Vì vậy để nâng cao về chất lượng cuộc sống, cũng như cải thiện về tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh mắc bệnh ung thư gan, được hiệu quả trong điều trị và cung cấp cho người bệnh những
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ DINH DƢỠNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Sau Đại học, Bộ môn Dinh dưỡng & An toàn thực phẩm Trường Đại học Y Dược Thái Bình cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Ninh; Khoa kiểm soát bệnh không lây nhiễm & Dinh dưỡng cùng bạn
bè đồng nghiệp, nơi tôi đang công tác và làm việc luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo và các cán bộ Trung tâm Ung Bướu – Bệnh Viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong thời gian triển khai thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: NGƯT PGS.TS Ninh Thị Nhung và TS Nguyễn Trọng Hưng, những người thầy, cô đã dành tâm huyết của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, anh chị em và bạn bè, những người đã luôn ở bên tôi, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Bình, tháng 6 năm 2020
Tác giả
Lường Thị Xuân
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi: Những số liệu trong nghiên cứu là do tôi thu thập trong quá trình nghiên cứu và làm việc tại Trung tâm Ung bướu bệnh viện bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh một cách tỷ mỷ, khoa học và chính xác
Kết quả thu thập được trong nghiên cứu chưa được đăng tải và công bố trên bất kỳ một tạp chí hay công trình khoa học nào Các bài trích dẫn, các số liệu tham khảo là những tài liệu đã được công nhận./
Thái Bình, tháng 6 năm 2020
Tác giả
Lường Thị Xuân
Trang 4FACT- Hep : (FACT- hepatobiliary) Phiên bản đặc hiệu cho ung thư
gan mật thuộc hệ thống đo lường FACIT FACT – G : (Functional Assessment Illness Therapy - General) Bộ
công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống cho người bệnh mắc nhiều loại ung thư khác nhau
LQĐSK : Liên quan đến sức khỏe
MNA: (Mini Nutritional Assessment) Phương pháp đánh giá tình
trạng dinh dưỡng tối thiểu
SGA : (Subjective Global Assessment of nutritional status)
Phương pháp đánh giá dinh dưỡng chủ quan TTDD : Tình trạng dinh dưỡng
WHO : (World Health Organization) Tổ chức Y tế Thế giới UTBMTBG : Ung Thư biểu mô tế bào gan
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Ung Thư 3
1.1.2 Ung Thư gan: Phụ thuộc vào nơi Ung Thư khởi phát, có hai cách để phân loại Ung Thư gan 3
1.1.3 Chất lượng cuộc sống 3
1.1.4 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe 4
1.1.5 Suy dinh dưỡng 5
1.2 Thực trạng mắc ung thư gan và Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư 6
1.2.1 Tình hình mắc ung thư gan 6
1.2.2 Thực trạng Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư 7
1.3 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư gan 14 1.4 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sông liên quan đến sức khỏe của người bệnh ung thư 20
1.4.1 FACT - G 21
1.4.2 FACT - Hep 21
1.4.3 EORTC-C30 21
1.4.4 Các công cụ khác 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 24
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu: 24
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
Trang 62.2.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 26
2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 27
2.2.5 Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu 31
2.2.6 Xử lý số liệu 35
2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu: 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Xác định tỷ lệ SDD và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019 37
3.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu, thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019 50
Chương 4 BÀN LUẬN 64
4.1 Tỷ lệ SDD và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019 64
4.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu, thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019 75
KẾT LUẬN 83
KHUYẾN NGHỊ 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung của người bệnh theo giới tính, nhóm tuổi,
nghề nghiệp, trình độ học vấn 37Bảng 3.2 Các bệnh lý kèm theo (bệnh nền) của người bệnh chia theo
nhóm tuổi 39Bảng 3.3 Tiền sử mắc các bệnh gan của người bệnh chia theo nhóm tuổi 40Bảng 3.4 Số bữa ăn và bữa ăn phụ của người bệnh trong một ngày theo
giới tính và giai đoạn bệnh 41Bảng 3.5 Tần suất (%) tiêu thụ thường xuyên (≥3 lần/tuần) nhóm thực
phẩm giầu đạm 42Bảng 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân ăn trái cây, rau xanh trong tuần qua và giá trị
trung bình số gam ăn trong 1 ngày 43Bảng 3.7 Tỷ lệ uống rượu bia và lượng uống hàng ngày của đối tượng 43Bảng 3.8: Giá trị trung bình BMI của người bệnh theo giai đoạn bệnh
chia theo giới tính và nhóm tuổi 44Bảng 3.9: Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào BMI
theo giai đoạn bệnh 45Bảng 3.10 Phân loại tình trạng dinh dưỡng và điểm trung bình của người
bệnh dựa vào SGA theo giới tính 45Bảng 3.11 Phân loại tình trạng dinh dưỡng và điểm trung bình của người
bệnh dựa vào SGA theo giai đoạn bệnh 46Bảng 3.12 Phân loại tình trạng dinh dưỡng và điểm trung bình của người
bệnh dựa vào MNA theo giới tính 47Bảng 3.13 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào MNA
theo bệnh nền 48Bảng 3.14 Phân loại tình trạng dinh dưỡng và điểm trung bình của người
bệnh dựa vào MNA theo giai đoạn bệnh 48Bảng 3.15 Giá trị trung bình hàm lượng Albumin và Protein huyết thanh
của người bệnh theo nhóm tuổi 49
Trang 8Bảng 3.16 Tỷ lệ người bệnh giảm Albumin và Protein huyết thanh theo
nhóm tuổi và bệnh nền 49Bảng 3.17 Tự đánh giá của người bệnh về ảnh hưởng của bệnh đến chất
lượng cuộc sống theo giai đoạn bệnh 51Bảng 3.18 Các mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống người bệnh
theo từng lĩnh vực của bộ câu hỏi EORTC-C30 52Bảng 3.19 Điểm trung vị lĩnh vực chức năng chung của người bệnh theo
bộ câu hỏi EORTC-C30 chia theo giai đoạn bệnh 53Bảng 3.20 Điểm trung vị lĩnh vực triệu chứng của người bệnh theo bộ câu
hỏi EORTC-C30 chia theo giai đoạn bệnh 54Bảng 3.21 Điểm trung vị chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh
theo bộ câu hỏi EORTC-C30 chia theo giai đoạn bệnh 55Bảng 3.22 Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống tổng thể
của người bệnh theo bộ câu hỏi EORTC-C30 chia theo giai đoạn bệnh 56Bảng 3.23 Điểm trung bình, trung vị chất lượng cuộc sống tổng thể của người
bệnh bộ câu hỏi EORTC - C30 chia theo tuổi và bệnh lý nền 57Bảng 3.24 Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống tổng thể
của người bệnh bộ câu hỏi EORTC-C30 chia theo tuổi, bệnh
lý nền 58Bảng 3.25 Điểm trung bình các lĩnh vực chất lượng cuộc sống của người
bệnh bộ câu hỏi FACT- Hep chia theo giai đoạn bệnh 59Bảng 3.26: Điểm trung vị các lĩnh vực chất lượng cuộc sống của người
bệnh bộ câu hỏi FACT- Hep chia theo giai đoạn bệnh 60Bảng 3.27: Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống tổng thể
của người bệnh theo các lĩnh vực chia theo giai đoạn bệnh bộ câu hỏi FACT- HEP 61Bảng 3.28 Điểm trung bình, trung vị chất lượng cuộc sống tổng thể của
người bệnh bộ câu hỏi FACT- HEP chia theo tuổi và bệnh lý nền 62Bảng 3.29 Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người
bệnh bộ câu hỏi FACT - Hep chia theo tuổi, bệnh lý nền 63
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Khoảng thời gian được chẩn đoán mắc ung thư của người
bệnh 38 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ người bệnh mắc ung thư gan theo giai đoạn bệnh chia
theo nhóm tuổi 40 Biểu đồ 3.3: Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào
BMI theo nhóm tuổi 44 Biểu đồ 3.4 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào
SGA theo bệnh nền 46 Biểu đồ 3.5 Tự đánh giá của người bệnh về ảnh hưởng của bệnh đến
chất lượng cuộc sống theo nhóm tuổi 50
