1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chăm sóc và chất lượng cuộc sống của người bệnh gút tại khoa cơ xương khớp bệnh viện bạch mai năm 2019

37 271 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 134,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế, gút thuộc các bệnh viêm khớp có thể chữa trị được bằng cách sử dụng các thuốc giảm acid uric máu dài hạn kếthợp với thay đổi lối sống và chế độ ăn.. Điều quan trọng nhất là nhận

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gút là bệnh lý chuyển hóa liên quan đến tăng nồng độ acid uric trong máu,đặc trưng bởi những đợt viêm khớp cấp hoặc viêm khớp mạn tính do lắng đọngtinh thể mononatri urat trong các khớp và mô liên kết [1],[2] Trong thời giandài trước đây, gút được coi là bệnh hiếm gặp và là căn bệnh của người giàu có

Từ những năm đầu của thế kỉ 21, tỷ lệ bệnh gút và tăng acid uric đang gia tăngrất nhanh trên thế giới Các biểu hiện lâm sàng của bệnh, tuổi và giới của ngườibệnh, các bệnh liên quan, đáp ứng điều trị, hậu quả xấu của bệnh, mối liên quancủa bệnh với các bệnh lý tim mạch, bệnh lý thận… có nhiều thay đổi theo chiềuhướng không tốt khiến bệnh đã trở thành “bất trị” trên nhiều bệnh nhân [3] Kể

cả ở các nước phát triển, bệnh cũng không được quản lý và theo dõi chặt chẽlàm gia tăng tỷ lệ bệnh tật, tử vong, tàn phế và giảm chất lượng cuộc sống Bệnhgặp chủ yếu ở nam giới, tuổi trung niên Tại Việt Nam trong giai đoạn 1978-

1989 tỷ lệ bệnh gút chiếm 1,5% các BN mắc bệnh cơ xương khớp và theo mộtnghiên cứu về mô hình bệnh tật tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Bạch Maitrong 10 năm (1991-2000) thì gút chiếm tỷ lệ là 8,57% [4]

Tại Việt Nam, đã có nhiều đề tài về bệnh gút được thực hiện, tuy nhiêncác đề tài này chủ yếu tập trung vào các khía cạnh chẩn đoán và điều trị Cho tớihiện tại, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy nghiên cứu nào đánh giá về chất lượngcuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh gút Thực tế, gút thuộc các bệnh viêm khớp

có thể chữa trị được bằng cách sử dụng các thuốc giảm acid uric máu dài hạn kếthợp với thay đổi lối sống và chế độ ăn Điều quan trọng nhất là nhận thức củanhân viên y tế và bệnh nhân về tầm quan trọng của bệnh, vai trò của điều trị,theo dõi, kiểm soát bệnh gút và các bệnh liên quan cũng như việc các ảnh hưởngcủa bệnh tới chất lượng cuộc sống, công việc và sinh hoạt hàng ngày của bệnhnhân[5], [6]

Trang 2

Hiện nay rất nhiều thầy thuốc và các nhân viên y tế quan tâm đến việc đolường chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân mắc bệnh mạn tính Trong đó gút

là một bệnh mãn tính ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống, công việccũng như sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân Việc đánh giá hiểu quả và lợi íchcủa các phương pháp điều trị gút không chỉ căn cứ vào khả năng kiểm soát bệnh

mà còn dựa vào cả sự cải thiện chất lượng cuộc sống sau điều trị Việc đánh giá,

đo lường mức độ hoạt động và tổn thương của gút là nền tảng trong phác đồđiều trị bệnh nhưng lại thường không phản ánh chất lượng cuộc sống của ngườibệnh Nhiều trị chứng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sốngcủa người bệnh gút như sung đau các khớp, hạn chế vận động, xuất hiện các hạttophi… Như vâỵ có thể thấy chất lượng cuộc sống là một yếu tố vô cùng quantrọng trong việc đánh giá hiệu quả chăm sóc y tế trên các bệnh nhân nói chung

và bệnh gút nói riêng Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện chưa có các nghiên cứu đánh

giá về vấn đề này Do đó , chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng chăm sóc và chất lượng cuộc sống của người bệnh gút tại Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai năm 2019” với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng chăm sóc của điều dưỡng trên bệnh nhân gút trị tại Khoa

Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai năm 2019.

