Mục tiêu của kế họach hành động thực hiện chiến lược Quốc gia phòngchống các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015 đến 2025 là khống chế tỷ lệngười có cholesterol máu cao >5,0 mmol
Trang 1Việt Nam đang phải đối mặt với sự gia tăng ngày càng trầm trọng củacác bệnh không lây nhiễm, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong Ước tínhnăm 2012 cả nước có 520.000 ca tử vong các loại trong đó 379.600 (73%) ca
tử vong là do các bệnh KLN, tức là cứ 10 người chết thì có 7 người chết docác bệnh KLN chủ yếu là các bệnh tim mạch (33%), trong đó rối loạn lipidmáu là một trong những nguy cơ hàng đầu của các bệnh tim mạch Nghiêncứu của Lê Bạch Mai trên những người từ 30-59 tuổi bị thừa cân - béo phìthấy cholesterol toàn phần trong máu cao là 48,9%, triglycerid cao là 65,33%,LDL-C cao là 8,23% và HDL-C thấp là 7,22% Nghiên cứu tại khoa khámbệnh - bệnh viện Bạch Mai cho thấy: Cholesterol toàn phần trong máu caochiếm 58,28%, Triglycerit cao 48,6% và LDL cao 23,9%; giảm HDL 28,1%
Trang 2Mục tiêu của kế họach hành động thực hiện chiến lược Quốc gia phòngchống các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015 đến 2025 là khống chế tỷ lệngười có cholesterol máu cao (>5,0 mmol/L) dưới 35% ở người trưởng thành.Tuy nhiên, lượng cholesterol của người bệnh có thể hoàn toàn khống chếđược và giảm được các yếu tố nguy cơ Vấn đề đặt ra là người bệnh cần hếtsức kiên nhẫn, tuân thủ các nguyên tắc và thực hiện theo chỉ dẫn của thầythuốc Việc khống chế, điều trị rối loạn lipid máu là một quá trình liên tục,suốt đời với mục tiêu là ngăn ngừa tối đa các biến cố tim mạch.
Thanh Chương là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam thuộc tỉnhNghệ An có 31 xã, thị trấn trong đó có 10 xã đặc biệt khó khăn Bệnh viện đakhoa của huyện được sở Y tế giao kế hoạch 220 giường bệnh, công suất sửdụng giường là 124%, hàng tháng có trên 9.359 lượt người tới khám và điềutrị, nhưng chưa có một nghiên cứu nào về mô hình bệnh tật đặc biệt là cácbệnh không lây nhiễm và các yếu tố nguy cơ vì vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “ Thực trạng công tác quản lý và điều trị rối loạn lipid máu ở người từ 20 đến 59 tuổi tại khoa khám bệnh, bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An năm 2016” nhằm mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu và 1 số yếu tố liên quan ở ngườitrưởng thành đến khám bệnh tại khoa khám bệnh bệnh viện đa khoa huyệnThanh Chương, tỉnh Nghệ An
2 Mô tả thực trạng công tác quản lý, điều trị rối loạn lipid máu chobệnh nhân tại địa bàn nghiên cứu
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương các rối loạn chuyển hoá lipid máu
1.1.1 Lipid máu
Lipid máu là một thành phần quan trọng trong cơ thể Trong thực tế,lipid máu bao gồm nhiều thành phần khác nhau, trong đó quan trọng nhất làcholesterol Lipid là những phân tử kỵ nước khó tan trong nước Lipid đượctìm thấy trong màng tế bào, duy trì tính nguyên vẹn của tế bào và cho phép tếbào chất chia thành ngăn tạo nên những cơ quan riêng biệt [4]
Lipid là tiền thân của một số hormon và acid mật, là chất truyền tínhiệu ngoại bào và nội bào Các lipoprotein vận chuyển các phức hợp lipid vàcung cấp cho tế bào khắp cơ thể
Các loại thành phần chính của lipid máu bao gồm
Cholesterol toàn phần
Cholesterol là một chất béo steroid, mềm, màu vàng nhạt, là thành phầncấu trúc của màng tế bào của tất cả các mô trong cơ thể Cholesterol đóng vaitrò trung tâm trong nhiều quá trình sinh hoá, nhưng lại được biết đến nhiềunhất do liên hệ đến bệnh tim mạch gây ra bởi nồng độ cholesterol trong máucao Cholesterol có từ hai nguồn: do cơ thể tổng hợp và từ thức ăn Nguồn từ
cơ thể (tổng hợp từ gan và các cơ quan khác) chiếm khoảng 75% tổng sốlượng cholestrol trong máu, còn lại từ nguồn thức ăn [22]
Triglycerid
Triglycerid là thành phần chủ yếu của các lipoprotein trọng lượng phân
tử thấp và các chylomicron, nó đóng một vai trò quan trọng như là nguồncung cấp năng lượng và chuyên chở các chất béo trong quá trình trao đổi chất.Tăng triglycerid thường gặp ở những người béo phì/thừa cân, lười vận động,hút thuốc lá, đái tháo đường, uống quá nhiều rượu Những người cótriglycerid trong máu tăng cao thường đi kèm tăng cholesterol toàn phần, bao
Trang 4gồm tăng LDL và giảm HDL Hiện nay, các nhà khoa học cho thấy việc tăngtriglycerid trong máu cũng có thể liên quan đến các biến cố tim mạch.
LDL - lipoprotein tỷ trọng thấp
LDL có tỷ trọng 1.006-1063, LDL chứa nhiều cholesterol, chức năngchính là vận chuyển phần lớn cholesterol từ máu tới các mô để sử dụng [23].Khi lượng LDL này tăng nhiều trong máu dẫn đến sự dễ dàng lắng đọng ởthành mạch máu (đặc biệt ở tim và ở não) và gây nên mảng xơ vữa độngmạch Mảng xơ vữa này được hình thành dần dần gây hẹp hoặc tắc mạch máuhoặc có thể vỡ ra đột ngột gây tắc cấp mạch máu dẫn đến những bệnh nguyhiểm như nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não LDL cholesterol đượccoi là một trong những chỉ số quan trọng cần theo dõi khi điều trị rối loạnlipid máu LDL tăng có thể liên quan đến yếu tố gia đình, chế độ ăn, các thóiquen có hại như hút thuốc lá/lười vận động hoặc liên quan các bệnh lí khácnhư tăng huyết áp, đái tháo đường…
HDL - lipoprotein tỷ trọng cao
HDL có tỷ trọng 1063-1210, được tổng hợp ở gan, một phần được tổnghợp ở ruột, và một phần do chuyển hóa của lipoprotein tỷ trọng rất thấp trongmáu ngoại vi HDL chiếm khoảng 1/4- 1/3 tổng số cholesterol trong máu.HDL - cholesterol vận chuyển cholesterol từ máu trở về gan, vận chuyểncholesterol ra khỏi mảng xơ vữa thành mạch máu, làm giảm nguy cơ xơ vữađộng mạch và các biến cố tim mạch trầm trọng khác Những nguy cơ làmgiảm HDL là hút thuốc lá, thừa cân/béo phì, lười vận động , nhiều công trìnhnghiên cứu đã chứng minh HDL là yếu tố nguy cơ độc lập với cholesteroltoàn phần Có một mối tương quan nghịch giữa HDL và tần suất bệnh mạchvành Ở người bình thường quá trình tổng hợp và thoái hóa lipid diễn ra cânbằng và phụ thuộc vào nhu cầu cơ thể, vì thế duy trì được mức ổn định về
Trang 5hàm lượng của lipid và lipoprotein trong máu, khi có sự bất thường sẽ gây racác kiểu rối loạn chuyển hóa lipid [22].
1.1.2 Định nghĩa rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu là tình trạng tăng cholesterol, triglycerid (TGs)huyết tương hoặc cả hai, hoặc giảm nồng độ lipoprotein phân tử lượng cao(HDL-C) tăng nồng độ lipoprotein phân tử lượng thấp (LDL-C) làm gia tăngquá trình vữa xơ động mạch Nguyên nhân có thể tiên phát (do di truyền)hoặc thứ phát Chẩn đoán bằng xét nghiệm cholesterol, triglycerid và cácthảnh phần lipoprotein máu Điều trị bằng thay đổi chế độ ăn uống, hoạt độngthể lực và dùng thuốc hạ lipid máu và lưu ý điều trị căn nguyên [1]
1.1.4 Hậu quả của rối loạn lipid máu
Nếu như trước đây người ta chỉ đề cập đến rối loạn mỡ máu ở tuổi từ
60 trở lên thì hiện nay, ngay từ tuổi trên 20 đã nhiều người mắc bệnh Hậu quảtrực tiếp của rối loạn chuyển hóa lipid máu là biến chứng mạch máu gây xơ
Trang 6vữa động mạch dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm Ngoài ra, rối loạn mỡ máucòn liên quan đến nhiều các rối loạn chuyển hóa khác.
Bệnh tim mạch.