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư gan có 2 loại là ung thư gan nguyên phát và ung thư gan thứ phát Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2018 cho thấy ung thư gan đứng thứ 5 về tỷ lệ mắc và đứng thứ 3 về tỷ lệ tử vong trong các loại ung thư Năm 2018 thế giới ghi nhận hơn 840 nghìn người phát hiện mới ung thư gan, phần lớn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới đã xếp Việt Nam trong nhóm những nước mắc ung thư gan cao nhất Theo số liệu từ GLOBOCAN năm 2018, đối với Việt Nam, ung thư gan là loại ung thư hàng đầu cả về mức độ phổ biến cũng như tỷ lệ tử vong, với tổng số 25.335 ca mắc mới/năm [1], [56] Chính vì vậy nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ung thư gan hiện nay là chủ đề rất được quan tâm
Trước đây, tiên lượng của người bệnh Ung thư gan rất kém, thường chỉ sống thêm 6 tháng đến 1 năm kể từ khi được chẩn đoán Đến nay, các tiến bộ
về chẩn đoán và điều trị, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và dân trí khiến cho người dân quan tam đến sức khỏe nhiều hơn, tỉ lệ phát hiện ung thư gan ở giai đoạn sớm ngày càng tăng lên
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phòng chống ung thư, ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều người bệnh ung thư gan không được chăm sóc dinh dưỡng đúng trong suốt thời gian trị bệnh, nên đã dẫn đến tình trạng sụt cân, suy dinh dưỡng và suy kiệt trầm trọng hơn Trong khi đó, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng chỉ cần sụt 5% cân nặng đã rút ngắn 1/3 thời giai sống của bệnh nhân Đa số bệnh nhân ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chú trọng đến chế độ dinh dưỡng để nâng cao thể trạng Mỗi năm, nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân chết vì ung thư, trong đó 80% bị sụt cân, 30% chết
vì suy kiệt trước khi qua đời do khối u, con số trên đã phần nào cho thấy tác động xấu của tình trạng sút cân, suy kiệt Dinh dưỡng lúc này có tác dụng
Trang 11nâng đỡ để người bệnh có đủ sức theo được hết các liệu pháp điều trị nặng nề [48], [50], [53]
Bên cạnh việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư gan thì đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan cũng là một vấn đề đang được hết sức quan tâm Thực tế nhiều nghiên cứu đã chỉ ra chất lượng cuộc sống của bênh nhân ung thư gan phụ thuộc vào giai đoạn phát hiện bệnh Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan là vấn đề mới ngày càng được quan tâm của người bệnh cũng như những người làm công tác chăm sóc sức khỏe Tại Việt Nam do điều kiện kinh tế và do tình trạng gia tăng nhanh chóng các bệnh ung thư gan, chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan ở mức độ nào? chưa có nghiên cứu nào đánh giá về chất lượng cuộc sống của người bệnh [1], [6], [22]
Vì vậy để nâng cao về chất lượng cuộc sống, cũng như cải thiện về tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh mắc bệnh ung thư gan, được hiệu quả trong điều trị và cung cấp cho người bệnh những thông tin đầy đủ, toàn diện hơn về tiến triển của bệnh cũng như tình trạng sức khỏe, giúp người bệnh cải thiện khả năng thích nghi và hòa nhập với cuộc sống, nhất là bệnh ung thư gan
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan điều trị tại trung tâm ung bướu bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh năm 2019” với mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ SDD và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019
2 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu, thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019
Trang 12
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.2 Ung Thư gan: Phụ thuộc vào nơi Ung Thư khởi phát, có hai cách để phân loại Ung Thư gan
- Ung Thư gan nguyên phát: Là Ung Thư có thể khởi phát từ gan gồm:
+ Ung Thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) là Ung Thư gan phổ biến nhất + Ung Thư ống mật (Ung Thư biểu mô đường mật) ít phổ biến hơn; + Sarcôm mạch máu là một thể hiếm gặp
+ Ung Thư nguyên bào gan là một thể rất hiếm gặp
- Ung Thư gan thứ phát: Xảy ra khi các tế bào Ung Thư từ một cơ quan khác trong cơ thể lan đến gan hay còn gọi là ung thư di căn gan, thường gặp hơn nhiều so với ung thư gan nguyên phát Ung thư của đại tràng, trực tràng, phổi hay vú có thể di căn gan âm thầm [15]
1.1.3 Chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống (CLCS) là một khái niệm đa chiều, thường bao gồm những đánh giá chủ quan về cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc sống [55] Thuật ngữ "chất lượng cuộc sống" đối với mọi người và mọi ngành học có thể quan niệm rất khác nhau, mặc dù sức khỏe là một trong những yếu tố quan trọng của chất lượng cuộc sống, những lĩnh vực khác như việc làm, nhà ở, trường học, quan hệ với người xung quanh, các
Trang 13khía cạnh của nền văn hóa, các giá trị và tâm linh cũng là những khía cạnh ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Do đó, đo lường chất lượng cuộc sống, là rất phức tạp [55]
1.1.4 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Các khái niệm về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và các yếu tố của nó đã bắt đầu hình thành từ những năm 1980, bao trùm hết những yếu tố của chất lượng cuộc sống (CLCS) bị ảnh hưởng bởi sức khỏe hoặc thể chất hoặc tinh thần [43] Ở cấp độ cá nhân, điều này bao gồm nhận thức về sức khỏe thể chất, tinh thần và mối tương quan của chúng, bao gồm cả rủi ro
về sức khỏe, tình trạng chức năng, hỗ trợ xã hội, và tình trạng kinh tế xã hội,
Ở cấp độ cộng đồng, bao gồm các điều kiện, chính sách và thực tiễn ảnh hưởng đến nhận thức sức khỏe của một cộng đồng dân cư Hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe cho phép
cơ quan y tế hợp pháp hóa việc giải quyết các lĩnh vực chính sách công liên quan đến sức khỏe xung quanh một bối cảnh chung bao gồm cả các dịch vụ
xã hội, quy hoạch cộng đồng và kinh tế [43] Đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe có thể giúp xác định những gánh nặng của các căn bệnh và cung cấp những hiểu biết mới có giá trị để hiểu mối quan hệ giữa chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và các yếu tố nguy cơ, đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe sẽ giúp giám sát tiến độ trong việc đạt được mục tiêu y tế quốc gia Phân tích các dữ liệu giám sát chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe có thể phân nhóm các đối tượng dựa vào tình trạng sức khỏe, hướng dẫn can thiệp để cải thiện tình hình của họ và ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng hơn Giải thích và công bố những dữ liệu này có thể giúp xác định các nhu cầu cho chính sách y tế và pháp luật, giúp phân bổ nguồn lực, hướng dẫn xây dựng kế hoạch chiến lược, và theo dõi hiệu quả của các can thiệp cộng đồng rộng lớn [43], [55]
Trang 141.1.5 Suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng (SDSD) là một trạng thái mất cân bằng (thiếu hoặc thừa)
về năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác gây ra những hậu quả bất lợi đến cấu trúc, chức năng của từng bộ phận cơ thể và gây ra bệnh tật Hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu đã đề xuất định nghĩa suy dinh dưỡng cho người bệnh như sau: “Suy dinh dưỡng là một tình trạng cung cấp thiếu, không đầy đủ hay rối loạn hấp thu dinh dưỡng dẫn đến làm thay đổi thành phần cơ thể (giảm khối mỡ tự do và khối tế bào cơ thể), làm giảm chức năng về thể chất, tinh thần và suy giảm kết quả điều trị bệnh” [41]
Tuy nhiên, suy dinh dưỡng ở người bệnh còn có thể do tình trạng tăng dị hóa trong chấn thương, viêm và các stress chuyển hóa Nếu như suy dinh dưỡng do khẩu phần cung cấp không đủ thì có thể dễ dàng can thiệp và hồi phục bằng hỗ trợ dinh dưỡng Nhưng đối với các bệnh lý gây tăng dị hóa, tạo
ra cân bằng năng lượng và nitơ âm tính thì không thể phục hồi bằng liệu pháp dinh dưỡng đơn thuần, kể cả khi được nuôi ăn dư thừa Thông thường, chỉ khi giai đoạn dị hóa bắt đầu giảm mới có thể hồi phục lại các mô đã mất Do đó,