2 Mô tả chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang điểm SF-36 ở những bệnh nhân gút liên quan đến chăm sóc và một số yếu tố khác trong thời gian điều trị tại Khoa

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa, phân loại và tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút

1.1.1 Định nghĩa

Gút là bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, có đặcđiểm chính là tăng acid uric máu, bão hòa acid uric ở dịch ngoại bào gây lắngđọng tinh thể monosodium urat ở các mô Các triệu chứng lâm sàng chính là:viêm khớp do gút, hạt tophi, bệnh thận do gút và sỏi uric [7],[8]

1.1.2 Dịch tễ học bệnh gút

Gút là bệnh thường gặp ở các nước phát triển nhưng hiện nay cũng thườngthấy ở các nước đang phát triển và bệnh có xu hướng tăng lên, theo các nghiêncứu tại Anh tỷ lệ gút đã tăng từ 0,14 % năm 1975 lên 1,4% năm 2005 [9] Trongngười có tăng acid uric đơn thuần, có tới 40 - 50% trở thành bệnh gút [10] Gút xảy

ra chủ yếu ở nam giới nhưng gần đây tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới có xu hướng tănglên Hiện nay, tỷ lệ nam/nữ mắc bệnh hiện là 3 - 4/1 Độ tuổi mắc bệnh chủ yếu là

ở độ tuổi trung niên đến cao tuổi đối với nam giới và ở giai đoạn sau mãn kinh đốivới nữ giới [5],[11] Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi, chiếm 7% ở nam giới trên

65 tuổi và 3% ở nữ giới trên 85 tuổi Bệnh khởi phát ở lứa tuổi trẻ hơn (20 - 30tuổi) đang tăng lên, với tỷ lệ đáng kể (5 - 7%)[11] Nam giới mắc bệnh ở tuổi càngtrẻ thì bệnh càng nặng [8] Tỷ lệ mắc bệnh chung trên toàn thế giới là 1 - 10% và có

sự khác biệt khá lớn giữa các quốc gia Tỷ lệ mắc bệnh cao (khoảng 10%) thườnggặp ở các nước phát triển như: Mỹ, Canada, Hy Lạp, Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan,Australia, New Zealand, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore Trong đó, nước có tỷ

lệ mắc bệnh cao nhất là Đài Loan (nam 9,5%, nữ 2,8%), tiếp theo là Mỹ (nam 6%,

Trang 4

nữ 2%) và New Zealand (nam 6%, nữ 2%) Tại một số quốc gia như Cộng hòa Séc,Hàn Quốc, tỷ lệ mắc bệnh rất thấp (dưới 1%)[5],[11].

Hiện Việt Nam chưa công bố tỷ lệ mắc bệnh chung và chỉ có một sốnghiên cứu nhỏ lẻ ước đoán về số lượng và tỷ lệ bệnh nhân gút trong dân số.Theo thống kê năm 2000 ở phường Trung Liệt - Hà Nội và huyện Tân Trường -Hải Dương, tỷ lệ mắc bệnh gút chiếm 0,14% dân số Do sự phát triển của kinh

tế, xã hội và sự gia tăng về tuổi thọ, bệnh ngày càng được quan tâm chẩn đoánhơn Theo khảo sát tại bệnh viện Chợ Rẫy, gút chiếm khoảng 10-15% các bệnh

lý xương khớp điều trị tại đây [12] Tại Việt Nam trong giai đoạn 1978-1989 tỷ

lệ bệnh gút chiếm 1,5% các BN mắc bệnh cơ xương khớp điều trị nội trú tạikhoa cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai và theo một nghiên cứu trong 10 năm(1991-2000) thì tỷ lệ này là tăng lên là 8,57% [4] Bệnh gặp chủ yếu ở nam giới,tuổi trung niên và một số có tính chất gia đình Nghiên cứu dịch tế cho Tổ chức

