỡngmức độ vừa (SGA – B) 39,52%, nguy cơ mức độ nặng (SGA – C) 6,45%.SGA-B ở phẫu thuật dạ dày là 40,82%, đại/trực tràng là 38,78%, gan mật là12,24% và tụy là 8,16% SGA- C ở các nhóm phẫu thuật dạ dày, đại/trựctràng, gan mật và tụy lần lượt là (62,5%, 25%, 12,5%, 0%) Suy dinh dưỡngthường gặp ở bệnh nhân phẫu thuật đường tiêu hóa, theo phương pháp đánhgiá SGA: nguy cơ B và C lần lượt là: 39,52% và 6,45% Đánh giá theo chỉ sốkhối cơ thể: BMI dưới 18,5 (kg/m2) là 33,87%

Trang 15

1.3 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư gan

Đối với ung thư gan, một bệnh không chữa khỏi được và điều trị chủ yếu

để giảm tốc độ tiến triển bệnh, kéo dài thời gian sống và duy trì cho bệnhnhân không bị khó chịu bởi các triệu chứng, chất lượng cuộc sống (CLCS)được xem là yếu tố quan trọng, cũng như thời gian sống không bệnh và tổngthời gian sống Ở bệnh nhân ung thư gan, các triệu chứng được phản ánh là đủnặng để ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân là rối loạn giấcngủ, giảm chức năng tình dục, cổ chướng, ngứa, mệt mỏi, hay chuột rút Cácchỉ điểm về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được sử dụng trongcác thử nghiệm cũng là dựa trên các triệu chứng này Trong ung thư gan,ngoài triệu chứng bệnh, chính các biện pháp điều trị cũng có thể gây suynhược nghiêm trọng và cần thiết phải xem xét tác động của phương pháp điềutrị lên chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân

Năm 2005, Steel và cộng sự tiến hành nghiên cứu giá trị của Hep trong đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư gan mật với

FACT-cỡ mẫu 158 bệnh nhân Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe đượcđánh giá ở thời điểm bắt đầu (trước khi điều trị), 3 tháng (n= 55), 6 tháng(n= 27) sau đó Kết quả, độ ổn định nội tại của tất cả các phần trong thangđiểm FACT - Hep đều đủ ở tất cả các thời điểm FACT - Hep đủ nhạy đểphát hiện các thay đổi trong các chỉ điểm lâm sàng (alkaline phosphatase,alpha- fetoprotein, hemoglobin và thời gian sống), cái phản ánh tiển triểncủa bệnh cũng như đáp ứng với điều trị Kết luận, FACT- Hep là công cụđáng tin cậy, tương quan với các chỉ điểm lâm sàng của tiến triển bệnh vàđáp ứng với điều trị

Năm 2006, Jenifer L.Steel nghiên cứu sự khác biệt về chất lượng cuộcsống (CLCS) của bệnh nhân ung thư gan, bệnh gan mạn tính và nhóm chứng

272 bệnh nhân gồm 83 bệnh nhân ung thư gan, 51 bệnh nhân bệnh gan mạntính và 138 bệnh nhân thuộc nhóm chứng Sự thay đổi về chất lượng cuộc

Trang 16

sống vừa có ý nghĩa thống kê, vừa có ý nghĩa lâm sàng Nghiên cứu đã rút rakết luận bệnh nhân ung thư gan có chất lượng cuộc sống liên quan đến sứckhỏe kém hơn nhóm bệnh nhân bệnh gan mạn hay nhóm dân số chung Tuynhiên, bệnh nhân ung thư gan hay nhóm bệnh gan mạn tính lại có chỉ số hàilòng về gia đình và xã hội tốt hơn nhóm dân số chung

Một nghiên cứu của tác giả Cui-Xia Qiao năm 2012 tiến hành trên 140bệnh nhân ung thư gan đã chỉ ra chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏecủa bệnh nhân bị ung thư gan xấu đi dần dần với sự tiến triển của các giai đoạn

di căn hạch Theo nghiên cứu này, điểm FACT- Hep trung bình giảm có ýnghĩa thống kê theo giai đoạn di căn hạch khối u giai đoạn 1 đến giai đoạn 2,giai đoạn 3A, giai đoạn 3B (687 ± 39,69 so với 547 ± 42,57 so với 387 ± 51,24

so với 177 ± 71,44, P = 0,001) Xem xét riêng phần tình cảm và thể chất thìđiểm cũng giảm dần từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 3B Riêng phần quan hệ giađình, xã hội, chỉ có giai đoạn IIIB thì điểm thấp hơn hẳn so với giai đoạn I

Theo kết quả nghiên cứu của Jonathan Klein, mất cảm giác ngon miệng

và mệt mỏi được đo bằng QLQ-C30 về mặt lâm sàng và thống kê xấu đi sau 1tháng điều trị nhưng đã hồi phục sau 3 tháng Vào lúc 3 và 12 tháng sau khiđiều trị, điểm số FACT-Hep đã được cải thiện so với mức cơ bản ở mức13% / 19%, xấu đi ở mức 36% / 27% và vẫn ổn định ở mức 51% / 54% Sửdụng điểm số Sức khỏe toàn cầu QLQ-C30, chất lượng cuộc sống đã cảithiện 16% / 23%, xấu đi 34% / 39% và duy trì ổn định ở mức 50% / 38% sau

3 và 12 tháng Thời gian sống trung bình là 17,0 tháng (khoảng tin cậy 95%

CI, 12,3-19,8 tháng) Điểm số cơ bản cao hơn trên cả sức khỏe toàn cầuFACT-Hep và QLQ-C30 có liên quan đến khả năng sống sót được cải thiện

Tỷ lệ nguy hiểm tử vong giảm 10 đơn vị chất lượng cuộc sống (CLCS), lầnlượt là 0,90 và 0,88 Kích thước khối u tương quan nghịch với tỷ lệ sống

Riad Salem nghiên cứu 29 bệnh nhân nút mạch xạ trị (Y90) và 27 bệnhnhân nút mạch hóa chất tại Chicago, Illinois nhằm so sánh sự cải thiện chất