Ủy ban hướng dẫn đồng thuận Quốc tế đã thống nhất chẩn đoán suy dinh dưỡng dựa trên nguyên nhân của tình trạng đói và bệnh lý “Suy dinh dưỡng
do đói” là khi có tình trạng đói mạn tính và không có viêm; “suy dinh dưỡng
do bệnh mạn tính” khi có tình trạng viêm ở mức độ nhẹ đến vừa (như suy giảm chức năng cơ thể, ung thư, viêm khớp hay béo phì); “suy dinh dưỡng do tổn thương hay bệnh cấp tính” là khi có tình trạng viêm cấp tính nặng (như
nhiễm trùng nặng, bỏng, chấn thương, sau đại phẫu thuật) [41]
Ngoài ra, để sử dụng thuật ngữ “suy dinh dưỡng” theo cả nghĩa thiếu
và thừa dinh dưỡng, suy dinh dưỡng được định nghĩa “là tình trạng rối loạn dinh dưỡng bán cấp hay mãn tính, trong đó có sự kết hợp thừa dinh dưỡng, thiếu dinh dưỡng và tình trạng viêm ở nhiều mức độ khác nhau dẫn đến sự thay đổi về thành phần và suy giảm chức năng cơ thể” [41]
Trang 151.2 Thực trạng mắc ung thư gan và Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư
1.2.1 Tình hình mắc ung thư gan
Ung thư gan là một trong 6 loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới Vào năm 2008, có khoảng 40.000 nam và khoảng 20.000 nữ được chẩn đoáng mắc ung thư gan tại châu Âu, năm 2012, cả thế giới có 782.000 ca mắc mới Nó cũng là nguyên nhân gây tử vong nhiều thứ hai trong số các loại ung thư hiện nay, ung thư gan phổ biến ở nam giới hơn nữ giới Tại châu Âu, cứ 1000 nam thì có 10 người và 1000 nữ thì có 2 người mắc ung thư gan Ở giai đoạn sớm, ung thư gan thường không có biểu hiện bệnh, chính vì thế những trường hợp mắc bệnh thường được chẩn đoán khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn trầm trọng Bệnh có xu hướng liên quan tới tuổi tác, với đa số ca được chẩn đoán mắc bệnh nằm ở độ tuổi trên 75 Tuy nhiên, ở một số khu vực có nền kinh tế đang phát triển như châu Á hay châu Phi thì bệnh có thể phát triển ở những độ tuổi trẻ hơn Khoảng 83% bệnh nhân ung thư gan đến từ những quốc gia có nền kinh tế kém hoặc đang phát triển [59]
Trước đây, thời gian sống thêm trung bình của ung thư gan không cao do thời gian đầu bệnh nhân hầu hết không có triệu chứng, chỉ phát hiện khi bệnh
đã ở giai đoạn tiến triển hay giai đoạn muộn Theo nghiên cứu của Zhao và cộng sụ tại Trung Quốc trên 743 bệnh nhân được phẫu thuật cắt gan, nghĩa là bệnh nhân ở giai đoạn gần như sớm nhất và được điều trị triệt để, thời gian sống thêm trung bình cũng chỉ là 72 tháng, và tỉ lệ sống sau 1 năm, 3 năm và
5 năm lần lượt là 91.5%, 70.3% và 55.3% [38]
Ở Việt Nam, các nghiên cứu ở một số tỉnh thành cho thấy ung thư gan rất thường gặp Cũng giống như các nước trong khu vực Đông Nam Á, tỉ lệ mắc ung thư gan hiệu chỉnh theo tuổi ở nước ta khá cao, hơn 20/100000 dân, đồng thời với tỉ lệ tử vong cao nhất trong các nguyên nhân tử vong do ung thư, 31% ở nam và 20% ở nữ Nguyên nhân gây ung thư gan ở nước ta chủ yếu là virus viêm gan B Tỉ lệ bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B chiếm tới
Trang 16hơn 70% các bệnh nhân ung thư gan Tuổi mắc bệnh ung thư gan dao động từ
40 đến 60 tuổi, là độ tuổi lao động chính, đóng góp nhiều cho xã hội Chính vì vậy, nhóm bệnh nhân ung thư gan rất cần được quan tâm nghiên cứu để cải thiện về khả năng chẩn đoán, điều trị cũng như chất lượng cuộc sống để giảm bớt gánh nặng cho bệnh nhân, gia đình và xã hội [46]
Tại Bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm tiếp nhận khoảng 500 ca ung thư gan mới Trong những năm gần đây, mỗi năm, Việt Nam có đến 10.000 ca mắc bệnh mới, và trở thành quốc gia có tỉ lệ người mắc bệnh ung thư gan hàng đầu thế giới Phần lớn các bệnh nhân lại phát hiện bệnh trong giai đoạn muộn nên việc chữa trị không còn hiệu quả
Một nghiên cứu gần đây dựa trên các số liệu hiện có và sử dụng các thuật toán để tính toán tiên lượng cho thấy tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính tăng
từ 6,4 triệu người năm 1990 lên khoảng 8,4 triệu năm 2005 và tiên lượng đến năm 2025 là 8 triệu Đó là kết quả của chương trình tiêm chủng để phòng nhiễm HBV Trong khi đó tỷ lệ xơ gan và ung thư gan do HBV lại
có xu hướng tăng cao: năm 1990 là 21.900 đối với xơ gan, 9.400 đối với ung thư gan thì đến năm 2025 các số liệu tương ứng là 58.650 và 25.000
Tỷ lệ tử vong do HBV tăng từ 12.600 năm 1990 và có thể lên tới 40.000 ở
Kết quả nghiên cứu của Ferigollo năm 2018 có 60 bệnh nhân đã được đánh giá tình trạng dinh dưỡng, hầu hết trong số họ là nữ (58,3%), người trưởng thành (51,7%), bị ung thư ruột kết và trực tràng (45%) và được ghi
Trang 17danh vào các chu kỳ điều trị hóa trị đầu tiên (68%) với bệnh kèm theo ( 77%) PG-SGA cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (77%) trong mẫu, giảm cân nặng (40%) và giảm tiêu thụ thực phẩm (41,7%) với các triệu chứng tiêu hóa (75%)
và thay đổi về năng lực chức năng (78 %), kết luận sự cần thiết phải can thiệp dinh dưỡng quan trọng (70%) Các thông số sinh hóa cho thấy một số giảm albumin huyết thanh (56%) và tổng số tế bào lympho (76%) [35]
Các nghiên cứu quốc gia tại Anh cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng gặp ở khoảng 1/3 số người bệnh Suy dinh dưỡng phổ biến ở hầu hết các lứa tuổi và các nhóm bệnh Tuy nhiên, nhóm đối tượng trên 65 tuổi có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn so với nhóm dưới 65 Các bệnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao là bệnh đường tiêu hóa (41%), ung thư (40%), bệnh lý thần kinh (31%) [41]
Theo Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu, tỷ lệ suy dinh dưỡng chiếm 20-60% người bệnh nằm viện và có đến 30-90% bị mất cân đối trong thời gian điều trị [41]
Kết quả nghiên cứu tại Tây Ban Nha cho biết tỷ lệ suy dinh dưỡng gặp
ở khoảng 50% số người bệnh điều trị ngoại khoa Nhóm người bệnh có tình trạng dinh dưỡng tốt có thời gian nằm viện ngắn hơn so với nhóm người bệnh suy dinh dưỡng Điều này còn có liên quan đến việc sử dụng thuốc cao hơn, xét nghiệm chẩn đoán và tỷ lệ tử vong cao hơn Kết quả này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của tác giả Francisca Leide da Silva Nunes và cộng
sự tại Brazil [26]
Một nghiên cứu khác tại Đức cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh nằm viện là 53,6% theo SGA và 44,6% theo NRS Trong thời gian nằm viện, người bệnh nhận được trung bình 759,9 +/- 546,8 kcal / ngày Tỷ lệ suy dinh dưỡng tăng lên ở người bệnh bị bệnh lý gan mật và tiêu hoá, trầm cảm hoặc chứng sa sút trí tuệ Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với suy dinh dưỡng là nghỉ ngơi và bất động tại giường Bệnh nhân nhập viện phải chịu
Trang 18đựng liệu pháp dinh dưỡng không đầy đủ và nguy cơ phát triển suy dinh dưỡng tăng cao trong thời gian nằm viện [47]
Một nghiên cứu của tác giả Surat Komindr và cộng sự tại Thái Lan cho biết, suy dinh dưỡng ở người bệnh nằm viện gặp chiếm tới 40,5% với 24,8%
có mức độ suy dinh dưỡng vừa và 15,7% là suy dinh dưỡng nặng [54]
Theo Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu, tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở người bệnh phẫu thuật là 40-50% [41] Mọ t bẹ nh nha n khi đu ợc phẫu thuạ t là mọ t stress đối với co thể Để đáp ứng với tình trạng stress này, co thể sẽ tiết ra các hormon như: cortisol, epinephrine, glucagon,
GH, aldosterol, ADH làm ta ng nhu cầu chuyển hóa, nên cơ thể cần nhiều
na ng lu ợng ho n Sau mổ, sự lành vết thu o ng, co thể có quá trình đáp ứng vie m, tiết ra những chất kích hoạt các tuyến nọ i tiết tiết ra các chất tu o ng tự nhu với stress, vì vạ y nhu cầu na ng lu ợng càng ta ng ho n nữa Sau phẫu thuật, ngoài lý do người bệnh bị suy dinh dưỡng từ trước thì chính cuộc phẫu thuật
