1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của điều trị phục hình răng tháo lắp toàn bộ lên tình trạng dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi

103 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH ---NGUYỄN THANH HƯƠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU TRỊ PHỤC HÌNH RĂNG THÁO LẮP TOÀN BỘ LÊN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN THANH HƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU TRỊ PHỤC HÌNH RĂNG THÁO LẮP TOÀN BỘ LÊN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú

TP Hồ Chí Minh- Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN THANH HƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU TRỊ PHỤC HÌNH RĂNG THÁO LẮP TOÀN BỘ LÊN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Chuyên ngành: RĂNG HÀM MẶT

Mã số: 62722801 Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ HỒ PHƯƠNG TRANG

TP Hồ Chí Minh- Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người cam đoan

Nguyễn Thanh Hương

Trang 4

1.2 Tình trạng mất răng toàn bộ ở người cao tuổi và các phương pháp điều trị

1.4 Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe răng miệng trên người cao tuổi 19

3.2 Tình trạng dinh dưỡng trước và sau điều trị phục hình tháo lắp toàn bộ hai

Trang 5

3.3 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe răng miệng trước và sau điều

Trang 6

ICC Intraclass Correlation Coefficient

MNA Mini Nutritional Assessment

OHIP Oral Health Impact Profile

Trang 7

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT- ANH

Chỉ số tác động sức khỏe răng miệng Oral Health Impact Profile

Chỉ số tác động SKRM 49 câu hỏi OHIP-49

Chỉ số tác động SKRM 14 câu hỏi OHIP-14

Chỉ số tác động SKRM 19 câu hỏi OHIP-19

Chu vi giữa cánh tay Mid-arm circumference

Đánh giá dinh dưỡng tối thiểu Mini Nutritional Assessment

Hệ số tương quan trong lớp Intraclass Correlation CoefficientTình trạng dinh dưỡng Nutritional status

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số lượng và tỉ lệ người cao tuổi ở Việt Nam 6

Bảng 1.2 Sự thay đổi thành phần cơ thể hoặc chức năng sinh lý 10

Bảng 1.3 Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan điều trị phục hình và tình trạng

Bảng 1.4 Tóm tắt một số nghiên cứu về điều trị phục hình và CLCS- SKRM

24

Bảng 2.6 Độ tin cậy đo-đo lại các biến cân nặng, chiều cao, chu vi gữa cánh

tay, chu vi bắp chân, điểm số MNA, OHIP-19VN và 7 lĩnh vực 37

Bảng 3.7 Phân bố giới tính trong mẫu nghiên cứu 38

Bảng 3.8 Đặc điểm mẫu nghiên cứu theo trình độ học vấn, nghề nghiệp trước

đây, thu nhập, tình trạng hôn nhân và tình trạng gia đình 39

Bảng 3.9 Đặc điểm mẫu nghiên cứu theo tình trạng hàm giả và bệnh lý toàn

Bảng 3.10 Bảng so sánh trung bình các chỉ số nhân trắc trước và sau điều trị

41

Bảng 3.11 Phân loại tình trạng dinh dưỡng trước- sau điều trị theo BMI 42

Bảng 3.12 Phân loại tình trạng dinh dưỡng trước- sau điều trị theo MNA 44

Bảng 3.13 Điểm OHIP-19 VN và 7 lĩnh vực trước khi điều trị phục hình tháo

Trang 9

Bảng 3.16 Tần suất các câu trả lời của từng câu hỏi trong bộ câu hỏi OHIP-19

Bảng 3.17 Hệ số tương quan Spearman giữa trung bình BMI, MNA với trung

Bảng 3.18 Hệ số tương quan Spearman giữa độ chênh lệch trung bình BMI,

MNA với độ chênh lệch về CLCS-SKRM trước và sau điều trị 51

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ tình trạng dinh dưỡng trước–sau điều trị theo BMI 43

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tình trạng dinh dưỡng trước – sau điều trị theo MNA 44

Biểu đồ 3.3 So sánh điểm số 7 lĩnh vực CLCS- SKRM trước và sau điều trị

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình khái niệm đo lường SKRM của Locker (1988) 20

Trang 12

MỞ ĐẦU

Thế kỷ XX đã chứng kiến một cuộc cách mạng về tăng tuổi thọ; tuổithọ trung bình của con người đã tăng thêm 20 năm và dự kiến đạt 75,4 tuổivào năm 2050 Kết quả là dân số của nhiều quốc gia sẽ già hoá nhanh chóng.Cùng với xu hướng chung của thế giới, dân số người cao tuổi Việt Namkhông ngừng tăng lên cả về số lượng và tỷ lệ, và tăng nhanh hơn các nhómdân số khác Tuổi thọ trung bình của người Việt từ 68,6 tuổi (năm 1999) tănglên 72,2 tuổi (năm 2005), dự kiến sẽ là 75 tuổi vào năm 2020 Việt Nam sẽbước vào giai đoạn “dân số già” vào năm 2017 Tỷ lệ người cao tuổi trongtổng dân số đã tăng từ 6,9% (năm 1979) lên 9,45% (năm 2007) Tỷ lệ này dựkiến là 11,24% vào năm 2020 và sẽ tăng lên tới 28,5% vào năm 2050 [13]

Sự tiến bộ trong nha khoa đã làm giảm tỷ lệ các bệnh lý răng miệng,tuy nhiên tình trạng mất răng vẫn còn phổ biến Các nghiên cứu về thực trạngmất răng trên người cao tuổi ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mất răng trên ngườicao tuổi là từ 81,7% đến 100,0% Trong đó, tình trạng mất răng toàn bộ trênngười cao tuổi chiếm tỷ lệ từ 2,8% đến 31,9% [3], [11], [17] Từ đó, cho thấyphần lớn người cao tuổi chịu hậu quả của mất răng liên quan đến giảm khảnăng nhai, ảnh hưởng đến giao tiếp, vẻ bề ngoài, tâm lý, thể chất và chấtlượng cuộc sống Do đó, bên cạnh mục tiêu chặn đứng bệnh tật, mục tiêuquan trọng của chăm sóc nha khoa ở người cao tuổi là phục hồi chức năngtrên quan điểm về dinh dưỡng và duy trì hoặc cải thiện chất lượng cuộc sốngcủa người cao tuổi [29]

Mất răng có thể làm giảm khả năng nhai, dẫn đến những thay đổi sự lựachọn thức ăn, do đó có thể làm tăng nguy cơ thiếu dinh dưỡng [27], [32], [41],[57]… Người mất răng có xu hướng ăn nhiều thức ăn giàu chất bột đường,chất béo, và giảm các thức ăn nhiều chất xơ [59], [60] Năm 1994, Willett báocáo một số mối liên quan giữa chế độ ăn và bệnh lý toàn thân, cho thấy dinh

Trang 13

dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển của cácbệnh liên quan đến tuổi, như tiểu đường, bệnh tim mạch, ung thư và loãngxương [84].