Trang 17

lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân ung thư gan điều trị bằng 2 phươngpháp trên Sử dụng FACT- Hep đánh giá ở thời điểm trước điều trị, sau điềutrị 2 tuần Ở thời điểm bắt đầu (trước khi điều trị), các nhóm được so sánh vềđiểm Child - Pugh và toàn trạng, mặc dù bệnh nhân nhóm được TACE thìgánh nặng về khối u thấp hơn và bệnh ở giai đoạn ít tiến triển hơn, nhưngkhông có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm FACT- Hep giữa 2 nhóm, có thể do cỡmẫu nhỏ Mặc dù ở giai đoạn bệnh tiến triển nặng hơn, bệnh nhân được điều trịnút mạch xạ trị có chất lượng cuộc sống tốt hơn có ý nghĩa, dựa vào điểm hàilòng về xã hội, về khả năng hoạt động, và điểm đặc hiệu cho nút mạch Điểmchất lượng cuộc sống chung và FACT- Hep cũng cao hơn Như vậy, ở nghiêncứu này, nút mạch xạ trị mặc dù được áp dụng cho các bệnh nhân bệnh ở giaiđoạn tiến triển hơn, kết quả thu được lại là cải thiện vài khía cạnh trong chấtlượng cuộc sống hơn, trong khi TACE được áp dụng cho những bệnh nhân nhẹhơn, nhưng điểm chất lượng cuộc sống lại kém hơn Tuy nhiên, do cỡ mẫu quánhỏ, không có sự khác biệt có ý nghĩa trong chất lượng cuộc sống liên quan đếnsức khỏe FACT- Hep

Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về chất lượng cuộc sống củabệnh nhân ung thư Các nghiên cứu hầu hết đều chỉ ra rằng sau khi mắcbệnh, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thay đổi theo hướng tiêu cực và

có liên quan chặt chẽ với các đặc điểm về bệnh như giai đoạn của ung thư

và thời gian mắc bệnh

Một nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư vú cho thấy điểm chất lượngcuộc sống (CLCS) tổng quát ở mức trung bình (58,6 điểm); chức năng thểchất (85,8 điểm) và nhận thức (78,6 điểm) ở mức độ thấp hơn, và thấp nhất làchức năng hoạt động (71,7 điểm), cảm xúc (70,6 điểm) và xã hội (67,1 điểm).Kết quả phân tích về các yếu tố liên quan trong nghiên cứu này góp phần hỗtrợ cán bộ y tế trong đánh giá nhanh chất lượng cuộc sống của người bệnh,làm cơ sở cho quá trình giao tiếp, hướng dẫn và giúp người bệnh lựa chọn

Trang 18

quyết định điều trị tốt nhất cũng như cảnh báo những tác dụng phụ mà ngườibệnh phải trải qua

Năm 2016, một nghiên cứu chất lượng cuộc sống của các bệnh nhânung thư đại trực tràng sau phẫu thuật tại bệnh viện Bình Dân cho điểm chấtlượng cuộc sống trung bình là 61,7 ± 12,7 Kết quả phân tích cũng cho thấynhững bệnh nhân có tình trạng hoạt động càng kém, và những bệnh nhân cógiai đoạn bệnh càng nặng thì điểm chất lượng cuộc sống càng giảm, Điểmchất lượng sống của bệnh nhân ung thư đại trực tràng sau phẫu thuật ở mứctrung bình, 61,7; Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm số chất lượngsống trung bình, và điểm trung bình triệu chứng, trung bình chức năng vớitình trạng hoạt động và giai đoạn bệnh

Theo kết quả nghiên cứu của Nông Văn Dương và các cộng sự trên 42bệnh nhân tại trung tâm ung bướu Thái Nguyên đã chỉ ra sau 1 tuần điều trịcác điểm số chất lượng cuộc sống đều được cải thiện có ý nghĩa thống kê;điểm số sức khỏe tổng quát tăng lên 58,5 điểm Mức độ đau ảnh hưởng đếnchất lượng sống về chức năng hoạt động, nhận thức, cảm xúc, sức khỏechung Có sự khác biệt về điểm số nhận thức giữa nam và nữ; dân tộc Kinhkhác biệt với dân tộc thiểu số về chức năng hoạt động, cảm xúc và sức khỏetổng quát; nhóm tuổi dưới 60 có chức năng hoạt động và sức khỏe chung tốthơn; và vị trí ung thư cũng khiến chức năng thể chất có sự khác biệt ý nghĩa.Kết luận: Tình trạng đau vừa, nặng khi nhập viện khá cao; chất lượng cuộcsống mức trung bình, tuy nhiên được cải thiện có ý nghĩa khi được điều trịthuốc giảm đau theo bậc thang

Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư điều trị nộitrú tại Trung tâm Ung bướu và Y học hạt nhân – Bệnh viện Quân y 103, tácgiả Nguyễn Mai Anh đã cho thấy điểm trung bình chất lượng cuộc sống(CLCS) lĩnh vực sức khỏe tổng quát của đối tượng nghiên cứu là 52,0; caonhất là chức năng cảm xúc 59,8 điểm; thấp nhất là chức năng xã hội 38,3

Trang 19

điểm Các yếu tố: cơ sở vật chất, hoạt động điều trị, nhân lực và quy trình,quy định đều có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cuộc sống người bệnhung thư Những người bệnh đánh giá được điều trị “Rất tốt” có điểm sức khỏetổng quát cao nhất 58,9 Nhóm nhận được hỗ trợ kinh tế từ xã hội và thườngxuyên tiếp xúc với các kênh thông tin có điểm sức khỏe tổng quát cao hơn,tương ứng 60,6 và 59,1 Sự hỗ trợ giữa những người bệnh cũng ảnh hưởng tốtđến chất lượng cuộc sống (CLCS)

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Thế Anh năm 2019 trên bệnhnhân ung thư thanh quản, trước điều trị phẫu thuật, chất lượng cuộc sống củabệnh nhân ung thư thanh quản bị ảnh hưởng ở các khía cạnh "tâm lý - cảmxúc", "rối loạn giọng nói", "mất ngủ" và "suy giảm tình dục" chất lượng cuộcsống chung bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ Sau điều trị phẫu thuật, chất lượngcuộc sống của bệnh nhân giảm thấp nhất ở thời điểm 1 tháng sau phẫu thuật

và hồi phục dần sau đó

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành về chất lượng cuộc sống của ngườibệnh ung thư tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2017 mô tả cắt ngang,gồm 200 bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định bệnh ung thư và đang điềutrị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh trong thời gian từ 15/02/2017 đến15/07/2017 Chất lượng cuộc sống của các người bệnh ung thư là thấp, điểmtrung bình theo bộ câu hỏi FACT-G là 47,03 điểm (SD = 13,84) Trong đó,lĩnh vực thể chất có điểm cao nhất là 16,24 điểm (SD = 5,49), thấp nhất làlĩnh vực hoạt động (6,14 điểm – SD = 4,16), hai lĩnh vực quan hệ gia đình xãhội và tinh thần lần lượt là 12,39 điểm (SD = 2,97), 12,26 điểm (SD = 6,14).Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư có mối tương quan với: giaiđoạn bệnh, thời gian mắc bệnh và phương pháp điều trị, Thời gian mắc bệnhdài, giai đoạn nặng hơn của bệnh cũng như những bệnh nhân đang được điềutrị chăm sóc giảm nhẹ có chất lượng cuộc sống thấp hơn

- Các triệu chứng trầm cảm hay gặp ở bệnh nhân ung thư là: mệt mỏi,

Trang 20

buồn chán (70,8%), rối loạn giấc ngủ (70,1%), khí sắc giảm (59,1%) vàchán ăn (56,4%).

- Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân ung thư là 57,7%, trong đó: trầm cảm nhẹ32,2%, trầm cảm vừa 18,8% và trầm cảm nặng 6,1%

- Theo giai đoạn bệnh, nhóm bệnh nhân ung thư giai đoạn I, tỷ lệ khôngmắc trầm cảm cao (52,9%) và không có trầm cảm nặng, ngược lại, nhóm bệnhnhân ung thư giai đoạn IV, tỷ lệ trầm cảm nặng chiếm tỷ lệ cao nhất (18,5%),mức độ và tỷ lệ trầm cảm nặng tăng dần theo giai đoạn bệnh

1.4 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sông liên quan đến sức khỏe của người bệnh ung thư

Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống (CLCS) liên quan đếnsức khỏe giúp cho việc có thể chứng minh một cách khoa học về tác độngcủa sức khỏe lên chất lượng cuộc sống Một số công cụ được sử dụng rộngrãi như SF - 12 và SF - 36 (Medical Outcomes Study Short Forms), SIP(Sickness Impact Profile), và QOWBS(Quality of Well-Being Scale)… Hệthống đo lường FACIT (Functional Assessment Chronic Illness Therapy)

và FACIT.org (www.facit.org) là hệ thống quản lý phân phối các thông tinliên quan đến hành chính, chấm điểm và giải thích của một loạt các câu hỏi

để đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe cho những người

có bệnh mãn tính Bộ câu hỏi đầu tiên của FACIT, FACT - G (FunctionalAssessment Illness Therapy - General) được phát triển để đánh giá chấtlượng cuộc sống của bênh nhân ung thư đã được sử dụng trong hàng trămnghiên cứu trên toàn thế giới Kể từ khi công bố FACT - G năm 1993,FACIT đã phát triển hơn 50 bộ câu hỏi, dịch chúng sang hơn 60 ngôn ngữ.Trong khi ung thư vẫn là một trọng tâm lớn, FACIT cũng đã phát triển cáccông cụ đánh giá sự mệt mỏi, sự hài lòng điều trị, đời sống tinh thần củabệnh nhân mắc các bệnh mãn tính khác

Trang 21

1.4.1 FACT - G

FACT - G được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá chất lượng cuộcsống (CLCS) của bệnh nhân ung thư Bộ câu hỏi này ban đầu được tạo nênbởi các bài phỏng vấn bán cấu trúc của cả bệnh nhân và các chuyên gia vềung thư Nó gồm 27 câu hỏi để tự theo dõi chia làm 4 khía cạnh của chấtlượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe: thể chất, gia đình/ xã hội, tình cảm

và khả năng làm việc 27 câu hỏi đó có thể được ứng dụng cho tất cả các bệnhnhân bị bệnh mạn tính, không chỉ cho bệnh gan mật, do đó tính đặc hiệu chođánh giá bệnh nhân gan mật không cao Sau này, các phần riêng cho các bệnh

và phương pháp điều trị khác nhau cũng được phát triển thêm để đánh giáchất lượng cuộc sống đặc hiệu cho từng bệnh

1.4.2 FACT - Hep

Từ tháng 6 năm 1997 đến tháng 4 năm 1998, bảng điểm FACT- Hepđược hình thành và đánh giá FACT - Hep là phiên bản đặc hiệu cho ung thưgan mật thuộc hệ thống đo lường FACIT ( ) Nó bao gồm bộ câu hỏi FACT-

G gồm 27 câu hỏi chia làm 4 phần như trên đã trình bày và thêm vào đó là 18câu hỏi tập trung đánh giá triệu chứng và chất lượng cuộc sống (CLCS) củabệnh nhân ung thư gan mật Tất cả các công cụ đánh giá CLCS đặc hiệu bệnhcủa hệ thống FACT đều gồm có FACT- G và phần riêng đặc hiệu cho bệnh

đó Các câu hỏi trong đó được chia theo mức điểm từ 0 đến 4, với tổng chungcao hơn và điểm từng phần cao hơn là chỉ ra CLCS tốt hơn Cùng với EORTCQLQ-C30, FACT- Hep là một trong các công cụ được sử dụng nhiều nhấttrong số 45 nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư ganmật, với 14 nghiên cứu, 5 thử nghiệm pha I/II, 2 thử nghiệm pha III

1.4.3 EORTC-C30

The European Organization for Research and Treatment of CancerQuality of Life Questionnaire Core 30 (EORTC QLQ-C30) EORTC QLQ -

Trang 22

C30 là công cụ được sử dụng nhiều nhất để đánh giá chất lượng cuộc sống(CLCS) của bệnh nhân ung thư ( ) Bộ câu hỏi EORCT QLQ - C30 được thiết

kế để bệnh nhân có thể tự theo dõi bệnh ung thư và được thiết kế để sử dụngcho các thử nghiệm lâm sàng, bao gồm 5 phần về chức năng (thể chất, vai trò,tình cảm, nhận thức và xã hội), 3 phần về triệu chứng (mệt mỏi, nôn và buồnnôn, đau), tình trạng sức khỏe chung và 6 vấn đề riêng (khó thở, mất ngủ,chán ăn, táo bón, ỉa chảy và khó khăn về tài chính) Điểm cao trong phần vềchức năng chỉ ra khả năng thực hiện chức năng tốt, còn điểm cao trong tìnhtrạng sức khỏe chung chứng tỏ chất lượng cuộc sống cao, tuy nhiên điểm caotrong vấn đề về triệu chứng chỉ ra rằng bệnh nhân đang gặp các vấn đềnghiêm trọng về sức khỏe EORTC QLQ - C30 được dịch ra hơn 60 ngôn ngữ