đã làm thay đổi về chuyển hóa (như tăng hoạt động giao cảm, tăng tốc độ chuyển hóa, cân bằng nitơ âm tính, tăng Cytokins và các Interleukin…), làm thay đổi về sinh lý (tăng tính thấm ruột, giảm chiều cao nhung mao dẫn đến làm tăng thẩm lậu vi khuẩn, dễ gây nhiễm trùng, ) khiến cho tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ngày càng xấu [60]
Nhiều nghie n cứu đã chứng minh lợi ích của vấn đề dinh du ỡng tru ớc
và sau mổ, dinh du ỡng kém có lie n quan đến kết cục sau mổ kém, chạ m lành vết thu o ng, khó cai máy thở (đối với các bẹ nh nha n phải thở máy sau mổ), suy dinh du ỡng, nhiễm trùng vết mổ Từ đó làm ta ng tỉ lẹ tử vong chu phẫu cho ngu ời bẹ nh, xác định các bẹ nh nha n có yếu tố nguy co về dinh du ỡng từ
đó có kế hoạch dinh du ỡng hợp lý, na ng cao tổng trạng tru ớc mổ, phòng suy dinh du ỡng sau mổ, giúp bẹ nh nha n mau hồi phục, xuất viẹ n sớm, giảm đu ợc chi phí điều trị từ đó giảm đu ợc chi phí y tế cho quốc gia Nhịn a n uống đúng
Trang 19tru ớc mổ, thời gian nhịn ngắn ho n, giúp bẹ nh nha n giảm đu ợc các bất lợi của đáp ứng stress đối với co thể mà kho ng làm tăng nguy co hít sạ c khi làm các thủ thuạ t ga y me hồi sức Sau mổ, a n lại sớm có thể trong vòng 24 giờ đu ợc chứng minh là có lợi cho bẹ nh nha n [60] Nuôi ăn sớm đường tiêu hóa làm giảm thời gian nằm viện sau khi phẫu thuật Giảm tỷ lệ biến chứng, giảm tỷ lệ
tử vong và chức năng hệ tiêu hóa sớm hoạt động trở lại
Một nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa San Benedetto del Tronto, Ý, cho thấy tình trạng dinh dưỡng bị tổn hại đã xuất hiện ở hơn một nửa (54%) bệnh nhân (suy dinh dưỡng 10% và nguy cơ suy dinh dưỡng ở 44% bệnh nhân) Nữ giới có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn nam giới (48% so với 41%, nữ so với nam) và tỷ lệ suy dinh dưỡng rõ ràng cũng cao hơn so với nam giới (14% so với 7%, p <0,05, nữ so với nam) [33]
Theo kết quả nghiên cứu của Somboon Subwongcharoen và cộng sự năm 2019 nhằm so sánh chi phí và thời gian nằm viện của bệnh nhân phẫu thuật suy dinh dưỡng và được nuôi dưỡng tốt, đối với cả nhóm bệnh lành tính
và ác tính thì bệnh nhân suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện dài hơn và chi phí điều trị nhiều hơn so với những người bệnh được nuôi dưỡng tốt [53]
Nghiên cứu của Pirlich tại Đức cho thấy 22% bệnh nhân nằm viện bị suy dinh dưỡng, tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) của bệnh nhân nằm viện ở Argentina là 47% trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm 12%, tỉ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân nằm viện ở Brazil là 56,5% trong đó SDD nặng là 17,4%, SDD trung bình là 39,1% [42]
Một nghiên cứu khác ở Úc trên bệnh nhân tuổi lớn hơn 60 trong một năm từ 2014 - 2015 cho kết quả chỉ có 49,7% bệnh nhân được khám sàng lọc dinh dưỡng, 53,5% bệnh nhân được xác nhận bị suy dinh dưỡng bởi công cụ SGA Bệnh nhân suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện lâu hơn, tỷ lệ tử vong
ở các bệnh nhân này cao hơn và các bệnh nhân còn sống có chất lượng cuộc sống kém hơn [50]
Trang 20b/ Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng của người bệnh tại bệnh viện dao động khác nhau tùy theo từng loại bệnh lý, phụ thuộc vào các ngưỡng giá trị của các công cụ đánh giá
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hương Quỳnh, các bệnh nhân ung thư tham gia nghiên cứu được đo chiều cao, cân trọng lượng cơ thể
và phân loại tình trạng dinh dưỡng theo Tổ chức Y tế thế giới dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI), đánh giá nguy cơ dinh dưỡng theo công cụ đánh giá chủ quan người bệnh (SGA), phỏng vấn khẩu phần ăn và chỉ số hóa sinh (Hemoglobin, Albumin) được thu thập từ bệnh án Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng Suy dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư đang ở mức khá cao Trong đó, tỷ lệ Suy dinh dưỡng theo BMI là 27,3% và thừa cân/béo phì là 2,7%, có 58,0% người bệnh ung thư có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phân loại SGA Có 21,4% đối tượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại Albumin, tỷ lệ người bệnh thiếu máu là 58,0% Tỷ lệ người bệnh có khẩu phần ăn 24 giờ không đạt nhu cầu khuyến nghị chiếm 59,3% [16]
Theo nghiên cứu của Dương Thị Phượng và cộng sự về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 20% theo chỉ số khối cơ thể (BMI), có 51,7% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phân loại SGA, có 29,1% đối tượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại Albumin Từ những số liệu của nghiên cứu trên có thể thấy tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư đang ở mức khá cao [14]
Tình trạng dinh dưỡng và thành phần của chế độ ăn uống là các yếu tố liên quan đến nguy cơ ung thư tế bào gan, họ cũng có một vai trò quan trọng liên quan đến tiên lượng của bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào gan Một
số thành phần vi lượng đã được tìm thấy có mối tương quan nghịch với nguy
cơ mắc ung thư tế bào gan Để ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh thành xơ
Trang 21gan hoặc ung thư tế bào gan ở bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, điều tối quan trọng là phải tối ưu hóa trạng thái trao đổi chất Tuy nhiên, bằng chứng từ các thử nghiệm can thiệp trong tương lai được thiết kế tốt với mục đích giảm tỷ lệ mắc ung thư tế bào gan hoặc kéo dài thời gian sống ở bệnh nhân bị ung thư tế bào gan dựa trên sửa đổi dinh dưỡng vẫn còn được tạo ra [8]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 292 bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa có điều trị hóa chất tại Bệnh viện K nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Trong tổng số 292 trường hợp nghiên cứu, 208 (71,2%) là nam và 84 (28,8%) là nữ, tuổi trung bình là 57,6 ± 9,99 Nghiên cứu cho thấy theo chỉ số khối cơ thể, tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng
là 35,2% và theo phân loại SGA có 121 (41,4%) bệnh nhân phân loại đủ dinh dưỡng SGA A, 171 (58,5%) phân loại suy dinh dưỡng (SGA B và SGA C).chúng tôi theo phân loại SGA cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng tốt chiếm tỷ lệ 42,4% và có đến 58,6% có nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD) hoặc suy dinh dưỡng vừa và nặng (SGA B và C) Trong đó, tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng nặng chiếm 11% [8]
Theo các nghiên cứu từ 2010 đến 2015 tại các bệnh viện tuyến tỉnh và một số bệnh viện tuyến Trung ương như Bạch Mai, Chợ Rẫy, tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh nằm viện khoảng 40% - 50% theo thang đánh giá SGA Một số trường hợp bệnh lý nặng như người bệnh phẫu thuật gan mật tụy, người bệnh ăn qua sonde dạ dày, tỷ lệ suy dinh dưỡng có thể chiếm tới 70% Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng có tới 60% người bệnh ở Việt Nam bị suy dinh dưỡng khi nằm viện Đặc biệt, nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai, trong số 308 người bệnh điều trị ở khoa Tiêu hóa và khoa Nội tiết, thì có đến 71,9% bị suy dinh dưỡng Thời gian nằm viện kéo dài có liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng Đặc biệt hiện nay số người cao tuổi điều trị các bệnh mãn tính liên quan đến dinh dưỡng ngày càng gia tăng Tuy
Trang 22nhiên, vấn đề dinh dưỡng cho người bệnh chưa được nhìn nhận đúng vai trò trong thực tế hiện nay [6]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Huy, khoảng 50% người bệnh đã có biểu hiện suy dinh dưỡng ngay khi nhập viện nhưng chỉ 12,5% người bệnh được phát hiện Suy dinh dưỡng làm cho các vết thương, tổn thương lâu lành, suy giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ
lệ biến chứng, tử vong và chi phí điều trị Ngoài ra, hậu quả của việc suy dinh dưỡng ở người bệnh còn làm thay đổi chức năng đường tiêu hóa, giảm mức lọc cầu thận, thay đổi chức năng hệ tim mạch, thay đổi dược động học của thuốc, tỷ lệ tái nhập viện cao, chất lượng cuộc sống giảm Trên người bệnh suy dinh dưỡng, tỉ lệ xuất hiện biến chứng nhiều hơn từ 2 đến 20 lần [10]