Mối liên quan giữa tình trạng răng miệng, chế độ ăn, tình trạng dinhdưỡng và sức khỏe toàn thân thì phức tạp; liên quan đến nhiều yếu tố như sựthay đổi sinh lý – xã hội theo tuổi, các bệnh mạn tính, các thuốc đang sửdụng, tình trạng khó nuốt, suy nhược….Các yếu tố này ảnh hưởng đến khảnăng tiêu thụ thức ăn, dẫn đến nguy cơ thiếu dinh dưỡng tăng đối với ngườicao tuổi [19],[36],[81] Có nhiều bằng chứng cho thấy tình trạng thiếu dinhdưỡng làm tăng tỷ lệ các rối loạn sức khỏe khác nhau

Điều trị phục hình giúp phục hồi các răng mất, đòi hỏi sự thoải mái,đáp ứng chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm Tình trạng phục hình có thểtác động đến việc lựa chọn loại thức ăn, chất dinh dưỡng đưa vào cơ thể, vàtình trạng dinh dưỡng ở người cao tuổi Tình trạng phục hình kém có thể tácđộng đến sức khỏe toàn thân và tăng nguy cơ tử vong do tình trạng dinhdưỡng, thể chất và tinh thần kém [60],[72]

Đồng thời, điều trị phục hình không chỉ cần thành công về mặt lâmsàng mà còn phải thành công trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống(CLCS) bệnh nhân Chỉ số tác động sức khỏe răng miệng OHIP-19 là mộtcông cụ phù hợp để đánh giá chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân mất răng[15] Nghiên cứu của John (2004) cho thấy CLCS cải thiện đối với cả phụchình cố định, phục hình tháo lắp từng phần và phục hình tháo lắp toàn bộ[40]

Cùng với sự phát triển của y học, vấn đề dinh dưỡng, chất lượng cuộcsống của người cao tuổi càng được quan tâm Ở Việt Nam đã có nghiên cứu

về tác động của sức khỏe răng miệng lên chất lượng cuộc sống ở người caotuổi [7], [16]; tuy nhiên, ảnh hưởng của điều trị răng miệng lên tình trạng dinh

Trang 14

dưỡng và chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi chưa được quan tâm nhiều.

Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với các mục tiêu sau:

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái niệm người cao tuổi

Sự phân chia các lứa tuổi: Về tuổi thọ, con người có 3 lứa tuổi [14]

- Lứa tuổi thứ nhất: bắt đầu lúc sinh ra và kết thúc lúc cơ thể pháttriển đầy đủ vào khoảng 25 tuổi

- Lứa tuổi thứ hai: từ 25 đến 45 tuổi

- Lứa tuổi thứ ba: sau 45 tuổi là lứa tuổi của những người lớn tuổiTrong hội nghị chuyên đề về tuổi thọ của con người ở Leningrad(1962) và Kiev (1965) người ta đã quy ước ranh giới của lứa tuổi thứ 3 nhưsau:

 Từ 45-59 tuổi: tuổi trung niên

 Từ 60 – 74 tuổi: tuổi khá cao

 Từ 75 tuổi trở lên: tuổi già

Ở hầu hết các nước phát triển, từ 65 tuổi trở lên được coi là người caotuổi Tuy nhiên với nhiều nước đang phát triển thì mốc tuổi này không phùhợp Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, tuy nhiênLiên Hợp Quốc chấp nhận mốc để xác định dân số cao tuổi là từ 60 tuổi trởlên [13]

Ở Việt Nam, Quốc hội đã thông qua luật người cao tuổi được ban hànhngày 04 tháng 12 năm 2009 Theo đó, người từ 60 tuổi trở lên được gọi làngười cao tuổi [9]

1.1.1 Dân số người cao tuổi trên thế giới

Dân số già là sự dịch chuyển cơ cấu dân số tự nhiên, rộng khắp, khôngthể nào thay đổi được mà tất cả các nước đều phải trải qua Tỉ lệ sinh ngàycàng giảm, trong khi đó tỷ lệ người trưởng thành trong dân số ngày càng khỏe

Trang 16

hơn, sống lâu hơn đang gia tăng Dân số của các nước đang phát triển tănggấp 3 lần tăng dân số của các nước phát triển [28].

Dân số toàn cầu đang tăng với tỷ lệ 1,2% năm trong khi đó dân số từ 65tuổi trở lên tăng 2,3% năm Số người trên 60 tuổi xấp xỉ 600 triệu người và sẽtăng gấp đôi vào năm 2025 Từ 11% năm 2000 ước tính lên đến 22% vào năm

2050, dự đoán sẽ lên 2 tỷ người, 80% sống ở các nước đang phát triển [62]

1.1.2 Dân số người cao tuổi ở Việt Nam

Già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh,quy mô ngày càng lớn Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999,người cao tuổi (NCT) ở nước ta khi đó có hơn 6 triệu người, trong đó số NCT

từ 65 tuổi trở lên là gần 4,5 triệu người, chiếm 71,51% tổng số người cao tuổi

Tỷ lệ NCT (trên 65 tuổi) của Việt Nam cao hơn tỷ lệ chung của thế giới (5%)

và các nước trong khu vực như Thái Lan (5%), Mianma (4%), Lào (3%)

Tỷ lệ NCT so với dân số chung đã tăng từ 6,9% năm 1979 lên 7,2%năm 1989 và 8,12% năm 1999 Nhịp độ tăng dân số cao tuổi ở nước ta trongthập kỷ 90 của thế kỷ XX đã nhanh hơn nhiều so với thập kỷ 80 Nếu ở thập

kỷ 80, NCT chỉ tăng hơn 900 nghìn người thì trong 10 năm sau (từ năm 1989đến năm 1999), số NCT tăng thêm 1,5 triệu người Tốc độ tăng dân số trongthời gian từ năm 1989 đến năm 1993 là trên 2%/năm, trong khi tốc độ tăngdân số cao tuổi khoảng 5,87%/năm, gấp khoảng 3 lần tốc độ tăng dân số.Những giai đoạn sau, chỉ từ 5 năm đến 6 năm, số NCT đã tăng nhanh hơntrong thời gian 10 năm trước, tăng từ 2 lần đến 3 lần

Theo số liệu nghiên cứu chọn mẫu của Ủy ban các vấn đề xã hội, trong

2 năm 1997 và 1998, ở nhiều địa phương tỷ lệ NCT còn cao hơn tỷ lệ chungcủa cả nước, thậm chí có nơi làm tốt công tác dân số và kế hoạch hóa giađình, tỷ lệ NCT lên đến 15% so với dân số của nơi đó Kinh nghiệm quốc tếcho thấy, mô hình biến động dân số của Việt Nam khá giống Trung Quốc và

Trang 17

Hàn Quốc, là những nước có dân số chuyển từ loại trẻ sang loại già, và dựbáo đến giữa thế kỷ XXI, dân số Việt Nam còn ở mức độ già hơn cơ cấu dân

số chung của thế giới Việt Nam sẽ đứng trước những thách thức về già hóadân số như Nhật Bản, Đài Loan và nhiều nước công nghiệp phát triển kháctrong tương lai gần [5]

Tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng do ba yếu tốquan trọng: tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng lên Tổng tỷsuất sinh (TFR) giảm từ 5,25 vào năm 1975 xuống 3,8 vào năm 1989 và 2,03vào năm 2009 Tuổi thọ trung bình của dân số là 72,8 tuổi vào năm 2009, tăng4,6 tuổi và 8 tuổi so với năm 1999 và 1989 Những thập kỷ qua, cơ cấu tuổidân số Việt Nam biến động mạnh theo hướng: tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngàycàng giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-59) tăng lên; và tỷ lệ ngườicao tuổi (từ 60 trở lên) cũng tăng nhanh [10] Tuổi thọ trung bình của ViệtNam từ 68,6 tuổi (năm 1999) tăng lên 72,2 tuổi (năm 2005), dự kiến sẽ là 75tuổi vào năm 2020 Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “dân số già” vào năm