Bệnh tim mạch là một thuật ngữ để chỉ một nhóm bệnh phát triểnkhông chỉ do tình trạng bệnh lý của tim, mạch, cơ và van tim… mà còn dotình trạng cao huyết áp, bệnh lý của não bộ và hệ thống mạch ngoại vi [33].Tăng cholesterol trong máu là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa vàdần làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim Đặc biệt, khi cảcholesterol và triglyceride cùng gia tăng thì nguy cơ này cao hơn gấp nhiềulần và thúc đẩy nhanh hơn quá trình xơ vữa động mạch, dẫn đến hậu quảnghiêm trọng gây thiếu máu cơ tim, nguy hiểm hơn là nhồi máu cơ tim Cóđến 90% trường hợp nhồi máu cơ tim là do biến chứng của mảng xơ vữa
Cholesterol trong máu cao sẽ lắng đọng ở bề mặt nội mô và lớp cơ trơn,tạo nên những mảng xơ vữa, làm hẹp và tắc mạch máu Ngoài ra, thành mạchcũng trở nên xơ cứng, nội mô thô nhám, dễ hình thành cục máu đông Cácnghiên cứu nhận thấy, người có lượng cholesterol trong máu cao có tỷ lệ mắcbệnh mạch vành (mạch máu nuôi tim) cao gấp 2-3 lần so với người bìnhthường LDL trong máu cao tăng nguy cơ bị xơ vữa động mạch và dễ gâybiến chứng Ngược lại, HDL trong máu cao thì tỷ lệ xơ vữa động mạch thấp.Nếu làm giảm 1mg/dL LDL thì giảm được 2% tỷ lệ tử vong Nếu mức HDLtăng 1%, thì sự nguy hiểm của bệnh tim mạch giảm 2-3%
Tăng huyết áp
Tăng huyết áp là một trong những hệ lụy nguy hiểm từ rối loạn lipid
máu Rối loạn lipid máu gây nên các mảng xơ vữa, khiến lòng mạch hẹp lại,
thành mạch kém đàn hồi làm tăng sức cản lên lòng mạch máu Để cung cấpđầy đủ nhu cầu máu, cơ thể có những đáp ứng như tăng nhịp tim, tăng sức cobóp cơ tim, tăng hấp thu giữ nước trong cơ thể dẫn đến tăng huyết áp
Trang 7Bên cạnh đó, tăng lipid máu còn làm tăng độ nhớt của máu Đây cũng
là một yếu tố góp phần làm THA Bản thân THA lại làm tổn thương nội mômạch máu, các LDL dư thừa trong máu bị oxy hóa dễ dàng xâm nhập và làmnặng hơn tình trạng xơ vữa THA dễ dẫn đến các bệnh lý tim mạch nguyhiểm, suy thận, tổn thương động mạch mắt gây mù lòa, TBMMN…[24]
Đột quỵ
Hầu hết các khảo sát dịch tể học đều xác nhận tăng cholesterol máu lànguy cơ chính xơ vữa động mạch và là nguyên nhân bệnh tim mạch thiếumáu Các mảng xơ vữa di chuyển từ nơi khác đến hoặc hình thành ngay tạimạch máu não sẽ làm hẹp lòng mạch, dẫn đến giảm lưu lượng tuần hoàn vàgây thiếu máu não Ở giai đoạn nặng hơn, dòng máu lên não có thể bị tắcnghẽn hoàn toàn và gây ra đột quỵ não (nhồi máu não) Rối loạn lipid máucùng với sự tổn thương nội mạc mạch máu do gốc tự do gây ra càng làm tăngnguy cơ bệnh lý mạch máu não Thống kê cho thấy, khoảng 93% bệnh nhânđột quỵ não có rối loạn lipid máu
Tuy nhiên nguy cơ phụ thuộc vào loại lipoprotein chuyên chởcholesterol LDL Cholesterol có vai trò quan trọng đối với bệnh sinh XVĐM
Có thể nói rằng bất kỳ sự gia tăng LDL cholesterol mức độ nào trong máu đều
có nguy cơ gây XVĐM HDL Cholesterol ngược lại là yếu tố chống xơ vữacao vì chúng vận chuyển cholesterol về gan trong điều kiện thành động mạchquá thừa cholesterol, do đó còn gọi chúng là những cholesterol tốt [24]
Gan nhiễm mỡ
Rối loạn lipid máu (bao gồm tăng triglyceride máu, tăng cholesterolmáu hoặc cả hai) cũng thường kèm theo gan nhiễm mỡ với tỷ lệ tương đốicao Gan nhiễm mỡ là khi có sự tích luỹ của chất béo trong gan vượt quá 5%trọng lượng của gan Gan nhiễm mỡ thường không có triệu chứng rõ ràng,mặc dù nó trực tiếp gây suy giảm chức năng gan và làm xơ gan Người bệnh
Trang 8có thể chỉ cảm thấy mệt mỏi và khó chịu ở vùng thượng vị và hạ sườn phải.Tình trạng gan nhiễm mỡ nặng có thể có biểu hiện vàng da, đau bụng, buồnnôn, ói mửa và gan to.
Đái tháo đường
Theo Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ 2004: “đái tháo đường là một nhómcác bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiếtinsulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạntính trong đái tháo đường sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều
cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [3]
Rối loạn chuyển hóa lipid máu làm tăng các chất béo tự do trong máu,làm chết hoặc rối loạn chức năng tế bào tụy, dẫn đến suy giảm bài tiết insulin,gây tăng đường huyết Rối loạn mỡ máu kéo theo rối loạn chuyển hóa đường;đồng thời bệnh đái tháo đường lâu dần cũng sẽ gây ra rối loạn mỡ máu Vìvậy, hai bệnh này có liên quan với nhau rất chặt chẽ [2]
Thống kê cho thấy, hầu hết bệnh nhân đái tháo đường có rối loạn mỡmáu Phần lớn các tổn thương mạch máu trong bệnh đái tháo đường đều làhậu quả của việc rối loạn mỡ máu Chính vì vậy, rối loạn mỡ máu trên bệnhnhân đái tháo đường nếu không được điều trị kịp thời sẽ làm cho biến chứngcủa bệnh đái tháo đường xuất hiện sớm và nặng lên rất nhiều, nhất là biếnchứng về tim mạch
Béo Phì
Trang 9Béo phì được định nghĩa bằng sự dư thừa lượng mỡ cơ thể, đặc biệt liênquan đến chuyển hóa năng lượng, kéo theo hậu quả xấu cho sức khỏe [15] Béophì là nguy cơ của nhiều bệnh không lây nhiễm như đái tháo đường, rối loạnlipid máu, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, thoái hóa khớp, ung thư…[4]
Khoảng 90% bệnh nhân béo phì, béo bụng gặp rối loạn chuyển hóalipid máu Bệnh béo phì làm tăng nồng độ triglyceride và LDL-cholesterol,làm giảm nồng độ HDL-cholesterol trong máu Đây chính là một trong nhữngyếu tố quan trọng hình thành và phát triển bệnh xơ vữa động mạch Do đó,việc phát hiện sớm rối loạn mỡ máu ở bệnh nhân béo phì có thể giúp điều trị
và dự phòng sớm những hậu quả do béo phì gây ra
1.2 Một số yếu tố liên quan đến rối loạn dinh dưỡng lipid
1.2.2 Thừa cân, béo phì
Béo phì làm tăng nồng độ triglycerid và LDL-cholesterol, làm giảmnồng độ HDL-cholesterol trong máu Người béo bụng dễ bị rối loạn lipid máugây nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe và là một trong những yếu tố thúc
Trang 10đẩy phát sinh các bệnh lý như đái tháo đường, tim mạch, ung thư Hậu quảnày là do sự tăng khối mỡ và tăng kích thước các tế bào mỡ Khi mô mỡ giatăng nhanh chóng và không cân đối, nó sẽ làm thay đổi các hoạt động bìnhthường của mô mỡ, từ đó dẫn đến rối loạn chuyển hóa trong cơ thể Hiện nay,theo một số tác giả khi phần trăm mỡ cơ thể >25% đối với nam và >30% đốivới nữ được coi là ngưỡng nguy cơ đe dọa sức khỏe.
Khả năng dẫn đến đột quỵ, bệnh tim mạch ở người béo phì cũng caohơn nhiều lần người bình thường Người có BMI lớn hơn 30 dễ bị tử vong dobệnh tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch Những người thừa cân hoặcbắt đầu ngưỡng béo phì cũng phải cẩn trọng nếu có thêm các yếu tố nguy cơkhác (đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu) thì nguy cơbệnh tim mạch vẫn có thể xảy ra [59] Thừa cân, béo phì gây ra khoảng 1%tổng số ca tử vong và 0,9% gánh nặng bệnh tật tính bằng DALY tại Việt Namnăm 2010 Đái tháo đường, bệnh tim mạch như bệnh tim thiếu máu cục bộ,đột quỵ, thấp khớp và đau vùng lưng dưới là các vấn đề sức khỏe chính củagánh nặng do thừa cân béo phì gây ra [43]
1.2.3 Hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực có liên quan chặt chẽ đến tình trạng sức khỏe Ít hoạtđộng thể lực gây ra 2,5% tổng số tử vong và 2,5% gánh nặng bệnh tật tínhbằng DALY năm 2010 Đặc biệt, các bệnh tim mạch, đái tháo đường và ungthư là các vấn đề sức khỏe chính liên quan đến tình trạng ít vận động [3].Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy ít vận động thể lực thườngkèm theo tăng trọng lượng cơ thể và tăng cholesterol máu Ở những người laođộng chân tay hoặc thường xuyên rèn luyện thể lực, cơ tim có khả năng thíchứng tốt hơn khi gắng sức, làm giảm thiểu lượng LDL, đồng thời tăng HDL,làm tiểu cầu ít bị kết dính nên ít có khả năng tạo cục máu đông Tập luyện rènsức bền có tác dụng điều hòa nồng độ lipid máu như giảm lượng cholesterol,
Trang 11triglycerid và làm tăng lượng HDL, giảm xơ vữa động mạch, giảm nguy cơ bịnhồi máu cơ tim [53]
1.2.4 Hút thuốc lá
Từ năm 1940, người ta đã tìm thấy có mối liên hệ giữa hút thuốc lá vànguy cơ bị bệnh tim mạch Những người hút thuốc có tăng nồng độ các sảnphẩm oxy hóa bao gồm cả cholesterol, LDL và làm giảm nồng độ HDL.Những yếu tố này cùng với các ảnh hưởng trực tiếp của CO2 và nicotine gâytổn thương nội mạch
Năm 2013, nghiên cứu tại Nhật của Miyao.M và cộng sự trên 726 côngnhân giao thông đô thị để tìm mối liên quan giữa nồng độ HDL, cholesteroltoàn phần với hút thuốc lá, kết quả cho thấy, hút huốc lá không có mối liênquan với nồng độ cholesterol >230md/dl, nhưng khi hút từ 1-20 điếu/ngàyhoặc ≥21 điếu/ngày sẽ làm tăng nguy cơ HDL <40mg/dl lên 1,9 lần (95% CI:1,1-3,26) hoặc 2,27 lần (95% CI: 1,27- 4,05) so với những người không hútthuốc [46]
Hút thuốc là yếu tố nguy cơ của hàng loạt BKLN: tai biến mạch máunão, bệnh đường hô hấp mạn tính như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư(phổi, gan, dạ dày, vòm họng, thực quản, tụy, cổ tử cung, miệng, bạch cầu)bệnh tim thiếu máu cục bộ, đái tháo đường,…[45] Năm 2010, ước tính hútthuốc lá gây ra 16,9% tổng số ca tử vong tương đương 74 710 ca tử vong và8,8% tổng gánh nặng bệnh tật tính bằng DALY, chủ yếu là do các BKLN(97% tổng tử vong và 94% tổng số DALY liên quan hút thuốc lá là do BKLN)[38] Tỷ lệ hút thuốc lá ở các nước thu nhập trung bình cao hơn ở các nướcthu nhập thấp và thu nhập cao, và ở tất cả các nhóm quốc gia tỷ lệ hút ở namgiới cao hơn nữ giới [56] Trong những năm gần đây, xu hướng hút thuốc lá ởViệt Nam bắt đầu giảm, nhưng tỷ lệ hút vẫn còn cao Năm 1992/1993 tỷ lệhiện hút thuốc lá (gồm cả thuốc lào) ở nam giới từ 15 tuổi trở lên là 60,5%,
Trang 12đến năm 2001/2002 đã giảm xuống mức 56,1% và đến năm 2010 giảm tiếpđến 47,4% và Việt Nam là nước có tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới cao thứ 19trên thế giới, đây cũng là một yếu tố nguy cơ cơ bản gây nên các bệnh lý timmạch ở Việt Nam hiện nay [44], [58].