Nghiên cứu của Trần Văn Vũ thực hiện đánh giá tình trạng dinh dưỡng
ở người bệnh suy thận mạn các giai đoạn khác nhau, chưa có chỉ định lọc máu Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng từ khoảng 20% đến trên 70% tùy theo giai đoạn bệnh và phương pháp đánh giá [24]
Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Trọng Nghị và các cộng sự thực hiện tại Bệnh Viện Quân Y 103, theo chỉ số BMI có 106/414 bệnh nhân được đánh giá là suy dinh dưỡng (SDD), trong đó suy dinh dưỡng nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất 64/106 bệnh nhân (60,4%) và SDD nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất 14/106 bệnh nhân (13,2%) [12]
Trong một nghiên cứu khác tại Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai,
Tỷ lệ bệnh nhân nhập viện bị suy dinh dưỡng cao, ở cả 2 nhóm hồi sức tích cực
và nội khoa, tỷ lệ suy dinh dưỡng theo Prealbumin lên tới trên 60% [6]
Tỷ lệ suy dinh dưỡng người bệnh nằm viện theo BMI năm 2014; 2015 trong nghiên cứu của tác giả Trần Khánh Thu lần lượt là 23,0%; 21,0% Tỷ lệ suy dinh dưỡng nặng đánh giá qua công cụ SGA (đối với nhóm ≤ 65 tuổi) và MNA (đối với nhóm trên 65 tuổi) là 29,0%; 28,2% lần lượt ở năm 2014;
2015 Suy dinh dưỡng vừa, nhẹ là 21% năm 2014 và 17% năm 2015 [21]
Trang 23Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thư và cộng sự năm 2017 tại Bệnh viên Trung ương quân đội 108, tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng lúc nhập viện theo BMI là 16,7%; theo SGA là 35,7%; theo protein máu là 31,0% và theo albumin là 73,8%; có 47,6% bệnh nhân ăn sonde có trào ngược, 14,3% bệnh nhân bị tiêu chảy Sau 1 tuần điều trị tình trạng dinh dưỡng của các bệnh nhân nặng ngày càng xấu đi, tỷ lệ % bị suy dinh dưỡng theo thang SGA (>11 điểm) sau 1 tuần điều trị tăng từ 35,7% lên 78,6%, OR =2,03; p<0,05; hàm lượng protein, albumin máu và số lượng hồng cầu, huyết sắc tố đều giảm rõ rệt: mức giảm tương đối từ 6,9% đến 10,3% (p<0,05) [22]
Nghiên cứu cắt ngang trên 124 bệnh nhân (69 nam và 55 nữ) trong đó độ tuổi từ 18 - 80 tại khoa Ngoại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 8 năm 2013 của Chu Thị Tuyết nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân lúc nhập viện để phẫu thuật đường tiêu hóa (đánh giá theo phương pháp tổng thể chủ quan SGA và chỉ số khối cơ thể BMI) Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu theo chỉ số BMI và giới: BMI dưới 18,5 chiếm tỷ lệ 33,87% Nguy cơ dinh dưỡng theo phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA): nguy cơ dinh dưỡng mức độ vừa (SGA – B) 39,52%, nguy cơ mức độ nặng (SGA – C) 6,45% SGA-B ở phẫu thuật dạ dày là 40,82%, đại/trực tràng là 38,78%, gan mật là 12,24% và tụy là 8,16% SGA- C ở các nhóm phẫu thuật dạ dày, đại/trực tràng, gan mật và tụy lần lượt là (62,5%, 25%, 12,5%, 0%) Suy dinh dưỡng thường gặp ở bệnh nhân phẫu thuật đường tiêu hóa, theo phương pháp đánh giá SGA: nguy cơ B và C lần lượt là: 39,52% và 6,45% Đánh giá theo chỉ số khối cơ thể: BMI dưới 18,5 (kg/m2) là 33,87% [23]
1.3 Một số nghiên cứu về chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân ung thƣ gan
Đối với ung thư gan, một bệnh không chữa khỏi được và điều trị chủ yếu
để giảm tốc độ tiến triển bệnh, kéo dài thời gian sống và duy trì cho bệnh nhân không bị khó chịu bởi các triệu chứng, chất lượng cuộc sống (CLCS)
Trang 24được xem là yếu tố quan trọng, cũng như thời gian sống không bệnh và tổng thời gian sống Ở bệnh nhân ung thư gan, các triệu chứng được phản ánh là đủ nặng để ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân là rối loạn giấc ngủ, giảm chức năng tình dục, cổ chướng, ngứa, mệt mỏi, hay chuột rút Các chỉ điểm về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được sử dụng trong các thử nghiệm cũng là dựa trên các triệu chứng này Trong ung thư gan, ngoài triệu chứng bệnh, chính các biện pháp điều trị cũng có thể gây suy nhược nghiêm trọng và cần thiết phải xem xét tác động của phương pháp điều trị lên chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân [34]
Năm 2005, Steel và cộng sự tiến hành nghiên cứu giá trị của FACT- Hep trong đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư gan mật với
cỡ mẫu 158 bệnh nhân Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được đánh giá ở thời điểm bắt đầu (trước khi điều trị), 3 tháng (n= 55), 6 tháng (n= 27) sau đó Kết quả, độ ổn định nội tại của tất cả các phần trong thang điểm FACT - Hep đều đủ ở tất cả các thời điểm FACT - Hep đủ nhạy để phát hiện các thay đổi trong các chỉ điểm lâm sàng (alkaline phosphatase, alpha- fetoprotein, hemoglobin và thời gian sống), cái phản ánh tiển triển của bệnh cũng như đáp ứng với điều trị Kết luận, FACT- Hep là công cụ đáng tin cậy, tương quan với các chỉ điểm lâm sàng của tiến triển bệnh và đáp ứng với điều trị [36]
Năm 2006, Jenifer L.Steel nghiên cứu sự khác biệt về chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân ung thư gan, bệnh gan mạn tính và nhóm chứng
272 bệnh nhân gồm 83 bệnh nhân ung thư gan, 51 bệnh nhân bệnh gan mạn tính và 138 bệnh nhân thuộc nhóm chứng Sự thay đổi về chất lượng cuộc sống vừa có ý nghĩa thống kê, vừa có ý nghĩa lâm sàng Nghiên cứu đã rút ra kết luận bệnh nhân ung thư gan có chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe kém hơn nhóm bệnh nhân bệnh gan mạn hay nhóm dân số chung Tuy
Trang 25nhiên, bệnh nhân ung thư gan hay nhóm bệnh gan mạn tính lại có chỉ số hài lòng về gia đình và xã hội tốt hơn nhóm dân số chung [37]
Một nghiên cứu của tác giả Cui-Xia Qiao năm 2012 tiến hành trên 140 bệnh nhân ung thư gan đã chỉ ra chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân bị ung thư gan xấu đi dần dần với sự tiến triển của các giai đoạn
di căn hạch Theo nghiên cứu này, điểm FACT- Hep trung bình giảm có ý nghĩa thống kê theo giai đoạn di căn hạch khối u giai đoạn 1 đến giai đoạn 2, giai đoạn 3A, giai đoạn 3B (687 ± 39,69 so với 547 ± 42,57 so với 387 ± 51,24
so với 177 ± 71,44, P = 0,001) Xem xét riêng phần tình cảm và thể chất thì điểm cũng giảm dần từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 3B Riêng phần quan hệ gia đình, xã hội, chỉ có giai đoạn IIIB thì điểm thấp hơn hẳn so với giai đoạn I [31]
Theo kết quả nghiên cứu của Jonathan Klein, mất cảm giác ngon miệng
và mệt mỏi được đo bằng QLQ-C30 về mặt lâm sàng và thống kê xấu đi sau 1 tháng điều trị nhưng đã hồi phục sau 3 tháng Vào lúc 3 và 12 tháng sau khi điều trị, điểm số FACT-Hep đã được cải thiện so với mức cơ bản ở mức 13% / 19%, xấu đi ở mức 36% / 27% và vẫn ổn định ở mức 51% / 54% Sử dụng điểm số Sức khỏe toàn cầu QLQ-C30, chất lượng cuộc sống đã cải thiện 16% / 23%, xấu đi 34% / 39% và duy trì ổn định ở mức 50% / 38% sau 3 và 12 tháng Thời gian sống trung bình là 17,0 tháng (khoảng tin cậy 95% CI, 12,3-19,8 tháng) Điểm số cơ bản cao hơn trên cả sức khỏe toàn cầu FACT-Hep và QLQ-C30 có liên quan đến khả năng sống sót được cải thiện Tỷ lệ nguy hiểm
tử vong giảm 10 đơn vị chất lượng cuộc sống (CLCS), lần lượt là 0,90 và 0,88 Kích thước khối u tương quan nghịch với tỷ lệ sống [39]
Riad Salem nghiên cứu 29 bệnh nhân nút mạch xạ trị (Y90) và 27 bệnh nhân nút mạch hóa chất tại Chicago, Illinois nhằm so sánh sự cải thiện chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân ung thư gan điều trị bằng 2 phương pháp trên Sử dụng FACT- Hep đánh giá ở thời điểm trước điều trị, sau điều trị 2 tuần Ở thời điểm bắt đầu (trước khi điều trị), các nhóm được so sánh về