2017 Tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số đã tăng từ 6,9% (năm 1979) lên9,5% (năm 2007) Tỷ lệ này dự kiến là 11,2% vào năm 2020 và sẽ tăng lên tới28,5% năm 2050 [13] (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Số lượng và tỉ lệ người cao tuổi ở Việt Nam [2]

Năm Số dân cả nước

(triệu người)

Số người trên 60 tuổi (triệu người)

Tỷ lệ người trên 60 tuổi (%)

Trang 18

1.2 Tình trạng mất răng toàn bộ ở người cao tuổi và các phương pháp điều trị mất răng toàn bộ

1.2.1 Tình trạng mất răng toàn bộ ở người cao tuổi

Trên thế giới, các bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi phổ biến hơn sovới người trẻ Tỷ lệ mất răng khác biệt giữa các quốc gia và khu vực, phổbiến hơn ở các nước phát triển [44] Wu và cs (2012) tìm thấy tỷ lệ mất răng

toàn bộ khác biệt ở những người trên 50 tuổi trong năm nhóm sắc tộc ở Hoa Kỳ:người Mỹ gốc Châu Á, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Tây Ban Nha, người

Mỹ bản địa, và những người da trắng không phải gốc Tây Ban Nha Dolan và cs(2001) báo cáo 19% người từ 45 tuổi trở lên ở Mỹ mất răng toàn bộ, và Medina-Solis và cs (2008) cho thấy ở Mexico tỷ lệ mất răng toàn bộ dao động từ 2% ởnhóm 35-44 tuổi đến 26% trên nhóm 65-74 tuổi Báo cáo tổng quan của Muller(2007) về các nghiên cứu cắt ngang và nghiên cứu lâm sàng cho thấy tỷ lệ mấtrăng toàn bộ trong thập niên 90 ở những người 75 tuổi ở thành phố Thụy Điển,Đan Mạch và Phần Lan lần lượt là 27%, 45% và 58% Năm 2003, Mojon chothấy tỷ lệ mất răng toàn bộ từ 0% đến 72% trên nhóm tuổi từ 65 đến 74 tuổi ởChâu Âu Điều tra sức khỏe răng miệng năm 2009 của Anh báo cáo rằng tỷ lệmất răng toàn bộ là 5% trên nhóm 55-64 tuổi và 15% với nhóm từ 65-74 tuổi[61] Nghiên cứu của Peltzer và cs (2014) cho thấy tỷ lệ mất răng toàn bộ trênnhóm từ 50 tuổi trở lên ở Ấn Độ là 16,3%, Mêxicô là 21,7%, và Nga là 18,0%cao hơn so với Trung Quốc 9,0 % Ghana 3,0% và Nam Phi 8,5% [61]

Tại Việt Nam, năm 2007, nghiên cứu của Trương Mạnh Dũng cho thấy

tỷ lệ mất răng toàn bộ trên người cao tuổi ở một phường của thành phố HàNội là 2,8 % [3] Nghiên cứu của La Thanh Tân (năm 2012) báo cáo tỷ lệngười cao tuổi mất răng toàn bộ tại Cần Thơ là 19,9% [11] Nghiên cứu củaHồng Xuân Trọng năm 2013 về thực trạng mất răng tại các cơ sở chăm sóc

Trang 19

người cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 31,9% người cao tuổi cónhu cầu phục hình tháo lắp toàn bộ [17].

1.2.2 Các phương pháp điều trị mất răng toàn bộ

Quá trình cơ bản để chế tạo phục hình tháo lắp toàn bộ hiện nay thayđổi rất ít, tuy nhiên đã có những vật liệu và kỹ thuật mới để cung cấp phục hồi

có thẩm mỹ và chức năng cho bệnh nhân [52] Quá trình điều trị phục hìnhtháo lắp toàn bộ thông thường gồm các giai đoạn: khám – lên kế hoạch điềutrị- lấy dấu sơ khởi- làm vành khít, lấy dấu sau cùng- ghi tương quan hai hàm,lên giá khớp-thử răng- giao hàm- chữa đau [48] Bên cạnh đó, phương phápđiều trị phục hình nâng đỡ trên implant có thể cung cấp sự lưu giữ cho cácphục hình tháo lắp toàn bộ, tuy nhiên phương pháp điều trị này có chi phí cao,vượt quá khả năng tài chính của nhiều bệnh nhân [52] Bên cạnh đó, bệnhnhân cao tuổi thường không thích điều trị phẫu thuật hoặc các điều trị đắt tiền.Implant đường kính nhỏ (mini-implant) có ưu điểm là giúp bệnh nhân giảmbớt sự bận tâm nhờ vào giá thành thấp hơn, quy trình đặt implant hay tích hợpimplant với hàm giả đơn giản hơn, có thể không cần ghép xương [53]

1.3 Dinh dưỡng ở người cao tuổi

Dinh dưỡng và sức khoẻ liên quan chặt chẽ với nhau Chế độ dinhdưỡng không thích hợp hoặc hấp thụ kém sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt dinhdưỡng có biểu hiện lâm sàng rõ hoặc không có biểu hiện, điều này có thể ảnhhưởng đáng kể đến sức khỏe của người cao tuổi Suy dinh dưỡng là vấn đềthường gặp ở những người cao tuổi trên khắp thế giới

Các vấn đề về dinh dưỡng có thể là kết quả của những thay đổi liênquan đến quá trình lão hóa, từ bệnh tật hoặc các tình trạng sức khỏe khác, từcác tương tác với thuốc, hoặc kết hợp những điều này Sự thiếu hụt nghiêmtrọng nhất, suy dinh dưỡng năng lượng protein, ảnh hưởng đến 2-4% ngườicao tuổi trong cộng đồng và là yếu tố tiên lượng chính cho tử vong ở người

Trang 20

cao tuổi [71], [59] Nhiều bằng chứng về sự suy dinh dưỡng ở người lớn tuổi,đặc biệt là những người nhập viện, với nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suydinh dưỡng từ 20% đến 70% [80] Ngay cả những người không bị suy dinhdưỡng vẫn có thể thiếu nhiều chất dinh dưỡng chủ yếu như protein và có thểkhông đáp ứng khẩu phần ăn được khuyến nghị cho nhiều chất dinh dưỡngkhác [8] Lượng ăn vào thiếu hụt calo, axit folic, vitamin D, vitamin B6,canxi, vitamin B12, và kẽm đã được báo cáo ở những người lớn tuổi trên 60tuổi Tuy nhiên hiếm khi thiếu hụt một chất dinh dưỡng riêng lẻ Tình trạngphổ biến hơn là giảm lượng thức ăn tiêu thụ dẫn đến sự thiếu hụt đa dưỡngchất [50].

Nhu cầu dinh dưỡng và chế độ ăn uống thay đổi ở người lớn tuổi dohậu quả của việc thay đổi thành phần cơ thể hoặc thay đổi sinh lý có ảnhhưởng đến tình trạng dinh dưỡng được tóm tắt trong bảng 1.2 (trang 10) Tuynhiên, tầm quan trọng của việc thay đổi chế độ ăn uống để phù hợp nhu cầudinh dưỡng không được thông tin tốt đến người cao tuổi nói chung và đặc biệtđối với người có sức khỏe yếu, khó di chuyển [80]

Ngoài ra, còn có một số thay đổi xã hội và chức năng có ảnh hưởng đến

sự tiêu thụ thực phẩm Những vấn đề này bao gồm khó khăn trong việc muasắm thực phẩm, nguyên nhân có thể do khó khăn di chuyển, khả năng thể chất

để mang vật nặng và thị lực giảm Các yếu tố tâm lý xã hội có thể đóng vaitrò lớn hơn cả về thể chất, y tế, và các vấn đề về nha khoa trong việc xác địnhsức khoẻ ở người cao tuổi Người cao tuổi đặc biệt có nguy cơ suy dinhdưỡng bao gồm những người sống một mình, người tàn tật không được chămsóc đầy đủ, người bị cô lập, người mắc bệnh mạn tính và/hoặc chế độ ănkiêng nghiêm ngặt, và người già [8] Nghèo cũng là một đóng góp lớn dẫnđến suy dinh dưỡng Người cao tuổi có thể giảm tình trạng kinh tế do kết quảcủa nghỉ hưu, lạm phát, tăng chi phí chăm sóc sức khoẻ và tử vong của người

Trang 21

có thu nhập [63] Ngoài ra, sự phiền muộn, lo lắng và cô đơn có thể làm giảmmong muốn việc chuẩn bị và ăn thức ăn, liên quan đến chán ăn, giảm cân, làmtăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở người cao tuổi [80], [59].

Việc thưởng thức thực phẩm cũng gắn bó mật thiết với cảm giác đặcbiệt về mùi và vị, có liên quan đến tuổi tác Sự giảm dần độ nhạy cảm của cácnhú vị giác, sự nhận biết mùi vị ảnh hưởng đến những niềm vui liên quan vớiviệc ăn thực phẩm ở những người lớn tuổi Những thay đổi này càng trở nêntrầm trọng hơn ở những người có chứng khô miệng

Bất kể nguyên nhân nào, sự thất bại trong ăn uống và thiếu dinh dưỡngdẫn đến tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh tật và kéo dài thời gian nằm viện

ở người cao tuổi; bổ sung chất dinh dưỡng trong quần thể này có thể có mộtlợi ích đáng kể về sức khỏe

Bảng 1.2 Sự thay đổi thành phần cơ thể hoặc chức năng sinh lý [80]

Chế độ ăn uống Thay đổi sinh lý Tác động

Năng lượng Thành phần cơ thể bị thay đổi

giảm lượng cơ bắp và tăng tương đối mô mỡ và mô liên kết Giảm mức độ hoạt động thể chất đặc biệt với bệnh mạn tính.

Đòi hỏi giảm năng lượng nhưng không yêu cầu thay đổi vi chất dinh dưỡng, cần một chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng hơn.

Vitamin D Thay đổi hiệu quả tổng hợp

vitamin D của da do khuynh hướng giảm tiếp xúc với ánh sáng mặt trời khi gia tăng tuổi tác.

Cần bổ sung vi chất dinh dưỡng mức 10–15 μg/ ngày

Vitamin B12 Thay đổi pH dạ dày, đặc biệt

là chứng viêm teo dạ dày, dẫn đến giảm hấp thu B12.

Cần bổ sung vi chất dinh dưỡng mức 15-25 μg/ ngày

Trang 22

Một yếu tố cần được xem xét trên những người cao tuổi, những người

bị bệnh là họ giảm khả năng cân bằng năng lượng sau một khoảng thời gian

ăn ít hoặc nhiều Vì vậy, những người bị bệnh cấp tính, có thể có chế độ ănkiêng hạn chế, giảm khả năng trở lại chế độ ăn bình thường khi tuổi càngtăng Hơn nữa, có rất nhiều bệnh toàn thân có thể liên quan đến bệnh răngmiệng ở người già mà dinh dưỡng ở hiện tại hoặc quá khứ, đóng một vai tròquan trọng trong bệnh căn của họ, bao gồm hội chứng chuyển hóa và đái tháođường cũng như bệnh tim mạch và ung thư

Sức khoẻ và chức năng miệng cũng có quan hệ chặt chẽ với tình trạngdinh dưỡng Miệng là đường vào đầu tiên của thực phẩm; giới hạn của tìnhtrạng chức năng miệng là một trong những biến số có liên quan đến thay đổinhững thói quen và sự lựa chọn chế độ ăn uống Như vậy, thay đổi tình trạngchức năng miệng có nhiều khả năng xảy ra ở người lớn tuổi vì hầu hết cácbệnh về miệng và mất răng là các quá trình không hoàn nguyên Hơn nữa,việc thưởng thức thực phẩm như là một hệ quả của chức năng miệng, các chấtkích thích từ thực phẩm bị phá vỡ và giải phóng, có thể hòa tan trong nướcbọt cho nụ vị giác ở lưỡi hoặc ở dạng khí cho các thụ cảm mùi trong hầu mũi

Bên cạnh đó, kết cấu của thực phẩm cũng rất quan trọng Hiệu quả nhaigiảm trên người mất răng, gây khó khăn hơn trong việc nhai thực phẩm.Người ta sẽ không chọn các thực phẩm có kết cấu thức ăn gây khó nhai hoặcgây khó chịu trong môi trường miệng Như một quy tắc, nếu người ta nhậnthấy một loại thực phẩm cụ thể khó nhai, họ sẽ tránh chọn thực phẩm này Cónhững nhóm thực phẩm khó nhai như rau tươi, các hạt ngũ cốc, và một số tráicây…Do đó, giảm lượng trái cây, rau và các chất dinh dưỡng quan trọng [80]

Trang 23

1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng với người cao tuổi

1.3.1.1 Nhu cầu về năng lượng

Có sự thay đổi về thành phần cơ thể khi tuổi gia tăng, với sự giảm khối

cơ bắp, và tăng tỷ lệ tương đối mô mỡ và mô liên kết Tình trạng tệ nhất làchứng mất cơ (sarcopenia) dẫn đến sự giảm đáng kể các hoạt động cơ đơngiản và trong những tư thế, góp phần gây mất cân bằng và dễ té ngã ở tuổigià Ngay cả khi tỷ lệ giảm “bình thường”, lực cơ cũng giảm không ngừng, vàkết quả là năng lượng cần thiết cho hoạt động trao đổi chất cơ bản giảm [80]

Lợi ích của việc tập thể dục để duy trì khối cơ bắp vẫn tiếp tục trênnhững người lớn tuổi; những người tập thể dục thường xuyên sẽ giảm hoặcngăn ngừa sự mất cơ bắp Bên cạnh đó, chứng mất cơ tác động lên hoạt động

cơ, khuynh hướng làm giảm sự linh hoạt của cơ khi càng lớn tuổi Xu hướngnày trầm trọng hơn ở những người bị bệnh mạn tính, suy yếu khả năng vậnđộng, ví dụ như những người có viêm khớp dạng thấp hoặc những người béophì

Kết quả của việc giảm số lượng cơ và giảm hoạt động thể chất là giảmnhu cầu năng lượng cơ bản hàng ngày Người cao tuổi cần ăn ít hơn người trẻ

để tránh tăng cân [80]

1.3.1.2 Protein ăn vào

Protein cần cho nhiều mục đích, bao gồm duy trì cơ xương cũng nhưmột nguồn cung cấp năng lượng Cho dù cần có khẩu phần protein khác chongười cao tuổi so với người trẻ hơn nhưng vẫn có sự tranh luận đáng kể trong

y văn Điều này phản ánh sự kết hợp của giảm khối cơ xương ở người lớn tuổigợi ý rằng lượng protein nên ít hơn Tuy nhiên, các nghiên cứu cân bằng nitơcho thấy người lớn tuổi đòi hỏi ít nhất là nhiều protein như những người trẻtuổi Một báo cáo cơ quan tiêu chuẩn thực phẩm châu Âu gần đây đã kết luậnrằng không có sự khác biệt trong mức nhu cầu trung bình của dân số với

Trang 24

protein cho người trưởng thành Lưu ý rằng nhu cầu năng lượng giảm ở ngườicao tuổi gợi ý rằng những người lớn tuổi nên có tỷ lệ protein / năng lượng caohơn trong khẩu phần ăn của họ vì nhu cầu năng lượng của họ thấp hơn (phụlục 6).

1.3.1.3 Vi chất dinh dưỡng

Hiện tại không có khuyến cáo giảm lượng vi chất hàng ngày đối vớingười cao tuổi, các khuyến cáo hiện nay giống nhau cho người trưởng thànhtrên 20 tuổi Như vậy, người lớn tuổi cần thay đổi thói quen ăn của họ nếumuốn duy trì lượng vi chất dinh dưỡng khi lượng năng lượng ăn vào giảm.Người cao tuổi cần ăn nhiều chế độ ăn nhiều dinh dưỡng (loại chứa nhiều vichất dinh dưỡng cho mỗi đơn vị năng lượng) Ví dụ chế độ ăn uống cần tráicây, rau và hàm lượng ngũ cốc tương đối cao hơn với một lượng thích hợpchất béo Protein và carbohydrate là một hình thức hợp lý cung cấp phần lớnnăng lượng ăn vào chứ không phải chất béo, vì chúng tạo ra ít năng lượng hơnchất béo và cũng tạo ra cảm giác no tốt hơn chất béo [1], [79] Mức tiêu thụchất béo sao cho năng lượng do chất béo cung cấp trong khẩu phần trongkhoảng 18-25% năng lượng cần thiết [18]

1.3.1.4 Thay đổi chức năng sinh lý

Có hai nguồn vitamin D ở người: chế độ ăn uống và tổng hợp ở da Sựtổng hợp ở da phụ thuộc vào sự tiếp xúc của da với ánh sáng mặt trời phùhợp, khi ánh sáng mặt trời đủ kích hoạt các quá trình tổng hợp Hoạt độngtổng hợp này giảm dần theo tuổi tác và người cao tuổi ít có khả năng ra ngoàitiếp xúc ánh sáng mặt trời trực tiếp so với những người trẻ tuổi Khi tuổi thọtăng, người lớn tuổi tăng tiêu thụ vitamin D bằng đường ăn uống để bù đắp sựgiảm hiệu quả tổng hợp vitamin D tại da khi da giảm tiếp xúc với ánh sángmặt trời Điều này có thể đạt được bằng cách bổ sung vitamin D thay vì chỉthay đổi chế độ ăn uống

Trang 25

Có thể có sự thay đổi trong việc hấp thụ một số chất dinh dưỡng do hậuquả của sự thay đổi trong ruột, ví dụ độ acid của dạ dày là cần thiết để hấp thumột số phức hợp vitamin B, đặc biệt là B12 PH dạ dày tăng khi gia tăng tuổi,rất có thể là kết quả của tình trạng viêm dạ dày tá tràng phổ biến ở người trên

65 tuổi

1.3.2 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc điểmcấu trúc, các chỉ số hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánhmức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng [1]

Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụngcác chất dinh dưỡng của cơ thể

Có một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trongđánh giá tình trạng dinh dưỡng như sau:

- Nhân trắc học

- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống

- Các thăm khám thực thể, các dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới cáctriệu chứng thiếu dinh dưỡng

- Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hoá sinh ở dịch thể và các chấtbài tiết (máu, nước tiểu ) để phát hiện mức bão hoà chất dinh dưỡng

- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận dothiếu hụt dinh dưỡng

- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong Sử dụng các thống kê y tế để tìmhiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng

- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng vàsức khoẻ

Trang 26

1.3.2.1 Dựa vào chỉ số nhân trắc học và các thành phần cơ thể

Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước

và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Phương pháp nhân trắchọc có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫulớn Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển Có thể khai thác đánh giá đượccác dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác định được mức

độ suy dinh dưỡng Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một vàinhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡngtrong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡngđặc hiệu

Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:

 Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng

 Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao

 Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các

mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ

Trọng lượng cơ thể và chiều cao có thể được sử dụng để xác định chỉ

số khối cơ thể (BMI) Tổ chức Y tế Thế giới phân loại tình trạng dinh dưỡngtheo giá trị chỉ số BMI: nhẹ cân (<18,5), bình thường (18,5-25), thừa cân(>25) và béo phì (>30) [85]

Tháng 2 năm 2000, cơ quan khu vực Thái Bình Dương của Tổ chức Y

tế thế giới (WPRO) và Hội nghiên cứu béo phì quốc tế đã phối hợp với Việnnghiên cứu Bệnh đái tháo đường Quốc tế (IDI), Trung tâm hợp tác Dịch tễhọc đái tháo đường, và các bệnh không lây của Tổ chức Y tế thế giới đã đưa

ra khuyến nghị về chỉ tiêu phân loại béo phì cho cộng đồng các nước châu Á(IDI & WPRO, 2000) theo BMI như sau: nhẹ cân (<18,5), bình thường (18,5-23), thừa cân-béo phì (> 23) [83]

Trang 27

Chiều dài cánh tay, chiều dài cẳng chân hay chiều dài nửa người cũngđược dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng.

1.3.2.2 Dựa vào chỉ số hóa sinh

Đo nồng độ các chất dinh dưỡng trong các mẫu máu (huyết tương hoặchuyết thanh), nước tiểu, nước bọt, tóc và móng tay có thể cung cấp đo lườngkhách quan về tình trạng dinh dưỡng và có thể liên quan đến chế độ ăn uốnggần đây, hay lâu dài Hầu hết đều là yếu tố dự đoán không trực tiếp lượngchất dinh dưỡng ăn vào nhưng nồng độ rất nhạy với sự thay đổi trong chế độ

ăn uống Mẫu máu thường được sử dụng nhất [54]

Nồng độ trong huyết tương của các vitamin chống oxy hóa (A, C, E vàcarotenoid) có thể được sử dụng như một dấu ấn sinh học của lượng tiêu thụtrái cây và rau [73]

Những người mất răng và giảm chức năng bộ răng, đặc biệt người già

có nguy cơ gia tăng sự thiếu hụt folate và vitamin B12 do thay đổi chức năngtiêu hóa Nồng độ vitamin B12, folate và B6 trong huyết tương hoặc huyếtthanh cung cấp một chỉ số về tình trạng dinh dưỡng Nghiên cứu của Krall vàcộng sự (1998) đã cho thấy nồng độ thấp folate và vitamin B6 trong huyếttương người mất răng [45]

1.3.2.3 Đánh giá dinh dưỡng tối thiểu- MNA (Mini Nutrition Assessment)

Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (Minimal NutritionAssessment - MNA) dùng để xác định nguy cơ suy dinh dưỡng trên bệnhnhân trên người cao tuổi [56], [75]

Năm 1991, MNA được tác giả Guigoz xây dựng và cho thấy đây làcông cụ có giá trị, độ tin cậy cao cho mục tiêu đánh giá nguy cơ suy dinhdưỡng trên người cao tuổi [75],[36] Công cụ này đã được sử dụng rộng rãitrên thế giới [37]

Trang 28

MNA là một công cụ đánh giá đơn giản, nhanh chóng tình trạng dinhdưỡng ở người cao tuổi MNA đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và có giá trị

ở nhiều nơi: phòng khám, bệnh viện, viện dưỡng lão trên toàn thế giới Mụcđích của MNA là để đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng nhằm cho phép canthiệp dinh dưỡng sớm khi cần thiết MNA gồm 18 mục về các phép đo đơngiản và ngắn gọn, các câu hỏi tự trả lời có thể được hoàn thành nhanh chóng,trong vòng chưa đầy 10 phút:

 Đo nhân trắc (cân nặng, chiều cao và trọng lượng mất, chu vi giữa cánhtay, chu vi bắp chân)

 Đánh giá toàn thể (6 câu hỏi liên quan đến lối sống, thuốc men, và sựvận động, sự hiện diện của stress cấp tính, và sự hiện diện của sa sút trí tuệhoặc trầm cảm)

 6 câu hỏi chế độ ăn như số lượng bữa ăn tiêu thụ, loại thực phẩm vàlượng nước uống, và khả năng ăn tự chủ

 Đánh giá chủ quan (tự nhận thức về sức khỏe và dinh dưỡng)

Tình trạng dinh dưỡng người cao tuổi phân loại dựa vào tổng số điểmMNA: tình trạng dinh dưỡng đầy đủ khi MNA ≥ 24; suy dinh dưỡng proteinnăng lượng, MNA< 17; có nguy cơ bị suy dinh dưỡng 17 ≤ MNA ≤ 23,5

Với số điểm này: độ nhạy (khả năng phát hiện suy dinh dưỡng) là 96%;

độ đặc hiệu (khả năng phân loại dinh dưỡng tốt một cách chính xác) là 98%;giá trị tiên đoán là 97% [39], [76]

Thang đo MNA cũng được tìm thấy để tiên đoán số tử vong và phí tổnnằm viện Quan trọng nhất là nó có thể giúp phát hiện những người có nguy

cơ suy dinh dưỡng (điểm từ 17–23,5) trước khi có thay đổi về cân nặng vànồng độ albumin xảy ra Thiết kế này làm MNA là công cụ sàng lọc thích hợphơn những công cụ khác để phát hiện nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinhdưỡng ở giai đoạn sớm [37]

Trang 29

1.3.3 Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan điều trị phục hình và tình trạng dinh dưỡng

Bảng 1.3 Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan điều trị phục hình và tình trạng dinh dưỡng

Tác giả- Mục tiêu nghiên

Đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân, MNA sau 1 năm điều trị.

BN điều trị PHTLTB có nguy cơ thiếu dinh dưỡng cao hơn.

Allen (2005)

Mối liên quan giữa chế độ

ăn, các yếu tố kinh tế- xã

hội và CLCS-SKRM trên

BN mất răng toàn bộ [21]

35 bệnh nhân mất răng toàn bộ từ 52 đến 77 tuổi Đánh giá OHIP-EDENT, MNA, bảng câu hỏi về khả năng nhai thức ăn trước

và sau điều trị 2 tháng

CLCS - SKRM và sự hài lòng với hàm giả cải thiện đáng kể Tình trạng dinh dưỡng không cải thiện sau 2 tháng.

Cải thiện khả năng nhai sau điều trị nhưng tình trạng dinh dưỡng qua các giá trị MNA, abumin, kẽm không thay đổi, nồng

độ pre-albumin huyết thanh giảm

giá tình trạng dinh dưỡng

trên BN mang hàm tháo lắp

toàn bộ [64]

94 bệnh nhân mất răng toàn bộ từ 58-80 tuổi Đánh giá chỉ số MNA trước, sau điều trị 6 tháng, 9 tháng.

Tình trạng dinh dưỡng được cải thiện sau điều trị phục hình tháo lắp toàn bộ.

Điều trị PHTLTB cải thiện khả năng nhai, cân nặng, dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống.

Đánh giá khẩu phần ăn, BMI, chỉ số hóa sinh huyết thanh.

Điều trị PH cải thiện tình trạng dinh dưỡng.

Trang 30

1.4 Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe răng miệng trên người cao tuổi

1.4.1 Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe răng miệng và người cao tuổi

Trong các tài liệu y khoa và nha khoa mới đây, “chất lượng cuộc sống”(CLCS) trở thành một thuật ngữ phổ biến Trong nỗ lực đánh giá sức khoẻ vàchất lượng cuộc sống, “chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ” đangđược sử dụng rộng rãi Các thuật ngữ khác sử dụng bao gồm “tình trạng sứckhoẻ chủ quan” và tình trạng “chức năng” [30]

CLCS liên quan sức khỏe là mức độ khỏe mạnh của một người về thểchất, tinh thần và xã hội bị ảnh hưởng bởi bệnh tật hay việc điều trị bệnh VàCLCS-SKRM là một thành phần của CLCS-SK, là một cấu trúc đa chiềuphản ánh sự thoải mái của một người khi ăn, ngủ và tham gia vào các mốiquan hệ xã hội; lòng tự trọng, sự hài lòng của họ với SKRM của mình [33].Trong mô hình về môi trường - xã hội của sức khoẻ, mỗi lĩnh vực khái niệmriêng biệt đều được xem xét; bản chất phức tạp đa chiều của sức khoẻ baogồm cả ảnh hưởng về văn hoá, môi trường và tâm lý xã hội

Có mối quan hệ phức tạp giữa sức khoẻ, bệnh tật và chất lượng cuộcsống và bản chất của các mối quan hệ liên quan chưa được định nghĩa rõ ràng.Năm 1988, Locker [47] đề xuất một mô hình để giải thích tương tác giữa sứckhỏe răng miệng, bệnh tật và chất lượng cuộc sống (hình 1.1)

Một trong những mục đích của việc quản lý bệnh tật trên những ngườitrẻ là ngăn chặn sự tiến triển của bệnh, giảm bất kỳ sự suy yếu nào do mấtrăng hoặc tổn thương răng ở giai đoạn sớm Việc phát hiện sớm và quản lýcác bệnh lý răng miệng là trọng tâm của chăm sóc sức khoẻ răng miệng Khingười điều trị quan tâm mục tiêu của các phương pháp điều trị nha khoa trênmỗi cá nhân hoặc đánh giá sự thành công của các dịch vụ chăm sóc SKRM,

Trang 31

mô hình khái niệm đo lường SKRM (hình 1.1) có thể giúp chúng ta hiểu tácđộng của nha khoa và các dịch vụ chăm sóc răng miệng lên “CLCS-SKRM”.Hiểu tác động của can thiệp điều trị là một bước cơ bản để hiểu những gì mànha sĩ và các dịch vụ nha khoa sẽ đem lại Theo đó, các tiêu chuẩn mới tậptrung vào trải nghiệm về mặt tâm lý, xã hội của một người và các chức năngthực thể trong việc xác định mục tiêu và kết quả điều trị thích hợp Quan điểmtiếp cận này tập trung vào bệnh nhân chứ không chỉ tập trung vào bệnh [29].

Hình 1.1 Mô hình khái niệm đo lường SKRM của Locker (1988)[47].

Ở người cao tuổi, việc quản lý tất cả các bệnh có thể không khả thi,không hiệu quả về chi phí Do đó, chăm sóc nha khoa ở người lớn tuổi vẫnliên quan đến việc chặn đứng bệnh tật, nhưng không luôn là mục tiêu điều trịchủ yếu Mục đích quan trọng là phục hồi chức năng trên quan điểm về dinhdưỡng Mục đích khác có thể là nhằm duy trì hoặc cải thiện chất lượng cuộcsống [58]

1.4.2 Khung lý thuyết để đo lường sức khoẻ răng miệng

Khái niệm về chất lượng cuộc sống có thể hữu ích cho việc đưa raquyết định, bao gồm các quyết định lâm sàng; nhưng để làm điều đó chúng taphải có khả năng đo lường nó Đo lường chất lượng cuộc sống cho phépngười dân hiểu, thông tin mọi thứ từ chính sách y tế đến hiệu quả của các canthiệp cá nhân Đo lường chất lượng cuộc sống là một khái niệm thách thức,

Trang 32

nhất là vì trải nghiệm của mỗi người mang tính chất cá nhân cao Tuy vậy,người ta đã thiết lập một số công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ, dựa trên tácđộng của sức khoẻ răng miệng đối với cá nhân Ngày nay, các đo lường này

đã được sử dụng rộng rãi và trở thành công cụ đại diện tốt nhất cho các đolường chất lượng cuộc sống liên quan sức khoẻ răng miệng Một số đo lườngxem xét các tác động tiêu cực của các vấn đề liên quan đến răng miệng và sắpxếp chúng theo một cấu trúc, một số đo lường khác cố gắng nắm bắt cả ảnhhưởng tích cực và tiêu cực [29]

Cơ sở của một số công cụ đo lường này là khung khái niệm để đolường tình trạng sức khoẻ răng miệng được mô tả bởi Locker [47] thể hiệntrong hình 1.1, dựa trên phân loại WHO về sự suy yếu, không thoải mái vàtàn tật [82] Mô hình này đã nắm bắt các tác động của bệnh răng miệng lêncác mặt chức năng và tâm lý-xã hội [29]

Cơ bản, có hai loại đo lường CLCS liên quan SKRM, đó là thang đotổng quát và bộ câu hỏi nhiều mục về CLCS liên quan SKRM [58]

Thang đo tổng quát về CLCS liên quan SKRM là phương pháp đánhgiá CLCS liên quan SKRM dựa trên câu trả lời cho một câu hỏi duy nhất

Phương pháp đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe răng miệng(SKRM) bằng bộ câu hỏi dựa trên câu trả lời cho nhiều câu hỏi trong bộ câuhỏi Bộ câu hỏi được thiết kế để hỏi về các khía cạnh cụ thể trong CLCS-SKRM, do đó, đánh giá toàn diện hơn về CLCS-SKRM và được sử dụng rộngrãi trong cả nghiên cứu dịch tễ và thực hành lâm sàng

Nhiều công cụ đo lường CLCS liên quan SKRM đã được hình thành,trong đó hai công cụ thông dụng trong đánh giá CLCS ở người mất răng toàn

bộ là chỉ số tác động SKRM (OHIP) và chỉ số đánh giá SKRM cho người caotuổi (GOHAI) [22]

Trang 33

1.4.3 Chỉ số tác động sức khỏe răng miệng (Oral Health Impact OHIP)

Profile-Bộ câu hỏi OHIP được giới thiệu bởi Slade và Spencer (1994), là mộttrong những công cụ phổ biến nhất để đánh giá CLCS-SKRM [66] Bộ câuhỏi này gồm 49 mục hay câu hỏi, thể hiện 7 lĩnh vực mà SKRM tác động lênCLCS như: hạn chế về chức năng, đau thực thể, không thoải mái về tâm lí,thiểu năng về thể chất, tâm lí, xã hội và tàn tật Người được phỏng vấn sẽ trảlời theo thang đo Likert 5 điểm về tần suất xảy ra của các vấn đề trên trongmột khoảng thời gian, 5 điểm của thang đo là “không bao giờ” (0 điểm),

“hiếm khi” (1 điểm), “thỉnh thoảng” (2 điểm), “khá thường xuyên” (3 điểm),

“rất thường xuyên” (4 điểm) Theo đó, chất lượng cuộc sống sẽ tỉ lệ nghịchvới tổng số điểm thu được

OHIP hỏi cụ thể về vấn đề với răng, miệng hay hàm giả, do đó phù hợp

để đánh giá CLCS-SKRM của bệnh nhân có điều trị phục hình Tuy nhiên,bệnh nhân mất nhiều thời gian để hoàn thành bộ câu hỏi gồm nhiều câu hỏi,làm mức độ hoàn thành các câu hỏi giảm đi, nhất là bệnh nhân lớn tuổi Do

đó, một bộ câu hỏi ngắn có nhiều lợi thế hơn

Năm 1997, tác giả đã công bố phiên bản OHIP-14 gồm 14 câu hỏi đượcxác nhận đạt kết quả so sánh như OHIP-49 [67] Cũng như OHIP-49, OHIP-

14 được dùng chung cho các bệnh nhân nha khoa

Năm 2002, Allen công bố bộ câu hỏi OHIP-19 dành cho những bệnhnhân mất răng (OHIP-EDENT- Oral Health Impact Profile for EdentulousPatient), gồm 19 câu hỏi thuộc 7 lĩnh vực là một trong số ít các chỉ số đượcthiết kế riêng để đánh giá CLCS liên quan SKRM trên bệnh nhân mất răng.OHIP-19 có độ nhạy cao trong phát hiện thay đổi CLCS-SKRM ở nhữngbệnh nhân mất răng sau điều trị [20] Tại Việt Nam, OHIP-19 đã được LữLam Thiên và cs chuyển ngữ, và được chứng minh là một công cụ có tính giá

Trang 34

trị và độ tin cậy cao trong đo lường CLCS liên quan SKRM ở người Việt mấtrăng [5].

1.4.4 Chỉ số đánh giá sức khoẻ răng miệng cho người cao tuổi (Geriatric Oral Health Assessment Index - GOHAI)

Năm 1990, Atchison và Dolan đã phát triển bộ câu hỏi đánh giá sứckhỏe răng miệng cho người cao tuổi [23] Bộ câu hỏi GOHAI có 12 câu hỏitích cực và tiêu cực đánh giá những khía cạnh của SKRM-CLCS: chức năngthực thể, đau và sự không thoải mái, chức năng tâm lý - xã hội Các đối tượngtham gia nghiên cứu được hỏi về tần số xuất hiện những vấn đề răng miệng,

sử dụng thang điểm 5 của Likert (“luôn luôn” = 5 đến “không bao giờ” = 1).Khác với OHIP, điểm số GOHAI tỉ lệ thuận với CLCS-SKRM

GOHAI là một công cụ đo cho thấy có độ tin cậy cao [23], và nghiêncứu của Slade (1997) cho thấy tính giá trị của chỉ số này Đây là đo lườngthích hợp để đánh giá hiệu quả của điều trị [68]

Trang 35

1.4.5 Một số nghiên cứu về điều trị phục hình và CLCS- SKRM

Bảng 1.4 Tóm tắt một số nghiên cứu về điều trị phục hình và CLCS- SKRM

CLCS-SKRM cải thiện trên 96% đối tượng

CLCS-SKRM không cải thiện sau khi khi thay thế PHTLTB hai hàm 3 tháng.

Veyrune (2005)

Đánh giá tác động của PHTLTB trên BN mất răng

toàn bộ [77]

26 bệnh nhân mất răng toàn bộ

Đánh giá GOHAI lúc trước điều trị, giao hàm, sau 6 tuần, 12 tuần, 18 tuần.

CLCS-SKRM không cải thiện sau 6 tuần nhưng cải thiện đáng

bệnh nhân được cải thiện sau khi mang PHTLTB hai hàm 1 tháng.

Đánh giá 11 câu hỏi trong OHIP-19.

PHTLTB có tác động tích cực lên CLCS- SKRM và sự hài lòng của BN.

CLCS-SKRM cải thiện sau điều trị Cải thiện lưu giữ hàm giả hàm dưới, thẩm mỹ và phát âm thì ảnh hưởng đến CLCS- SKRM.

Jenei A (2015)

Đánh giá CLCS trên BN

điều trị PH [39]

389 BN điều trị PH Đánh giá OHIP-49 sau 1; 6

và 12 tháng.

CLCS- SKRM cải thiện đáng kể sau khi mang PH 1; 6 và 12 tháng.

Trang 36

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đây là nghiên cứu mô tả theo dõi trước-sau

2.2 Địa điểm - Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân mất răng toàn bộ đến điều trị phục hình tại khu điều trị 3khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh, khoa Lão nha Bệnhviện Răng Hàm Mặt Trung Ương Tp Hồ Chí Minh, và khoa Lão Nha Bệnhviện Răng Hàm Mặt Tp Hồ Chí Minh từ tháng 11/2016 đến tháng 3/2017

Với α=0,05, 𝑍1−𝛼/2 = 1,96; β=0,1, 𝑍1−𝛽 = 1,2816σ: độ lệch chuẩn của độ chêch lệch giá trị trung bình trước và sau điềutrị;

δ: độ chênh lệch giá trị trung bình trước và sau điều trị

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, dựa vào trung bình BMI theo nghiêncứu của Goel [42]: δ= 0,66; σ=0,58; n=29,2

Đánh giá chất lượng cuộc sống, dựa vào trung bình điểm số OHIP-19trong nghiên cứu của Komagamine [43]: δ= -10,06; σ=13,42; n= 39,4

Để dự phòng mất mẫu trong quá trình theo dõi 20%, cỡ mẫu tối thiểu làn= 50

Trang 37

2.2.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- 60 tuổi trở lên;

- Bệnh nhân mất răng toàn bộ hai hàm được điều trị với phương phápPHTLTB hai hàm thông thường;

- Đồng ý tham gia nghiên cứu;

- Bệnh nhân có khả năng nghe, hiểu các câu hỏi;

- Bệnh nhân có thể đứng thẳng để có thể đo chiều cao, cân nặng

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

2.3 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương tiện nghiên cứu

- Thước thẳng độ chính xác 0,01 m

- Thước dây có độ chính các 0,01m

- Cân điện tử độ chính xác 0,1 kg

- Bản chấp thuận đồng ý tham gia nghiên cứu (phụ lục 1)

- Phiếu thu thập thông tin bệnh nhân (phụ lục 2)

- Bảng câu hỏi đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (phụ lục 3)

- Bảng câu hỏi OHIP-19VN (phụ lục 4)

Trang 38

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Bệnh nhân đến điều trị PHTLTB hai hàm được mời tham gia nghiêncứu và thông tin về nghiên cứu Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu kývào bản đồng ý tham gia nghiên cứu Thu thập thông tin bệnh nhân về tuổi,giới, trình độ học vấn, thu nhập, tình trạng hôn nhân, tình trạng gia đình, tìnhtrạng bệnh lý toàn thân, tình trạng hàm giả cũ

Bước 1: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân trước điều trị bằng bảng câuhỏi MNA [72], [64], [51] MNA gồm 18 mục về các phép đo nhân trắc (chiềucao, cân nặng, BMI, chu vi giữa cánh tay, chu vi bắp chân) và các câu hỏi vềđánh giá toàn thể, chế độ ăn, và đánh giá chủ quan (Phụ lục 3)

Trong đó, các số đo nhân trắc được xác định cụ thể như sau [56]:

- Người đo đặt tầm mắt ngang với đỉnh đầu đối tượng, đọc số đo chínhxác đến 0,01m ;

- Thực hiện đo ba lần và ghi nhận giá trị trung bình ba lần đo

b) Cân nặng

- Cân đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng;

- Đối tượng mặc quần áo gọn nhất Đối tượng đứng giữa bàn cân, không

cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bố đều cả hai chân;

- Người đo đọc số đo chính xác đến 0,1kg;

- Thực hiện đo ba lần và ghi nhận giá trị trung bình ba lần đo

Trang 39

c) Tính chỉ số khối cơ thể BMI

BMI = 𝐶â𝑛 𝑛ặ𝑛𝑔 (𝑘𝑔)

[𝑐ℎ𝑖ề𝑢 𝑐𝑎𝑜(𝑚)]2

d) Đo chu vi giữa cánh tay

- Đo ở tay không thuận;

- Đối tượng gập cánh tay vuông góc, gan bàn tay hướng lên;

- Đo khoảng cách giữa mỏm cùng xương vai và mỏm khuỷu xươngcẳng tay ở mặt sau cánh tay Đánh dấu điểm giữa cánh tay;

- Duỗi thẳng cánh tay Vòng thước đo quanh điểm giữa cánh tay, đảmbảo sao cho thước đo có độ căng vừa phải không quá chặt, hoặc quálỏng, đọc kết quả chính xác đến 0,1cm (hình 2.2);

- Thực hiện ba lần và ghi lại giá trị trung bình của ba lần đo

Hình 2.2 Đo chu vi giữa cánh tay (Nguồn http://www.mna-elderly.com)

e) Đo chu vi bắp chân

- Đối tượng ngồi với chân thả lỏng hoặc đứng sao cho trọng lượng phân

bố đồng đều

- Đối tượng cuộn ống quần không che cẳng chân

- Vòng thước dây xung quanh vị trí lớn nhất của cẳng chân và đọc kếtquả đo (hình 2.3);

Trang 40

- Thực hiện đo ở phía trên và dưới điểm này để đảm bảo đã đo ở vị trílớn nhất;

- Thực hiện đo ba lần và ghi lại giá trị trung bình của ba lần đo

Hình 2.3 Đo chu vi bắp chân (Nguồn http://www.mna-elderly.com)

Tình trạng dinh dưỡng được phân loại dựa vào chỉ số BMI theo phânloại cho cộng đồng các nước châu Á (IDI & WPRO, 2000) như sau: nhẹ cân(<18,5), bình thường (18,5-23), thừa cân-béo phì (> 23)

Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng bảng phân loại tình trạng dinhdưỡng dựa vào tổng số điểm MNA: tình trạng dinh dưỡng đầy đủ khi MNA

≥24; suy dinh dưỡng protein năng lượng khi MNA <17; có nguy cơ bị suydinh dưỡng khi 17 ≤ MNA ≤ 23,5

Bước 2: Đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe răng miệng

Đánh giá CLCS- SKRM của bệnh nhân trước khi điều trị thông quabảng câu hỏi OHIP-19 VN (phụ lục 2) bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp vàghi nhận bởi duy nhất một điều tra viên, hỗ trợ và làm rõ các câu hỏi cho các

Ngày đăng: 05/04/2021, 23:22

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w