Y tế thế giới và hội thấp khớp học châu Á- Thái Bình Dương tiến hành tại một

số tỉnh miền Bắc Việt Nam vào năm 2000 cho thấy tỷ lệ mắc gút là 0,14% ởngười trưởng thành [13]

1.1.3 Phân loại bệnh gút

1.1.3.1 Bệnh gút do các bất thường về enzym

Bệnh gút do các bất thường về enzym là thể bệnh di truyền do thiếu hụt hoàntoàn hay một phần enzym HPRT hoặc tăng hoạt tính enzym PRPP Bệnh Lesch -Nyhan do thiếu enzym HPRT rất hiếm gặp và rất nặng Lượng acid uric tăng caongay từ nhỏ và có các biểu hiện toàn thân, thần kinh, thận và khớp [14],[15]

1.1.3.2 Bệnh gút nguyên phát

Bệnh gút nguyên phát là thể bệnh chưa rõ nguyên nhân gây ra Đây là thểbệnh thường gặp nhất (chiếm 95% các trường hợp) Bệnh có liên quan với cácyếu tố gia đình, lối sống - chế độ ăn và một số bệnh rối loạn chuyển hóa khác(đái tháo đường, rối loạn lipid máu, bệnh lý tim mạch…) [12]

Trang 5

1.1.3.3 Bệnh gút thứ phát

Bệnh gút thứ phát: là thể bệnh xuất hiện sau một số bệnh lý khác dẫn đếntăng sản xuất acid uric trong máu hoặc giảm đào thải acid uric hoặc cả hai, cụthể như sau:

+ Suy thận và các bệnh lý làm giảm độ thanh thải của acid uric [12],[14] + Các bệnh lý huyết học ác tính như bệnh đa hồng cầu, một số bệnh thiếumáu do tan máu, lơ-xê-mi cấp thể tủy, hodgkin (u lympho hodgkin), sarcomahạch, đa u tủy xương, có sử dụng các phương pháp diệt tế bào (hóa chất, phóngxạ) gây phá hủy nhiều tế bào, tổ chức, dẫn đến thoái hóa purin nội sinh [12] + Sử dụng một số thuốc như steroid, thuốc kháng lao, thuốc gây đọc tế bào

để điều trị các bệnh ác tính hay thuốc lợi tiểu (furosemid, thiazid…) gây tăngacid uric máu, có thể dẫn đến bệnh gút [2],[12]

+ Chế độ ăn thực phẩm có chứa nhiều purin như: thịt và nội tạng động vật(gan, thận), hải sản (tôm, cua)…, uống nhiều rượu, bia, nước ngọt là nguyênnhân làm nặng thêm bệnh [12],[14]

+ Một số nguyên nhân hiếm gặp khác cũng có thể gây bệnh gút thứ phátbao gồm: bệnh thận do thai nghén, suy tuyến giáp, gan nhiễm glycogen, cườngcận giáp [14]

1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán

Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán gút là phát hiện tinh thể muối urat lắng đọng

ở dịch khớp hoặc hạt tophi Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam việc xét nghiệm tinhthể urat từ dịch khớp ít được thực hiện mà chủ yếu thông qua triệu chứng lâmsàng điển hình kết hợp với xét nghiệm acid uric máu.Tiêu chuẩn chẩn đoán củaHội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn Chống thấp khớp Châu Âu năm 2015

có ưu điểm vượt trội hơn các tiêu chuẩn trước đây:

Trang 6

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán gút

Lâm sàng

Đặc điểm viêm một hay vài khớp

Khớp cổ chân/khớp giữa bàn chân

Khớp ngón chân cái

1

2 Tính chất đợt viêm cấp

3 Đặc điểm thời gian

Có ≥2 đợt đau cấp, không đáp ứng

thuốc, thời gian tối đa <24h

- Khỏi triệu chứng đau trong vòng 14

ngày

- Khỏi hoàn toàn giữa các đợt cấp

Không có đợt đau điển hình

Có 1 đợt

Có đợt tái phát

0 1 2

Cận lâm sàng

Xét nghiệm acid uric máu

>10 mg/dl 8-10 mg/dl 6-8 mg/dl 4-6 mg/dl

<4 mg/dl

4 3 2 0 -4 Xét nghiệm dịch khớp Không phát hiện tinh thể urat

Tối đa

-2 0 Chẩn đoán hình ảnh

- US: dấu hiệu đường đôi

- DECT: bắt màu đặc biệt

Có lắng đọng tinh thể urat:

Không hoặc không làm

Có lắng đọng tinh thể urat

0 4 Xquang: Hình ảnh bào mòn ở bàn tay

hoặc bàn chân

Không hoặc không làm

Có hình bào mòn

0 4

Chẩn đoán gút (+) Tổng điểm ≥ 8

Nguồn:Theo Tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn Chống thấp khớp Châu Âu (2015)[5]

1.2 Điều trị bệnh gút

Trang 7

- Điều trị các bệnh lý kèm theo, đặc biệt là nhóm các bệnh lý rối loạnchuyển hóa như: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thừa cân béophì…[12],[14].

- Thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, kiểm tra chức năng thậncủa bệnh nhân [14]

- Tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân [12]

1.2.2 Mục tiêu điều trị

- Kiểm soát acid uric, đưa acid uric máu về mức “mục tiêu” < 6 mg/dl(360µmol/l) cho mọi bệnh nhân và < 5 mg/dl (320µmol/l) cho bệnh nhân cótophi bằng các thuốc làm giảm acid uric máu [1],[2],[17],[18]

- Điều trị các bệnh mắc kèm, kiểm soát tác dụng phụ của thuốc [12],[3]

1.2.3 Phương pháp điều trị không dùng thuốc

1.2.3.1 Chế độ ăn với người bị gút

a) Những thức ăn không có lợi cho bệnh nhân [16],[2],[3],[19]

- Tránh các thực phẩm giàu đạm có hàm lượng purin cao như: phủ tạngđộng vật (lách, gan, thận, dạ dày, lưỡi…) Tránh sử dụng đồ uống có gas, nướcngọt vì chứa nhiều đường fructose là yếu tố làm khởi phát bệnh gút

- Hạn chế các loại thịt đỏ (thịt cừu, trâu, bò, lợn, chó, dê…), các loại hảisản (tôm, cua, cá béo, động vật vỏ cứng); đạm thực vật như các loại đậu ăn cảhạt: đậu Hà lan, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh

- Giảm các loại thực phẩm giàu chất béo no như: mỡ, da động vật, thức ănchiên, rán, quay…

Trang 8

- Kiêng đồ uống có cồn (rượu, bia ) và các thứ có tính chất kích thích như

ớt, muối ăn, cà phê…

b) Những thức ăn có lợi cho bệnh nhân gút [14],[3]

- Cần ăn nhiều rau xanh, hoa quả không chua, các thực phẩm giàu chất xơ,nhiều vitamin C, giàu bêta carotene và vitamin E như: Vitamin C trong rau ngót,càn tây, rau muống, cà chua… Bêta carotene trong cà rốt, gấc, bí đỏ, chuối tiêuchin, đu đủ chín…

- Người bị bệnh gút nên uống nhiều nước (2-3 lít/ngày), nên uống các loạinước khoáng không gas có độ kiềm cao giúp đào thải acid uric và hạn chế kếttinh urat tại ống thận

1.2.3.2 Chế độ sinh hoạt với người bị gút

- Giữ mức cân nặng hợp lý, giảm cân ở người béo phì

- Vận động nhẹ nhàng, vừa sức Tập luyện nhẹ nhưng thường xuyên

- Tránh làm việc nặng, quá sức hoặc luyện tập thể thao cường độ mạnh.Tránh những nguy cơ xảy ra chấn thương

- Giữ ấm cơ thể, tránh lạnh

- Giữ tinh thần luôn thoải mái, tránh căng thẳng (stress là một trong các yếu

tố gây khởi phát cơn gút cấp) [3],[2],[2, 14]

b) Thuốc chống viêm không steroid

Trang 9

Các NSAIDs thường dùng trong điều trị cơn viêm khớp gút cấp nhưdiclofenac, indomethacin, naproxen, ibuprofen, piroxicam…, các nhóm thuốc ứcchế chọn lọc COX-2 (celecoxib, etoricoxib…) Các thuốc này thường được chỉđịnh đơn trị liệu hay phối hợp với colchicin nhằm giảm đau trong các cơn gútcấp [2],[12],[21]

Đặc biệt, đối với người cao tuổi và người có bệnh kèm theo, cần thận trọng,cân nhắc khi dùng, chỉ nên sử dụng thuốc này trong thời gian ngắn và với liềuthấp Thuốc cần tránh dùng đối với bệnh nhân bị suy gan, suy thận nặng, viêmloét dạ dày - tá tràng tiến triển hay bệnh lý chảy máu không được kiểm soátđang dùng thuốc chống đông Lưu ý không nên phối hợp các thuốc trong cùngnhóm do không tăng tác dụng điều trị mà lại gia tăng các tác dụng phụ [12].c) Glucocorticoid

Thuốc có nhiều tác dụng phụ và do tình trạng lạm dụng thuốc ở nước tanên nhóm thuốc này không được khuyến khích sử dụng [14],[11] Chỉ sử dụngcác glucocorticoid khi các thuốc NSAIDs hay colchicin không cho kết quả hoặc

có chống chỉ định nhưng cần rất hạn chế và chỉ nên dùng ngắn ngày [2],[12],[15] Đường tại chỗ (tiêm glucocorticoid trực tiếp vào ổ khớp viêm) phải đượcthực hiện bởi thầy thuốc chuyên khoa cơ xương khớp sau khi loại trừ viêm khớpnhiễm khuẩn [2]

1.2.4.2 Thuốc giảm acid uric máu

a) Nhóm thuốc ức chế tổng hợp acid uric

+ Alopurinol :

Alopurinol được lựa chọn ưu tiên trong điều trị gút mạn tính [2],[12] Liềukhởi đầu của alopurinol không quá 100 mg/ngày trong vòng 1 tuần, sau đó tăng200-300/ngày Nồng độ acid uric máu thường trở về bình thường với liều 200-300mg/ngày Không nên chỉ định trong trong cơn gút cấp mà nên chỉ định khi

Trang 10

tình trạng viêm khớp đã thuyên giảm, sau 1-2 tuần sử dụng colchicin [2] Khicần thiết, có thể dùng liều cao hơn (tối đa 800 mg/ngày) [12],[3]

Đối với bệnh nhân suy thận độ 4 trở lên, sử dụng liều không quá 50mg/ngày để giảm khả năng gây cơn gút cấp trong thời gian đầu điều trị và giảmnguy cơ xảy ra các phản ứng quá mẫn liên quan đến alopurinol [3]

+ Febuxostat

Febuxostat là thuốc ức chế xanthin oxidase mới, không có nhân purin, cótác dụng làm giảm sản xuất acid uric Thuốc này được chỉ định kết hợp vớialopurinol hoặc thay thế khi không đáp ứng hoặc không dung nạp hay dị ứng vớicác thuốc kinh điển Liều khởi đầu 40 mg/ngày, tăng dần tới 120 mg/ngày.Thuốc không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận mạn [12],[11],[3]

b) Nhóm thuốc tăng thải acid uric

Các thuốc trong nhóm bao gồm: probenecid (250mg-3g/ngày),sulfinpyrazon (100-800mg/ngày), benzbriodaron và benzbromaron Các thuốcnày có tác dụng tăng đào thải acid uric qua nước tiểu do cạnh tranh với acid urictrên hệ thống vận chuyển anion ở ống thận Chỉ định nhóm này cần xét nghiệmacid uric niệu Chống chỉ định khi acid uric niệu trên 600 mg/24 giờ, suy thận,sỏi thận, người cao tuổi, gút mạn có hạt tophi Đôi khi có thể dùng phối hợpalopurinol với một loại thuốc tăng đào thải acid uric [2]

Trong giai đoạn khởi đầu (6 - 12 tháng đầu), khi sử dụng nhóm thuốc này

có thể gây cơn gút cấp do tăng tạm thời acid uric huyết, trong khi thuốc chưa đủnồng độ để ức chế hoàn toàn sự tái hấp thu acid uric Vì vậy, nên sử dụng thêmmột liều nhỏ colchicin trước và trong giai đoạn các tháng đầu của đợt điều trị.Ngoài ra, trong giai đoạn này cũng có thể tạo sỏi thận do acid uric niệu tăng nêncần uống nhiều nước để duy trì lượng nước tiểu ít nhất 2 lít/ngày và phải kiềmhóa nước tiểu để tránh tạo sỏi urat [12]

Trang 11

1.3 Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân gút

1.3.1 Định nghĩa chung về chất lượng cuộc sống

- Theo tổ chức y tế thế giới: “Chất lượng cuộc sống là sự nhận thức cá nhân

về vị trí của họ trong cuộc sống phù hợp với văn hóa và giá trị mang tính chất hệthống ở nơi mà họ sinh sống và phù hợp với mối quan hệ, với mục đích, sự kìvọng, trình độ và mối quan tâm của họ[22]

- Chất lượng cuộc sống liên quan tới sức khỏe: Bao gồm tất cả những lĩnhvực của cuộc sống bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những thay đổi của sức khỏe [23]

1.3.2 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống

Hiện nay, bộ câu hỏi chung đánh giá CLCS được sử dụng thường xuyênnhất là SF-36 Bộ câu hỏi này được xây dựng bởi Ware và cs (1992), có 36 mục

tự đánh giá và có thể sử dụng được với nhiều bệnh lý, nhiều cộng đồng và tìnhhuống khác nhau SF-36 đánh giá 8 nhóm vấn đề: chức năng thể chất, chức năng

xã hội, sự hạn chế vai trò do các vấn đề thể chất, sự hạn chế vai trò do các vấn

đề cảm xúc, sức khỏe tinh thần, nghị lực sống, sự đau đớn và cảm nhận chung

về tình hình sức khỏe, trong đó, điểm được chia thành 2 nhóm chính: điểm tómtắt của thành phần thể chất và điểm tóm tắt của thành phần tinh thần SF-36được chứng minh là một công cụ phù hợp với gút và đã được sử dụng trongnhiều nghiên cứu đánh giá CLCS của các BN gút [24],[25] Với công cụ này,một số nghiên cứu đã khẳng định rằng BN có CLCS thấp hơn rõ rệt so với một

Trang 12

WHOQOL-Bref bao gồm 26 mục, đánh giá 4 vấn đề của tình trạng sức khỏe baogồm thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường Một vài nghiên cứu sử dụng thangđiểm này đã chứng minh rằng các chức năng về thể chất và tinh thần đã giảm sút

rõ rệt ở các BN gút trong giai đoạn bệnh hoạt động [28]

1.3.3 Đặc điểm và tình hình nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân gút

Trên thế giới, có khá nhiều nghiên cứu đánh giá CLCS ở BN gút đã đượccông bố, trong đó, phần lớn sử dụng một bộ công cụ đơn lẻ, chỉ có một vàinghiên cứu dùng phối hợp đồng thời nhiều công cụ Các nghiên cứu này khôngchỉ mô tả đặc điểm CLCS trong gút mà còn tìm hiểu mối tương quan giữa CLCSvới các đặc điểm khác của bệnh như mức độ hoạt động, tổn thương và tiênlượng bệnh Các nghiên cứu đều nhận thấy rằng bệnh nhân bị bệnh gút có giảmCLCS về thể chất Một số nghiên cứu ở nhiều cơ sở xác nhận sự thiếu hụt trongviệc chăm sóc chất lượng cho bệnh gút, bao gồm cả việc không đạt được axituric mục tiêu là 6 mg / dl Các can thiệp nhắm mục tiêu chất lượng chăm sóc cókhả năng không chỉ cải thiện tiêu chuẩn chăm sóc mà còn cải thiện CLCS ởbệnh nhân mắc bệnh gút [29]

Trong một nghiên cứu được mô tả trước đây về 868 bệnh nhân cấp cứu,CLCS của bệnh nhân đã được truy vấn bằng cách sử dụng bộ công cụ SF-36 3tháng sau lần nhập viện cấp cứu gần nhất Việc kê đơn thuốc có khả năng khôngphù hợp trong khoa cấp cứu có liên quan đến điểm kém hơn đáng kể về chứcnăng vật lý SF-36 và các chỉ số đau khi theo dõi 3 tháng, thấp hơn 11 điểm và

13 điểm [30]

Roddy và cộng sự đã sử dụng bảng câu hỏi WHOQoL-bref để so sánhCLCS của bệnh nhân mắc bệnh gút với các biện pháp kiểm soát trong cộng đồngchăm sóc chính ở Anh [31] 13.684 đã được khảo sát và 3082 người trả lời(23%), trong đó có 137 người bị bệnh gút xác nhận khi khám lâm sàng và 2848người được kiểm soát Tuổi trung bình của bệnh nhân mắc bệnh gút là 63 tuổi,

Trang 13

49% bị tăng huyết áp, 44% mắc bệnh tim mạch / mạch máu não và 50% bị bệnh

cơ xương khớp CLCS về thể chất kém hơn ở bệnh nhân gút so với bệnh nhânkhông mắc bệnh gút, nhưng CLCS về tâm lý, xã hội và môi trường tương tựnhau giữa bệnh nhân gút và bệnh nhân không mắc bệnh gút Trong các phân tíchđiều chỉnh đa biến điều chỉnh theo giới tính, tuổi tác, độ mềm cơ xương, độ hấpthụ y tế và tình trạng bệnh gút, bệnh gút là một yếu tố dự đoán độc lập về QoLvật lý Ở những bệnh nhân bị bệnh gút, không có sự khác biệt về CLCS đượctìm thấy bởi nồng độ axit uric huyết thanh hoặc sử dụng allopurinol

Singh và cộng sự so sánh CLCS của 1.500 cựu chiến binh với bệnh gút vớituổi trung bình 68 tuổi với 38.000 cựu chiến binh không bị bệnh gút với tuổitrung bình 61 tuổi [32] Trong các phân tích chưa được điều chỉnh, bệnh nhângút có CLCS thể chất kém hơn nhiều, nhưng không phải CLCS về tinh thần /cảm xúc trên SF-36V cho các cựu chiến binh, kết quả đo được xác nhận rấtgiống với SF-36, phiên bản 2 Điểm số được điều chỉnh (điều chỉnh cho Nhânkhẩu học xã hội, tiếp cận chăm sóc sức khỏe và độ hấp thụ) đối với CLCS về thểchất và tinh thần tương tự ở bệnh nhân mắc bệnh gút và không có bệnh gút,ngoại trừ điểm đau cơ thể được điều chỉnh thấp hơn một chút ở bệnh nhân gút sovới bệnh nhân không mắc bệnh gút (47,1 so với 49,7, p < 0,01) Ở những bệnhnhân mắc bệnh gút, độ hấp thụ y tế dự đoán Điểm thấp hơn trên thang điểm tómtắt cả về thể chất và tinh thần, trong khi đó độ mềm của khớp bị dự đoán là vềthể chất thấp hơn, nhưng không phải là điểm tinh thần thấp hơn

Do đó, hai nghiên cứu này có một số kết quả khác nhau liên quan đến sựliên quan của bệnh gút với CLCS vật lý, sau khi điều chỉnh độ hấp thụ y tế giữacác yếu tố khác Hai nghiên cứu khác nhau trong các đánh giá CLCS (SF-36V

so với WHO-QoL-Bref), loại bệnh đi kèm được điều chỉnh theo nhân khẩu học

xã hội (98% nam, tuổi trung bình 68 tuổi so với 81% nam, tuổi trung bình 64năm), thiết lập (khảo sát dựa trên dân số Hoa Kỳ so với hai thông lệ chung ởAnh), đánh giá độ hấp thụ (mã ICD-9 so với tự báo cáo) và tỷ lệ phản hồi (58%

Trang 14

so với 23%) Các nghiên cứu theo chiều dọc với các nhóm bệnh gút và kiểm soátđược xác định rõ là cần thiết để kiểm tra mối tương quan của CLCS ở bệnh nhângút Sự phát triển gần đây của dụng cụ QoL dành riêng cho bệnh gút cũng có thểgiúp đo lường CLCS đặc hiệu của bệnh so với CLCS chung ở bệnh nhân gút [32].Khanna và cộng sự nghiên cứu 80 bệnh nhân gút với tuổi trung bình 60tuổi, 90% nam giới từ trung tâm chăm sóc đại học và trung tâm y tế VA[33] Điểm số SF-36 PCS là 38,9 và điểm MCS 48,6; trung bình HAD-DI là0,3 Các tiện ích y tế, được đánh giá bởi SF-6D và EQ-5D lần lượt là 0,68 (phạm

vi, 0,29 đến 1,0) và 0,73 (phạm vi, 0,11 đến 1,0)

Trang 15

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân gút đang điều trị tại Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Các BN đã được chẩn đoán gút theo tiêu chuẩn của Hội Khớp học Mỹnăm 2015

- Đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Không hợp tác nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu

- Chọn mẫu thuận tiện, tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là ….BN gút

2.2.3 Công cụ và các nội dung nghiên cứu

a.Bộ câu hỏi khảo sát: được xây dựng dựa theo bộ công cụ đánh giá CLCSSF- 36, bao gồm 2 phần chính:

A Phần 1: các thông tin chung:

- Họ tên bệnh nhân

- Tuổi

- Giới

- Địa chỉ, khu vực sống

Trang 16

B Phần 2: bao gồm 36 câu hỏi khảo sát 8 mục về CLCS (bảng 2.1).

Bảng 2.1 Các vấn đề đánh giá trong bộ câu hỏi SF-36

TT Mục đánh giá Câu hỏi Số câu Phân nhóm

1 Hoạt động thể chất 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,

SỨC KHỎE THỂ CHẤT

2 Sự giới hạn vai trò do sức khỏe thể

6 Năng lượng sống/ sự mệt mỏi 23, 27, 29, 31 4

7 Trạng thái tâm lý 24, 25, 26, 28, 30 5

- Trong mỗi câu hỏi, người trả lời đánh dấu vào ô vuông ở sau mỗi lựa chọn

Trang 17

Bảng 2.2 Cách tính điểm cho mỗi câu trả lời trong bộ câu hỏi SF-36

TT câu hỏi Trả lời Điểm TT câu hỏi Câu trả lời Điểm

+ Điểm cho từng mục đánh giá của CLCS (bảng 2.1) được tính bằng trungbình điểm của tất cả các câu trả lời thuộc mục đó

+ Điểm sức khỏe thể chất được tính bằng trung bình điểm của các mục số1,2,3 và 4 (bảng 2.1)

Trang 18

+ Điểm sức khỏe tinh thần được tính bằng trung bình điểm của các mục

+ Khu vực sống + Trình độ văn hóa

+ Nghề nghiệp + Thời gian mắc bệnh

+ Tuổi khởi phát bệnh

- Điểm CLCS: thực hiện với nhóm bệnh và nhóm chứng:

+ Điểm của 8 mục đánh giá

- Hoạt động thể chất

- Sự giới hạn vai trò do sức khỏe thể chất

- Sự đau đớn

- Tình hình sức khỏe chung

- Sự giới hạn vai trò do các vấn đề về tinh thần

- Năng lượng sống/ sự mệt mỏi

Ngày đăng: 29/09/2019, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w