Trang 26điểm Child - Pugh và toàn trạng, mặc dù bệnh nhân nhóm được TACE thì gánh nặng về khối u thấp hơn và bệnh ở giai đoạn ít tiến triển hơn, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm FACT- Hep giữa 2 nhóm, có thể do cỡ mẫu nhỏ Mặc dù ở giai đoạn bệnh tiến triển nặng hơn, bệnh nhân được điều trị nút mạch xạ trị có chất lượng cuộc sống tốt hơn có ý nghĩa, dựa vào điểm hài lòng về xã hội, về khả năng hoạt động, và điểm đặc hiệu cho nút mạch Điểm chất lượng cuộc sống chung và FACT- Hep cũng cao hơn Như vậy, ở nghiên cứu này, nút mạch xạ trị mặc dù được áp dụng cho các bệnh nhân bệnh ở giai đoạn tiến triển hơn, kết quả thu được lại là cải thiện vài khía cạnh trong chất lượng cuộc sống hơn, trong khi TACE được áp dụng cho những bệnh nhân nhẹ hơn, nhưng điểm chất lượng cuộc sống lại kém hơn Tuy nhiên, do cỡ mẫu quá nhỏ, không có sự khác biệt có ý nghĩa trong chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe FACT- Hep [48]
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư Các nghiên cứu hầu hết đều chỉ ra rằng sau khi mắc bệnh, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thay đổi theo hướng tiêu cực và
có liên quan chặt chẽ với các đặc điểm về bệnh như giai đoạn của ung thư
và thời gian mắc bệnh
Một nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư vú cho thấy điểm chất lượng cuộc sống (CLCS) tổng quát ở mức trung bình (58,6 điểm); chức năng thể chất (85,8 điểm) và nhận thức (78,6 điểm) ở mức độ thấp hơn, và thấp nhất là chức năng hoạt động (71,7 điểm), cảm xúc (70,6 điểm) và xã hội (67,1 điểm) Kết quả phân tích về các yếu tố liên quan trong nghiên cứu này góp phần hỗ trợ cán bộ y tế trong đánh giá nhanh chất lượng cuộc sống của người bệnh, làm cơ sở cho quá trình giao tiếp, hướng dẫn và giúp người bệnh lựa chọn quyết định điều trị tốt nhất cũng như cảnh báo những tác dụng phụ mà người bệnh phải trải qua [7]
Trang 27Năm 2016, một nghiên cứu chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân ung thư đại trực tràng sau phẫu thuật tại bệnh viện Bình Dân cho điểm chất lượng cuộc sống trung bình là 61,7 ± 12,7 Kết quả phân tích cũng cho thấy những bệnh nhân có tình trạng hoạt động càng kém, và những bệnh nhân có giai đoạn bệnh càng nặng thì điểm chất lượng cuộc sống càng giảm, Điểm chất lượng sống của bệnh nhân ung thư đại trực tràng sau phẫu thuật ở mức trung bình, 61,7; Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm số chất lượng sống trung bình, và điểm trung bình triệu chứng, trung bình chức năng với tình trạng hoạt động và giai đoạn bệnh [4]
Theo kết quả nghiên cứu của Nông Văn Dương và các cộng sự trên 42 bệnh nhân tại trung tâm ung bướu Thái Nguyên đã chỉ ra sau 1 tuần điều trị các điểm số chất lượng cuộc sống đều được cải thiện có ý nghĩa thống kê; điểm số sức khỏe tổng quát tăng lên 58,5 điểm Mức độ đau ảnh hưởng đến chất lượng sống về chức năng hoạt động, nhận thức, cảm xúc, sức khỏe chung Có sự khác biệt về điểm số nhận thức giữa nam và nữ; dân tộc Kinh khác biệt với dân tộc thiểu số về chức năng hoạt động, cảm xúc và sức khỏe tổng quát; nhóm tuổi dưới 60 có chức năng hoạt động và sức khỏe chung tốt hơn; và vị trí ung thư cũng khiến chức năng thể chất có sự khác biệt ý nghĩa Kết luận: Tình trạng đau vừa, nặng khi nhập viện khá cao; chất lượng cuộc sống mức trung bình, tuy nhiên được cải thiện có ý nghĩa khi được điều trị thuốc giảm đau theo bậc thang [5]
Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư điều trị nội trú tại Trung tâm Ung bướu và Y học hạt nhân – Bệnh viện Quân y 103, tác giả Nguyễn Mai Anh đã cho thấy điểm trung bình chất lượng cuộc sống (CLCS) lĩnh vực sức khỏe tổng quát của đối tượng nghiên cứu là 52,0; cao nhất là chức năng cảm xúc 59,8 điểm; thấp nhất là chức năng xã hội 38,3 điểm Các yếu tố: cơ sở vật chất, hoạt động điều trị, nhân lực và quy trình, quy định đều có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cuộc sống người bệnh
Trang 28ung thư Những người bệnh đánh giá được điều trị “Rất tốt” có điểm sức khỏe tổng quát cao nhất 58,9 Nhóm nhận được hỗ trợ kinh tế từ xã hội và thường xuyên tiếp xúc với các kênh thông tin có điểm sức khỏe tổng quát cao hơn, tương ứng 60,6 và 59,1 Sự hỗ trợ giữa những người bệnh cũng ảnh hưởng tốt đến chất lượng cuộc sống (CLCS) [2]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Thế Anh năm 2019 trên bệnh nhân ung thư thanh quản, trước điều trị phẫu thuật, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư thanh quản bị ảnh hưởng ở các khía cạnh "tâm lý - cảm xúc", "rối loạn giọng nói", "mất ngủ" và "suy giảm tình dục" chất lượng cuộc sống chung bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ Sau điều trị phẫu thuật, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân giảm thấp nhất ở thời điểm 1 tháng sau phẫu thuật
và hồi phục dần sau đó [1]
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành về chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2017 mô tả cắt ngang, gồm 200 bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định bệnh ung thư và đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh trong thời gian từ 15/02/2017 đến 15/07/2017 Chất lượng cuộc sống của các người bệnh ung thư là thấp, điểm trung bình theo bộ câu hỏi FACT-G là 47,03 điểm (SD = 13,84) Trong đó, lĩnh vực thể chất có điểm cao nhất là 16,24 điểm (SD = 5,49), thấp nhất là lĩnh vực hoạt động (6,14 điểm – SD = 4,16), hai lĩnh vực quan hệ gia đình xã hội và tinh thần lần lượt là 12,39 điểm (SD = 2,97), 12,26 điểm (SD = 6,14) Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư có mối tương quan với: giai đoạn bệnh, thời gian mắc bệnh và phương pháp điều trị, Thời gian mắc bệnh dài, giai đoạn nặng hơn của bệnh cũng như những bệnh nhân đang được điều trị chăm sóc giảm nhẹ có chất lượng cuộc sống thấp hơn [19]
- Các triệu chứng trầm cảm hay gặp ở bệnh nhân ung thư là: mệt mỏi, buồn chán (70,8%), rối loạn giấc ngủ (70,1%), khí sắc giảm (59,1%) và chán ăn (56,4%)
Trang 29- Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân ung thư là 57,7%, trong đó: trầm cảm nhẹ 32,2%, trầm cảm vừa 18,8% và trầm cảm nặng 6,1%
- Theo giai đoạn bệnh, nhóm bệnh nhân ung thư giai đoạn I, tỷ lệ không mắc trầm cảm cao (52,9%) và không có trầm cảm nặng, ngược lại, nhóm bệnh nhân ung thư giai đoạn IV, tỷ lệ trầm cảm nặng chiếm tỷ lệ cao nhất (18,5%), mức độ và tỷ lệ trầm cảm nặng tăng dần theo giai đoạn bệnh
1.4 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sông liên quan đến sức khỏe của người bệnh ung thư
Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống (CLCS) liên quan đến sức khỏe giúp cho việc có thể chứng minh một cách khoa học về tác động của sức khỏe lên chất lượng cuộc sống Một số công cụ được sử dụng rộng rãi như SF - 12 và SF - 36 (Medical Outcomes Study Short Forms), SIP (Sickness Impact Profile), và QOWBS(Quality of Well-Being Scale)… Hệ thống đo lường FACIT (Functional Assessment Chronic Illness Therapy)
và FACIT.org (www.facit.org) là hệ thống quản lý phân phối các thông tin liên quan đến hành chính, chấm điểm và giải thích của một loạt các câu hỏi
để đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe cho những người
có bệnh mãn tính Bộ câu hỏi đầu tiên của FACIT, FACT - G (Functional Assessment Illness Therapy - General) được phát triển để đánh giá chất lượng cuộc sống của bênh nhân ung thư đã được sử dụng trong hàng trăm nghiên cứu trên toàn thế giới Kể từ khi công bố FACT - G năm 1993, FACIT đã phát triển hơn 50 bộ câu hỏi, dịch chúng sang hơn 60 ngôn ngữ Trong khi ung thư vẫn là một trọng tâm lớn, FACIT cũng đã phát triển các công cụ đánh giá sự mệt mỏi, sự hài lòng điều trị, đời sống tinh thần của bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính khác
Trang 301.4.1 FACT - G
FACT - G được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân ung thư Bộ câu hỏi này ban đầu được tạo nên bởi các bài phỏng vấn bán cấu trúc của cả bệnh nhân và các chuyên gia về ung thư Nó gồm 27 câu hỏi để tự theo dõi chia làm 4 khía cạnh của chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe: thể chất, gia đình/ xã hội, tình cảm
và khả năng làm việc 27 câu hỏi đó có thể được ứng dụng cho tất cả các bệnh nhân bị bệnh mạn tính, không chỉ cho bệnh gan mật, do đó tính đặc hiệu cho đánh giá bệnh nhân gan mật không cao Sau này, các phần riêng cho các bệnh