1.2.5 Thói quen uống rượu bia
Trong nhiều thập kỷ qua, tác động của rượu bia lên quá trình tổng hợp,đào thải và oxy hóa lipid đã được phát hiện Theo Peter Cremer của Đại họcGottingen (Đức) rượu chỉ tốt với người có mức độ cholesterol thấp còn vớinhững người có mức cao >230mg/dl thì không có lợi, người uống trên 45mlrượu mạnh mỗi ngày có nhiều nguy cơ bị ung thư miệng, cuống họng…Nghiên cứu tại đại học Okalahoma cho thấy uống nhiều hơn 525 ml bia mỗingày thì có nhiều nguy cơ bị ung thư trực tràng Rượu làm tăng tế bào mỡquanh vùng bụng và tăng cholesterol máu Nếu sử dụng rượu nhiều và loạirượu nặng sẽ ảnh hưởng cả đến hệ tim mạch cũng như toàn bộ sức khoẻ và nó
là nguyên nhân thứ 3 gây tử vong sớm ở Mỹ [50] Một nghiên cứu cắt ngangtại Mỹ cho thấy ảnh hưởng của rượu khi sử dụng ở mức độ vừa phải sẽ làmgiảm triglycerid và tăng HDL một cách có ý nghĩa thống kê (p<0,001) [36]
Việt Nam là nước có thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 8 trongkhu vực ASEAN nhưng có mức tiêu thụ rượu, bia đứng thứ nhất ở ASEAN vàthứ 3 tại châu Á chỉ sau Nhật Bản, Trung Quốc Bình quân một năm, ngườiViệt Nam chi gần 3 tỷ USD cho tiêu thụ bia, chiếm khoảng 1,8 % GDP Songsong với tỷ lệ tiêu thụ rượu bia trên đó là Việt Nam đang phải đối mặt với sựgia tăng ngày càng trầm trọng của các bệnh không lây nhiễm WHO ước tínhnăm 2012 cả nước ghi nhận 520.000 trường hợp tử vong do tất cả các nguyênnhân, trong đó tử vong do bệnh không lây nhiễm chiếm tới 73% Tử vong dobệnh tim mạch đứng hàng đầu với 33%, tiếp theo là ung thư 18%, bệnh phổitắc nghẽn mạn tính 7% và đái tháo đường là 3% Trong đó việc sử dụng đồ
Trang 13uống có cồn như rượu bia là một trong 4 yếu tố nguy cơ chủ yếu của bệnhkhông lây nhiễm [3].
1.2.6 Chế độ dinh dưỡng không hợp lý
Những thay đổi về tiêu thụ lương thực - thực phẩm hằng ngày đã ảnhhưởng rất lớn đến mô hình bệnh tật và tử vong hiện nay ở nước ta Trong khi
tỉ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm giảm hẳn nhờ hiệu quả phòngchống dịch bệnh, thì tỉ lệ mắc và tử vong do các bệnh mãn tính không lây có
xu hướng tăng lên Sự dư thừa năng lượng liên quan chặt chẽ đến sự gia tăng
tỷ lệ thừa cân, béo phì Tiêu thụ thịt, chất béo cũng làm tỷ lệ người có rối loạnlipid máu, mắc bệnh đái tháo đường tăng cao Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằngthành phần chất béo và hàm lượng cholesterol của khẩu phần ăn có tác độngtới sự thay đổi cholesterol máu Vấn đề không chỉ là do số lượng chất béo mà
là tương quan giữa các thành phần chất béo trong khẩu phần Tổng chất béokhông có vai trò quan trọng đến lipid máu bằng loại chất béo, cụ thể là acidbéo no và acid béo thể trans
Nghiên cứu tại Nhật Bản trên 353 nam và 457 nữ ở nông thôn cho thấy
có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiêu thụ mỡ động vật ở 2 nhómtăng huyết áp và tăng mỡ máu [29] Điều này cũng đã được chứng minh tạinghiên cứu tại Trung Quốc chỉ ra mức chosterol, TG, LDL-C khác nhau dochế độ ăn có nhiều chất xơ và protein thực vật, mặc dù họ sống ở trong cùngvùng sinh thái [54]
Một nghiên cứu thử nghiệm can thiệp có đối chứng bằng tư vấn chế độ
ăn và chế độ tập luyện kết quả cho thấy chỉ số cholesterol, LDL, triglyceridtrung bình đều giảm đi so với trước can thiệp và HDL-C trung bình ở cả 2nhóm đều có xu hướng tăng lên so với trước can thiệp [62] Nhiều bằngchứng khoa học đã chứng minh dinh dưỡng và lối sống đang giữ vị trí hàng
Trang 14đầu như một yếu tố quyết định chính có thể điều chỉnh được đối với các bệnhmạn tính không lây [61].
1.3 Tình hình nghiên cứu về các bệnh mạn tính không lây nhiễm và rối loạn lipid máu
1.3.1 Trên thế giới
Tình trạng rối loạn dinh dưỡng-lipid ở người trưởng thành với biểuhiện dễ nhận thấy là thừa cân -béo phì, thường dễ đi kèm với các rối loạn lipidmáu, hội chứng chuyển hoá, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh đái tháo đường,bệnh tim mạch, tăng huyết áp, một số ung thư và là gánh nặng bệnh tật, tửvong ở nhiều nước công nghiệp nhưng cũng đang trở thành mối đe dọa quantrọng đối với các nước đang phát triển, nơi mà mô hình bệnh tật đang thay đổitheo hướng gia tăng các bệnh mạn tính không lây nhiễm [30], [50], [37]
a/ Thừa cân-béo phì
Trong những năm đầu thế kỷ 21, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, mứcsống của người dân nhiều nước trên thế giới được nâng cao, dẫn đến sự thayđổi cơ cấu các loại bệnh tật trong xã hội, trong đó đáng chú ý là sự tăng lênnhanh chóng tình trạng thừa cân - béo phì Đặc điểm thường gặp ở người béophì là sự tích lũy mỡ quá mức bình thường gây nên tình trạng rối loạn lipidmáu, trong đó nồng độ triglycerid, LDL-C tăng và HDL-C giảm Chính vìvậy, đã có nhiều tác giả trên thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm nghiêncứu vấn đề này và đánh giá chủ yếu đối với người trưởng thành Các tác giảđều nhất trí rằng, xu hướng gia tăng thừa cân - béo phì ở những nước đangphát triển, nơi còn phải đối mặt với tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em, nhưngcũng phải nhanh chóng cảnh báo về vấn đề này không phải là quá sớm
Theo báo cáo của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ thừa cân, béo phìtrên toàn cầu đã ở mức báo động Số liệu thống kê từ 84 nước từ năm 1999-
2000 đã cho thấy chỉ riêng tỷ lệ béo phì (BMI ≥30 kg/m2) là 8,7% Ở Mỹ và
Trang 15nhiều nước phát triển khác, thừa cân béo phì được coi là một trong những vấn
đề sức khoẻ hàng đầu trong nhiều năm qua [48], [39] Ở các nước thu nhậptrung bình thấp, tỷ lệ béo phì đã tăng gấp đôi giữa năm 1980 và 2008 (từ 3%lên 6%) trong khi tỷ lệ thừa cân cũng tăng nhanh từ 15% lên 24% [57] Trongkhi đó, ở châu Á, bên cạnh gánh nặng thiếu dinh dưỡng, thừa cân béo phìđang tăng lên nhanh chóng và cũng trở thành vấn đề sức khoẻ cộng đồng quantrọng [40], [54] Ở Philippines, tỷ lệ thừa cân (BMI ≥ 25 kg/m2) đã lên tới20,2% Rõ ràng vấn đề thừa cân béo phì, một biểu hiện của tình trạng rối loạndinh dưỡng-lipid đang được quan tâm đặc biệt trên thế giới và trong khu vực.Một nghiên cứu tại vùng đô thị phía Đông Bắc Trung Quốc cho thấy tỉ lệ béophì chung và béo bụng là 15% và 37,6% [63]
Tại Trung Quốc trong khoảng thời gian 10 năm từ 1992 đến 2002, tỉ lệbéo phì và thừa cân đã tăng lên ở cả nam và nữ, ở mọi lứa tuổi, ở cả khu vựcnông thôn và thành thị, cụ thể tỷ lệ thừa cân, béo phì, tăng từ 16,4% và 3,6%năm 1992 lên 22,8% và 7,1% năm 2002 đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy
sự gia tăng béo phì cũng đóng góp một phần quan trọng đối với những rủi robệnh tim mạch [54] Tại Thái Lan, kết quả một cuộc điều tra y tế quốc gianhằm mô tả tỷ lệ thừa cân, béo phì và mối quan hệ với các yếu tố nhân khẩuhọc, xã hội trên 3220 người trưởng thành từ 20- 59 tuổi cho thấy tỷ lệ thừacân, béo phì (BMI ≥25) là 28,3%; tỷ lệ này có thay đổi theo khu vực và cóliên quan đến độ tuổi, giới, tình trạng hút thuốc lá [62]
Tỷ lệ này theo một nghiên cứu tại Pakistan ở khu vực thành thị là 34%nam và 49% nữ thừa cân, béo phì đồng thời với tỷ lệ béo bụng (vòng eo/vòngmông) cao là 41% ở nam, 72% ở nữ và tăng tỷ lệ theo độ tuổi [30] Ở người
từ 15 đến 65 tuổi trong khảo sát toàn quốc về tình trạng nhẹ cân, thừa cân, béophì, béo bụng tại Iran, thấy tỷ lệ thừa cân béo phì (BMI ≥ 25) là 49,9%(42,9% ở nam và 56,9% ở nữ) Vòng eo tăng dần theo tuổi và BMI, tỷ lệ béo
Trang 16bụng (VE > 102 cm ở nam và >88 cm ở nữ) là 12,5% ở nam giới và 53,5% ởnữ.) [47] Mối liên quan giữa đánh giá béo phì bằng chỉ số BMI, vòng eo, tỷsố vòng eo/vòng mông với ít nhất một yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch cũng đãđược ghi nhận khi nghiên cứu tại người trưởng thành của Singapore [35]
b/ Hội chứng chuyển hóa (Metabolsis syndrome)
Hội chứng chuyển hoá bao gồm một nhóm yếu tố, chẩn đoán dựa theotiêu chuẩn của NCEP-ATP III (Adult Treatment Panel III) đưa ra (gồm cáctiêu chuẩn về tăng huyết áp, béo bụng, tăng glucose máu khi đói, tăngTryglicerid, giảm HDL) khi có ít nhất 3 trong 5 tiêu chuẩn nói trên [32]
Hội chứng chuyển hóa có liên quan tới tình trạng đề kháng insulin Ởngười có đề kháng insulin, glucose không thể vào tế bào một cách dễ dàng
Cơ thể phản ứng bằng cách sản suất nhiều hơn các insulin (thường là loại kémphẩm chất) để giúp glucose vào tế bào Kết quả là nồng độ insulin tăng caotrong máu Tình trạng này đôi khi dẫn đến tiểu đường khi tuyến tụy không cókhả năng tiết đủ insulin để điều chỉnh đường huyết về mức bình thường Cácnhà nghiên cứu vẫn còn đang đi tìm nguyên nhân gây ra tình trạng khánginsulin Có thể do gen và do một số yếu tố từ môi trường gây ra, đặc biệt làtình trạng thừa cân và lối sống tĩnh tại thiếu vận động
Theo tổ chức NCEP thì hội chứng chuyển hoá ước tính chiếm tỷ lệ 24%ở người trưởng thành Mỹ, riêng nhóm tuổi >50 tuổi, tỷ lệ này là 44% Cácnghiên cứu ở châu Âu cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hoá từ 7-36% ởnam giới và 5- 22% phụ nữ châu Âu, tuổi 40-55 [31] Chỉ tiêu béo bụng (tíchluỹ mỡ vùng bụng) dường như đóng vai trò dự báo quan trọng đối với hộichứng chuyển hoá của một quần thể dân cư Nhiều nghiên cứu khác tại NhậtBản, Hàn Quốc và Hồng Kông cũng cho thấy sự gia tăng của hội chứngchuyển hoá ở người trưởng thành [29], [28]
Trang 17Ramachandran và cộng sự nghiên cứu trên những đối tượng tuổi từ
20-75 tại Ấn Độ thấy tỷ lệ mắc HCCH là 41,1% nữ cao hơn nam (46,5% và36,4%) [49] Kết quả của Tillin cũng cho biết có sự khác nhau về tỷ lệ mắc ởcác nhóm dân tộc khác nhau trong cùng một điều kiện sống Người Nam Á vàkhu vực châu Phi có tỷ lệ mắc HCCH cao hơn người da trắng châu Âu [51]
Các bệnh mạn tính không lây
Các BKLN là thách thức của toàn cầu và đang là gánh nặng rất lớn đốivới xã hội và hệ thống y tế Hiện nay, các BKLN thường bị hiểu nhầm chỉ làvấn đề sức khỏe của các nước có thu nhập cao Trong khi đó, gánh nặng củacác bệnh này ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, thậm chí còn caohơn so với các nước có thu nhập cao Tử vong do các BKLN luôn chiếm tỷ lệcao và có xu hướng tăng lên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới [53] TheoNghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu 2010, trong tổng số 52,7 triệu ca tửvong năm 2010, có 65,5% là do các BKLN Như vậy, tỷ lệ này tăng 30% sovới năm 1990, chủ yếu do tăng trưởng dân số và giá hóa dân số Năm trong
10 nguyên nhân tử vong chính toàn cầu là BKLN, dù chỉ 3 trong 10 nguyênnhân tử vong sớm (tử vong sớm được đo bằng YLL) là do BKLN (bệnh timmạch, nhồi máu cơ tim và đái tháo đường) [43] Nguy cơ của các bệnh mạntính không chỉ có ở các nước phát triển mà nó còn là một thách thức lớn đốivới các nước đang phát triển [31], [48]
Tử vong do bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng số ca tửvong liên quan BKLN tại các nước thu nhập cao (39%), thu nhập thấp vàtrung bình tại Đông Nam Á (43%) và Tây Thái Bình Dương (50%) [60] Tỷ lệcao mắc bệnh tim mạch đã được ghi trong dân số người Mỹ gốc Phi, và đã cónhững nhấn mạnh vào vai trò của rối loạn lipid máu là một yếu tố nguy cơ nổibật trong quần thể rộng lớn này Nghiên cứu 4820 người Mỹ gốc Phi về tìnhtrạng lipid máu cho thấy có 32,9% tăng cholesterol, trong đó nhóm tuổi>65
Trang 18chiếm cao nhất với 44,6% và ở nam giới cao hơn so với nữ đống thời tăng caohơn ở người có tuổi đời dưới 50 năm và gia tăng theo tuổi ở cả hai giới [42]
WHO ước tính so với năm 2008 vào năm 2030 tỷ lệ tăng các ca mớimắc ung thư là khoảng 82% ở các nước có thu nhập thấp, 70% ở các nước cóthu nhập trung bình thấp và 58% ở các nước có thu nhập trung bình cao, và40% ở các nước có thu nhập cao [52] Tỷ lệ hiện mắc bệnh đái tháo đườngtrên toàn cầu vào năm 2008 ước tính là 10% ở người trưởng thành trên 25tuổi Tỷ lệ này cao nhất ở khu vực Đông Địa Trung Hải và châu Mỹ (11%) vàthấp nhất ở khu vực châu Âu và Tây Thái Bình Dương (9%) [59] Vào năm
2011, chỉ riêng bệnh đái tháo đường đã lấy đi của hệ thống y tế ít nhất là 465
tỷ USD hay 11% tổng chi tiêu CSSK toàn cầu Tới năm 2030, con số này ướctính là hơn 595 tỷ USD [64]
Cũng theo số liệu của WHO, mỗi năm thế giới có trên 35 triệu người đãchết do các bệnh mạn tính Trong đó, phần nửa là những người dưới 70 tuổi
và phần nửa là phụ nữ Bệnh này cũng thường thấy ở những người có thunhập vừa và thấp, do điều kiện sống chưa tốt, thuốc men khi mắc bệnh và tiếpcận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ còn hạn chế, kiến thức tự chăm sóc bảnthân cũng thiếu Với cảm nhận chung, khoảng 80% các ca tử vong do bệnhmạn tính xảy ra ở những người có thu nhập trung bình và thấp Nhóm bệnhnày còn là nguyên nhân của sự nghèo đói và kém phát triển ở nhiều nước, ảnhhưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người dân
Các bệnh mạn tính không lây nhiễm liên quan chặt chẽ tới tình trạngdinh dưỡng-lipid đó là đái tháo đường týp II, bệnh tim mạch, tăng huyết áp[61] Bệnh tim mạch chiếm >17 triệu ca tử vong trên toàn cầu mỗi năm (30%của tất cả các trường hợp tử vong), 80% trong số đó xảy ra ở các nước có thunhập thấp và thu nhập trung bình, và con số này dự kiến sẽ tăng lên 23,6 triệuvào năm 2030, trong đó bệnh mạch vành gây ra 7 triệu ca tử vong trên toàn
Trang 19thế giới trong năm 2010, tăng 35% kể từ 1990 Loại bỏ béo phì, chế độ ănuống không lành mạnh, và không hoạt động thể chất có thể ngăn chặn tới80% các bệnh tim, đột quỵ và đái tháo đường [55] Hiện có đến 300 yếu tốnguy cơ kết hợp với bệnh mạch vành và đột quỵ sẽ dẫn đến bệnh tim mạch vàxảy ra với tỷ lệ gần như nhau ở 2 giới nam và nữ [59].
Khi ước tính nguy cơ 10 năm mắc bệnh tim mạch gây tử vong tại 12nước ở châu Âu trên 205.178 người (88.080 phụ nữ và 117.098 người) đạidiện cho 2,7 triệu người/năm theo dõi Có 7934 người chết vì các bệnh timmạch, trong đó 5652 trường hợp tử vong do bệnh tim mạch vành [34]
Tỷ lệ cao mắc bệnh tim mạch đã được ghi trong dân số người Mỹ gốcPhi, và đã có những nhấn mạnh vào vai trò của rối loạn lipid máu là một yếutố nguy cơ nổi bật trong quần thể rộng lớn này Nghiên cứu 4820 người Mỹgốc Phi về tình trạng lipid máu cho thấy có 32,9% tăng cholesterol, trong đónhóm tuổi>65 chiếm cao nhất với 44,6% và tình trạng rối loạn lipid máu phổbiến hơn ở nam giới (so với phụ nữ) có tuổi đời dưới 50 năm và gia tăng theotuổi ở cả hai giới [42]
1.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam đời sống nhân ta đã được cải thiện từng bước cùng với sựthành công trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nhưng cũng tất yếu dẫn tới sựphân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt Lối sống và cách ăn uống của từngnhóm dân cư trong xã hội đã có sự thay đổi đáng kể Mô hình bệnh tật cũngthay đổi Các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng và các bệnh có vacxin phòngbệnh ở trẻ em đã giảm nhanh, các bệnh không lây nhiễm như: béo phì, đáitháo đường, tim mạch đang có xu hướng ngày càng gia tăng Theo Nghiêncứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2010, BKLN ở Việt Nam chiếm 66%tổng gánh nặng bệnh tật tính bằng DALY trong đó chiếm tỷ trọng lớn gánh
Trang 20nặng tử vong và bao gồm: ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi mạntính và bệnh tâm thần-thần kinh
Rối loạn lipid máu không chỉ là một rối loạn đơn thuần mà còn có mốiliên quan và cũng là nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khác đặc biệt là các bệnh
về tim mạch, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, thừa cânbéo phì,… Rối loạn lipid máu hay gặp ở nữ nhiều hơn nam, lứa tuổi thườnggặp bắt đầu từ tuổi ngoài 30 Tuy nhiên hiện nay cũng đã xuất hiện nhiều
bệnh nhân ở lứa tuổi rất trẻ [41]
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy thừacân, béo phì đang gia tăng nhanh chóng Các nghiên cứu của Nguyễn CôngKhẩn và cộng sự trên những người từ 25-74 tuổi trong toàn quốc thấy rằng: tỷ
lệ thừa cân-béo phì là 16,3%, tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hoá là 13,1%.Nghiên cứu của Lê Bạch Mai trên những người từ 30-59 tuổi bị thừa cân -béo phì thấy cholesterol toàn phần trong máu cao là 48,9%, triglycerid cao là65,33%, LDL-C cao là 8,23% và HDL-C thấp là 7,22% [11]
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Mỹ Loan và Trương Quang Bình khixác định mối tương quan giữa chỉ số khối cơ thể và tình trạng rối lọan lipidmáu ở bệnh nhân tăng huyết áp cũng cho thấy tỷ lệ thừa cân (BMI 23-<25) là12,3%, tỷ lệ béo phì độ 1 là 40,3% và béo phì độ 2 là 1,3% [13]
Nghiên cứu tỷ lệ mắc thừa cân béo phì, rối loạn lipid máu và tìm hiểumối tương quan giữa tình trạng thừa cân béo phì với rối loạn Lipid máu ởngười cao tuổi huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định của tác giả Trần Văn Long,Phan Văn Tường cho thấy tỷ lệ người cao tuổi huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Địnhthừa cân là 7,6 %; béo phì là 3,4% Có 52,8 % người cao tuổi bị rối loạn ítnhất 1 chỉ số lipid máu, tỷ lệ rối loạn triglycerid đơn thuần là 17,2% Có sựtương quan giữa chỉ số khối cơ thể với các chỉ số Lipid máu (triglycerid;cholesteron; LDL ) ở mức có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [14]
Trang 21Nghiên cứu ngẫu nhiên 1277 đối tượng trên 60 tuổi tại 3 vùng PhươngMai - Hà Nội, Phú Xuân - Huế, Hoà Long - Bà Rịa Vũng Tàu trong thời gian2000-2001 của Phạm Thắng, Hồ Kim Thanh cũng cho thấy những người béophì có nguy cơ rối loạn lipid máu rất cao và họ khẳng định về sự dư thừa mỡ
là nguyên nhân chính dẫn đến rối loạn lipid máu ở người béo phì với minhchứng là khi 23 ≤ BMI ≤ 24,9 thì nguy cơ bị rối loạn lipid máu tăng gấp 3 lần,khi BMI ≥ 25 thì nguy cơ này tăng gấp 3,5 lần và các nguy cơ này đều có ýnghĩa thống kê (p <0,05) [19]
Hiện nay, các biện pháp can thiệp để giảm tình trạng rối loạn lipid máutrên những người trưởng thành bị thừa cân - béo phì có rất nhiều từ các chế độ
ăn hợp lý, phù hợp với sinh lý, bệnh lý và tính chất lao động, vận động tíchcực như thể dục, thể thao cho tới sử dụng các thuốc tổng hợp theo phươngpháp hoá học, các thuốc y học cổ truyền hoặc các chế phẩm được lấy từ động,thực vật thiên nhiên
Các nghiên cứu về tình trạng rối loạn lipid thông qua các chỉ tiêu xétnghiệm hoá sinh đã được nhiều nhà lâm sàng đề cập tới Tác giả NguyễnMinh Hùng, Phạm Hữu Tài nghiên cứu 100 đối tượng từ 21 tuổi trở lên đếnkhám và điều trị tại phòng khám Bệnh viện Phú Vang, Thừa Thiên Huế trong
2 năm 2012-2013 cho thấy rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ 54% trong đó rốiloạn triglycerid chiếm tỷ lệ cao nhất 35%, thấp nhất là HDL 8% [9] Nghiêncứu của Trần Văn Long và Phan Văn Tường trên 472 người cao tuổi hiệnđang sinh sống tại 2 xã huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định bằng cách chọn ngẫunhiên các đối tượng nghiên cứu để đo các chỉ số nhân trắc và lấy máu làm xétnghiệm thấy tỷ lệ tăng cholesterol là 33,1% [14]
Nghiên cứu trên 410 người từ 20 tuổi trở lên ở thành phố Huế năm
2009 của Nguyễn Thị Kim Tiến và cộng sự khi xác định các yếu tố nguy cơ
có liên quan đến rối loạn lipid máu cho thấy rối loạn lipid máu có xu hướng
Trang 22tăng theo tuổi Tuổi ≥60 tỷ lệ rối loạn lipid máu là 58,8% Đặc biệt là các yếutố lối sống bao gồm người ăn nhiều chất béo, không tập thể dục, người uốngnhiều bia rượu, người thừa cân béo phì, tỷ lệ rối loạn lipid máu cao hơn sovới người không thừa cân béo phì [21].
Qua nghiên cứu 948 người tiền đái tháo đường tại Ninh Bình năm
2012, tác giả Vũ Bích Nga và Phạm Tuấn Dương cũng thấy tỷ lệ rối loạn lipidmáu tăng theo tuổi 30- 39 tuổi, 73,9%; 40-49 tuổi, 86,8%; 50-59 tuổi,92,75% và 60-69 tuổi: 94,9% Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở nam (91,4%) tươngđương so với nữ (92%) (với p>0,05) Người thừa cân, béo phì có nguy cơ rốiloạn lipid máu gấp 3,2 lần so với người thể trạng bình thường (p<0,01) Nguy
cơ tăng huyết áp ở nhóm rối loạn lipid máu gấp 2,07 lần nhóm không rối loạnlipid máu (p<0,01) [16]
Tác giả Đào Thị Dừa khi nghiên cứu tình trạng rối loạn lipid máu trênbệnh nhân ĐTĐ có tăng huyết áp điều trị nội trú tại bệnh viện Trung ươngHuế từ 2007-2009 cho thấy nồng độ cholesterol máu ở bệnh nhân ĐTĐ cótăng HA là 6, 48mmol/l; triglycerid là 4,73mmol/l; LDL là 4,60mmol/l; HDL
là 1,13mmol/l; tỷ lệ tăng cholesterol máu là 65, 93%, triglycerid là 73, 33%,LDL là 50.40 và giảm HDL là 48, 89% Có mối tương quan thuận giữa nồng
độ cholesterol máu với glucose; mối tương quan thuận giữa nồng độtriglycerid máu với glucose; mối tương quan giữa nồng độ LDL với glucosemáu; và có mối tương quan nghịch nồng độ HDL máu với glucose máu [6]
Nghiên cứu của Đỗ Hoàn Long và Nguyễn Doãn Lợi nhằm mục tiêuxác định tỷ lệ hiện mắc HCCH và một số yếu tố liên quan ở người trưởngthành tại tỉnh Thái Bình Kết quả cho thấy tỷ lệ rối loạn mỡ máu chung trongnhóm nghiên cứu là 64,2%; cao nhất là giảm nồng độ HDL máu (44,7%) vàtăng nồng độ triglycerid (39,1%); tiếp theo là tăng LDL và cholesterol toànphần (lần lượt là 13% và 15%) Có 26,1% đối tượng mắc tăng huyết áp, 5%
Trang 23mắc đái tháo đường và 5,7% béo phì Tỷ lệ mắc HCCH thay đổi từ 5,7% theoIDF đến 24,1% theo NCEP ATP III và tăng dần theo nhóm tuổi và chỉ số BMIvới hầu hết các tiêu chuẩn [17] Khi phân loại và đánh giá tình trạng sức khỏecủa cán bộ viên chức bệnh viện Thống Nhất để có biện pháp phòng ngừa vàđiều trị hiệu quả nhất, tác giả Nguyễn Vĩnh Phúc nhận thấy cơ cấu bệnhthường gặp nhất là rối loạn lipid máu (46,7%); bệnh về mắt (43,6%) và bệnhphụ nữ (24%) [18].
Nghiên cứu của Cao Đình Hưng, Hồ Thượng Dũng khi xác định đặcđiểm hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn tính đồngthời khảo sát mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và bệnh mạch vànhcho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 65,3%, bệnh nhân ≥60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất69,64%, giới nữ 85% cao hơn nam 57,69% (p<0,05), gia tăng theo BMI.Thành phần hay gặp nhất trong HCCH là tăng huyết áp (89,8%) Giá trị trungbình vòng eo, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, đường huyết, triglyceridtrên người có HCCH cao hơn và giá trị trung bình HDL ở bệnh nhân cóHCCH thấp hơn bệnh nhân không có HCCH (p<0,05) Bệnh nhân mắc HCCH
có tỷ lệ hẹp mạch vành cao hơn so bệnh nhân không có hội chứng này [8]
Khi nghiên cứu trên 54.367 người dân đang sinh sống, làm việc bìnhthường tại cộng đồng, trong khối hành chính ở một số khu vực thuộc thànhphố Hồ Chí Minh để tìm hiểu tình hình mắc một số bệnh không lây đái tháođường (ĐTĐ), rối loạn tăng lipid máu có nguy cơ tim mạch trong cộng đồng,tác giả Vũ Quang Huy đưa ra kết luận Tỷ lệ người bị ĐTĐ là 2,37% và tiềnĐTĐ là 5,98%, tổng số mắc là 8,35 % Tổng số mắc ĐTĐ và tiền ĐTĐ tăngtheo độ tuổi ở tỷ lệ lần lượt là 1,9; 22,8 và 35,8% trên các nhóm tuổi tươngứng <45 tuổi, 45-65 tuổi và >65 tuổi (p<0,05); Tỷ lệ rối loạn lipid máu tăngcác chỉ số triglycerid, cholesterol và LDL có nguy cơ tim mạch lần lượt là
Trang 2418,5; 25,4 và 24,5% Các thành phần lipid máu khảo sát đều có tỷ lệ tăng gâynguy cơ tim mạch, khác biệt có ý nghĩa thống kê theo các độ tuổi [10].