và được đánh giá là có tính ứng dụng ở nhiều nền văn hóa khác nhau Saunày, dựa trên EORTC QLQ - C30 và hướng dẫn hình thành các câu hỏi vềchất lượng cuộc sống của nhóm nghiên cứu chất lượng cuộc sống củaEORTC, EORTC QLQ - HCC18 đặc hiệu cho ung thư gan đã được tạo nênnhưng chưa được áp dụng rộng rãi trong các thử nghiệm ung thư gan quốc tế,

do đó chưa đánh giá được giá trị của công cụ này

1.4.4 Các công cụ khác

Các công cụ này đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏenói chung cho tất cả các bệnh và tình trạng sức khỏe Chúng không được thiết

kế riêng cho việc đánh giá bệnh nhân Ung thư biểu mô tế bào gan

a/ SF- 36 SF- 36 là công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống liên quanđến sức khỏe được sử dụng rộng rãi nhất ở Mỹ Nó là những câu hỏi chungđánh giá 2 khái niệm lớn về sức khỏe (thể chất và tinh thần) với 36 câu hỏichia làm 8 phần: thể chất, xã hội, sống còn, hạn chế vai trò do vấn đề về tìnhcảm, hạn chế vai trò do vấn đề thể chất, đau, vấn đề tâm thần và sức khỏechung Mỗi phần được cho điểm từ 0 đến 100

Trang 23

b/ WHOQOL - 100 và WHOQOL - BREF WHO đã xây dựng 2 công

cụ để đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) là WHOQOL- 100 vàWHOQOL- BREF Các công cụ này được áp dụng với một loạt các phiênbản khác nhau và có thể được sử dụng để so sánh chất lượng cuộc sống củacác nhóm dân cư khác nhau, thậm chí các nước khác nhau WHOQOL 100gồm 24 phần với 100 câu hỏi Các phần bao gồm 6 khía cạnh: thể chất (nănglượng và mệt mỏi, ngủ và nghỉ ngơi, đau và sự khó chịu), tâm thần (hìnhdạng cơ thể và dung mạo, cảm xúc tích cực, tiêu cực, sự tự quý trọng), sựđộc lập (trong các hoạt động hàng ngày), xã hội (quan hệ cá nhân, sự trợgiúp của xã hội), môi trường (an toàn cơ học, nguồn tài chính) và tinh thần

Nó là một công cụ cho phép so sánh chất lượng cuộc sống (CLCS) của cácnền văn hóa khác nhau và có tới hơn 40 phiên bản ngôn ngữ khác nhau WHOQOL - BREF là phiên bản rút ngắn nhưng cũng có tính ổn định và độtin cậy cao

c/ SQLI bao phủ 5 khía cạnh của chất lượng cuộc sống (CLCS) (hoạtđộng, cuộc sống thường nhật, sức khỏe, hỗ trợ của bạn bè và xã hội và quanđiểm) Nó được thiết kế để sử dụng cho các bác sĩ để giúp họ đánh giá lợi ích

và nguy cơ của các phương pháp điều trị khác nhau

d/ SF- 12 SF- 12 là công cụ gồm 12 câu hỏi về tình trạng sức khỏeđược hình thành dựa trên SF- 36 Phiên bản thứ 2 của SF- 12 chia làm 8 phần:chức năng thể chất, thể chất, đau, sức khỏe chung, sự sống còn, chức năng xãhội, tình cảm, và sức khỏe tâm thần Nó cũng cung cấp các thông tin chung vềkhía cạnh thể chất về tinh thần Điểm sẽ chấm từ 0 đến 100 và sau đó so vớimức bình thường, với mức điểm càng cao thì chất lượng cuộc sống (CLCS)càng cao

Trang 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh Viện BãiCháy - tỉnh Quảng Ninh

Trung tâm Ung bướu trực thuộc Bệnh viện Bãi Cháy được thành lậpTháng 11-2015, với 20 giường bệnh Khu xạ trị, được thiết kế 3 tầng baogồm: Phòng bong-ke cho máy gia tốc tuyến tính, phòng chụp CT mô phỏng,phòng lập kế hoạch điều trị, phòng chụp xạ hình SPECT, phòng hotlab và một

số phòng kỹ thuật và hạng mục phụ trợ khác khác Đặc biệt, cuối năm 2018khu nhà điều trị nội trú có quy mô 200 giường bệnh bao gồm 12 tầng với cácthiết bị y tế hoàn thiện đáp ứng được nhu cầu điều trị của bệnh nhân ung bướutrên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận

Trung tâm ung bướu Bệnh viện Bãi Cháy được đề xuất là bệnh viện vệtinh của Bệnh viện K trung ương Bệnh viện được Bệnh viện K Trung ương

hỗ trợ đào tạo nhân lực, chuyển giao kỹ thuật do đó, các bác sĩ, kỹ thuật viêncủa Bệnh viện đã đã làm chủ các kỹ thuật trong điều trị các bệnh lý ung thưnhư: Phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, phẫu thuật được nhiều ca bệnh phức tạp, như:

U não, u thực quản, u đầu tụy, cắt gan, mật….vv

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:

- Người bệnh được chẩn đoán xác định ung thư gan (nguyên phát vàthứ phát) ở bất cứ giai đoạn nào, đang điều trị các phương pháp tại Trung tâmUng bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh

- Hồ sơ bệnh án điều trị của người bệnh

Trang 25

Tiêu chuẩn lựa chọn

- Người bệnh đã được chẩn đoán xác định là ung thư gan, đang điều trịcác phương pháp tại trung tâm ung bướu, có đầy đủ hồ sơ bệnh án với cácthông tin hành chính, bệnh sử, tiền sử, thăm khám lâm sàng, chẩn đoán hìnhảnh và xác chẩn mô bệnh học,

Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi đã được giảithích mục tiêu của nghiên cứu

- Người bệnh nặng, quá mệt mỏi suy kiệt, không đủ khả năng hiểu và tự trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ 1/6/2019 đến tháng 5/2020

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Là một nghiên cứu dịch tễ học mô tả qua cuộc điều tra cắt ngang nhằm:

1 Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và thói quen ăn uống của người bệnhung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy,tỉnh Quảng Ninh năm 2019

2 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan tại địabàn nghiên cứu

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

n là số người bệnh tham gia điều tra

Z (1 - /2 là độ tin cậy lấy ở ngưỡng xác suất  = 5%

Trang 26

p là tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư là 70.%[12].

d là độ chính xác mong muốn (ước tính là 0,09)