và phương pháp điều trị khác nhau cũng được phát triển thêm để đánh giá chất lượng cuộc sống đặc hiệu cho từng bệnh [29]
1.4.2 FACT - Hep
Từ tháng 6 năm 1997 đến tháng 4 năm 1998, bảng điểm FACT- Hep được hình thành và đánh giá FACT - Hep là phiên bản đặc hiệu cho ung thư gan mật thuộc hệ thống đo lường FACIT ( ) Nó bao gồm bộ câu hỏi FACT-
G gồm 27 câu hỏi chia làm 4 phần như trên đã trình bày và thêm vào đó là 18 câu hỏi tập trung đánh giá triệu chứng và chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân ung thư gan mật Tất cả các công cụ đánh giá CLCS đặc hiệu bệnh của hệ thống FACT đều gồm có FACT- G và phần riêng đặc hiệu cho bệnh
đó Các câu hỏi trong đó được chia theo mức điểm từ 0 đến 4, với tổng chung cao hơn và điểm từng phần cao hơn là chỉ ra CLCS tốt hơn Cùng với EORTC QLQ-C30, FACT- Hep là một trong các công cụ được sử dụng nhiều nhất trong số 45 nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư gan mật, với 14 nghiên cứu, 5 thử nghiệm pha I/II, 2 thử nghiệm pha III [52]
1.4.3 EORTC-C30
The European Organization for Research and Treatment of Cancer Quality of Life Questionnaire Core 30 (EORTC QLQ-C30) EORTC QLQ -
Trang 31C30 là công cụ được sử dụng nhiều nhất để đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân ung thư ( ) Bộ câu hỏi EORCT QLQ - C30 được thiết
kế để bệnh nhân có thể tự theo dõi bệnh ung thư và được thiết kế để sử dụng cho các thử nghiệm lâm sàng, bao gồm 5 phần về chức năng (thể chất, vai trò, tình cảm, nhận thức và xã hội), 3 phần về triệu chứng (mệt mỏi, nôn và buồn nôn, đau), tình trạng sức khỏe chung và 6 vấn đề riêng (khó thở, mất ngủ, chán ăn, táo bón, ỉa chảy và khó khăn về tài chính) Điểm cao trong phần về chức năng chỉ ra khả năng thực hiện chức năng tốt, còn điểm cao trong tình trạng sức khỏe chung chứng tỏ chất lượng cuộc sống cao, tuy nhiên điểm cao trong vấn đề về triệu chứng chỉ ra rằng bệnh nhân đang gặp các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe EORTC QLQ - C30 được dịch ra hơn 60 ngôn ngữ
và được đánh giá là có tính ứng dụng ở nhiều nền văn hóa khác nhau Sau này, dựa trên EORTC QLQ - C30 và hướng dẫn hình thành các câu hỏi về chất lượng cuộc sống của nhóm nghiên cứu chất lượng cuộc sống của EORTC, EORTC QLQ - HCC18 đặc hiệu cho ung thư gan đã được tạo nên nhưng chưa được áp dụng rộng rãi trong các thử nghiệm ung thư gan quốc tế,
do đó chưa đánh giá được giá trị của công cụ này [27]
1.4.4 Các công cụ khác
Các công cụ này đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe nói chung cho tất cả các bệnh và tình trạng sức khỏe Chúng không được thiết
kế riêng cho việc đánh giá bệnh nhân Ung thư biểu mô tế bào gan
a/ SF- 36 SF- 36 là công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được sử dụng rộng rãi nhất ở Mỹ Nó là những câu hỏi chung đánh giá 2 khái niệm lớn về sức khỏe (thể chất và tinh thần) với 36 câu hỏi chia làm 8 phần: thể chất, xã hội, sống còn, hạn chế vai trò do vấn đề về tình cảm, hạn chế vai trò do vấn đề thể chất, đau, vấn đề tâm thần và sức khỏe chung Mỗi phần được cho điểm từ 0 đến 100 [44]
Trang 32b/ WHOQOL - 100 và WHOQOL - BREF WHO đã xây dựng 2 công
cụ để đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) là WHOQOL- 100 và WHOQOL- BREF Các công cụ này được áp dụng với một loạt các phiên bản khác nhau và có thể được sử dụng để so sánh chất lượng cuộc sống của các nhóm dân cư khác nhau, thậm chí các nước khác nhau WHOQOL 100 gồm 24 phần với 100 câu hỏi Các phần bao gồm 6 khía cạnh: thể chất (năng lượng và mệt mỏi, ngủ và nghỉ ngơi, đau và sự khó chịu), tâm thần (hình dạng cơ thể và dung mạo, cảm xúc tích cực, tiêu cực, sự tự quý trọng), sự độc lập (trong các hoạt động hàng ngày), xã hội (quan hệ cá nhân, sự trợ giúp của xã hội), môi trường (an toàn cơ học, nguồn tài chính) và tinh thần
Nó là một công cụ cho phép so sánh chất lượng cuộc sống (CLCS) của các nền văn hóa khác nhau và có tới hơn 40 phiên bản ngôn ngữ khác nhau [58] WHOQOL - BREF là phiên bản rút ngắn nhưng cũng có tính ổn định và độ tin cậy cao [58]
c/ SQLI bao phủ 5 khía cạnh của chất lượng cuộc sống (CLCS) (hoạt động, cuộc sống thường nhật, sức khỏe, hỗ trợ của bạn bè và xã hội và quan điểm) Nó được thiết kế để sử dụng cho các bác sĩ để giúp họ đánh giá lợi ích
và nguy cơ của các phương pháp điều trị khác nhau [25]
d/ SF- 12 SF- 12 là công cụ gồm 12 câu hỏi về tình trạng sức khỏe được hình thành dựa trên SF- 36 Phiên bản thứ 2 của SF- 12 chia làm 8 phần: chức năng thể chất, thể chất, đau, sức khỏe chung, sự sống còn, chức năng xã hội, tình cảm, và sức khỏe tâm thần Nó cũng cung cấp các thông tin chung về khía cạnh thể chất về tinh thần Điểm sẽ chấm từ 0 đến 100 và sau đó so với mức bình thường, với mức điểm càng cao thì chất lượng cuộc sống (CLCS) càng cao [30]
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh Viện Bãi Cháy - tỉnh Quảng Ninh
Trung tâm Ung bướu trực thuộc Bệnh viện Bãi Cháy được thành lập Tháng 11-2015, với 20 giường bệnh Khu xạ trị, được thiết kế 3 tầng bao gồm: Phòng bong-ke cho máy gia tốc tuyến tính, phòng chụp CT mô phỏng, phòng lập kế hoạch điều trị, phòng chụp xạ hình SPECT, phòng hotlab và một
số phòng kỹ thuật và hạng mục phụ trợ khác khác Đặc biệt, cuối năm 2018 khu nhà điều trị nội trú có quy mô 200 giường bệnh bao gồm 12 tầng với các thiết bị y tế hoàn thiện đáp ứng được nhu cầu điều trị của bệnh nhân ung bướu trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận
Trung tâm ung bướu Bệnh viện Bãi Cháy được đề xuất là bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện K trung ương Bệnh viện được Bệnh viện K Trung ương
hỗ trợ đào tạo nhân lực, chuyển giao kỹ thuật do đó, các bác sĩ, kỹ thuật viên của Bệnh viện đã đã làm chủ các kỹ thuật trong điều trị các bệnh lý ung thư như: Phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, phẫu thuật được nhiều ca bệnh phức tạp, như:
U não, u thực quản, u đầu tụy, cắt gan, mật….vv
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Người bệnh được chẩn đoán xác định ung thư gan (nguyên phát và thứ phát) ở bất cứ giai đoạn nào, đang điều trị các phương pháp tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh
- Hồ sơ bệnh án điều trị của người bệnh
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh đã được chẩn đoán xác định là ung thư gan, đang điều trị các phương pháp tại trung tâm ung bướu, có đầy đủ hồ sơ bệnh án với các
Trang 34thông tin hành chính, bệnh sử, tiền sử, thăm khám lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và xác chẩn mô bệnh học,
Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi đã được giải thích mục tiêu của nghiên cứu
- Người bệnh nặng, quá mệt mỏi suy kiệt, không đủ khả năng hiểu và tự trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ 1/6/2019 đến tháng 5/2020
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Là một nghiên cứu dịch tễ học mô tả qua cuộc điều tra cắt ngang nhằm:
1 Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2019
2 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan tại địa bàn nghiên cứu
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
n là số người bệnh tham gia điều tra
Z (1 - /2 là độ tin cậy lấy ở ngưỡng xác suất = 5%
p là tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư là 70.%[12]
d là độ chính xác mong muốn (ước tính là 0,09)
Trang 35Do vậy cỡ mẫu tính toán sẽ là: 100 người bệnh, thực tế có 104 người bệnh tham gia đánh giá tình trạng dinh dưỡng
- Cỡ mẫu đánh giá chất lượng cuộc sống: là toàn bộ 104 người bệnh tham gia đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD)
b/ Phương pháp chọn mẫu