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, cắt ngang trên 948 người tiền đái tháođường tại Ninh Bình trong thời gian từ 11/2011 đến 11/2012 của Vũ Bích Nga
và Phạm Tuấn Dương để tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến rối loạn lipidmáu Kết quả cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu (RLLP) tăng theo tuổi 30-39tuổi: 73,9%; 40-49 tuổi: 86,8%; 50-59 tuổi: 92,75% và 60-69 tuổi 94,9% Tỷ
lệ RLLP ở nam (91,4%) tương đương nữ (92%) (với p>0,05) Tỷ lệ tăng TG
và giảm HDL-C ở nam cao hơn nữ (p<0,05) Tỷ lệ tăng TG và LDL-C ở nữlại cao hơn nam (p>0,05) Người thừa cân, béo phì có nguy cơ RLLP gấp 3,2lần so với người thể trạng bình thường (p<0,05) Nguy cơ tăng huyết áp ởnhóm RLLP gấp 2,07 lần nhóm không RLLP (p<0,05) [16]
Khi nghiên cứu một số đặc điểm của hội chứng chuyển hóa trên 106bệnh nhân mắc bệnh mạch vành mạn tính, Cao Đình Hưng rút ra kết luận có63,5% tăng triglycerid; 59,2% giảm HDL và tỷ lệ này ở nữ cao hơn ở nammột cách có ý nghĩa thống kê Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một khi
có sự hiện diện của hội chứng chuyển hóa (3/5 tiêu chuẩn sau đường huyếtlúc đói ≥100mg/dl, Triglycerid ≥150mg/dl, HDL <40 mg/dl đối với nam và
<50 mg/dl đối với nữ, huyết áp ≥130/85mmHg hoặc bắt buộc phải dùng thuốchạ áp, vòng eo ≥90 ở nam và ≥88 cm ở nữ) thì tổn thương mạch vành càngtrầm trọng hơn [8] Tác giả Trần Thành Vinh và cộng sự khi phân tích cắtngang tiền cứu trên 166 bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp tại bệnh việnChợ Rẫy cho thấy tỷ lệ nữ, tình trạng hút thuốc lá, tiền căn gia đình bệnhmạch vành và béo bụng ở nhóm bệnh hội chứng mạch vành cấp cao hơnnhóm khỏe mạnh thường xuyên theo dõi sức khỏe và không có bệnh mạchvành Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tuổi càng cao, nồng độ LDL-cholesterol càng cao hẹp động mạch vành càng nặng [25]
Trang 25Nguyễn Thanh Xuân và Nguyễn Oanh Oanh tiến hành nghiên cứu 71bệnh nhân tim thiếu máu cục bộ tại khoa tim mạch bệnh viện 103 cho thấytrong số các yếu tố nguy cơ với bệnh tim thiếu máu cục bộ thì có tới 81,7%rối loạn lipid máu, cao hơn so với các yếu tố khác Rối loạn thành phần lipidmáu chủ yếu là giảm HDL (62,0%) và tăng cholesterol máu (52,0%), còn tăngtriglycerid và LDL tương đương nhau Nhóm bệnh nhân <60 tuổi có tỷ lệ rốiloạn lipid cao (100%) [27]
Nghiên cứu rối loạn lipid máu trên bệnh nhân suy thận mạn tính thậnnhân tạo chu kỳ của tác giả Phạm Xuân Thu, Nguyễn Đình Dương, kết quảcho thấy rối loạn lipid máu là phổ biến: tỷ lệ rối loạn ít nhất một thành phầnlipid máu là: 56,67%, trong đó tăng cholesterol chiếm 27,33%, tăngtriglycerid là 28,67%, tăng LDL chiếm 20, 7% va giảm HDL chiếm 39,3% tỷ
lệ rối loạn 1 thành phần lipid máu là 56,67%, hai thành phần là 21,33%, bathành phần là 10,0% và 4 thành phần là 4,67% [20]
Tác giả Trương Thị Chiêu, Đăng Quang Tâm khi xác định tỷ lệ rối loạnlipit máu trên 143 bệnh nhân TBMMN, chia thành 2 nhóm Nhồi máu não 106bệnh nhân, xuất huyết não 37 bệnh nhân Kết quả Rối loạn lipid máu chiếm
tỷ lệ 79,72%, ở nhóm Nhồi máu não 79,2 %; ở nhóm xuất huyết não 70,2%.Tăng cholesterol chiếm tỷ lệ cao nhất 57,7% trong đó nhồi máu não 60,4%xuất huyết não 48,6% Tăng LDL-C chiếm tỷ lệ 56,6% trong đó nhồi máu não59,4% xuất huyết não 58,6% Tăng Triglycerid chiếm tỷ lệ 48,9% trong đónhồi máu não 52,8; xuất huyết não 37,8% Giảm HDL-C có tỷ lệ thấp nhất28,0% trong đó nhồi máu não 32,1% xuất huyết não 16,2% Rối loạn lipidmáu đồng thời 3 chỉ số chiếm cao nhất 41,22% [5]
Kết quả nghiên cứu của Đỗ Đình Xuân và Trần Văn Long thực hiện ở 3tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trên 630 người > 40 tuổi thì tỷ lệ hiện mắc các rối loạnlipid máu của chúng tôi thấp hơn vì trong nghiên cứu này có tới 70,4% có rối
Trang 26loạn lipid máu, trong đó có 52,5% tăng LDL; 41,9 tăng cholesterol; 37% tăngtriglycerid và chỉ có 0,2% giảm HDL Có 1,4% số đối tượng bị rối loạn cả 5thành phần lipid máu; 7,6% rối loạn cả 4 thành phần lipid máu; 25,1% rốiloạn cả 3 thành phần lipid máu Tỷ lệ rối loạn lipid máu tăng dần theo nhómtuổi, cao nhất ở đối tượng trên 60 tuổi [26] Hay khi nhận xét tình trạng rốiloạn lipid máu ở người tiền đái tháo đường tại khoa khám chữa bệnh theo yêucầu bệnh viện Bạch Mai kết quả cho thấy bệnh nhân đái tháo đường có rốilọan lipid máu chiếm 77% và có sự tương quan chặt chẽ giữa nhóm rối loạnlipid máu và nhóm đái tháo đường [7]
Nhiên cứu cắt ngang trên 1217 đối tượng ở thành phố Hải Dương đểxác định tỷ lệ thừa cân béo phì và tình trạng rối loạn lipid máu của tác giả LêĐức Thuận, Nguyễn Thị Lâm Két quả tỷ lệ thừa cân béo phì là 27,9%, béophì độ 1 là 1,6%, béo phì độ 2 là 0,4% Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở người thừacân béo phì là 86,4%; tỷ lệ rối loạn lipid máu ở nam là 87,5% cao hơn nữ là85,8% Tỷ lệ tăng cholesterol TP là 71% (nam 73,2%; nữ 69,8%), tỷ lệ tăngtriglycerid là 40,7% (nam 60,7% cao hơn so với nữ là 30,2%), tỷ lệ giảmHDL thấp với 0,6% và tỷ lệ tăng LDL-C là 2,5% [12]
Như vậy có thể thấy sự gia tăng một số bệnh mạn tính không lây nhiễmở nước ta trong thời gian qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có liên quan tớiyếu tố dinh dưỡng, cụ thể là tình trạng rối loạn dinh dưỡng-lipid
1.4 Quản lý và điều trị các bệnh mãn tính không lây
1.4.1 Phòng chống, kiểm soát các yếu tố nguy cơ chung của các bệnh không lây nhiễm
Phòng chống, kiểm soát các yếu tố nguy cơ là một trong ba nhóm giảipháp chính được WHO khuyến cáo để phòng chống bệnh không lây nhiễmtoàn cầu, trong đó 4 yếu tố nguy cơ được đặc biệt quan tâm là hút thuốc lá, sửdụng rượu, bia ở mức có hại, chế độ dinh dưỡng không lành mạnh và lối sống
Trang 27ít vận động Ở Việt Nam có nhiều can thiệp liên quan các yếu tố này ở nhữngmức hiệu quả khác nhau.
Phòng chống, kiểm soát các yếu tố nguy cơ chung của các BKLN đòihỏi các nỗ lực liên ngành với sự cam kết của Chính phủ, sự tham gia của toàn
xã hội trong việc xây dựng chính sách cũng như tổ chức triển khai thực hiệncác hành động Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách liênquan đến kiểm soát các yếu tố nguy cơ tuy nhiên các chính sách đó vẫn chưahoàn chỉnh và việc thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Các vấn đề ưu tiêntrong chính sách kiểm soát các yếu tố nguy cơ chung của BKLN hiện nay là:
- Nâng cao năng lực vận động xây dựng chính sách, từng bước hoànthiện các chính sách kiểm soát các yếu tố nguy cơ chung của các BKLN
- Xây dựng mô hình tổ chức thống nhất quản lý hoạt động kiểm soátcác yếu tố nguy cơ trong khuôn khổ một đầu mối tổ chức, chỉ đạo phòngchống BKLN có đủ năng lực, đủ thẩm quyền huy động liên ngành và sự thamgia của toàn xã hội
- Xây dựng mô hình tổ chức phù hợp và nâng cao năng lực của cơ quanđiều phối trong chỉ đạo, điều phối các hoạt động dự phòng, kiểm soát các yếutố nguy cơ
- Tăng cường phối hợp liên ngành có hiệu quả trong triển khai các hoạtđộng phòng chống các yếu tố nguy cơ Thiết lập một hệ thống giám sát cóhiệu quả về các yếu tố nguy cơ và các hoạt động kiểm soát các yếu tố nguy cơchung của các BKLN
- Thiết lập hệ thống thống nhất quản lý, giám sát các yếu tố nguy cơ
- Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát các yếu tốnguy cơ
Trang 28- Nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ, ý thức tuân thủ các chínhsách kiểm soát các yếu tố nguy cơ và khuyến khích thực hành dự phòng kiểmsoát các yếu tố nguy cơ
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ, phổ biến phápluật về phòng chống các yếu tố nguy cơ
- Tăng cường phối hợp liên ngành trong thúc đẩy thực hành dự phòng,kiểm soát các yếu tố nguy cơ và kiểm tra, xử phạt nghiêm các vi phạm
1.4.2 Tình hình thực hiện các chương trình, dự án phòng chống bệnh không lây nhiễm
Có bốn dự án phòng chống BKLN, bao gồm bệnh tăng huyết áp, đáitháo đường, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản, cùng với
Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng và trẻ em đang được triển khaitrong chương trình mục tiêu quốc gia đến năm 2015 Trong những năm qua,các dự án này đã đạt được một số kết quả chính:
- Địa bàn triển khai dự án ngày càng được mở rộng cả ở 3 cấp tỉnh,huyện và xã
- Hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ được triển khai ngày càngrộng rãi với nhiều hình thức đa dạng và phong phú
- Tổ chức tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụcho một đội ngũ đáng kể cán bộ y tế các tuyến
- Tổ chức sàng lọc thụ động cho các đối tượng nguy cơ tại cộng đồng ởcác quy mô khác nhau
- Xây dựng và củng cố mạng lưới sàng lọc, chẩn đoán, quản lý điều trịbệnh ở các tuyến
Khó khăn, vướng mắc
- Thiếu một mô hình, một đầu mối và cơ chế phối hợp, lồng ghép hoạtđộng của các dự án Các dự án được triển khai theo ngành dọc, thiếu sự gắn
Trang 29kết, chưa huy động được sự tham gia của các bộ, ngành, tổ chức khác ngoàingành y tế Chưa có một hệ thống giám sát chặt chẽ với hoạt động phòngchống các BKLN.
- Quy mô (địa bàn triển khai và mức độ bao phủ dân số) của các dự ánvẫn còn hẹp và chậm được mở rộng Ghi nhận ung thư mới được tiến hành ở
9 tỉnh, mới bao phủ được 20% dân số Các dự án khác đã bao phủ 63 tỉnhthành phố song tỷ lệ các huyện xã tham gia vẫn còn hạn chế Phân bố mạnglưới chưa hợp lý, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn
- Năng lực triển khai dự án vẫn còn hạn chế do thiếu hụt nhân lực ở tấtcả các tuyến, nhất là ở tuyến y tế cơ sở Hoạt động tư vấn, sàng lọc, chẩnđoán, quản lý điều trị chủ yếu mới chỉ triển khai đến tuyến tỉnh
- Hầu hết các dự án vẫn quan tâm nhiều hơn đến công tác điều trị, chưacoi trọng đúng mức công tác dự phòng Việc sàng lọc theo hình thức thụ độngtốn kém, không hiệu quả và khó thực hiện ở quy mô lớn trong khi sàng lọcchủ động và sàng lọc cơ hội thông qua khám chữa bệnh thường xuyên chưađược triển khai Các hoạt động tư vấn, khám sàng lọc vẫn chưa được BHYTthanh toán
- Thiếu nguồn kinh phí ổn định, bền vững cho việc triển khai các dự án.Đặc biệt, những năm gần đây, kinh phí cho triển khai các dự án bị cắt giảmmạnh, khiến cho các dự án phải cắt giảm hoạt động, giảm quy mô triển khaihoặc hoạt động cầm chừng Có khả năng từ năm tới không còn kinh phí từngân sách nhà nước cho việc triển khai các dự án này
- Việc tiếp cận thuốc điều trị còn gặp khó khăn do nhiều dự án đãngừng việc cung cấp thuốc trong khi BHYT chưa thanh toán tiền thuốc chocác bệnh có dự án (tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) việc lựachọn danh mục thuốc ở tuyến cơ sở chưa hợp lý hoặc quy định cấp thuốcchưa phù hợp do bệnh chưa được đưa vào danh mục bệnh mạn tính (ví dụ với
Trang 30dự án phòng chống tăng huyết áp), thuốc không sẵn có thường xuyên do khóđấu thầu (thuốc điều trị tâm thần).
- Thiếu nguồn kinh phí ổn định, bền vững cho việc triển khai các dự án.Đặc biệt, những năm gần đây, kinh phí cho triển khai các dự án bị cắt giảmmạnh, khiến cho các dự án phải cắt giảm hoạt động, giảm quy mô triển khaihoặc hoạt động cầm chừng Các dự án có nguy cơ bị cắt toàn bộ kinh phí từngân sách nhà nước từ năm tới
- Vấn đề sức khoẻ tâm thần chưa được quan tâm lồng ghép trong phòngchống các BKLN Chưa có Luật về sức khoẻ tâm thần
- Nội dung tư vấn, truyền thông còn nghèo nàn, kém hấp dẫn, chưa cụthể khó thực hiện
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa khám bệnh của Bệnh viện đakhoa huyện Thanh Chương và 31 xã của huyện Thanh Chương
Bệnh viện được sở Y tế giao kế hoạch 210 giường bệnh, công suất sửdụng giường thực kê là 124% Nhân lực có 185 cán bộ viên chức, trong đó có
40 bác sỹ Năm 2015 tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 18.368 lượt bệnhnhân, khám ngoại trú 112.318 lượt, trung bình 1 tháng khám 9.359 lượt ngườikhám Bệnh viên có 9 khoa lâm sàng, mỗi khoa được qui hoạch 1 trưởng khoa
và 1 phó khoa, tổng số Bác sỹ, điều dưỡng, y tá đang làm việc tại các khoalâm sàng là 61 người
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
+ Để phục vụ mục tiêu 1: Là người trưởng thành từ 20 đến 59 tuổi đếnkhám tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương, chialàm 4 nhóm tuổi: 20-29 tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi và 50-59 tuổi, mỗi nhómtuổi chia 2 giới (nam, nữ)
- Cán bộ Y tế: Bác sỹ, điều dưỡng các khoa lâm sàng của bệnh viện đakhoa huyện
Trang 32Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân được lựa chọn thoả mãn đầy đủ các tiêu chuẩn sau:
* Người trường thành không mắc các bệnh trong tình trạng cấp cứu tạithời điểm điều tra
+ Tiêu chuẩn loại trừ: Những bệnh nhân không đạt đủ các tiêu chuẩn
trên; Những người không đồng ý tham gia nghiên cứu; Những người trạngthái thần kinh không bình thường
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Tiến hành vào tháng 1 năm 2016 đến tháng 6 năm 2016
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu dịch tễ học mô tả qua cuộc điều tra cắt ngang nhằm:
- Xác định tình trạng rối loạn lipid máu và một số yếu tố liên quan tớitình trạng rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đến khám tại phòng khám đa khoahuyện Thanh Chương như các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp,thừa cân, béo phì, vòng eo, tỷ số vòng eo/vòng mông, tiền sử bệnh tật
- Mô tả thực trạng công tác quản lý điều trị cho bệnh nhân rối loạnlipid máu tại huyện Thanh Chương, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nângcao chất lượng cuộc sống cho người bệnh trong thời gian tới
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
n: cỡ mẫu nghiên cứu
Z: Độ tin cậy lấy ở ngưỡng =0,05 (Z1-α/2 = 1,96)
p: Tỷ lệ bệnh nhân có tăng cholesterol máu, p = 0,58 [16]
Trang 33d: độ chính xác mong muốn (d= 0,04)
Cỡ mẫu nghiên cứu theo tính toán tối thiểu là 585 đối tượng Cỡ mẫunày sẽ chia đều cho 4 nhóm tuổi và 2 giới
Như vậy mỗi nhóm tuổi sẽ phỏng vấn và xét nghiệm là:
74 người/nhóm tuổi/giới x 4 nhóm tuổi x 2 giới = 592 người
- Cỡ mẫu cán bộ lãnh đạo bao gồm: Phó chủ tịch huyện (1 người) và
phó chủ tịch xã phụ trách khối văn hóa giáo dục (31người ) = 32 người
- Cỡ mẫu cán bộ quản lý: Ban giám đốc bệnh viện huyện (3 người),trưởng (phó) các khoa lâm sàng của bệnh viện đa khoa huyện (18 người), banGiám đốc TTYT huyện (2 người), trưởng phòng Y tế huyện (1 người), cán bộphụ trách các chương trình Y tế của huyện (2 người), Trưởng trạm y tế xã (31
người) và cán bộ chuyên trách của 31xã (8 người) = 65 người.
- Cán bộ Y tế: Bác sỹ, điều dưỡng, y tá các khoa lâm sàng của bệnh
viện đa khoa huyện = 75 người
Vậy tổng số cán bộ phỏng vấn là: 32 + 65 + 75 = 172 người
* Phương pháp chọn mẫu
- Toàn bộ bệnh nhân đến khám tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đakhoa huyện Thanh Chương từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 3 năm 2016 đủtiêu chuẩn lựa chọn sẽ được phỏng vấn tìm hiểu kiến thức, thực hành củabệnh nhân về rối loạn lipid máu, kiểm tra cân nặng, chiều cao, vòng mông,vòng eo, huyết áp, khám lâm sàng để phân loại bệnh tật và chỉ định xétnghiệm lipid máu
- Phỏng vấn toàn bộ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và cán bộ y tế về côngtác quản lý điều trị cho bệnh nhân rối loạn lipid máu tại huyện Thanh Chương
2.2.3 Các chỉ số, biến số nghiên cứu
- Đặc điểm về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu, theo tuổi vàgiới, trình độ học vấn và nghề nghiệp
Trang 34- Giá trị trung bình một số chỉ số nhân trắc, huyết áp của đối tượngnghiên cứu
- Phân bố đối tượng nghiên cứu có rối loạn Lipid máu theo giới tính,nhóm tuổi
- Số chỉ số Lipid máu bị rối loạn theo giới tính
- Các kiểu rối loạn lipid máu của đối tượng nghiên cứu theo giới
- Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với giới tính và nhóm tuổi
- Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với BMI, WHR
- Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với tiền sử bệnh tăng huyết áp,đái tháo đường
- Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với tình trạng huyết áp hiện tại
- Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với thói quen tập luyện, hútthuốc lá
- Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với sở thích ăn uống
- Cán bộ quản lý biết các yếu tố nguy cơ của tình trạng rối loạn lipid máu
- cán bộ quản lý biết về những bệnh mạn tính không lây liên quan đếntình trạng rối loạn lipid máu
- Các chương trình y tế đang triển khai ở địa phương
- Ý kiến của cán bộ quản lý về các điều kiện cần khi triển khai chươngtrình RLLP máu tại địa phương
- Ý kiến của cán bộ quản lý về các hoạt động cần khi triển khai chương trình
- Ý kiến của cán bộ quản lý về những khó khăn khi triển khai chương trình
- Nhu cầu tham gia tập huấn các lớp đào tạo về quản lý chăm sóc bệnhnhân rối loạn lipid máu của các cán bộ
- Số cán bộ tham dự lớp tập huấn/đào tạo về quản lý chăm sóc bệnhnhân rối loạn lipid máu trong năm qua
2.2.4 Công cụ nghiên cứu
Trang 35- Phiếu phỏng vấn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đến khámsau khi đã đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu Phiếu được thiết kế bởi các nhànghiên cứu xã hội học và các bác sỹ là những chuyên gia y học dự phòng Nộidung phỏng vấn nhằm tìm hiểu 1 số yếu tố liên quan tới rối loạn lipid máu củabệnh nhân (phụ lục 1,2).
- Phiếu phỏng cán bộ lãnh đạo, cán bộ y tế tại bệnh viện Nội dungnhằm tìm hiểu sự đánh giá của cán bộ lãnh đạo, các cán bộ y tế về công tácquản lý điều trị đối với bệnh nhân có rối loạn lipid máu hiện đang được điều trịtại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương triển khai thực hiện (phụ lục 3)
Phiếu điều tra sau khi thiết kế được điều tra thử, chỉnh sửa cho phù hợpvới những vấn đề nghiên cứu và được sử dụng làm bộ phiếu chính thức phục
vụ công tác nghiên cứu của đề tài
- Máy và hoá chất xét nghiệm sinh hoá AU480 của nhật bản xét nghiệmđược 400test/giờ, test của hãng Dialat.at Australia
2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin
2.2.5.1.Lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu
Bệnh nhân đến khám tại phòng khám đa khoa đủ tiêu chuẩn chọn vàonghiên cứu trải qua các bước sau:
Bước 1: Để đạt mục tiêu 1
+ Hành chính: Làm các thủ tục hành chính như: ghi tên, giới, tuổi, nghềnghiệp, địa chỉ
+ Kiểm tra một số thông số nhân trắc cân năng, đo chiều cao đứng + Phỏng vấn: trực tiếp các đối tượng nghiên cứu bằng bộ phiếu đã đượcchuẩn bị trước Phiếu phỏng vấn tìm hiểu 1 số yếu tố liên quan tới rối loạnlipid máu
+ Khám lâm sàng: đo huyết áp, thăm khám nội khoa Ghi nhận triệuchứng chỉ điểm có liên quan đến rối loạn lipid máu, đặc biệt chú ý đến các
Trang 36yếu tố nguy cơ của bệnh như tiền sử gia đình và tiền sử bệnh tật, thừa cânbéo phì
+ Xét nghiệm máu: Những đối tượng đến khám nếu chưa ăn sáng, đềuđược xét nghiệm lipid máu
Bước 2: Để đạt mục tiêu 2: phỏng vấn toàn bộ cán bộ lãnh đạo, cán bộ
y tế cuả bệnh viện và Phó Chủ tịch huyện phụ trách khối văn hóa, Ban Giámđốc trung tâm y tế huyện, trưởng phòng Y tế, cán bộ phụ trách các chươngtrình y tế của huyện bằng bộ câu hỏi chuẩn bị trước
2.2.5.2 Điều tra phỏng vấn
Phỏng vấn bệnh nhân, phỏng vấn cán bộ lãnh đạo và phỏng vấn cán bộ
y tế: Bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước
2.2.6 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
* Phỏng vấn
+ Phỏng vấn bệnh nhân (Phụ lục 1, 2)
- Xác định tần số tiêu thụ thực phẩm
- Điều tra thực hành ăn uống của các đối tượng, xác định các yếu tố liênquan (điều kiện sống, tập tính ăn uống, sinh hoạt, mức độ hoạt động thểlực ) phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu thông qua bộcâu hỏi được thiết kế và thử nghiệm tại thực địa trước khi tiến hành điều tra
- Tiền sử bệnh lý của đối tượng được xác định qua phỏng vấn
+ Phỏng vấn trực tiếp cán bộ y tế và cán bộ lãnh đạo (phụ lục 3)
* Khám lâm sàng
Các đối tượng được khám lâm sàng để phát hiện các triệu chứng đặchiệu, chẩn đoán sàng lọc một số bệnh lý liên quan như tăng huyết áp, bệnh lýtim mạch, bệnh lý thận, các bệnh lý khác Quá trình khám bệnh do các bác sỹlâm sàng khoa Nội của bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương đảm nhận
* Nhân trắc
Trang 37+Cân nặng: Sử dụng cân SECA (độ chính xác 0,01kg) Cân đối tượng vào buổi sáng khi chưa ăn uống gì và đã đi đại tiểu tiện Khi cân chỉ mặc quầnáo gọn nhất và trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bố đều cả hai chân Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng.
Đọc kết quả: kết quả được đọc theo đơn vị kilogram với 1 số lẻ
+ Đo chiều cao đứng bằng thước gỗ sản xuất theo tiêu chuẩn của Hoa
Kỳ, có độ chia chính xác tới milimét Đối tượng bỏ guốc dép, đi chân không,đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai, đầu theo một đườngthẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng theo một đường thẳng nằmngang, hai tay bỏ thõng theo hai bên mình Kéo cái chặn đầu của thước từ trênxuống, khi áp sát đến đỉnh đầu nhìn vào thước đọc kết quả Chiều cao đượcghi theo cm với 1 số lẻ
+ Đo vòng eo: Đo bằng thước dây không co giãn, kết quả được ghi theo
cm với một số lẻ Vòng eo đo ở mức ngang rốn, tương ứng với điểm giữa củabờ dưới xương sườn cuối với bờ trên mào chậu trên đường nách giữa
+ Đo vòng mông: Đo bằng thước dây không co dãn Vòng mông đo tạivùng to nhất của mông Đối tượng chỉ mặc quần lót, đứng tư thế thoải mái,các vòng đo ở mặt phẳng nằm ngang Kết quả được ghi theo cm với một số lẻ
Tỷ số vòng eo/vòng mông được coi là cao khi giá trị này > 0,8 đối vớinữ và > 0,9 đối với nam
* Đo huyết áp
Đối tượng được ngồi nghỉ ngơi trước khi đo 15 phút, đo huyết áp 2 lầncách nhau 2 phút Kết quả ghi theo đơn vị mmHg Dụng cụ sử dụng là huyếtáp kế đồng hồ hiệu ALPK2 của Nhật
* Xét nghiệm sinh hóa
Trang 38- Lấy máu: Mỗi đối tượng được lấy 2ml máu vào vào buổi sáng, khiđói các mẫu máu được cho vào ống nghiệm có chứa sẵn chất chống đôngchuyên để lấy máu xét nghiệm, Các mẫu máu được ly tâm trong vòng 10 phútđể tách huyết thanh và xét nghiệm được thực hiện ngay trong ngày Mẫuhuyết thanh lưu được bảo quản ở - 800C.
Các chỉ tiêu xét nghiệm được thực hiện tại khoa sinh hoá bệnh viện đakhoa huyện Thanh Chương trên máy sinh hóa AU480 của nhật bản xétnghiệm được 400test/giờ, sử dụng test của hãng Dialat.at Australia
Toàn bộ các đối tượng tham gia nghiên cứu được xét nghiệm các chỉ sốsinh hóa máu gồm: Cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL-C, LDL-C
Cholesterol-C được định lượng theo phương pháp enzyme so màu Đo mật độquang ở bước sóng 540nm
Cholesterol -C este +H2O → Cholesterol +RCOOH
Cholesterol -C + O2 → Cholesterol -4en-3on+H2O2
2H2O2+4 aminophenazon → hợp chất màu đỏ+H2O
+ Định lượng triglycerid huyết thanh theo phương pháp enzyme Được
thực hiện trên máy AU 480 của Hãng Dialat.at
Nguyên lý:
CE
Trang 39Thuỷ phân triglycerid bằng enzym lipase, định lượng glycerol giảiphóng ra bằng phương pháp đo màu của quinonimin tạo thành từ 4-aminoantipyrin và 4-chlorophenol phản ứng với peroxide hydrogen
Phương trình phản ứng như sau:
GPO:glycerol phosphate oxidase
Đo mật độ quang quinonimin ở bước sóng 660nm, so với chuẩn sẽ tínhđược kết quả
+ Định lượng HDL-C
Nguyên lý: HDL-C là thành phần vận chuyển cholesterol từ máu về gan;
nồng độ HDL-C máu có liên quan đến nguy cơ mắc chứng xơ vữa động mạch,
làm tăng nồng độ HDL-C là góp phần điều trị bệnh lý xơ vữa động mạch.
HDL-C được định lượng theo phương pháp enzyme so màu
HDL-C este +H2O HDL-C+ RCOOH HDL-C+O2 Cholesterol +H2O2
Trang 402H2O2+4 amino-antipyrine+HSPA+H+H2O hợp chất màuxanh tím
PEG –Polyethyleneglycol
HSDA :so lium N –( 2hydroxy-3-sulfopropyl) -3,-5 dimethoxyaniline
Đo mật độ quang qui noni nin ở bóng sáng 660 nm được thực hiệntrên máy AU 480 Của hãng Đialat at
+ Định lương LDL-C
Nguyên lý: LDL-C là thành phần chính gây nên quá trình xơ vữa động
mạch, đặc biệt là xơ vữa động mạch được định lượng theo phương phápenzym so màu
LDL-C được định lượng theo phương pháp en zym so màu
LDL-C esters +H2O cholesterol+ Acid béo tự do
oxidase
LDL-C +O2 → 4 - cholestenone+H2O2
peroxidase
2 H2O+4Aamino-antipyrine +HSDA+H=H2O → hợp chất màu xanh tím
2.2.7.Một số tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu
a/Đánh giá tình trạng tăng huyết áp dựa theo phân loại của JNC VII
Phân loại tăng huyết áp HA tối đa (mmHg) HA tối thiểu (mmHg)
Tăng huyết áp độ II > 160 hoặc > 100
b/ Chỉ số khối cơ thể ( BMI) được tính theo công thức
BMI = Cân nặng (Kg) / (Chiều cao)
2 (m)
Theo Tổ chức Y tế thế giới - 1998 tình trạng dinh dưỡng được đánh giátheo chỉ số khối cơ thể BMI như sau:
Dergent