Do vậy cỡ mẫu tính toán sẽ là: 100 người bệnh, thực tế có 104 người bệnhtham gia đánh giá tình trạng dinh dưỡng

- Cỡ mẫu đánh giá chất lượng cuộc sống: là toàn bộ 104 người bệnh thamgia đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD)

b/ Phương pháp chọn mẫu

Chủ động chọn trung tâm ung bướu bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh,Chọn toàn bộ người bệnh đến khám được chẩn đoán xác định là Ung thư gan vàđiều trị tại trung tâm ung bướu từ 1/6 đến 31/12/2019 đáp ứng các tiêu chuẩnchọn mẫu và loại mẫu

2.2.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu

- Thông tin chung của người bệnh theo giới tính, nhóm tuổi, nghềnghiệp, trình độ học vấn

- Thời gian mắc bệnh, tiền sử mắc các bệnh và bệnh lý nền của người bệnh

- Thói quen ăn uống của người bệnh: Tần số tiêu thụ thực phẩm, số bữa

ăn và bữa ăn phụ, số lượng rau và trái cây và đồ uống có ga mà người bệnhtiêu thụ

- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào BMI theonhóm tuổi, giới tính, giai đoạn bệnh

- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào SGA theogiới tính, giai đoạn bệnh và bệnh nền

- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào MNA theogiới tính, giai đoạn bệnh và bệnh nền

- Giá trị trung bình và tỷ lệ giảm Albumin, Protein huyết thanh củangười bệnh theo nhóm tuổi và bệnh nền

Trang 27

- Điểm trung vị các lĩnh vực chức năng, triệu chứng và chất lượng cuộcsống tổng thể của người bệnh bộ câu hỏi EORT - C30 chia theo nhóm tuổi,giai đoạn bệnh và bệnh nền

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống tổng thể củangười bệnh theo bộ câu hỏi EORT - C30 chia theo nhóm tuổi, giai đoạn bệnh,bệnh nền

- Điểm trung vị các lĩnh vực chức năng, triệu chứng và chất lượng cuộcsống tổng thể của người bệnh bộ câu hỏi FACT - HEP chia theo nhóm tuổi,giai đoạn bệnh và bệnh nền

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống tổng thể củangười bệnh theo bộ câu hỏi FACT - HEP chia theo nhóm tuổi, giai đoạnbệnh, bệnh nền

2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

2.2.4.1.Kỹ thuật nhân trắc: Người bệnh được cân, đo trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện

+ Kiểm tra cân nặng: Sử dụng cân SECA (độ chính xác 0.1kg) Trọnglượng cơ thể được ghi theo kg với một số lẻ Cân đối tượng vào buổi sáng, khichưa ăn uống Khi cân chỉ mặc quần áo gọn nhất và trừ bớt cân nặng trungbình của quần áo khi tính kết quả Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cửđộng, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bố đều cả 2 chân Cân được đặt ở vịtrí ổn định và bằng phẳng

+ Đo chiều cao đứng bằng thước gỗ sản xuất theo tiêu chuẩn của Mỹ,

độ chia chính xác tới milimet Đối tượng bỏ guốc dép, đi chân không, bỏ múitóc, đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai, đầu theo một đườngthẳng áp sát vào thước đo, mắt nhìn thẳng, hai tay bỏ thõng theo hai bênmình Kéo cái chặn đầu của thước từ trên xuống đến khi áp sát đỉnh đầu, nhìnvào thước để đọc kết quả Chiều cao được ghi theo cm với một số lẻ

Trang 28

2.2.4.2 Phỏng thói quen ăn uống và tần suất tiêu thụ thực phẩm.

+ Phỏng vấn thói quen ăn uống: Phỏng vấn trực tiếp người bệnh về thói

quen ăn uống theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục 1) Bộ câu hỏi được thiết

kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu có tham khảo của các nghiên cứu trước

+ Xác định tần số tiêu thụ thực phẩm trong tuần qua, tháng qua, theophương pháp thường quy của viện Dinh Dưỡng (FFQ: Food - Frequence -Questionaire) Phỏng vấn trực tiếp đối tượng theo bảng kiểm đã chuẩn bị sẵn

với danh mục các thực phẩm phổ biến tại Quảng Ninh (phụ lục 2)

- Các thực phẩm sử dụng ở mức độ thường xuyên là: Sử dụng ở mức

độ hàng ngày hoặc 4 - 7 lần / tuần

- Các thực phẩm sử dụng ở mức độ không thường xuyên là: Sử dụng

ở mức độ 1 - 3 lần/ tuần hoặc đôi khi, thỉnh thoảng mới sử dụng

2.2.4.3 Phỏng vấn trực tiếp người bệnh kết hợp cân đo để đánh giá TTDD

của người bệnh dựa theo BMI, SGA và MNA theo Phụ lục 3,4.

2.2.4.4 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh bằng phiếu tự điền

Để đánh giá, chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh ung thư gan,

sử dụng hai bộ câu hỏi EORTC - C30 và FACT -HEP, trong đó bộ câu hỏiEORTC - C30 là bộ câu hỏi dùng chung cho tất cả các người bệnh ung thư,còn bộ câu hỏi FACT - HEP là bộ câu hỏi dành riêng cho ung thư gan Hai bộcâu hỏi này do Tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư châu Âu (EORTC) giữbản quyền, xây dựng và phát triển theo một quy trình đã được tiêu chuẩn hóanghiêm ngặt

Bộ câu hỏi EORTC-C30 gồm 30 câu hỏi (đánh số từ 1 đến 30, xem phụ lục 5), được thiết kế để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung

thư nói chung, bao gồm các khía cạnh về khả năng hoạt động thể lực, khảnăng nhận thức, hòa nhập xã hội, khía cạnh cảm xúc cũng như các triệu chứngtoàn thân do bệnh hoặc do quá trình điều trị ung thư gây ra Bố cục của Bộcâu hỏi EORTC-C30 được mô tả cụ thể phía dưới Các câu hỏi từ 1-28 người

Trang 29

bệnh có thể lựa chọn một trong bốn phương án trả lời, được đánh số theo kiểuthang Likert từ 1 đến 4 tùy theo mức độ ảnh hưởng của triệu chứng hoặc khíacạnh đó đến chất lượng cuộc sống của người bệnh (1: không ảnh hưởng; 2;ảnh hưởng ít; 3: ảnh hưởng nhiều; 4: ảnh hưởng rất nhiều) Riêng hai câu hỏi

số 29 và 30 (đánh giá chất lượng cuộc sống chung): người bệnh có thể lựachọn một trong bảy phương án trả lời (được đánh số theo kiểu thang Likert từ

1 đến 7, tương ứng với bảy mức độ về chất lượng cuộc sống chung) Với mỗichỉ số về mặt chức năng (có 17 câu), điểm càng cao chứng tỏ chức năng củangười bệnh càng bị ảnh hưởng trầm trọng (đồng nghĩa với chất lượng cuộcsống kém) Với mỗi chỉ số về mặt triệu chứng (có 13 câu), điểm càng caochứng tỏ biểu hiện của khía cạnh triệu chứng càng trầm trọng và chất lượngcuộc sống càng bị ảnh hưởng nhiều hơn

B c c c a B câu h i EORTC-C30ố cục của Bộ câu hỏi EORTC-C30 ục của Bộ câu hỏi EORTC-C30 ủa Bộ câu hỏi EORTC-C30 ộ câu hỏi EORTC-C30 ỏi EORTC-C30

Bộ EORTC-C30: Phân nhóm câu hỏi theo các khía

cạnh đánh giá

Tổng sốcâu hỏi

Số thứ tự câuhỏiĐánh giá chức

Bộ câu hỏi FACT - Hep (phụ lục 6) là phiên bản đặc hiệu cho ung thư

gan mật gồm 27 câu hỏi chia làm 4 khía cạnh của chất lượng cuộc sống(CLCS) như tình trạng sức khỏe (7 câu), tình trạng giao tiếp với gia đình/ xã

Trang 30

hội (7 câu), tình trạng tinh thần (6 câu), tình trạng chức năng (7 câu) và thêmvào đó là 18 câu hỏi những mối quan tâm khác tập trung đánh giá triệu chứng

và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư gan mật Người bệnh chọnnăm phương án trả lời được đánh số theo kiểu thang Likert từ 0 đến 4 tùytheo mức độ ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe, tình trạng giao tiếp gia đình/

xã hội, tình trạng tinh thần, tình trạng chức năng và những mối quan tâmkhác đến chất lượng cuộc sống của người bệnh (0: hoàn toàn không, 1: ảnhhưởng chút ít; 2; ảnh hưởng đôi chút; 3: ảnh hưởng khá nhiều; 4: ảnh hưởngrất nhiều) Các câu hỏi trong đó được chia theo mức điểm từ 0 đến 4, vớitổng chung thấp hơn và điểm từng phần thấp hơn là chỉ ra chất lượng cuộcsống tốt hơn

B c c c a B câu h i FACT – HEPố cục của Bộ câu hỏi EORTC-C30 ục của Bộ câu hỏi EORTC-C30 ủa Bộ câu hỏi EORTC-C30 ộ câu hỏi EORTC-C30 ỏi EORTC-C30

Bộ FACT - HEP: Phân nhóm câu hỏi

theo các khía cạnh đánh giá

Tổng số câuhỏi

Số thứ tự câu hỏi

Tình trạng giao tiếp gia đình/ xã hội 7 GS1- GS7

Hep1 Hep 6, Hep8CNS7, Cx6, H17, An7,

HN2Mỗi người bệnh được phát 2 bộ phiếu tự điền để người bệnh Khi lựachọn được phương án trả lời phù hợp, người bệnh khoanh tròn vào con sốtương ứng với phương án được lựa chọn Điều tra viên giải thích đầy đủnhững thắc măc của người bệnh Các câu trả lời này sẽ được tính thànhđiểm Tổng điểm chung thấp hơn và điểm từng phần thấp hơn là chỉ ra chất

Trang 31

lượng cuộc sống (CLCS) tốt hơn.

+ Albumin huyết thanh từ 28 – 34g/L: Thiếu mức độ nhẹ

+ Albumin huyết thanh từ 21 – 27g/L: Thiếu mức độ vừa

+ Albumin huyết thanh < 21g/L: Thiếu mức độ nặng

- Định lượng Protein: Người bệnh được coi là thiếu Protein khi nồng

độ Protein < 60g/l

2.2.5 Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu

2.2.5.1.Đánh giá tình trạng dinh dưỡng

- Dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI - Body Mass Index)

Với BMI: Chỉ số khối cơ thể (kg/m2)

W: Cân nặng của đối tượng (kg)

H: Chiều cao của đối tượng (m)

Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 1998 được đánh giá theo chỉ số khối cơthể BMI (Body Mass Index) như sau:

Thiếu năng lượng trường diễn

(CED - Chronic Energy

Trang 32

Béo phì độ I 30 – 34,9

- Theo phương pháp SGA (Subjective global assessment) Là một công cụ

lâm sàng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) cho người bệnh dưới 65tuổi dựa vào:

+ Thay đổi cân nặng: Đánh giá từ 0-2 điểm

+ Thay đổi khẩu phần: Đánh giá từ 0-2 điểm

+ Các triệu chứng dạ dày, ruột kéo dài trên 2 tuần: Đánh giá từ 0-2 điểm+ Thay đổi chức năng vận động: Đánh giá từ 0-2 điểm

+ Các bệnh mắc phải và ảnh hưởng của stress chuyển hóa: Đánh giá

từ 0-2 điểm

+ Các dấu hiệu lâm sàng dinh dưỡng (mất lớp mỡ dưới da, phù, cổchướng): Đánh giá từ 0-2 điểm

Người bệnh được đánh giá 3 loại:

+ Dinh dưỡng tốt = 9 -12 điểm

+ Suy dinh dưỡng nhẹ, trung bình = 4-8 điểm

+ Suy dinh dưỡng nặng = 0-3 điểm

Các tiêu chí Đánh giá theo phương pháp SGA (điểm)

Trang 33

Dấu hiệu thực thể BT Giảm lớp mỡ

dưới da, khối cơ

Phù, cổ chướng

Dinhdưỡng tốt

4-8 điểmSDD nhẹ, trungbình

0-3 điểmSuy dinhdưỡng nặngĐánh giá thay đổi cân nặng trong 2 tuần và 6 tháng qua: Thông qua hỏingười bệnh và người nhà, nếu người bệnh không được kiểm tra cân nặng tạithời điểm trước đó thì phải ước lượng để có chỉ số cân nặng thường có và sosánh với cân nặng hiện tại để đánh giá mức độ giảm cân trong 6 tháng và 2tuần qua

Đánh giá sự thay đổi về khẩu phần ăn bằng cách hỏi chế độ ăn bìnhthường của người bệnh trước khi bị bệnh hay trước khi vào viện so với chế độ

ăn hiện tại: không thay đổi chế độ ăn (2 điểm), nếu người bệnh ăn cháo nấuthịt, cá, tôm rau hay truyền đạm, đường, vitamin thì được đánh giá chế độ ănlỏng đủ năng lượng (1 điểm), còn nếu người bệnh ăn cháo hoa, cháo loãng, ănquá ít thì được đánh giá ăn lỏng năng lượng thấp (0 điểm)

Đánh giá mức độ giảm chức năng cơ thể thông qua hỏi và thực tếlâm sàng: bình thường người bệnh làm được những việc gì và hiện tại thìkhả năng làm việc đó suy giảm đến mức độ nào, nếu không giảm (2 điểm),

có giảm nhưng vẫn đi lại được bình thường (1 điểm), phải nằm tại giườngthì (0 điểm)

Đánh giá sang chấn tâm lý của người bệnh thông qua quan sát, hỏi vàtình trạng bệnh tật: Nếu người bệnh lo lắng, sợ hãi về bệnh tật của mình thìđánh giá mức độ sang chấn nhẹ, nếu người bệnh quá lo lắng, luôn luôn hỏi vàhỏi rất nhiều về vấn đề bệnh tật của mình, chán ăn thì đánh giá mức độ vừa,còn nếu tình trạng lo lắng sợ hãi mà ảnh hưởng đến sinh hoạt của người bệnhnhư chán ăn, mất ngủ thì được đánh giá mức độ strest nặng

Trang 34

- Theo phương pháp MNA (Mini Nutritional Assessment): Là công cụ

được xây dựng nhằm đánh giá nhanh và hiệu quả để sàng lọc suy dinh dưỡng(SDD), phương pháp này tương tự như phương pháp SGA nhưng áp dụng chongười trên 65 tuổi Thang điểm được tính như sau:

17-23, 5 điểm: Nguy cơ suy dinh dưỡng

Dưới 17 điểm: Suy dinh dưỡng

2.2.5.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh

- Bộ câu hỏi EORTC-C30 có 30 câu, các câu hỏi trong đó được chia mứcđiểm từ 1 đến 4 bao gồm: Chỉ số về mặt chức năng (có 17 câu), điểm càngcao chứng tỏ chức năng của người bệnh càng bị ảnh hưởng trầm trọng (đồngnghĩa với chất lượng cuộc sống kém) Chỉ số về mặt triệu chứng (có 13 câu),điểm càng cao chứng tỏ biểu hiện của khía cạnh triệu chứng càng trầm trọng

và chất lượng cuộc sống càng bị ảnh hưởng nhiều hơn

- Bộ câu hỏi FACT - Hep gồm 27 câu hỏi chia làm 4 khía cạnh củachất lượng cuộc sống (CLCS) như tình trạng sức khỏe (7 câu), tình trạng giaotiếp với gia đình/ xã hội (7 câu), tình trạng tinh thần (6 câu), tình trạng chứcnăng (7 câu) và 18 câu hỏi những mối quan tâm khác Các câu hỏi được chiatheo mức điểm từ 0 đến 4 và được tính thành điểm Tổng điểm chung thấp vàđiểm từng phần thấp là chỉ ra chất lượng cuộc sống (CLCS) tốt hơn

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng của sống của người bệnhvới 4 mức độ

* Số điểm dưới 25% từ phân vị là không ảnh hưởng tới chất lượngcuộc sống

* Số điểm từ 25% - 50% từ phân vị là ảnh hưởng ít tới chất lượng cuộc sống

* Số điểm từ trên 50% đến 75% từ phân vị là ảnh hưởng nhiều tớichất lượng cuộc sống

Trang 35

* Số điểm trên 75% từ phân vị là ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượngcuộc sống

2.2.6 Xử lý số liệu.

- Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính, sử dụng chươngtrình EPI DATA để nhập số liệu Phân tích số liệu được tiến hành bằngchương trình SPSS 22.0 với các test thống kê Y học

- Tính điểm trung vị chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnhdựa theo tứ phân vị với 3 điểm mốc 25% - 50% và 75%

- Các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, sự khác nhau giữa hai giá trịtrung bình được kiểm định bằng test Mann-whitneysai So sánh giữa các tỉ lệ

sử dụng test χ2 Khoảng tin cậy là 95% được áp dụng cho toàn bộ các test.Nhận định có sự khác biệt khi giá trị p<0.05

2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu:

Đã được hội đồng xét duyệt đề cương của trường Đại học Y Dược TháiBình thông qua và được ban giám đốc bệnh viện cho phép

Các đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu, những đối tượng đượcmời tham gia nghiên cứu được giải thích rõ mục đích, ý nghĩa, các thông tinthu thập của cuộc điều tra và có quyền tham gia vào nghiên cứu hay không.Các kỹ thuật nghiên cứu được thao tác đơn giản cho người bệnh, ngoài

ra còn giúp ích cho chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng và đưa lời khuyên trongquá trình điều trị

Người bệnh tham gia nghiên cứu được tư vấn về cách dinh dưỡng hợp

lý, không phải chi trả thêm bất cứ khoản gì từ các hoạt động nghiên cứu Cáckết quả nghiên cứu nhằm phục vụ cho hoạt động điều trị tư vấn chăm sóc điềutrị và được lưu giữ thông tin nghiên cứu theo chế độ bảo mật không ảnhhưởng đến uy tin và mọi hoạt động của người bệnh

Trang 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Xác định tỷ lệ SDD và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019

Bảng 3.1 Thông tin chung của người bệnh theo giới tính, nhóm tuổi, nghề

Trang 37

tỷ lệ thấp nhất 3,9%

Có 63,5% người bệnh nghiên cứu có trình độ học vấn Trung học phổthông Đa số người bệnh trong nghiên cứu có nghề nghiệp chính là nông dân/công nhân (55,8%)

Trang 38

Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy: phần lớn đối tượng được chẩn đoán mắcung thư gan dưới 6 tháng (54,8%), có 13,5% người bệnh được chẩn đoánbệnh cách đây 6-12 tháng, tỷ lệ được chẩn đoán bệnh cách đây 12-36 thángchiến 25,0%, có 5,8% được chẩn đoán bệnh cách đây trên 36 tháng.

Trang 39

Bảng 3.2 Các bệnh lý kèm theo (bệnh nền) của người bệnh chia theo

nhóm tuổi

Bệnh nền ≤ 60 tuổi

(n = 63)

> 60 tuổi(n = 41)

60 tuổi (36,6%) với p<0,05 Tỷ lệ có bệnh nền là tăng huyết áp chiếm 27,9%,

có 13,5% người bệnh bị COPD và có 1,0% người bệnh mắc các bệnh liênquan đến tim mạch, 4,8% người bệnh mắc một số các bệnh lý khác

Trang 40

Bảng 3.3 Tiền sử mắc các bệnh gan của người bệnh chia theo nhóm tuổi

Tiền sử ≤ 60 tuổi

(n = 63)

> 60 tuổi(n = 41)

66,6 68,3

67,3

25,4 22,0 24,0

4,8 7,3

5,8 3,2 2,4 2,9 0

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ người bệnh mắc ung thư gan theo giai đoạn bệnh chia

Ngày đăng: 25/11/2021, 08:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Thu Hương (2017), Khảo sát tình hình sử dụng Y90 trong xạ trị chọn lọc điều trị ung thư gan nguyên phát, Khóa luận tốt nghiệp Dược học, Khoa Y Dược - Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sử dụng Y90 trong xạ trịchọn lọc điều trị ung thư gan nguyên phát
Tác giả: Nguyễn Thu Hương
Năm: 2017
10. Nguyễn Đỗ Huy (2013), "Các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng của bệnh nhân theo tình trạng dinh dưỡng tại bệnh viện tỉnh Hải Dương", Tạp chí Y tế Công cộng. số 28, tr. 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng của bệnhnhân theo tình trạng dinh dưỡng tại bệnh viện tỉnh Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Đỗ Huy
Năm: 2013
11. Nguyễn Thùy Linh (2019), "Hiệu quả can thiệp cải thiện tình trạng dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa điều trị hóa chất tại bệnh viện đại học y hà nội", Tạp chí nghiên cứu y học.119 (3), tr. 142-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả can thiệp cải thiện tình trạng dinhdưỡng và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa điềutrị hóa chất tại bệnh viện đại học y hà nội
Tác giả: Nguyễn Thùy Linh
Năm: 2019
12. Phùng Trọng Nghị (2015), Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân ung thư tại trung tâm ung bướu và y học hạt nhân - Bệnh viện Quân y 103, Trung tâm Ung bướu và Y học hạt nhân- Bệnh viện Quân y 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhânung thư tại trung tâm ung bướu và y học hạt nhân - Bệnh viện Quân y103
Tác giả: Phùng Trọng Nghị
Năm: 2015
13. Phạm Cầm Phương và Mai Trọng Khoa (2016), "Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (BN) ung thư phổi không tế bào nhỏ được điều trị bằng thuốc ức chế tyrosine kinase tại Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.", Tạp chí Y Dược học Quân sự. Số 1, tr.133-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượngcuộc sống của bệnh nhân (BN) ung thư phổi không tế bào nhỏ được điềutrị bằng thuốc ức chế tyrosine kinase tại Trung tâm Y học Hạt nhân vàUng bướu, Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Phạm Cầm Phương và Mai Trọng Khoa
Năm: 2016
14. Dương Thị Phượng (2017), "Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội", Tạp chí nghiên cứu y học. 100(1), tr. 103-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ungthư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Tác giả: Dương Thị Phượng
Năm: 2017
16. Nguyễn Thị Hương Quỳnh (2018), "Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư điều trị bằng hóa chất tại bệnh viện Quân y 103", Tạp chí Khoa học điều dưỡng. Tập 01, số 03, tr. 42-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng củangười bệnh ung thư điều trị bằng hóa chất tại bệnh viện Quân y 103
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Quỳnh
Năm: 2018
18. Vũ Minh Thắng (2018), "Đánh giá đáp ứng điều trị ung thư biểu mô tế bào gan bằng phương pháp tắc mạch hóa dầu kết hợp miễn dịch trị liệu thymus factor x", Tạp chí Y -Dược học quân sự. Số 5, tr. 78-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đáp ứng điều trị ung thư biểu mô tếbào gan bằng phương pháp tắc mạch hóa dầu kết hợp miễn dịch trị liệuthymus factor x
Tác giả: Vũ Minh Thắng
Năm: 2018
19. Nguyễn Xuân Thành (2017), "Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh", Tạp chí Y học. 8,2019, tr. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của người bệnh ungthư tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2017
20. Phạm Hoài Thu (2017), "Nghiên cứu áp dụng bộ câu hỏi SF - 36 trong đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân viêm khớp dạng thấp", Tạp chí nghiên cứu y học. 106 (1), tr. 146-152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu áp dụng bộ câu hỏi SF - 36 trongđánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Tác giả: Phạm Hoài Thu
Năm: 2017
21. Trần Khánh Thu (2017), Thực trạng chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình và kết quả can thiệp dinh dưỡng cho người bệnh thận nhân tạo chu kỳ, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh việnđa khoa tỉnh Thái Bình và kết quả can thiệp dinh dưỡng cho người bệnhthận nhân tạo chu kỳ
Tác giả: Trần Khánh Thu
Năm: 2017
22. Nguyễn Thị Thư (2017), "Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân nặng tại khoa hồi sức truyền nhiễm bệnh viện trung ương quân đội 108", Tạp chí Khoa học điều dưỡng. Tập 01, số 04, tr. 14-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tốliên quan trên bệnh nhân nặng tại khoa hồi sức truyền nhiễm bệnh việntrung ương quân đội 108
Tác giả: Nguyễn Thị Thư
Năm: 2017
23. Chu Thị Tuyết (2013), Hiệu quả dinh dưỡng toàn diện cho bệnh nhân phẫu thuật ổ bụng – tiêu hóa mở có chuẩn bị tại khoa ngoại bệnh viện Bạch Mai, Luận án tiến sỹ Y học, Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả dinh dưỡng toàn diện cho bệnh nhân phẫuthuật ổ bụng – tiêu hóa mở có chuẩn bị tại khoa ngoại bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Chu Thị Tuyết
Năm: 2013
24. Trần Văn Vũ (2015), Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở nhân nhân bệnh thận mạn, Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở nhân nhân bệnh thậnmạn
Tác giả: Trần Văn Vũ
Năm: 2015
25. Addington-Hall JM (1990), "Can the Spitzer Quality of Life Index help to reduce prognostic uncertainty in terminal care?", Br J Cancer. 1990 Oct;62(4):695-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can the Spitzer Quality of Life Index helpto reduce prognostic uncertainty in terminal care
Tác giả: Addington-Hall JM
Năm: 1990

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w