Chủ động chọn trung tâm ung bướu bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh, Chọn toàn bộ người bệnh đến khám được chẩn đoán xác định là Ung thư gan và điều trị tại trung tâm ung bướu từ 1/6 đến 31/12/2019 đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu và loại mẫu
2.2.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu
- Thông tin chung của người bệnh theo giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn
- Thời gian mắc bệnh, tiền sử mắc các bệnh và bệnh lý nền của người bệnh
- Thói quen ăn uống của người bệnh: Tần số tiêu thụ thực phẩm, số bữa
ăn và bữa ăn phụ, số lượng rau và trái cây và đồ uống có ga mà người bệnh tiêu thụ
- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào BMI theo nhóm tuổi, giới tính, giai đoạn bệnh
- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào SGA theo giới tính, giai đoạn bệnh và bệnh nền
- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào MNA theo giới tính, giai đoạn bệnh và bệnh nền
- Giá trị trung bình và tỷ lệ giảm Albumin, Protein huyết thanh của người bệnh theo nhóm tuổi và bệnh nền
- Điểm trung vị các lĩnh vực chức năng, triệu chứng và chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh bộ câu hỏi EORT - C30 chia theo nhóm tuổi, giai đoạn bệnh và bệnh nền
Trang 36- Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh theo bộ câu hỏi EORT - C30 chia theo nhóm tuổi, giai đoạn bệnh, bệnh nền
- Điểm trung vị các lĩnh vực chức năng, triệu chứng và chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh bộ câu hỏi FACT - HEP chia theo nhóm tuổi, giai đoạn bệnh và bệnh nền
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh theo bộ câu hỏi FACT - HEP chia theo nhóm tuổi, giai đoạn bệnh, bệnh nền
2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
2.2.4.1.Kỹ thuật nhân trắc: Người bệnh được cân, đo trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện
+ Kiểm tra cân nặng: Sử dụng cân SECA (độ chính xác 0.1kg) Trọng lượng cơ thể được ghi theo kg với một số lẻ Cân đối tượng vào buổi sáng, khi chưa ăn uống Khi cân chỉ mặc quần áo gọn nhất và trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bố đều cả 2 chân Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng
+ Đo chiều cao đứng bằng thước gỗ sản xuất theo tiêu chuẩn của Mỹ,
độ chia chính xác tới milimet Đối tượng bỏ guốc dép, đi chân không, bỏ múi tóc, đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai, đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước đo, mắt nhìn thẳng, hai tay bỏ thõng theo hai bên mình Kéo cái chặn đầu của thước từ trên xuống đến khi áp sát đỉnh đầu, nhìn vào thước để đọc kết quả Chiều cao được ghi theo cm với một số lẻ
2.2.4.2 Phỏng thói quen ăn uống và tần suất tiêu thụ thực phẩm
+ Phỏng vấn thói quen ăn uống: Phỏng vấn trực tiếp người bệnh về thói
quen ăn uống theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục 1) Bộ câu hỏi được thiết
kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu có tham khảo của các nghiên cứu trước
Trang 37+ Xác định tần số tiêu thụ thực phẩm trong tuần qua, tháng qua, theo phương pháp thường quy của viện Dinh Dưỡng (FFQ: Food - Frequence - Questionaire) Phỏng vấn trực tiếp đối tượng theo bảng kiểm đã chuẩn bị sẵn
với danh mục các thực phẩm phổ biến tại Quảng Ninh (phụ lục 2)
- Các thực phẩm sử dụng ở mức độ thường xuyên là: Sử dụng ở mức
độ hàng ngày hoặc 4 - 7 lần / tuần
- Các thực phẩm sử dụng ở mức độ không thường xuyên là: Sử dụng
ở mức độ 1 - 3 lần/ tuần hoặc đôi khi, thỉnh thoảng mới sử dụng
2.2.4.3 Phỏng vấn trực tiếp người bệnh kết hợp cân đo để đánh giá TTDD
của người bệnh dựa theo BMI, SGA và MNA theo Phụ lục 3,4
2.2.4.4 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh bằng phiếu tự điền
Để đánh giá, chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh ung thư gan,
sử dụng hai bộ câu hỏi EORTC - C30 và FACT -HEP, trong đó bộ câu hỏi EORTC - C30 là bộ câu hỏi dùng chung cho tất cả các người bệnh ung thư, còn bộ câu hỏi FACT - HEP là bộ câu hỏi dành riêng cho ung thư gan Hai bộ câu hỏi này do Tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư châu Âu (EORTC) giữ bản quyền, xây dựng và phát triển theo một quy trình đã được tiêu chuẩn hóa nghiêm ngặt
Bộ câu hỏi EORTC-C30 gồm 30 câu hỏi (đánh số từ 1 đến 30, xem phụ lục 5), được thiết kế để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung
thư nói chung, bao gồm các khía cạnh về khả năng hoạt động thể lực, khả năng nhận thức, hòa nhập xã hội, khía cạnh cảm xúc cũng như các triệu chứng toàn thân do bệnh hoặc do quá trình điều trị ung thư gây ra Bố cục của Bộ câu hỏi EORTC-C30 được mô tả cụ thể phía dưới Các câu hỏi từ 1-28 người bệnh có thể lựa chọn một trong bốn phương án trả lời, được đánh số theo kiểu thang Likert từ 1 đến 4 tùy theo mức độ ảnh hưởng của triệu chứng hoặc khía cạnh đó đến chất lượng cuộc sống của người bệnh (1: không ảnh hưởng; 2;
Trang 38ảnh hưởng ít; 3: ảnh hưởng nhiều; 4: ảnh hưởng rất nhiều) Riêng hai câu hỏi
số 29 và 30 (đánh giá chất lượng cuộc sống chung): người bệnh có thể lựa chọn một trong bảy phương án trả lời (được đánh số theo kiểu thang Likert từ
1 đến 7, tương ứng với bảy mức độ về chất lượng cuộc sống chung) Với mỗi chỉ số về mặt chức năng (có 17 câu), điểm càng cao chứng tỏ chức năng của người bệnh càng bị ảnh hưởng trầm trọng (đồng nghĩa với chất lượng cuộc sống kém) Với mỗi chỉ số về mặt triệu chứng (có 13 câu), điểm càng cao chứng tỏ biểu hiện của khía cạnh triệu chứng càng trầm trọng và chất lượng cuộc sống càng bị ảnh hưởng nhiều hơn
Bố cục của Bộ câu hỏi EORTC-C30
Bộ EORTC-C30: Phân nhóm câu hỏi theo các
khía cạnh đánh giá
Tổng số câu hỏi
Số thứ tự câu hỏi Đánh giá chức
Trang 39Bộ câu hỏi FACT - Hep (phụ lục 6) là phiên bản đặc hiệu cho ung thư
gan mật gồm 27 câu hỏi chia làm 4 khía cạnh của chất lượng cuộc sống (CLCS) như tình trạng sức khỏe (7 câu), tình trạng giao tiếp với gia đình/ xã hội (7 câu), tình trạng tinh thần (6 câu), tình trạng chức năng (7 câu) và thêm vào đó là 18 câu hỏi những mối quan tâm khác tập trung đánh giá triệu chứng
và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư gan mật Người bệnh chọn năm phương án trả lời được đánh số theo kiểu thang Likert từ 0 đến 4 tùy theo mức độ ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe, tình trạng giao tiếp gia đình/xã hội, tình trạng tinh thần, tình trạng chức năng và những mối quan tâm khác đến chất lượng cuộc sống của người bệnh (0: hoàn toàn không, 1: ảnh hưởng chút ít; 2; ảnh hưởng đôi chút; 3: ảnh hưởng khá nhiều; 4: ảnh hưởng rất nhiều) Các câu hỏi trong đó được chia theo mức điểm từ 0 đến 4, với tổng chung thấp hơn và điểm từng phần thấp hơn là chỉ ra chất lượng cuộc sống tốt hơn
Bố cục của Bộ câu hỏi FACT – HEP
Bộ FACT - HEP: Phân nhóm câu hỏi
theo các khía cạnh đánh giá
Tổng số câu hỏi
Số thứ tự câu hỏi
Tình trạng giao tiếp gia đình/ xã hội 7 GS1- GS7
Hep1 Hep 6, Hep8 CNS7, Cx6, H17, An7,
HN2
Trang 40Mỗi người bệnh được phát 2 bộ phiếu tự điền để người bệnh Khi lựa chọn được phương án trả lời phù hợp, người bệnh khoanh tròn vào con số tương ứng với phương án được lựa chọn Điều tra viên giải thích đầy đủ những thắc măc của người bệnh Các câu trả lời này sẽ được tính thành điểm Tổng điểm chung thấp hơn và điểm từng phần thấp hơn là chỉ ra chất lượng cuộc sống (CLCS) tốt hơn
+ Albumin huyết thanh từ 28 – 34g/L: Thiếu mức độ nhẹ
+ Albumin huyết thanh từ 21 – 27g/L: Thiếu mức độ vừa
+ Albumin huyết thanh < 21g/L: Thiếu mức độ nặng
- Định lượng Protein: Người bệnh được coi là thiếu Protein khi nồng độ
Protein < 60g/l
2.2.5 Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu
2.2.5.1.Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
- Dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI - Body Mass Index)
W: Cân nặng của đối tượng (kg)
H: Chiều cao của đối tượng (m)
Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 1998 được đánh giá theo chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) như sau: